1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức đảng tại miền bắc việt nam thời kỳ 1954 1975

205 28 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 248,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần nhỏ vàokhắc phục những “khoảng trống về lịch sử” vấn đề này và tái hiện, làm rõ quátrình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc trong trong thời kỳ 1954- 1975, cũng như gó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -ĐẶNG MINH PHỤNG

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -ĐẶNG MINH PHỤNG

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc và TS Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Tác giả luận án

ĐẶNG MINH PHỤNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của Luận án 8

6 Kết cấu của Luận án 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 9

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 9

1.2 Khái quát kết quả những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 24

1.2.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu 24

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 26

Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC (1954 – 1960) 30

2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc (1954 – 1960) 30

2.1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức của Đảng trước năm 1954 30

2.1.2 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới tác động đến xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc 36

2.1.3 Chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc sau năm 1954 38

2.2 Quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng (1954-1960) 42

2.2.1 Kiện toàn tổ chức các cấp của Đảng 42

2.2.2 Chỉnh đốn tổ chức Đảng trong cải cách ruộng đất 56

2.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên 65

2.2.4 Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp uỷ 72

Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC (1960-1975) 78

Trang 5

3.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về công tác xây dựng hệ thống

tổ chức Đảng tại miền Bắc (1960-1975) 78

3.1.1 Bối cảnh lịch sử và những yêu cầu đặt ra 78

3.1.2 Chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc (1960-1975) 82

3.2 Quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng (1960-1975) 94

3.2.1 Kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng các cấp 94

3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên 115

3.2.3 Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp uỷ 124

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 134

4 1 Nhận xét 134

4.1.1 Ưu điểm 134

4.1.2 Hạn chế 150

4.2 Một số kinh nghiệm 164

4.2.1 Xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ chính trị 164

4.2.2 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng phải gắn chặt với công tác xây dựng Đảng về tư tưởng 167

4.2.3 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng phải chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên 171

4.2.4 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng phải gắn với phong trào cách mạng của quần chúng, phòng ngừa những sai lầm “tả khuynh” hoặc thiếu kỷ cương kỷ luật 174

KẾT LUẬN 180

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hànhđộng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản Hệ thống tổ chứccủa Đảng là tổng thể các cấp ủy, tổ chức, cơ quan đảng được thành lập vàhoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng nhằm thực hiện vai trò lãnh đạocủa Đảng đối với hệ thống chính trị Hệ thống tổ chức của Đảng được lậptương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước; bao gồm tất cả bộmáy tổ chức Đảng là các cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu, giúp việc vàcác tổ chức Đảng trực thuộc từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở của Đảng

Hệ thống tổ chức của Đảng ở các cấp gắn bó chặt chẽ với nhau, hoạt độngthống nhất, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng Sức mạnh của mọi

tổ chức Đảng tạo thành sức mạnh của toàn bộ hệ thống tổ chức của Đảng nhưV.I Lênin đã khẳng định: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cáchmạng, và chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga lên” [118, tr.162] Theo Người, không

có tổ chức đảng vững mạnh thì cách mạng vô sản không thể thành công bởi lẽtrong đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn

là tổ chức Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lĩnh vực trọng yếu nhất và khókhăn nhất là nhiệm vụ tổ chức, trong đó có xây dựng hệ thống tổ chức Đảng

Xây dựng đúng hệ thống tổ chức đảng sẽ nhân lên sức mạnh của Đảng,

là nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng và là cơ

sở để giải quyết tốt vấn đề cán bộ, đảng viên và tư tưởng trong Đảng Bởi vậy,xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng là nhiệm vụ hàng đầu của công tác tổchức xây dựng Đảng

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầmquan trọng của việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng Trong từng thời kỳ, gắn vớinhững yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, công tác xây dựng

Trang 7

hệ thống tổ chức của Đảng luôn được Điều lệ Đảng khẳng định và Ban Chấphành Trung ương chỉ đạo điều chỉnh cho phù hợp trong những trường hợp cụthể nhằm phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng.

Từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam bị chia thành hai miền Đảng Laođộng Việt Nam chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhândân ở miền Nam Trong đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai tròquyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với

sự nghiệp thống nhất nước nhà Đảng đã lãnh đạo tiến hành khôi phục kinh tế,cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954-1960), thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1961-1965), thực hiện ba nhiệm vụ đồng thời là chuyển hướng xây dựng kinh

tế, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và chi viện chiến trường 1975) Trước yêu cầu đó việc xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc cóvai trò quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng đảng, nhằm củng cố tổchức, xây dựng miền Bắc hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược của mình

(1965-Kết quả là công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng Lao động ViệtNam ở miền Bắc (1954-1975) đã góp phần quan trọng vào công tác xây dựngĐảng và khẳng định vai trò to lớn: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao độngViệt Nam là nhân tố hàng đầu, quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỹ, thống nhất đất nước

Nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miềnBắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) là một đề tàilớn và mới cả về nội dung và không gian nghiên cứu Để góp phần nhỏ vàokhắc phục những “khoảng trống về lịch sử” vấn đề này và tái hiện, làm rõ quátrình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc trong trong thời kỳ 1954-

1975, cũng như góp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn

hiện nay, nghiên cứu sinh chọn đề tài "Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ

chức Đảng tại miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954-1975” làm luận án tiến sĩ

lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 8

2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1 Mục đích của luận án

Tái hiện quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo xây dựng hệ thống

tổ chức của Đảng tại miền Bắc thời kỳ 1954-1975; chỉ ra những ưu điểm, hạnchế và đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng trong quá trình đó vàgóp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận án

hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975

tổ chức Đảng ở miền Bắc (1954-1975)

chế đó; đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng trong lãnh đạo xây dựng hệthống tổ chức của Đảng ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện của Đảng trongquá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc Việt Nam thời kỳ1954-1975

tổ chức của Đảng được ghi trong Điều lệ Đảng

Trang 9

+ Không gian: Nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chứcđảng trong phạm vi miền Bắc (Theo Hiệp định Giơnevơ tháng 7-1954, miền Bắc đượctính từ Vĩ tuyến 17, từ huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị ra phía Bắc).

dựng hệ thống tổ chức đảng ở cả hai miền Nam, Bắc nhưng luận án chỉ tập trungnghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miềnBắc Hệ thống tổ chức Đảng được xây dựng tại miền Bắc bao gồm bộ máy các cấp

từ Trung ương đến cơ sở, các cơ quan tham mưu, giúp việc và đội ngũ cán bộ,đảng viên

Luận án không nghiên cứu hệ thống tổ chức của Đảng trong lực lượng

vũ trang Tổ chức Đảng của Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận nằmtrong hệ thống tổ chức của Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hànhTrung ương Hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội được lập tương ứng với

hệ thống tổ chức của Quân đội Tuy nhiên, hệ thống tổ chức của quân đội cótính đặc thù, lại trong điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt, có sự phứctạp vì thế Luận án không nghiên cứu hệ thống tổ chức của Đảng trong Quânđội Từ năm 1957, các quân khu được thành lập trên cơ sở các liên khu [64,tr.839], các liên khu được thay thế bằng các quân khu, vì thế, từ năm 1957,Luận án không nghiên cứu về các liên khu ở miền Bắc

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựngĐảng nói chung và hệ thống tổ chức của Đảng nói riêng

Mác-4.2 Nguồn tư liệu

Luận án dựa chủ yếu vào các nguồn tư liệu sau:

- Một số tác phẩm của V.I.Lênin về xây dựng Đảng cộng sản, các tácphẩm của Hồ Chí Minh các lãnh tụ Đảng về xây dựng Đảng và hệ thống tổchức của Đảng

Trang 10

- Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam khóa II, khóa III; các Nghị quyết,Chỉ thị về xây dựng hệ thống tổ chức ở miền Bắc của Ban Chấp hành Trung ương,

Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương từ năm 1954 đến năm 1975được tập trung trong Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, từtập 15 ( năm 1954) đến tập 36 (năm 1975) và Biên niên sự kiện lịch sử Đảng; các

tư liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng

miền Bắc: Khu ủy Việt Bắc, Khu ủy Tây Bắc, Đặc Khu ủy Vĩnh Linh và các tỉnh,thành ủy liên quan đến xây dựng hệ thống tổ chức từ năm 1954 đến năm 1975

công bố; một số luận án tiến sĩ lịch sử đã bảo vệ thành công; các bài nghiên cứuliên quan được đăng tải trên Tạp chí Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử, logic

Phương pháp lịch sử được thực hiện chủ yếu trong Chương II vàChương III, nhằm tái hiện quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chứcĐảng tại miền Bắc ở hai giai đoạn (1954-1960) và (1960-1975) và ở phần Ichương 4, để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của Đảng trong lãnh đạo xâydựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc trong cả thời kỳ 1954-1975

Phương pháp logic được thực hiện chủ yếu trong Chương I về Tổngquan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài và ở Chương IV nhằmkhái quát rút ra những kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo xây dựng hệthống tổ chức Đảng tại miền Bắc thời kỳ 1954-1975

Ngoài ra, luận án kết hợp sử dụng phương pháp khác như phân tích,tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê… để giải quyết những nội dung nghiêncứu cụ thể trong từng chương của luận án

7

Trang 11

5 Đóng góp của Luận án

5.1 Về mặt lý luận

thống tổ chức Đảng ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975

trình chỉ đạo của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc (1954-1975)

của Đảng trong của quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc(1954-1975)

5.2 Về mặt thực tiễn

sử xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; lịch sử xây dựng hệ thống tổ chức Đảng

từ khi ra đời đến nay; qua đó góp phần liên hệ, soi sáng nội dung lý luận về xâydựng hệ thống tổ chức Đảng hiện nay

trong nghiên cứu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước; góp phần vào việc nghiên cứu, tuyên truyền và giảng dạy Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam

6 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chương 2: Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc (1954-1960)

Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng hệ thống

tổ chức Đảng tại miền Bắc (1960-1975)

Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Sứ mệnh lịch sử, địa vị lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cuộc đấutranh chống chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản đã quy định sựcần thiết phải xây dựng một tổ chức đảng Tổ chức đảng cộng sản là một bộphận của xã hội, là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp và dân tộc.Đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lênin là một đảng có tổ chức chặt chẽ,được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Quán triệt những nguyêntắc về xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi ra đời, ĐảngCộng sản Việt Nam đã xác định công tác xây dựng, củng cố hệ thống tổ chứcĐảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằmthực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, quyết định sự tồn tại và sức lãnhđạo của Đảng Cũng vì tầm quan trọng đó, nghiên cứu về xây dựng hệ thống

tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những vấn đề thu hút được

sự quan tâm của các nhà khoa học và giới nghiên cứu

Bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu

về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tập trung trong các sách chuyên khảo,các luận án, các bài báo và đề tài nghiên cứu khoa học Mỗi công trình cóhướng nghiên cứu cũng như cách tiếp cận riêng, trong luận án này NCS chọncách tiếp cận theo nội dung, chia thành những công trình nghiên cứu chung vềcông tác xây dựng Đảng trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; nhữngcông trình nghiên cứu hệ thống tổ chức của Đảng nói chung và những côngtrình nghiên cứu liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đốivới việc xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn1954-1975

Trang 13

Một là, nhóm các công trình nghiên cứu chung về công tác xây dựng Đảng

Ban Tuyên huấn Trung ương với cuốn sách Mấy vấn đề về công tác xây

dựng Đảng do Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin xuất bản vào năm 1976 đã đề

cập đến nhiệm vụ xây dựng Đảng trên cả ba phương diện chính trị, tư tưởng

và tổ chức Cuốn sách khẳng định sự cần thiết phải nâng cao năng lực lãnhđạo của Đảng về mặt tổ chức thực hiện và đặc biệt đã phân tích 5 phươngchâm xây dựng Đảng được đề cập đến trong Nghị quyết 23 của Ban Chấphành Trung ương Đảng (tháng 10-1974) Cuốn sách khẳng định phải khôngngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, nêu cao tầm quan trọng củacông tác tư tưởng và nhấn mạnh công tác cán bộ là một trong những vấn đề cótầm quan trọng quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Cuốnsách đã đưa ra được những ưu điểm, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ trongthời kỳ 1954-1975 cũng như đưa ra những “công tác cần kíp”: Đẩy mạnhcông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Cải tiến việc bố trí, sử dụng cán bộ; Xâydựng, quy hoạch cán bộ

Tác phẩm của Lê Duẩn, Về xây dựng Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978 đã

tập hợp một số tác phẩm lý luận quan trọng về xây dựng Đảng như nâng cao đạođức, phẩm chất của người cộng sản; xây dựng chi bộ và tăng cường kỷ luật trongĐảng; công tác cán bộ; xây dựng Đảng trong phong trào quần chúng

Hồ Chí Minh với tác phẩm Về Đảng cầm quyền, Nxb Sự thật, Hà Nội,

1986 Đây là cuốn sách tuyển chọn một số bài viết và bài nói của Hồ ChíMinh từ năm 1945 đến năm 1969 Những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minhtrong cuốn sách này đều tập trung nói về vai trò của một đảng cầm quyền vànhững yếu tố để đảm bảo cho một đảng cầm quyền Hồ Chí Minh khẳng địnhnhân tố quyết định trước hết thắng lợi của cách mạng là sự lãnh đạo của Đảngbằng một đường lối chính trị đúng đắn Để Đảng luôn luôn có đường lối đúngđắn, đồng thời có năng lực tổ chức thực tiễn sáng tạo, nhạy bén phù hợp với

Trang 14

từng thời kỳ cách mạng, đưa cách mạng vượt qua mọi thử thách, giành thắnglợi, thì cần phải tăng cường xây dựng Đảng trên các mặt tư tưởng, chính trị, tổchức Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên, trongnhững bài viết đều khẳng định người cán bộ, đảng viên cần phải có đạo đứccách mạng và năng lực thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đây là hai mặt gắn bóchặt chẽ với nhau, không thể thiếu và không thể coi nhẹ mặt nào.

Viện Xây dựng Đảng thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

với cuốn Xây dựng Đảng do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm

1999 Các tác giả đã trình bày các vấn đề lý luận về xây dựng Đảng một cách

có hệ thống như: Học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách mạng của giaicấp công nhân; công tác tư tưởng của Đảng; công tác lý luận của Đảng; bồidưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; xây dựng hệthống tổ chức và bộ máy của Đảng; xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng;công tác cán bộ của Đảng; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng

Cuốn sách Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của tác giả Lê Đức

Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 đã khẳng định năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là kết quả của quá trình không ngừng xâydựng, củng cố Đảng về mọi mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; mỗi mặt đó có

vị trí quan trọng không thể thiếu, đồng thời chúng gắn bó chặt chẽ với nhautạo thành sức mạnh tổng hợp của Đảng Tác giả khẳng định cần phải thườngxuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh là thiết thực bồidưỡng nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trong phầnđầu của cuốn sách, tác giả viết về công tác xây dựng đảng trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước và sau khi thống nhất Tổ quốc, trong đó cũng đề cập sơlược đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong thời kỳkháng chiến chống Mỹ cứu nước khi lấy đó làm dẫn chứng cho những vấn đề

lý luận về xây dựng Đảng Tác giả nhấn mạnh cần nhận rõ và giải quyết đúngđắn mối quan hệ giữa chất lượng đảng viên và số lượng đảng

Trang 15

viên, trong những điều kiện nhất định, hai mặt ấy không đối lập nhau màthống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh hoàn chỉnh củađội ngũ đảng viên.

Trong năm 2004, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản TrungQuốc đã tổ chức hội thảo lý luận về vấn đề xây dựng Đảng cầm quyền của cảhai Đảng Các bài tham luận trong Hội thảo này được Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia tập hợp lại và xuất bản thành cuốn sách Xây dựng Đảng cầm quyền

-kinh nghiệm của Việt Nam, -kinh nghiệm của Trung Quốc Các bài viết của các

nhà khoa học hai nước về cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định vị trí thenchốt của Đảng cách mạng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới; khẳng định

sự cần thiết khách quan phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Vàđặt ra yêu cầu tất yếu phải luôn kiên trì đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng cả

về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phương thức lãnh đạo, thắt chặt mối liên hệgiữa Đảng và nhân dân trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội Đồng thời, các bài viết cũng khẳng định phảithường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và chất lượng côngtác lý luận của Đảng; thường xuyên coi trọng việc xây dựng củng cố Đảng về

tổ chức, đảm bảo nội bộ luôn luôn đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao

Cuốn sách lưu hành nội bộ của Hội đồng Lý luận Trung ương (2011),

Đảng Cộng sản Việt Nam trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử, Nxb Chính trị

Quốc gia Các bài viết của các nhà khoa học trong cuốn sách bên cạnh việckhẳng định rõ quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam , Đảng của giai cấp côngnhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là Đảng duy nhất cầmquyền trong điều kiện chính trị - xã hội ở Việt Nam; đồng thời các bài viết cũngnêu ra những đề xuất về các vấn đề xây dựng Đảng với mong muốn Đảng ngàycàng trong sạch, vững mạnh, đủ sức thực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả trước dântộc Vấn đề xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức được thểhiện trong đó có các bài viết khẳng định Đảng cần phải thật sư thực hiện tốt tự

Trang 16

phê bình và phê bình, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường rènluyện đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, có năng lực và uy tín; tiến hành chốngtham nhũng một cách mạnh mẽ bởi uy tín của Đảng, sức chiến đấu, sức sốngcủa Đảng phụ thuộc không ít vào kết quả của trận chiến “chống nội xâm”.

Cuốn sách chuyên khảo của Nguyễn Trọng Phúc: Lịch sử công tác xây

dựng Đảng (1930-2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012 Cuốn sách

đã khẳng định nguyên tắc xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và đã trình

bày một cách hệ thống về lịch sử công tác xây dựng đảng từ khi Đảng đượcthành lập đến nay Tác giả đã khẳng định trong thời kỳ 1954-1975, công tácxây dựng Đảng phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt có nhiều khó khăn,thách thức, song cũng là chặng đường nhiệm vụ xây dựng Đảng có nhiềuthành công lớn, góp phần quan trọng thực hiện sự lãnh đạo đúng đắn củaĐảng đối với việc thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền

Công tác xây dựng tổ chức của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống

đế quốc Mỹ được trình bày một cách khái quát và lồng ghép với nhiều mảngnội dung khác của công tác xây dựng Đảng nói chung Trong đó, cuốn sáchnhấn mạnh sự phát triển về tổ chức và sự trưởng thành, phấn đấu kiên cườngcủa đội ngũ cán bộ, đảng viên của cả nước nói chung và miền Bắc nói riêng.Tác giả khẳng định sức mạnh về tổ chức và uy tín chính trị, tính thống nhất và

kỷ luật cao của Đảng là sự bảo đảm cho Đảng lãnh đạo tập trung, thống nhấttrong điều kiện cực kỳ khó khăn, phức tạp Tác giả cũng đề cập đến một số sailầm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng những năm 1954-1975

Tác giả Nguyễn Phú Trọng với công trình Xây dựng chỉnh đốn Đảng

một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012.

Cuốn sách đã đề cập nhiều vấn đề phong phú về lý luận và thực tiễn, đúc kếtnhững bài học, kết luận quan trọng về công tác xây dựng Đảng trong đó đặcbiệt nhấn mạnh đến xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức để nhằmxây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh lãnh đạo đất nước và nhândân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới

Trang 17

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về các vấn đề cơ bản về côngtác xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức như tác giả Mạch

Quang Thắng đề cập đến trong cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam, những vấn

đề cơ bản về xây dựng Đảng, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2007; Trần Đình Huỳnh, Ngô Kim Ngân (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền, Nxb Hà Nội; Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (2004), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Triệu Quang Tiến (chủ biên) với cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xuất bản năm 2004, Nxb Lao động, Hà Nội

Những công trình nghiên cứu trên với những cách tiếp cận và mức độphản ánh khác nhau nhưng ít nhiều đều đã đề cập đến công tác xây dựng đảngnói chung trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức

Hai là, nhóm công trình nghiên cứu về công tác xây dựng hệ thống

tổ chức của Đảng

- Nhóm công trình nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng trước năm 1954 và sau năm 1975

Trần Trọng Thơ với bài viết "Xây dựng cơ quan Trung ương - một thành

công nổi bật của Đảng thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930-1945)", Tạp

chí Lịch sử Đảng số 6 (2009) đã đi sâu tìm hiểu công cuộc xây dựng, củng cố

cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Cộng sản ĐôngDương trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền với nhiều khó khăn, tháchthức Những thành công của quá trình xây dựng, kiện toàn, củng cố, bảo vệ cơquan Trung ương của Đảng trong thời kỳ này thực sự là rường cột, bảo đảmcho hệ thống tổ chức của Đảng thống nhất và phát triển, tiêu biểu cho nănglực và sức chiến đấu của Đảng

Bài viết của tác giả Ngô Văn Minh: “Xây dựng, củng cố tổ chức Đảng

ở Quảng Nam (1939-1945)” đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 2-2011, đã

nghiên cứu về công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng ở Quảng Nam trong

Trang 18

những năm 1939 đến 1945, cuộc vận động chỉnh đốn đảng theo tinh thần của

tác phẩm “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và cuộc đấu tranh

thống nhất tư tưởng của Đảng giai đoạn này đã được phác họa trên những nét

cơ bản gắn với thực tiễn của địa phương - tỉnh Quảng Nam

Cuốn sách chuyên khảo của Trần Trọng Thơ (2014), “Xây dựng cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương, xứ ủy của Đảng thời kỳ 1930-1945”, Nxb Chính trị Quốc

gia - Sự thật đã góp phần phản ánh hiện thực quá trình xây dựng, khôi phục và phát triển tổ chức Đảng cấp Trung ương và Xứ ủy, nhân sự các cấp ủy, soi tỏ đặc điểm,

tổ chức, hoạt động của các cấp bộ Đảng, của các nhân vật lịch sử của Đảng trong quá trình vận động cách mạng trước khi trở thành một Đảng cầm quyền; đúc kết kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ tổ chức Đảng thời kỳ 1930-1945.

Bài viết “Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở Liên khu

III những năm 1948-1950” của tác giả Nguyễn Thị Xuân đăng trên Tạp chí

Lịch sử Đảng số 1-2012, đã làm rõ chủ trương cả Liên khu ủy III về công tác xâydựng Đảng trước những yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, đó là: xây

dựng Đảng là nhiệm vụ trọng tâm, chú trọng phát triển, củng cố cơ sở Đảng,nhất là ở vùng địch Trong những năm 1948-1950, công tác xây dựng đảngcủa Liên Khu III tập trung vào việc xây dựng, kiện toàn các ban chi ủy, đẩymạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên ở cơ sở Đặc biệt Liênkhu III đã phát động những phong trào như "Sáu tháng thi đua học tập", "Batháng đấu tranh nội bộ", "củng cố nặng hơn phát triển" để nhằm nâng caonăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng ở Liên khu IIItrong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006 do

Nguyễn Hữu Cát làm chủ nhiệm “Đảng lãnh đạo công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ trong thời kỳ 1930-1945” Đây là thời kỳ Đảng hoạt động

bí mật, chưa nắm chính quyền, do đó việc xây dựng, phát triển hệ thống tổ chứcĐảng các cấp đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành bại của cách mạng Đề

Trang 19

tài đã tập trung nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, yêu cầu của cách mạng thời kỳ1930-1945, quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối vớicông tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ từ Xứ ủy, Liên tỉnh ủy, Tỉnh

ủy, Huyện ủy, Chi bộ Đảng ở Bắc Kỳ và đã đưa ra một số kinh nghiệm về xâydựng, bảo vệ và phát triển hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ 1930-1945

Đề tài cấp Bộ “Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ từ năm 1930 đến năm 1945”của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2009 do Trần

Trọng Thơ làm chủ nhiệm Đề tài tập trung phản ánh quá trình hình thành, pháttriển, đặc điểm và phương thức xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ vàvai trò của nó trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong công cuộc vận độngcách mạng ở Nam Kỳ từ năm 1930 đến năm 1945; đúc kết kinh nghiệm xâydựng, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ thời kỳ 1930-1945

Đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011 do

Nguyễn Bình làm chủ nhiệm “Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” Đề tài tập trung làm rõ

chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng Tái hiện quá xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc và phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đề tài đã đưa ra một số kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).

Cuốn sách Xây dựng Đảng về tổ chức của tác giả Ngô Đức Tính, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 đã trình bày các nguyên lý, quan điểm, nộidung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng về tổ chức và công tác tổ chức như xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máycủa Đảng, công tác cán bộ, đảng viên của Đảng Cuốn sách cũng đưa ra một sốgiải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức bộ máy của Đảng hiện nay,

đó là, cần phải nhận thức đúng đắn về vai trò và nhiệm vụ của Đại hội Đảng các

Trang 20

cấp, phải rất coi trọng đổi mới và kiện toàn cấp ủy các cấp về mọi mặt đặc biệttập trung kiện toàn tổ chức ở hai cấp trọng yếu là cấp Trung ương (đây là cấp cóvai trò chiến lược, nơi trực tiếp đề ra cương lĩnh, đường lối và chỉ đạo thực hiệnđường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước) và cấp cơ sở (đây làcấp nền tảng của Đảng và của hệ thống chính trị) Tác giả khẳng định công tácxây dựng Đảng về tổ chức nói chung và xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng nóiriêng luôn có mối quan hệ biện chứng với các mặt xây dựng Đảng về chính trị và

tư tưởng Việc xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức trong hệthống chính trị xuất phát từ đường lối chính trị của Đảng, phục vụ thực hiện cóhiệu quả các nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong mọi thời kỳ

Cuốn sách chuyên khảo Tổ chức cơ sở đảng với cuộc vận động xây

dựng, chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tập thể tác giả

Nguyễn Cúc, Lê Phương Thảo, Doãn Hùng xuất bản năm 2004, Nxb Chính trịQuốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày một cách khái quát những quanđiểm, lý luận về tổ chức cơ sở đảng và xây dựng, chỉnh đốn đảng Cuốn sáchkhẳng định trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng, tổ chức cơ sởđảng có tầm quan trọng đặc biệt, bởi đây là nơi triển khai thực hiện các quyếtđịnh từ Trung ương đến địa phương, nơi kiểm nghiệm các quyết sách lãnh đạoquản lý, nơi sang lọc đội ngũ đảng viên trong quá trình xây dựng, chỉnh đốnđảng, nơi trực tiếp gắn bó với quần chúng Các tác giả đã phân tích, đánh giátình hình thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng tại các tổ chức cơ

sở đảng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn các nhiệm vụxây dựng, chỉnh đốn đảng tại các loại hình tổ chức cơ sở đảng

Trong bài viết Nghiên cứu xu thế phát triển tổ chức của Đảng Cộng

sản Việt Nam dưới điều kiện toàn cầu hóa, tin tức hóa, Tạp chí Thế giới

đương đại và chủ nghĩa xã hội, số 1, 2008, tác giả Thôi Quế Điền đã phân tích

bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và tin tức hoá, những thách thức của nó đối vớicông tác xây dựng, phát triển tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam Đứng

Trang 21

trước thách thức ấy, quá trình xây dựng hệ thống chính sách chiến lược mớivới những đặc điểm mới và xu thế mới về công tác xây dựng tổ chức đảng củaĐảng Cộng sản Việt Nam cũng bước đầu được đi sâu nghiên cứu.

Nguyễn Văn Giang - Phạm Tất Thắng với cuốn sách “Các lý thuyết tổ

chức hiện đại và việc vận dụng vào công tác tổ chức xây dựng Đảng hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012 Cuốn sách đã đưa ra các khái

niệm, vị trí, vai trò của công tác tổ chức xây dựng Đảng cũng như nghiên cứucác lý thuyết tổ chức hiện đại và vận dụng vào công tác tổ chức xây dựngĐảng của Việt Nam hiện nay Nhiệm vụ của công tác tổ chức xây dựng Đảngđược đề cập đến trong cuốn sách bao gồm xây dựng tổ chức, bộ máy củaĐảng; xây dựng nguyên tắc, tổ chức hoạt động của Đảng; xây dựng đội ngũđảng viên và đội ngũ cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Tài liệu “Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống tổ chức các cơ quan lưu trữ của Đảng” trên đường link: https://tailieu.vn/doc/he-thong-to-chuc-cua-dang-cong-san-viet-nam-va-he-thong-to-chuc-cac-co-quan-luu-tru-dang-191834.html Tài liệu đã cung cấp về chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và tổ chức bộ máy các cấp từ Trung ương đến cơ sở của Đảng và hệ thống tổ chức các cơ quan lưu trữ của Đảng trong giai đoạn hiện nay

- Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975

Tác phẩm của Lê Đức Thọ: Ra sức nâng cao chất lượng và đẩy mạnh

cuộc vận động xây dưng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt”, Nxb Sự thật, Hà

Nội, 1966 đã đề cập đến xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở bốn tốt ở miền Bắcnhững năm 60 của thế kỷ XX Tác phẩm đã nêu cao sự cần thiết phải xâydựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh trong khi nhiệm vụ của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước ngày càng nặng nề

Cuốn sách khẳng định mục đích, yêu cầu, nội dung, phương châm,phương pháp tiến hành cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt do Trung ương

Trang 22

Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn không những phù hợp với yêu cầu của côngtác xây dựng Đảng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ mà còn phù hợpvới yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong cả giai đoạn sau.

Cuốn sách đã rút ra những kinh nghiệm về xây dựng tổ chức cơ sở củaĐảng thông qua cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt, gồm bảy kinh nghiệmlớn: (1) Nhận rõ vị trí quan trọng của tổ chức cơ sở của đảng, xác lập và nângcao sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của tổ chức cơ sở của đảng (2) Quán triệtmột cách đầy đủ và toàn diện bốn yêu cầu của cuộc vận động (3) Gắn chặt việcxây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở về tư tưởng, kiến thức và về tổ chức với việc đấutranh để thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị trong từng thờigian (4) Quán triệt một cách đúng đắn phương châm lấy xây dựng đảng về tưtưởng làm gốc, đồng thời coi trọng xây dựng Đảng về mặt tổ chức, kết hợp chặtchẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức (5) Liên hệ chặt chẽ với quầnchúng, kết hợp chặt chẽ giữa công tác xây dựng tổ chức cơ sở của đảng với côngtác vận động quần chúng (6) Gắn việc xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt”với việc xây dựng tổ đảng “bốn tốt”, đảng viên “bốn tốt”; gắn liền và coi trọng

cả hai khâu bồi dưỡng, lựa chọn bố trí tốt cốt cán lãnh đạo và làm tốt công tácđối với đảng viên (7) Nắm vững phương châm vừa phát huy tính chủ động sángtạo của tổ chức cơ sở của đảng, vừa tăng cường sự chỉ đạo cụ thể của cấp trênnhất là của cấp huyện và cấp tỉnh, thành

Tác phẩm Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Lê Duẩn, Tập

II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976 đã trình bày một cách cụ thể về sự tất yếu xâydựng CNXH ở Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng đặc biệt tác phẩm

đã đề cập toàn diện đến công tác xây dựng Đảng, đến sự cần thiết phải coitrọng công tác tổ chức trong Đảng Tác phẩm khẳng định trong tình hình xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thì nhất thiết phải tăng cường công tác xâydựng Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo nhữngnguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, có đường lối, chính sách đúng, có tư

Trang 23

tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và chỉđạo thực hiện đầy đủ, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thànhcủa nhân dân.

Tác phẩm đã đưa ra những biện pháp để nâng cao sức chiến đấu củaĐảng, cần phải bố trí hợp lý hơn nữa bộ máy của Đảng ở các cấp, các ngành,

bổ sung các chế độ sinh hoạt nội bộ, cải tiến phương pháp lãnh đạo và lề lốilàm việc của các cấp ủy đảng, tăng cường và đổi mới đội ngũ cán bộ đến việclàm trong sạch hàng ngũ của Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên

Quan điểm của tác giả được thể hiện trong tác phẩm khi nhấn mạnh đếnviệc phải hết sức coi trọng, củng cố, xây dựng Đảng về mặt tổ chức, trước hếtphải nâng cao chất lượng của chi bộ vì chi bộ là tổ chức cơ sở của Đảng, là nơigắn liền Đảng với quần chúng, là nơi tổ chức thực hiện đường lối, chính sách củaĐảng đồng thời là nơi đào tạo cán bộ cho Đảng Vì thế, vấn đề tăng cường côngtác xây dựng chi bộ được tác phẩm chú trọng khi có một phần riêng nói về “thếnào là một chi bộ tốt, một đảng bộ tốt” và tác giả khẳng định “Một chi bộ tốt,một đảng bộ tốt trước hết là một chi bộ, một đảng bộ biết lãnh đạo nhân dân kiênquyết chiến đấu góp phần đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng vàlàm tốt ba cuộc cách mạng ở nông thôn” [69, tr.260]

Tác phẩm đề cập đến việc phải dựa vào những nguyên tắc tổ chức củaĐảng mà quản lý đảng viên, kiểm tra đạo đức, phẩm chất đảng viên, giữ vữngsinh hoạt chính trị, tư tưởng trong Đảng và đề cao kỉ luật Đảng Phải thực hiệnnghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, xây dựng một nền nếp sinh hoạt dânchủ đầy đủ trong các cấp ủy đảng, nhất là trong chi bộ Thông qua việc thực hiệnnhững chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước mà kiểm tra đạo đức, phẩmchất của cán bộ, đảng viên, tích cực đấu tranh chóng quan liêu, mệnh lệnh, tham

ô, lãng phí Sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chỉ đượcbảo đảm khi các tổ chức Đảng, các cấp ủy Đảng từ trung ương đến cơ sở chấphành nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng

Trang 24

Tác phẩm xác định công tác cán bộ là mặt quan trọng hàng đầu củacông tác tổ chức , vì thế cần “phải làm tốt công tác cán bộ”, phải ra sức đàotạo và bồi dưỡng cán bộ Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cán bộlãnh đạo, chỉ đạo và cán bộ quản lý thì phải đào tạo được một đội ngũ cán bộkhoa học kỹ thuật, là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnhmiền Bắc đang xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội trong đócách mạng kỹ thuật là then chốt vì thế rất cần đến một đội ngũ cán bộ khoa

học kỹ thuật lớn mạnh, xuất thân từ công nông, từ hàng ngũ cách mạng.

Đối với đội ngũ đảng viên, tác phẩm khẳng định đảng viên phải vừa cóđạo đức cách mạng vừa có trí thức cách mạng, có năng lực tương xứng vớinhiệm vụ, có tác dụng lãnh đạo quần chúng

Cuối cùng, tác phẩm khẳng định, để làm tròn sứ mệnh lịch sử của Đảngtrước giai cấp và dân tộc, nhất thiết phải tăng cường công tác xây dựng Đảng,bảo đảm cho Đảng luôn luôn nắm vững và vận dụng sang tạo những nguyên lýcủa chủ nghĩa Mác – Lênin, có đường lối, chính sách đúng, có tư tưởng cáchmạng triệt để, có tổ chức vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và chỉ đạo Để nângcao hơn nữa sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, tác phẩm nhấn mạnh,nhiệm vụ cấp bách là kịp thời và mạnh dạn sửa đổi về tổ chức, từ việc bố trí hợp

lý hơn nữa bộ máy của Đảng ở các cấp, các ngành, bổ sung các chế độ sinh hoạtnội bộ, cải tiến phương pháp lãnh đạo và lề lối làm việc của các cấp ủy đảng,tăng cường và đổi mới đội ngũ cán bộ, đến việc làm trong sạch hàng ngũ củaĐảng và nâng cao chất lượng đảng viên Các cấp ủy đảng phải hết sức chăm lotăng cường các tổ chức cơ sở Các chi bộ, đảng bộ cơ sở phải được xây dựng vàcủng cố thật sự để trở thành những đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng

Công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu về tổ chức do Nguyễn

Hữu Tri và Nguyễn Thị Phương Hồng (chủ biên): Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.

Cuốn sách đã nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử công tác tổ chức củaĐảng trong 70 năm từ năm 1930 đến năm 2000 Ở mỗi giai đoạn, cuốn sách đã

Trang 25

cố gắng trình bày một cách cụ thể về những quan điểm, chủ trương, sự lãnh đạocủa Đảng về công tác tổ chức Đảng, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng.

Đặc biệt, cuốn sách đã dành dung lượng khá lớn đề cập đến lịch sửcông tác tổ chức của Đảng thời kỳ 1954-1975 trong cả nước nói chung vàmiền Bắc nói riêng Đây là giai đoạn công tác tổ chức xây dựng đảng đượctiến hành trong thời kỳ cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhấtnước nhà Công tác tổ chức của Đảng ở miền Bắc được tái hiện sinh động vớinhững số liệu chân thực, phản ánh được quá trình xây dựng Đảng về tổ chức

từ năm 1954 đến năm 1975 trên các lĩnh vực như bộ máy Đảng từ Trung ươngđến địa phương, công tác cán bộ, phát triển đảng viên

Các tác giả cũng đưa ra những kinh nghiệm trong quá trình xây dựngĐảng về tổ chức trong suốt thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân(1930-1975) Kinh nghiệm đầu tiên là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phảiluôn luôn chăm lo tổ chức xây dựng Đảng để xứng đáng là “người lãnh đạo,người đầy tớ trung thành của nhân dân” Kinh nghiệm thứ hai là bảo đảmnhững nguyên tắc chủ yếu của quá trình tổ chức Kinh nghiệm thứ ba là biết

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong công tác tổ chức, xây dựng Đảng Kinhnghiệm thứ tư là công tác tổ chức phải bám sát thực tiễn, phải vận động tổchức nhân dân tạo ra được “những ngày hội cách mạng của quần chúng”

Cuốn sách khẳng định phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặt:chính trị, tư tưởng và tổ chức Ba mặt ấy gắn liền với nhau, quyết định lẫn nhau.Xây dựng Đảng về tư tưởng và về tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với nhau, phảixuất phát từ đường lối và nhiệm vụ chính trị, đồng thời bảo đảm cho đường lối

và nhiệm vụ chính trị được xác định đúng, được thấu suốt và thực hiện đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Tấn: Quá trình xây dựng Đảng về tổ

chức ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, Học viện Chính trị

-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012 đã đề cập trực tiếp đến quátrình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc từ năm 1965 đến 1975

Trang 26

Luận án đã làm rõ yêu cầu khách quan chi phối đến cách mạng Việt Nam vàcông tác xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc trong những năm 1965-1975cũng như tái hiện thực tiễn xây dựng Đảng về tổ chức.

Đồng thời Luận án đã rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc giai đoạn 1965-1975: (1)Xác định và nhận thức đúng vị trí, vai trò của công tác xây dựng Đảng và xây dựng Đảng về tổ chức để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ cách mạng; (2) Chăm lo xây dựng, kiện toàn cấp ủy - cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết nhất trí; (3)Xây dựng Đảng về tổ chức phải được thực hiện toàn diện, đồng bộ tất cả các mặt của công tác tổ chức Đảng và phải dựa vào nhân dân; (4)Tăng cường lực lượng, năng lực lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương trong việc xây dựng hệ thống tổ chức các cấp của Đảng thống nhất, vững mạnh, bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo cách mạng.

Bài viết của tác giả Đồng Xuân Quách trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 3,

1996, Tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Linh (1965-1968) đã đề cập

đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Linh trong công tác phát triển đảng viên,củng cố kiện toàn chi bộ, bồi dưỡng cán bộ và đẩng viên để đáp ứng nhiệm vụchính trị của địa phương Vĩnh Linh trong những năm 1965-1968

Bài viết của tác giả Hồ Khang: Miền Bắc chuyển nhanh từ thời bình sang thời chiến - một thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Tạp chí Lịch sử Đảng số 10, 1998 đã tập trung viết về sự

chuyển hướng xây dựng ở miền Bắc khi có chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của

đế quốc Mỹ Bài báo cũng đề cập đến cuộc vận động xây dựng chi bộ “bốn tốt”

để đáp ứng vai trò lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng

Bài viết Xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng ở miền Bắc

(1965-1975) trên tạp chí Lịch sử Đảng số 2, 2012 của tác giả Nguyễn Thế Tấn đã tập

trung khảo cứu về cuộc vận động chỉnh huấn và xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ

sở bốn tốt (1965-1968); Cuộc vận động "chỉnh huấn" năm 1969; nâng caochất lượng đảng viên (1969-1973)

Trang 27

Tác giả Phan Hữu Tích với Luận án tiến sĩ lịch sử: Đảng bộ Hà Nội

lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ (1965-1972), bảo vệ năm 1995 đã khắc họa lại quá trình lãnh đạo cuộc

chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Đảng bộ Thành phố HàNội Luận án đề cập một cách khái quát nội dung xây dựng Đảng về tổ chứcvới một số sự kiện tiêu biểu, các số liệu về xây dựng, củng cố tổ chức Đảngcác cấp, công tác tác cán bộ ở Hà Nội thời gian này nhằm minh họa cho sựlãnh đạo của đảng bộ địa phương thực hiện các nhiệm vụ chính trị

Luận án Tiến sĩ lịch sử: Đảng bộ Vĩnh Linh lãnh đạo quân dân địa

phương đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất 1968) của tác giả Đồng Xuân Quách, Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác -

(1965-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, 1996 Luận án đã trình bày về sự lãnh đạocủa Đảng bộ Vĩnh Lĩnh (Quảng Trị) ltrong thời kỳ chống đế quốc Mỹ giaiđoạn 1954-1964, giai đoạn xây dựng và chi viện cho tiền tuyến miền Nam(1965-1968) Luận án cũng đề cập đến vấn đề xây dựng Đảng về tổ chức ởđặc khu Vĩnh Linh và đưa ra những số liệu cụ thể về công tác phát triển đảngviên, củng cố kiện toàn chi bộ và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên để đáp ứngnhiệm vụ chính trị của địa phương Vĩnh Linh trong giai đoạn này

1.2 Khái quát kết quả những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu

Dưới nhiều góc độ khác nhau, các nhóm công trình nghiên cứu trên đãtrình bày công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc trong toàn bộcuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) ở những mức độ khácnhau và đã giải quyết được các vấn đề sau:

- Về tư liệu, các công trình như sách, luận án, các bài viết trên các tạp

chí chuyên ngành nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác tổchức của Đảng qua các thời kỳ, ở các mức độ khác nhau, các công trình

Trang 28

đã cung cấp các số liệu cụ thể về hệ thống tổ chức Đảng, kiện toàn chi bộ, sốlượng cán bộ, đảng viên, chất lượng đảng viên, đào tạo cán bộ ở miền BắcViệt Nam giai đoạn 1954-1975.

Đặc biệt công trình nghiên cứu Lịch sử công tác tổ chức của Đảng

Cộng sản Việt Nam 1930-2000 của Nguyễn Hữu Tri và Nguyễn Thị Phương

Hồng đã cung cấp những số liệu cụ thể trong quá trình xây dựng hệ thống tổchức ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Tấnnghiên cứu chuyên sâu về quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền BắcViệt Năm từ năm 1965 đến năm 1975 nên đã cung cấp những số liệu về cán

bộ, đảng viên, chi bộ bốn tốt, trong giai đoạn miền Bắc có chiến tranh

Những tư liệu lịch sử chân thực và đáng tin cậy của các công trình gópphần làm rõ về công tác xây dựng tổ chức đảng của miền Bắc trong thờikỳ1954-1975

- Về nội dung, các cuốn sách của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước

cũng như của các nhà khoa học đề cập trực tiếp đến công tác xây dựng Đảng và cungcấp những lý luận về vấn đề xây dựng Đảng nói chung, về công tác xây dựng tổ chứcĐảng nói riêng, thấy được sự cần thiết và vai trò quan trọng của công tác xây dựng hệthống tổ chức Đảng qua các thời kỳ Tác phẩm của đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ

là những cứ liệu quan trọng giúp cho NCS có cái nhìn tổng quát về sự cần thiết phảixây dựng hệ thống tổ chức của Đảng của miền Bắc trong những năm tháng thực hiệncuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Các công trình nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng đảng nói chung và hệ thống tổ chức của Đảng nóiriêng cung cấp khung lý thuyết về hệ thống tổ chức như vị trí, vai trò, chứcnăng, nhiệm vụ

Chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đảng nói chung và xâydựng hệ thống tổ chức của Đảng nói riêng qua các thời kỳ được các công trìnhnghiên cứu đề cập đến trong đó ít nhiều đã trình bày chủ trương của Đảngtrong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng giai đoạn 1954-1975

Trang 29

Vốn là vấn đề có tính khoa học và thực tiễn sâu sắc nên vấn đề xâydựng Đảng nói chung luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đặcbiệt quan tâm và tái hiện, minh hoạ khá sinh động và rõ nét từ bối cảnh lịch

sử, chủ trương, đường lối cũng như nội dung chính của vấn đề xây dựng đảngnói chung trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức

Thông qua các công trình nghiên cứu, bối cảnh lịch sử của miền Bắcthời kỳ 1954-1975 đặc biệt là giai đoạn 1965-1975 được tái hiện, minh hoạkhá sinh động và rõ nét Quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựngĐảng về tổ chức ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 đặc biệt giai đoạn miền Bắc

có chiến tranh 1965-1975, công tác xây dựng tổ chức được phác họa, đề cậpnhững ưu điểm, hạn chế và rút được một số kinh nghiệm

Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác xây dựng Đảng về tổchức ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 được công bố dưới nhiều góc

độ, mức độ và nội dung khác nhau Đó là những cơ sở quan trọng về lý luận,những gợi ý khoa học và là nguồn tư liệu lịch sử chân thực, độ tin cậy cao,giúp ích rất lớn để luận án triển khai nghiên cứu, đánh giá về công tác xâydựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc trong thời kỳ kháng chiếnchống Mỹ cứu nước 1954 - 1975

-Về phương pháp: Các công trình nói trên được các tác giả đã sử dụng

các phương pháp chuyên ngành xây dựng Đảng, chính trị học, lịch sử Đảng,khoa học lãnh đạo các tác giả cũng đã sử dụng một số phương pháp khácnhư: điều tra xã hội học, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, phương phápchuyên gia…để nghiên cứu, luận giải các vấn đề nêu trên và phản ánh nhữngnội dung cơ bản ở những mức độ, khía cạnh khác nhau

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Công tác xây dựng Đảng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước 1954-1975 tuy đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứunhưng vấn đề lịch sử xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc từ năm

Trang 30

1954 đến năm 1975 chưa được đề cập tương xứng Cho đến nay chưa có mộtcông trình khoa học lịch sử nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện nhữngvấn đề về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc trong những năm xâydựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước(1954-1975) Sở dĩ có điều đó vì đây là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, khó khăntrong tiếp cận nguồn sử liệu Để góp phần khắc phục những “khoảng trống”của lịch sử Đảng nói trên, trong luận án này tập trung nghiên cứu giải quyếtcác vấn đề sau:

- Về tư liệu: Công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng thời kỳ

1954-1975 rất phong phú, có nhiều vấn đề về tổ chức, về cán bộ, đảng viên,

về chỉnh đốn chi bộ chưa được nghiên cứu thấu đáo hoặc còn nhiều đánhgiá, nhận xét khác nhau trong khi đó tài liệu phản ánh về vấn đề xây dựng hệthống tổ chức của Đảng lại tản mạn, có những tài liệu mang tính nhạy cảm

Nhận thức rõ những khó khăn đó, NCS đã kiên trì và cẩn trọng trongcông tác sử liệu Các tài liệu dùng trong Luận án được khai thác từ bộ sáchVăn kiện Đảng toàn tập đã xuất bản; các tài liệu gồm nghị quyết, chỉ thị, báocáo, bài phát biểu của thời kỳ 1954-1975 được lưu trữ tại các cơ quan lưu trữcủa Trung ương và các địa phương, nhất là tại Cục lưu trữ Văn phòng Trungương Đảng; phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng của Học viện Chính trị Quốcgia Hồ Chí Minh, Trung tâm lưu trữ quốc gia III

Với tinh thần đó, Luận án sẽ cung cấp những số liệu cụ thể, chân thực

về cuộc chỉnh đốn chi bộ trong cải cách ruộng đất (1954 - 1957), những tưliệu về công tác phát triển đảng viên qua “lớp đảng viên 6-1” năm 1960; sốliệu đảng viên được kết nạp và bị khai trừ qua “Cuộc vận động nâng cao chấtlượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”

Luận án cung cấp những tài liệu về việc thành lập các Khu tự trị, các banchuyên môn của Đảng, có những số liệu cụ thể trong công tác cán bộ, đảng viên

Trang 31

- Về nội dung: Luận án không chỉ đơn thuần trình bày bối cảnh lịch sử

mà sẽ chú trọng nghiên cứu một cách cụ thể về những đặc điểm của cách mạngViệt Nam như là một sự tác động đến các chủ trương, đường lối của Đảng nóichung và xây dựng hệ thống tổ chức đảng nói riêng ở miền Bắc trong những năm1954-1975

Luận án sẽ trình bày một cách có hệ thống chủ trương của Trung ươngĐảng, Bộ Chính trị đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ởmiền Bắc từ tháng 7 năm 1954 đến trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

Luận án đi sâu vào nghiên cứu bộ máy tổ chức các cấp của Đảng từTrung ương đến cơ sở Dựa trên việc khai thác những tư liệu, luận án làm rõ

sự điều chỉnh hệ thống tổ chức của Đảng từ năm cấp ở Đại hội II (tháng 1951) đến bốn cấp ở Đại hội III (tháng 9-1960) Luận án sẽ tái hiện một cáchkhách quan, khoa học về chỉnh đốn tổ chức trong cải cách ruộng đất; làm rõviệc kiện toàn các ban Đảng như Ban Bí thư, Ban Kiểm tra Trung ương, BanTuyên giáo cũng như việc thành lập các khu tự trị, đặc khu và các ban chuyênmôn của Đảng; nghiên cứu các cuộc chỉnh huấn về mặt tư tưởng để làm rõhơn mối quan hệ giữ công tác tư tưởng và công tác tổ chức

2-Luận án làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện công tác xây dựngđội ngũ cán bộ và phát triển đảng viên đặc biệt nhấn mạnh đến các đợt pháttriển đảng qua lớp đảng viên 6-1, lớp đảng viên Hồ Chí Minh; đến cuộc vậnđộng xây dựng chi bộ, đảng bộ “bốn tốt”

Trên tinh thần khách quan, khoa học, Luận án chỉ ra những mặt ưuđiểm và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chứccủa Đảng ở miền Bắc trong cả thời kỳ 1954-1975 Với hướng tiếp cận, góc độnghiên cứu độc lập, không trùng lắp với công trình khoa học đã công bố, luận

án đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh đạo công xâydựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975

Trang 32

- Về phương pháp: Trên cơ sở kế thừa những phương pháp nghiên cứu

của các công trình trước, tác giả vận dụng để tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt

ra của đề tài luận án trong đó sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử và

phương pháp logic

Tiểu kết

Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề xây dựng hệ thống tổ chứccủa Đảng được coi là lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa Từ khi Đảng ra đời cho đến nay đây là lĩnh vực được rấtnhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Với nhiều cách tiếp cận và mục đíchnghiên cứu khác nhau, các công trình đã khai thác nhiều mảng màu về hệ thống

tổ chức như: chủ trương, đường lối, thực tiễn xây dựng, thành công, hạn chế, mốiquan hệ giữa tổ chức với chính trị, tư tưởng Từ quá trình khảo sát đã giúpnghiên cứu sinh có cái nhìn bao quát, có hệ thống về hệ thống tổ chức, có nhữngnhận xét, đánh giá, sàng lọc bước đầu để tiếp thu giá trị của các công trình đãđược công bố để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài

Đối với vấn đề xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc trongthời kỳ 1954-1975, nghiên cứu sinh bước đầu đã khái quát hóa các công trình

đã được công bố, nhận xét, đánh giá và tiếp thu có chọn lọc giá trị của cáccông trình trên Tiếp cận với mục đích nghiên cứu về quá trình Đảng lãnh đạoxây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc 1954-1975, tác giả nhậnthấy vấn đề này chưa được khai thác nhiều Đây sẽ là một “khoảng trống”, vìthế để làm phong phú, đa dạng thêm kho tàng các công trình nghiên cứu về hệthống tổ chức của Đảng nói chung, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vềĐảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954-

1975 phù hợp với chuyên ngành Lịch sử Đảng

Trang 33

Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC

CỦA ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC (1954 – 1960)

2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc (1954 – 1960)

2.1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức của Đảng trước năm 1954

Quán triệt những nguyên tắc về xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định xây dựng,củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụquan trọng hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng

-Đầu năm 1930, tại Hồng Kông (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc triệutập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành ĐảngCộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Điều lệ vắn tắt quy định hệthống tổ chức của Đảng: Đảng là một khối thống nhất có tổ chức chặt chẽ, hệthống tổ chức được phân thành 4 cấp: Chi bộ - Huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ

- Tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ - Trung ương”[85, tr.7-8]

Điều lệ trên đã đặt cơ sở cho sự hình thành hệ thống tổ chức các cấpcủa Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi thành lập, đến tháng 5 năm 1930, côngcuộc hợp nhất các tổ chức Đảng ở trong nước hoàn tất, hệ thống tổ chức củaĐảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành từ Trung ương đến cơ sở với 38 tỉnh,thành phố trên cả nước đã có tổ chức Đảng

Tháng 10-1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông Căn cứ vào Điều lệ của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị lần thứ nhất định

ra Điều lệ Đảng của Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức ra các Xứ ủy cho vững vàng Nghị quyết Hội nghị quy định rõ hệ thống tổ chức Đảng có 6 cấp: Chi bộ - Tổng bộ (ở nhà quê) - Huyện bộ (ở các tỉnh), khu bộ (các thành phố, các vùng đồn

điền, các vùng mỏ)- Tỉnh bộ hoặc thành bộ - Xứ bộ - Trung ương [85, tr.120-121.]

Trang 34

Điều lệ của Đảng Cộng sản Đông Dương (10-1930) đánh dấu bướcphát triển mới về công tác tổ chức xây dựng Đảng Ở Trung ương, ba bộ (saunày gọi là ban) được hình thành: Bộ Tuyên truyền, Bộ Tổ chức kiêm giaothông, Bộ Tài chính Điều lệ qui định cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảnggiữa hai kỳ Đại hội là Ban chấp hành Trung ương; các Hội nghị của Trungương và các cấp bộ của Đảng; qui định cơ cấu tổ chức của các tổ chức Đảng.

Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (3-1931) tập trung

bàn về công tác tổ chức Hội nghị nhấn mạnh: “Công việc tổ chức là một phần công việc rất quan trọng của Đảng Nếu công việc đó làm không đúng thì nguy hại cho Đảng rất lớn”[85, tr.104] Hội nghị nêu rõ các nguyên tắc của việc củng

cố, phát triển hệ thống tổ chức Đảng cho các xứ uỷ, các đảng bộ thực hiện là:Đảng phải có kỷ luật sắt; phải lấy công nhân làm lực lượng căn bản; phải tổ chứctheo cách dân chủ, tập trung; gắn công tác tổ chức với đấu tranh… Nghị quyếtnhấn mạnh “chi bộ là cơ sở của Đảng” đặc biệt là chi bộ sản nghiệp vì thế Hộinghị yêu cầu các đảng bộ phải coi chi bộ sản nghiệp là căn bản tổ chức, là tổchức cơ sở căn bản nên phải “xoay hướng” về chi bộ, nhất là chi bộ nhà máy

Điều lệ Đảng do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 thông qua, cùngvới những chỉ đạo về công tác xây dựng tổ chức của Hội nghị lần thứ 2 BanChấp hành Trung ương về cơ bản đã định hình về hệ thống tổ chức của Đảngtrong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền thời kỳ 1930-1945

Mặc dù với số lượng đảng viên ít (từ 310 đảng viên khi Đảng Cộng sảnViệt Nam mới ra đời [85, tr.21] lên đến 3.150 đồng chí vào cuối năm 1944[145, tr.97] nhưng với sự hoạt động của hệ thống tổ chức Đảng các cấp lànhân tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp của phongtrào cách mạng trên phạm vi cả nước Chính nhờ triển khai công tác xây dựngĐảng về mặt tổ chức liên tục, kịp thời, đều khắp mà cơ sở Đảng được tổ chức,bám trụ ở cả nông thôn và thành thị, vì thế, khi thời cơ đến, tất cả các cấp bộĐảng ở ba miền Bắc, Trung, Nam đã đồng loạt lãnh đạo nhân dân tiến hành

Trang 35

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền kịp thời, góp phần làm nên một cuộcTổng khởi nghĩa thành công vang dội và ít đổ máu trên phạm vi cả nước, đưa

sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi bằng cuộc Cách mạng Tháng Támnăm 1945 có ý nghĩa lịch sử và thời đại

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

ra đời, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Với sự ra đời củaNhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng Cộng sản Đông Dương trởthành Đảng lãnh đạo chính quyền cách mạng trong cả nước - bắt đầu quá trình

Đảng cầm quyền để thực thi các nhiệm vụ cách mạng.

Khi trở thành Đảng cầm quyền, vai trò của Đảng lúc này là phải lãnhđạo xây dựng nhà nước cách mạng, nắm bộ máy chính quyền nhà nước từtrung ương đến cơ sở, bảo đảm cho nhà nước trong hoạt động đối nội và đốingoại phải theo đúng đường lối của Đảng Đồng thời Đảng phải lãnh đạo toànnhà nước, toàn xã hội, toàn dân thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc rấtnặng nề, khó khăn trong bối cảnh các thế lực đế quốc và phản động trên danhnghĩa quân Đồng minh đã tràn vào Việt Nam, tạo điều kiện cho thực dân Phápquay trở lại xâm lược Việt Nam và cả Đông Dương Để có thể thực hiện đượcnhững nhiệm vụ đó thì đòi hỏi Đảng phải mạnh, có sự lãnh đạo chắc chắn,yêu cầu đặt ra cho công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng thời kỳ nàynhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị trung tâm hàng đầu là bảo đảm sự lãnh đạocủa Đảng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc

Trước việc phải đương đầu với nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, phảiđối mặt với nhiều kẻ thù, Đảng lại chưa có kinh nghiệm lãnh đạo chínhquyền, công tác phát triển Đảng còn rất hạn chế, vì thế, để bảo toàn lực lượng,giữ vững sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền, Đảng Cộng sản Đông Dươngbuộc phải rút vào hoạt động bí mật (dưới hình thức tuyên bố “Tự ý giải tán”

từ ngày 11-11-1945), nhưng vẫn duy trì phương thức lãnh đạo “khôn khéo”,

“kín đáo” với tổ chức công khai là Hội nghiên cứu chủ nghĩa

Trang 36

Mác ở Đông Dương để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuyên truyền đường

lối chính sách của Đảng, giữ vững và mở rộng mối liên hệ mật thiết giữaĐảng và quần chúng

Mặc dù hoạt động bí mật, song Đảng vẫn giữ vững sự lãnh đạo vớichính quyền nhà nước Bộ máy các cấp của Đảng từ Trung ương trở xuống cơ

sở vẫn được giữ vững, củng cố và xây dựng Theo Nghị quyết của Hội nghịcán bộ Trung ương Đảng (từ ngày 31-7 đến ngày 1-8-1946), hệ thống củaĐảng vẫn được tổ chức theo sáu cấp: Trung ương, xứ bộ, tỉnh bộ, huyện bộ,tổng bộ (xã bộ) và chi bộ; hầu hết công việc nội bộ của Đảng đều do BanĐảng vụ và Đội công tác đảm nhiệm

Để tránh tình trạng ôm đồm và đưa công việc đi vào nề nếp, ngày

tổ chức Thực hiện Nghị quyết 10, các cơ quan chuyên môn của Trung ương được thành lập gọi là Bộ, có ba Bộ: Bộ Tổ chức, Bộ Tuyên truyền và Bộ Tài

chính . Thành lập các cơ quan phụ thuộc Bộ gọi là Ban, phụ thuộc Ban gọi là

tiểu ban Các cấp uỷ Đảng địa phương (khu, tỉnh, huyện) cũng thành lập các

cơ quan chuyên môn như: Tiểu ban công vận, Tiểu ban thanh vận

Trong hệ thống các cơ quan chuyên môn, Trung ương đặt vấn đề thành

lập cơ quan tổ chức lên hàng đầu Ngày 1- 9-1947, Thường vụ Trung,ương Đảng ra Chỉ thị "Về việc lập Ban Tổ chức khu và tỉnh" và nêu rõ nhiệm vụ và

quyền hạn của các ban tổ chức nói chung Đây là lần đầu tiên trong lịch sửcông tác xây dựng Đảng, công tác củng cố và xây dựng các cơ quan chuyênmôn của Đảng đặc biệt là công tác tổ chức được chuyên môn hoá một bước

Thực hiện Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng (1-9- 1947) các cấp

uỷ đảng từ khu đến huyện bắt tay vào việc kiện toàn bộ máy tổ chức ở địaphương mình, thành lập ngay các Ban Tổ chức, làm cho hoạt động tổ chức cónhiều chuyển biến tích cực, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Đếnnăm 1947, hệ thống tổ chức của Đảng vẫn là sáu cấp Theo Nghị quyết Hội nghị

Trang 37

Trung ương mở rộng từ ngày 15 đến ngày 17-1-1948, bộ máy đảng ở Bắc vàTrung Bộ được tổ chức theo năm cấp: Trung ương, Khu uỷ, Tỉnh uỷ, Huyện

uỷ và Xã uỷ Hội nghị cán bộ Trung ương 4 (20-5-1948) đã đặc biệt chú ý đếnviệc tổ chức các ban và tiểu ban của Đảng Theo Nghị quyết của Hội nghị, cấpTrung ương, khu và tỉnh có bảy ban: Dân vận, Tuyên huấn, Tổ chức, Kinh tếtài chính, Kiểm soát, Địch vận, Giao thông liên lạc; cấp huyện có bốn ban:Dân vận (không cần lập tiểu ban), Tuyên huấn, Tổ chức kiêm kiểm soát, Kinh

tế tài chính Cấp xã không lập các ban hoặc tiểu ban, chỉ cử các đồng chí phụtrách công tác tuyên huấn, dân vận, tổ chức, kinh tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) đã đưaĐảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, theo Điều lệĐảng tại Đại hội lần này, hệ thống tổ chức của Đảng gồm 5 cấp: (1) Trung ương;(2) Xứ, khu, liên khu; (3) Tỉnh, thành phố; (4) Huyện, quận, thị xã; (5) Xã, thịtrấn Tương ứng với đó là bộ máy cơ quan lãnh đạo của Đảng bao gồm: (1) Ban Chấphành Trung ương; (2) Xứ ủy, khu ủy, liên khu ủy; (3) Tỉnh ủy, thành ủy;

Sơ đồ bộ máy cơ quan lãnh đạo của Đảng tương ứng với hệ thống tổ chức Đảng các cấp được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

II của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 2-1951)

Ban Chấp hành Trung ương

Xứ ủy, Khu ủy, Liên Khu ủy Tỉnh uỷ, Thành uỷ Huyện uỷ, Quận uỷ, Thị ủy

Chi ủy

Trang 38

Hệ thống tổ chức của Đảng gồm 5 cấp được thông qua tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) được duy trì cho đến Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960).

Thực hiện Nghị quyết và Điều lệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IIcủa Đảng, ngày 16-4-1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết

số 9-NQ/TW về việc thành lập các Ban và tiểu ban của Trung ương gồm có:Ban Tuyên huấn, Ban Tổ chức, Ban Mặt trận, Ban Kinh tế - tài chính, BanKiểm tra Trung ương, Tiểu ban Miên - Lào, Tiểu ban Công vận, Tiểu banNông vận, Tiểu ban Thanh vận, Tiểu ban Phụ vận

Về công tác phát triển đảng viên mới và nâng cao chất lượng đảng viênđược Đảng chú trọng, số lượng đảng viên mới không ngừng tăng qua các nămnhằm đáp ứng nhu cầu lãnh đạo kháng chiến: Từ 5.000 đảng viên năm 1945,đến tháng 12 năm 1946, số đảng viên đã lên tới 20.000, và đến cuối năm

1947, số đảng viên đã phát triển lên tới 78.000 người [18, tr.132] Đến năm

1948 với Chỉ thị thi đua kết nạp Đảng, số lượng đảng viên tăng gấp bội, chỉtrong hai năm 1948-1949, Đảng đã kết nạp hơn 50 vạn đảng viên, cuối năm

1949 đầu năm 1950, tổng số đảng viên là 430.000 [87, tr.92] Đến tháng

12-1950 toàn Đảng có 766.000 đảng viên [89, tr.95]

Với việc kết nạp ồ ạt đảng viên trong thời gian ngắn đã dẫn tới hiện tượng:bên cạnh số đảng viên trung thành, hăng hái có nhiều đảng viên kém ý thứcĐảng, ý thức giai cấp, ở một số cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng đã phát giác tay saicủa địch chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng Phát triển Đảng quá nhanh, khôngcoi trọng chất lượng và công tác giáo dục tư tưởng, công tác củng cố tổ chức làmchưa tốt Đặc biệt công tác giáo dục tư tưởng cho đảng viên còn nhiều khuyếtđiểm như: nặng về hình thức, không sát, giáo điều, không thường xuyên,v.v…Trước tình hình đó, ngày 14-9-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ

thị Về tạm ngừng việc kết nạp đảng viên mới trong toàn quốc để “củng cố hàng

ngũ, giáo dục đảng viên làm cho Đảng thành một Đảng mạnh mẽ

Trang 39

theo đúng tinh thần của Chủ nghĩa Mác - Lênin” [87, tr.482] Những năm cuốicủa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, việc kết nạp đảng viên và tổ chứcĐảng được củng cố để nâng cao chất lượng đảng viên.

Công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ khi Đảng ra đời được đặcbiệt quan tâm và đã trải qua các thời kỳ lịch sử hoạt động bí mật lãnh đạo đấutranh giành chính quyền; nắm chính quyền lãnh đạo kháng chiến, kiến quốctrong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp Đảng đã từng bước xâydựng hệ thống tổ chức Đảng luôn bảo đảm vững mạnh trước những khó khăn,thử thách của cách mạng Đến năm 1954, công tác xây dựng Đảng về tổ chức

đã đạt được những kết quả trên các phương diện xây dựng, củng cố các tổchức từ Trung ưong đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên

Những kết quả đó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, làmtiền đề cho công tác xây dựng Đảng tiếp tục phát huy trong những giai đoạnsau trong bối cảnh khi đất nước bị chia cắt làm hai miền

2.1.2 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới tác động đến xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc

Từ những năm 50 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thốngtrên thế giới Các Đảng Cộng sản và công nhân đã lên cầm quyền ở 13 nước xãhội chủ nghĩa, lực lượng đảng viên cộng sản của các đảng trên thế giới năm 1960

là 36 triệu người [124, tr.110] Các nước xã hội chủ nghĩa đang ở giai đoạn pháttriển cao, có vai trò và ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị thế giới

Sự phát triển của ba dòng thác cách mạng trên thế giới đã tác động tíchcực cả về vật chất và tinh thần đối với cách mạng nước ta trong sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc, quá độ lên chủ nghĩa xã hội Phong trào đấu tranhgiải phóng dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ-La tinh đã trởthành một dòng thác cách mạng mang hình thức mới là đấu tranh vũ trang vàchĩa mũi nhọn chống đế quốc Mỹ Phong trào độc lập dân tộc trên thế giớilàm suy yếu, phân tán lực lượng chủ nghĩa đế quốc, cổ vũ tinh thần đấu tranh

Trang 40

của nhân dân miền Nam, hỗ trợ tích cực cho cách mạng miền Bắc Trong khuvực, cùng với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là sựphát triển của cách mạng Lào và Nhà nước Campuchia theo đường lối hòabình, trung lập đã tạo thuận lợi đến cách mạng Việt Nam.

Tình hình thế giới cũng có những phức tạp, gây khó khăn bất lợi chocách mạng Việt Nam Các nước xã hội chủ nghĩa tuy đã trở thành hệ thốngnhưng vẫn đứng trước nhiều khó khăn về vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựngchủ nghĩa xã hội và cả những vấn đề về xây dựng Đảng Trong phong tràocộng sản và công nhân quốc tế xuất hiện những xu hướng tư tưởng khác nhau,những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, “tả khuynh”, hữu khuynh dẫn tới sự bấtđồng, mâu thuẫn, có lúc phát triển gay gắt

Thắng lợi của chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp với chiến thắngĐiện Biên Phủ cùng với Hiệp định Giơnevơ (7-1954) đã đưa cách mạng ViệtNam sang giai đoạn mới: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, và đất nước tạmthời bị chia cắt thành hai miền Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, căn bản hoànthành cách mạng dân tộc dân chủ, nhân dân và từng bước đi lên xây dựng chủnghĩa xã hội; tạo cơ sở vững chắc cho nhân dân cả nước đấu tranh để thực hiệnmột nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Trongkhi đó đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp trực tiếp với âm mưu biến miền NamViệt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Mỹ và tay sai rasức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, mở nhiều đợt “tố cộng”, “diệt cộng” đàn áp cáccuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam

Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựngđời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc mà còn nhằm làm hậuphương vững chắc cho miền Nam Bởi lẽ miền Nam trở thành thuộc địa của đếquốc Mỹ, tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hai miềnthực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ vớinhau nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày đăng: 17/10/2020, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w