Trongnhững trường hợp như vậy, ngôn từ và cấu trúc ngữ pháp cũng như nhữngquan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận lớn hơn câu được sử dụng trong văn bảnhợp đồng kinh tế không chuẩn xác, không đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Hương Giang
MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ:
SO SÁNH ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học “Mạch lạc trongvăn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt” làcông trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trình bày trongluận án là trung thực và chưa từng được công bố bởi bất kì tác giả nào haytrong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Hương Giang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy –GS.TS Nguyễn Văn Hiệp – đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và viết luận án
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Ngôn ngữ học,trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và các thầy cô giáo trongngành Ngôn ngữ học đã luôn tận tình truyền đạt kiến thức cho em, đồng thờitạo điều kiện và đồng hành cùng em trong suốt thời gian học tập và nghiêncứu để em có thể hoàn thành tốt luận án của mình
Em vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các anh chị phụtrách chương trình Đào tạo Sau đại học của khoa Ngôn ngữ học và trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luônđộng viên, góp ý, ủng hộ và chỉ dẫn nhiệt tình để em có thể tự tin công bốluận án của mình
Cuối cùng, em kính chúc các thầy cô, những người thân yêu trong giađình em, các anh chị, bạn bè, và đồng nghiệp luôn mạnh khỏe và thành côngtrong cuộc sống
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Danh mục các bảng 5
Danh mục các hình vẽ 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 9
2.1 Đối tượng nghiên cứu 9
2.2 Phạm vi và mục đích nghiên cứu 9
3 Câu hỏi nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa và đóng góp 12
7 Cấu trúc của luận án 13
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 15
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 15
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản 15
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn bản hợp đồng kinh tế 22
1.2 Cơ sở lí luận 23
1.2.1 Cơ sở lí luận về mạch lạc 23
1.2.2 Cơ sở lí luận về hợp đồng kinh tế 35
Trang 51.3 Tiểu kết 42
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA MẠCH LẠC QUA CÁC PHÉP LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ: SO SÁNH ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT 43
2.1 Các phép liên kết trong văn bản 44
2.1.1 Phép lặp 44
2.1.2 Phép nối 47
2.1.3 Phép quy chiếu 51
2.1.4 Phép thế 53
2.1.5 Phép tỉnh lược 55
2.1.6 Phép liên tưởng 57
2.2 Các phép liên kết tạo mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt 60
2.2.1 Các phép liên kết tạo mạch lạc trong hợp đồng kinh tế tiếng Anh 60 2.2.2 Các phép liên kết tạo mạch lạc trong hợp đồng kinh tế tiếng Việt 72 2.2.3 Nhận xét 77
2.3 Tiểu kết 82
Chương 3 BIỂU HIỆN CỦA MẠCH LẠC QUA CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ: SO SÁNH ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT 84
3.1 Các mối quan hệ tạo mạch lạc cho văn bản 85
3.1.1 Quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu 86
3.1.2 Quan hệ về chủ đề giữa các câu 87
Trang 63.1.3 Quan hệ thời gian 88
3.1.4 Quan hệ lập luận 90
3.1.5 Quan hệ nhân quả 91
3.1.6 Quan hệ điều kiện 93
3.1.7 Quan hệ ngoại chiếu 94
3.2 Mạch lạc biểu hiện qua các mối quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt 95
3.2.1 Mạch lạc biểu hiện qua các mối quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh 95
3.2.2 Mạch lạc biểu hiện qua các mối quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Việt 107
3.2.3 Nhận xét 113
3.3 Tiểu kết 117
Chương 4 ỨNG DỤNG VÀO SOẠN THẢO VÀ BIÊN DỊCH HỢP ĐỒNG KINH TẾ ANH – VIỆT 120
4.1 Sử dụng các phép liên kết hợp lí 120
4.1.1 Yêu cầu về việc dùng phép quy chiếu 120
4.1.2 Lưu ý về phép thế trong dịch thuật 122
4.1.3 Ưu điểm của lặp từ vựng và lặp ngữ pháp 124
4.1.4 Mạch lạc theo kiểu suy luận quy kết trong soạn thảo hợp đồng 127
4.2 Tạo mạch lạc qua các mối quan hệ 128
4.2.1 Tạo mạch lạc qua mối quan hệ giữa các từ ngữ trong câu 128
4.2.2 Tạo mạch lạc qua quan hệ thời gian 135
Trang 74.2.3 Tạo mạch lạc qua quan hệ điều kiện giữa các câu 138
4.2.4 Lưu ý về quan hệ ngoại chiếu 141
4.3 Một số yêu cầu khác về mạch lạc đối với việc soạn thảo và biên dịch hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt 142
4.3.1 Sử dụng từ ngữ chính xác, đơn nghĩa, và cụ thể 142
4.3.2 Sử dụng hợp lí câu dài bất thường 144
4.3.3 Dùng dấu câu hợp lí 146
4.4 Tiểu kết 148
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 152
1 Về lí luận 152
2 Về thực tiễn 154
3 Những vấn đề do luận án đặt ra cần nghiên cứu tiếp 155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC 1 i
PHỤ LỤC 2 v
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Bảng khảo sát tỉ lệ xuất hiện của các kiểu nối trong văn bản
hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt……… 80Bảng 4.1 Cấu trúc ngữ pháp câu điều kiện loại 1 trong tiếng Anh…… 140
Trang 9Danh mục các hình vẽ
Hình 2.1 Hệ thống phép nối……… 48Hình 4.1 Complex Prepositional Phrase in English (Giới ngữ phức
trong tiếng Anh)……… 135
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chọn đề tài nghiên cứu mạch lạc trong hợp đồng kinh tế, chúng tôinhắm tới một trong những vấn đề thời sự của lí thuyết phân tích diễn ngônhiện nay, áp dụng vào một loại văn bản quan trọng của đời sống Cơ sở cho sựlựa chọn của chúng tôi là như sau:
Thứ nhất, mạch lạc là một yêu cầu không thể thiếu đối với tất cả các thểloại diễn ngôn Trong văn nói cũng như văn viết, nếu nội dung giao tiếpkhông được trình bày mạch lạc thì hiệu quả giao tiếp sẽ không cao, thậm chí
có thể gây ra hiểu sai, hiểu lầm Tuy nhiên, mạch lạc không phải là một vấn
đề dễ nắm bắt Do tính mơ hồ và phức tạp của mạch lạc trong diễn ngôn nênchưa thực sự có nhiều công trình nghiên cứu sâu và toàn diện về vấn đề này
Thứ hai, hợp đồng kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định
sự phát triển và thành công của các doanh nghiệp vì nó không chỉ là nhữngthỏa thuận về nghĩa vụ thực hiện giữa các bên mà còn là một văn bản có giátrị pháp lý cao Chính vì vậy, một hợp đồng kinh tế không được soạn thảochính xác, rõ ràng, mang tính mạch lạc sẽ dẫn đến rất nhiều rủi ro về mặt kinh
tế và rắc rối về mặt pháp lý Tuy nhiên, làm thế nào để có được một hợp đồngkinh tế rõ ràng, chính xác và mạch lạc lại là điều mà rất nhiều doanh nghiệp,giáo viên và học viên băn khoăn Họ thường thấy khó khi soạn một hợp đồngkinh tế bằng tiếng Anh hay dịch một hợp đồng kinh tế từ tiếng Anh sang tiếngViệt cho chuẩn và ngược lại Nguyên nhân này có thể do họ chưa hiểu rõnhững điểm giống và khác nhau về cấu trúc và ngôn ngữ trong văn bản hợpđồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, điều này càng trầm trọng trong tình hìnhcác tiêu chuẩn quốc tế về hợp đồng kinh tế vẫn còn là một lĩnh vực khá mới ởViệt nam Đã có quan điểm cho rằng hợp đồng kinh tế tiếng Việt là sự kế
Trang 11thừa, sự sao chép hoặc chuyển dịch từ các hợp đồng kinh tế tiếng Anh Tuynhiên, quan điểm này hoàn toàn không đúng vì ở Việt Nam hợp đồng kinh tế
là loại hợp đồng được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế Việt Nam,được ban hành từ năm 1989, hình thức và nội dung của hợp đồng theo quyđịnh của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước ngày 25/9/1989
để bảo đảm không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội, còn hợp đồng kinh tếquốc tế tiếng Anh được áp dụng từ năm 1994 theo PICC (Principles ofInternational Commercial Contracts) - Nguyên tắc Hợp đồng Thương mạiQuốc tế Chính vì vậy mà đến nay, như đã nói ở trên, tuy đã có một vàinghiên cứu đề cập đến vấn đề này nhưng chưa có một nghiên cứu nào sosánh và đối chiếu mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và vănbản hợp đồng kinh tế tiếng Việt một cách chuyên sâu và toàn diện
Thứ ba, mặc dù các hợp đồng kinh tế được coi là văn bản ngôn ngữ cósức ảnh hưởng và chi phối lớn đến các hoạt động kinh doanh, có ảnh hưởngđến hậu quả kinh tế và trách nhiệm pháp lý giữa các bên tham gia ký kết hợpđồng nhưng vẫn có rất nhiều vụ án kinh tế xảy ra do vi phạm hợp đồng kinh
tế mà chủ yếu là các hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hợp đồng xuất nhậpkhẩu giữa các đối tác thuộc các nước nói ngôn ngữ khác nhau Nguyên nhâncủa những vi phạm này phần lớn là do các bên không thực hiện đúng các thỏathuận ghi trong hợp đồng Và một phần những sai phạm này có nguyên nhânthuộc về hình thức và nội dung được thể hiện trong văn bản hợp đồng Trongnhững trường hợp như vậy, ngôn từ và cấu trúc ngữ pháp cũng như nhữngquan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận lớn hơn câu được sử dụng trong văn bảnhợp đồng kinh tế không chuẩn xác, không đủ tường minh và mạch lạc đểngười tiếp thu văn bản có thể hiểu đúng và thực hiện đúng; hoặc có trườnghợp bản dịch hợp đồng không đúng với nội dung của hợp đồng cũng dẫn đếnnhững vi phạm hợp đồng đáng tiếc Để tránh những sai sót trong soạn thảo và
Trang 12biên dịch thể loại văn bản này cũng như nâng cao hiệu quả công việc kinhdoanh cho các cá nhân và các tổ chức kinh tế tại Việt Nam, chúng tôi thấyrằng cần phải có những nghiên cứu khoa học để đưa ra những giải pháp hợp
lý cho vấn đề này
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi muốn thực hiện một nghiên cứu đểtìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất giúp các doanh nghiệp, người soạn thảo vàngười dịch thuật vượt qua những khó khăn cơ bản để thành công khi soạnthảo hay biên dịch một hợp đồng kinh tế quốc tế Đây chính là động lực thúcgiục chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinhtế: so sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt” với hy vọng kết quả nghiêncứu sẽ góp phần giải đáp những vướng mắc cả về mặt lí luận và mặt thực tiễncủa vấn đề, nâng cao hiệu quả soạn thảo và biên dịch các văn bản hợp đồngkinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
2 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mạch lạc và những phương thứcbiểu hiện mạch lạc trong các văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếngViệt Luận án so sánh đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khácbiệt về mạch lạc giữa hai văn bản này, đồng thời chỉ ra những phương thứctạo mạch lạc hiệu quả cho việc soạn thảo và biên dịch các văn bản hợp đồngkinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
2.2 Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu là mạch lạc và những phương thức biểu hiệncủa mạch lạc trong các văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt,chúng tôi tập trung nghiên cứu các phương diện diễn ngôn (gồm hình thức và
Trang 13nội dung) của hai loại văn bản này dựa trên các nguồn tư liệu trích dẫn lànguyên bản các hợp đồng thương mại tiếng Anh và tiếng Việt.
Luận án tập trung vào miêu tả các đặc điểm diễn ngôn của thể loại vănbản hợp đồng kinh tế thông qua các đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa
và các phương thức tạo mạch lạc Đồng thời, luận án cũng sẽ so sánh đốichiếu những đặc điểm này trong văn bản hợp đồng tiếng Anh và tiếng Việt đểlàm cơ sở cho phần ứng dụng vào soạn thảo và dịch thuật các văn bản hợpđồng kinh tế Anh – Việt
Mục đích chính của luận án là làm rõ các phương tiện biểu hiện mạchlạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và văn bản hợp đồng kinh tếtiếng Việt, qua đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về mạch lạcgiữa hai loại văn bản này để đưa ra những lưu ý cần thiết nhằm nâng cao hiệuquả của công việc soạn thảo và biên dịch hợp đồng kinh tế
3 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án nêu ra những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Mạch lạc được biểu hiện qua các phương tiện ngôn ngữ nào?
- Những tương đồng và khác biệt về mạch lạc trong các văn bản hợpđồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt là gì?
- Phải lưu ý những gì về mạch lạc khi ứng dụng vào soạn thảo và biên dịch các hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt?
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, luận án tập trung vào những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Xác lập cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu mạch lạc
Trang 14- Áp dụng thuyết lý phân tích diễn ngôn để phân tích văn bản hợp đồngkinh tế tiếng Anh và văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Việt nhằm xác định đượcnhững điểm giống nhau và khác nhau về diễn ngôn của hai loại văn bản này.
- Phân tích cụ thể các phép liên kết và các kiểu quan hệ tạo mạch lạcxuất hiện trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và văn bản hợp đồng kinh tếtiếng Việt
- Dựa trên kết quả phân tích, chúng tôi so sánh đối chiếu những biểuhiện của mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và văn bản hợp
đồng kinh tế tiếng Việt để đề xuất các gợi ý cụ thể cho việc soạn thảo và biêndịch hai loại văn bản này
5 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, dựa trên kết quảphân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa cơ sở lí thuyết của
đề tài, luận án sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn để nghiên cứu việc sử dụng ngônngữ ở cấp độ trên câu, cụ thể ở nghiên cứu này là các văn bản hợp đồng kinh tếtiếng Anh và tiếng Việt
- Phương pháp miêu tả để phân tích những biểu hiện của mạch lạctrong các văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
- Phương pháp so sánh đối chiếu để tìm ra những đặc điểm tươngđồng và khác biệt về mạch lạc trong hai văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh vàtiếng Việt
Kết quả thu thập từ công việc nghiên cứu tài liệu, thống kê số liệu, so sánh đối chiếu sẽ được xử lý theo hai dạng: định tính và định lượng
Trang 15Tư liệu của luận án được lấy từ 50 hợp đồng kinh tế tiếng Anh và 50hợp đồng kinh tế tiếng Việt trong các giao dịch thương mại về hàng hóa vàdịch vụ của các cá nhân và doanh nghiệp tại Mỹ và tại Việt Nam trong vòng
20 năm trở lại đây Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số ví dụ trong giáotrình “biên dịch hợp đồng hợp đồng kinh tế Anh - Việt” của trường Đại họcNgoại thương
6 Ý nghĩa và đóng góp
Luận án tập trung nghiên cứu tất cả những biểu hiện của mạch lạc trongvăn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Việttheo đường hướng của phân tích diễn ngôn Cụ thể, luận án áp dụng phươngpháp so sánh đối chiếu của ngôn ngữ học để tìm ra những tương đồng và khácbiệt về mạch lạc ở hai loại văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
Về phương diện lí luận, luận án góp phần làm sâu sắc lí thuyết mạchlạc dựa vào kết quả phân tích và tổng hợp các ngữ liệu thuộc văn bản hợpđồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, khẳng định tầm quan trọng của mạch lạctrong tạo lập văn bản và phân tích diễn ngôn
Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ được
sử dụng làm tài liệu hướng dẫn và tham khảo cho việc biên soạn và dịch thuậtcác văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt Luận án là nguồn tàiliệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu chuyên sâu về các thể loại vănbản hợp đồng
Cái mới của luận án là phân tích và tổng hợp những biểu hiện của mạchlạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và văn bản hợp đồng kinh tếtiếng Việt theo đường hướng phân tích diễn ngôn Từ đó, so sánh đối chiếucác biểu hiện mạch lạc trong hai thể loại văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh
và tiếng Việt để chỉ ra các yếu tố tương đồng và khác biệt ở các phương thức
Trang 16thể hiện mạch lạc trong các văn bản hợp đồng kinh tế này Kết quả so sánhđối chiếu được tác giả của luận án hệ thống rõ ràng theo từng phương thứcbiểu hiện của mạch lạc nhằm khắc phục những sai sót trong soạn thảo và dịchthuật các văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt Đây cũng là đónggóp của luận án xét từ góc độ kinh tế, bởi lẽ hợp đồng kinh tế là yếu tố tiênquyết kết quả kinh doanh của các tổ chức kinh tế.
7 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, gồm có bốnchương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, chúng tôi đánh giá nhữngnghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án, đó là:các nghiên cứu về mạch lạc và văn bản hợp đồng kinh tế xét từ góc độ ngônngữ học
Phần cơ sở lí luận sẽ tập trung vào lí thuyết chính của luận án, baogồm: mạch lạc, vai trò của mạch lạc đối với văn bản, các yếu tố tạo mạch lạctrong văn bản, khái niệm về hợp đồng kinh tế và các đặc trưng của hợp đồngkinh tế tiếng Anh và tiếng Việt Thông qua việc tóm tắt các công trình nghiêncứu về mạch lạc trong văn bản trên thế giới và trong nước, đồng thời thamkhảo một số ứng dụng của lý thuyết phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu mạchlạc trong văn bản, chúng tôi đề xuất cách áp dụng lí thuyết phân tích diễnngôn vào trong nghiên cứu các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản hợpđồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 2: Biểu hiện của mạch lạc qua các phép liên kết trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt
Trang 17Chương này trình bày các biểu hiện của mạch lạc trong hợp đồng kinh
tế tiếng Anh và tiếng Việt qua sáu phép liên kết, gồm: phép lặp, phép quychiếu, phép nối, phép thế, phép tỉnh lược, phép liên tưởng
Từ những phân tích và tổng hợp về các biểu hiện của mạch lạc tronghợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt qua các phép liên kết, chúng tôi sẽ
so sánh đối chiểu để chỉ ra những tương đồng và dị biệt về mạch lạc qua cácphép liên kết trong hai loại văn bản này
Chương 3: Biểu hiện của mạch lạc qua các kiểu quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt
Ở chương này, chúng tôi tiếp tục khảo sát những biểu hiện của mạchlạc qua các mối quan hệ trong các hợp đồng kinh tế Cụ thể là mạch lạc biểu hiệntrong các mối quan hệ sau: quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ về chủ
đề giữa các câu, quan hệ thời gian, quan hệ nhân quả, quan hệ lập luận, quan hệđiều kiện, quan hệ ngoại chiếu
Dựa vào kết quả khảo sát các trường hợp cụ thể nêu trên, chúng tôicũng so sánh đối chiếu để tìm ra những tương đồng và dị biệt về biểu hiệncủa mạch lạc qua các mối quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh
và văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Việt
Chương 4: Ứng dụng vào soạn thảo và biên dịch hợp đồng kinh tế Anh – Việt
Từ kết quả nghiên cứu mạch lạc trong hợp đồng kinh tế - so sánh đốichiếu tiếng Anh với tiếng Việt ở chương 2 và chương 3 Chương này đưa ranhững lưu ý về việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ tạo mạch lạc cho các
văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, cụ thể là: Các phép liên kết
tạo mạch lạc, các mối quan hệ tạo mạch lạc, danh hóa tạo mạch lạc, dùng từ ngữ và dấu câu hợp lý tạo mạch lạc - ứng dụng vào công việc soạn thảo và
biên dịch các hợp đồng kinh tế Anh – Việt
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản
Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ mạch lạc (coherence) xuất hiện tronggiai đoạn thứ hai của việc nghiên cứu văn bản, đó là phân tích diễn ngôn(discourse analysis) Cùng với sự phát triển của phân tích diễn ngôn, mạch lạcđược rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu
Ấn phẩm “Liên kết trong tiếng Anh” (Cohesion in English) của M.A.KHalliday và R Hassan vào năm 1976 được coi là nguồn gốc của các nghiêncứu sâu rộng về mạch lạc trong văn bản sau đó cho dù các tác giả khôngnghiên cứu về mạch lạc một cách trực tiếp Trong ấn phẩm này, các tác giả đãđưa ra quan niệm về mạch lạc như sau: “Mạch lạc là tập hợp những quan hệ
có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với phi văn bản”
và “Mạch lạc không nêu văn bản thông báo gì mà nêu văn bản được tổ chứcthành chính thể ngữ nghĩa như thế nào” Đồng thời các tác giả cũng nhận địnhrằng một văn bản mạch lạc phải đáp ứng hai điều kiện: một là văn bản phảiphù hợp với ngữ cảnh trong đó nó được tạo ra, hai là văn bản phải có sự liênkết Tuy nhiên, theo nhận xét của Galperin I.R (1987) thì mặc dù Halliday và
R Hassan có ý đồ hình thức hóa các phương tiện mạch lạc nhưng “trongcông trình này vẫn có nhiều điều được đề xuất ở bình diện ngữ pháp chứkhông phải bình diện văn bản” Galpernin khẳng định mạch lạc là phạm trùđặc trưng của văn bản và định nghĩa: “Mạch lạc là những hình thức liên kếtriêng biệt, đảm bảo thể liên tục (về thời gian hoặc không gian), sự lệ thuộc lẫnnhau giữa các thông báo, sự kiện, hành động cụ thể” Định nghĩa này sau đó
đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học ủng hộ
Trang 19Trong cuốn “Văn bản và Ngữ cảnh” (Text and Context, 1977: 96),Teun A.van Dijk định nghĩa: “Mạch lạc là một thuộc tính ngữ nghĩa của diễnngôn, dựa trên việc giải thích các câu riêng lẻ trong mối tương quan với cáccâu khác trong một văn bản” Theo A.van Dijk (1977), mỗi diễn ngôn chứamột cấu trúc ngữ nghĩa tổng thể được gọi là cấu trúc vĩ mô (macro-structure),thể hiện ngữ nghĩa của diễn ngôn; và cấu trúc ngữ nghĩa của một diễn ngônđược tổ chức phân cấp ở nhiều cấp độ phân tích Cấu trúc vĩ mô chung nhất,đôi khi được gọi là chủ đề (topic) của một diễn ngôn kéo theo các cấu trúc vĩ
mô khác, chi phối toàn bộ diễn ngôn Các cấu trúc vĩ mô quyết định tính mạchlạc tổng thể của một diễn ngôn và “mạch lạc không chỉ được tạo bởi trật tựcâu từ mà còn được tạo bởi ý nghĩa và quy chiếu của nó” Tuy tác giả đã đisâu vào nghiên cứu các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản ở mặt ngữ nghĩa
và có liên hệ với ngữ cảnh diễn ngôn nhưng các vấn đề liên quan đến mạchlạc ở mặt ngữ dụng chỉ được đề cập đến ở mức độ hạn chế trong công trìnhnghiên cứu này
Đến năm 1993, trong cuốn “Dẫn nhập Phân tích Diễn ngôn”, DavidNunan kết luận: “Văn bản mạch lạc được phân biệt với các câu ngẫu nhiênbởi sự có mặt của các phương tiện liên kết tạo thành văn bản” [103, tr.59]; vàlưu ý rằng ngoài sự hiểu biết về ngữ pháp và từ vựng của văn bản, chúng tacần phải biết các câu được liên kết với nhau như thế nào Việc giải thích mộtvăn bản là mạch lạc hay không phụ thuộc phần lớn vào các phương tiện tạovăn bản (text-forming devices) như cách sắp xếp trật tự câu và việc sử dụng
từ ngữ Ngoài ra, Nunan nhấn mạnh ngữ cảnh (context) là yếu tố quan trọngtrong việc giải thích mạch lạc khi coi diễn ngôn là „giao tiếp trong ngữ cảnh‟(discourse as „communication in context‟) Mặc dù vậy, D Nunan lại đưa ramột quan niệm khá mơ hồ về mạch lạc khi ông cho rằng: “mạch lạc là cái tầm
Trang 20rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận là “mắc vào nhau” chứ không phải làmột tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan” [74, tr.165].
Chính vì một số những hạn chế trong các nghiên cứu về mạch lạc nêutrên mà nghiên cứu về tính mạch lạc trong giải thuyết diễn ngôn của GillianBrown và George Yule trình bày trong ấn phẩm “Phân tích diễn ngôn” xuấtbản năm 1983 (Trần Thuần dịch sang tiếng Việt năm 2002), đã được đôngđảo các nhà ngôn ngữ học trên thế giới lựa chọn làm cơ sở lí luận cho cácnghiên cứu về mạch lạc trong các phân tích diễn ngôn ứng dụng của mình.Brown & Yule (1983) cho rằng: “giả định về mạch lạc sẽ chỉ đưa ra một giảithích nhất định trong đó các yếu tố của thông điệp được xem như là kết nốivới nhau, có hoặc không có các kết nối ngôn ngữ công khai giữa các yếu tốấy” và “điều quan trọng nhất là nỗ lực của người đọc (hoặc người nghe)nhằm lĩnh hội ngụ ý giao tiếp của người viết hoặc người nói khi tạo ra mộtthông điệp ngôn ngữ” Theo các tác giả thì mạch lạc, nguyên lý loại suy, giảithích cục bộ, các đặc điểm chung của ngữ cảnh, các quy tắc về cấu trúc diễnngôn, và các đặc điểm thông thường của tổ chức kết cấu thông tin là nhữngbình diện diễn ngôn mà người đọc có thể dùng khi giải thuyết một diễn ngônnào đó Trên cơ sở này, các tác giả đã phân định ra ba bình diện của quá trìnhgiải thuyết ngụ ý của người nói/ người viết khi tạo ra diễn ngôn, bao gồm:thuật giải chức năng giao tiếp (tiếp nhận thông điệp như thế nào), sử dụngkiến thức văn hóa xã hội nói chung (thực tế về thế giới), và xác định phải thựchiện suy luận nào Đây chính là các bình diện cần lưu ý khi khảo sát mạch lạctheo đường hướng của phân tích diễn ngôn
Trên thế giới, ngoài những công trình nghiên cứu nổi tiếng về mạch lạctrong văn bản của M.A.K Halliday và R Hasan (1976), V Dijk (1977), H.G.Widdowson (1978), D Beaugrande và Dressler (1981), G Brown và G Yule(1983), G.M Green (1989), và D Nunan (1993),… mà chúng tôi đề cập đến
Trang 21ở trên còn có rất nhiều các bài báo, bài nghiên cứu khoa học bàn luận đến vấn
đề mạch lạc trong văn bản với nhiều góc nhìn khác nhau
Chẳng hạn, bài “The classification of coherence relations and theirlinguistic markers: An exploration of two languages” (Phân loại các quan hệmạch lạc và các dấu hiệu ngôn ngữ của chúng: Khảo sát hai ngôn ngữ) củaAlistair Knott và Ted Sanders khảo sát các mối quan hệ tạo mạch lạc trongvăn bản viết dựa trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Hà Lan Các tác giả đã đưa rahai phương pháp độc lập khi nghiên cứu các quan hệ mạch lạc là: dựa vàonhận thức của người đọc và người viết theo đường hướng của ngôn ngữ họctâm lý, và dựa vào việc nhận diện các mối quan hệ trong ngôn ngữ Cái mớicủa bài báo là dựa trên mô hình cấu trúc tâm lý được sử dụng bởi người đọc
và người viết để chỉ ra các mối quan hệ mạch lạc có thể được xác định nhưthế nào, từ đó so sánh một tập hợp các cụm từ tiếng Anh và tiếng Hà Lan.Phương pháp xác định các mối quan hệ mạch lạc dựa vào phân tích nhận thứccủa hai tác giả sau đó đã được một số nhà ngôn ngữ học vận dụng vào cácnghiên cứu về mạch lạc của mình
Bài “The role of paragraphs in the construction of coherence textlinguistics and translation studies” (Vai trò của đoạn văn trong hình thành vănbản mạch lạc và nghiên cứu về dịch thuật) của Elisabeth Le [78, tr.259-275]
đã phân tích các hình thức ngôn ngữ tạo mạch lạc ở mức độ đoạn văn và giảithích các hiện tượng này nhằm hướng tới việc dịch văn bản Elisabeth Le chorằng: “Mạch lạc giữa các câu có quan hệ cú pháp được hình thành trên cơ sởcủa các quan hệ ngữ nghĩa tồn tại giữa các yếu tố trong mỗi câu”, và tác giảtiến hành so sánh ý nghĩa của các đơn vị từ vựng để xác định ngữ nghĩa liênquan đến nhau như thế nào trong việc hình thành mạch lạc cho đoạn văn Do
đó, nghiên cứu này của Elisabeth Le mới chỉ dừng lại ở góc độ ngữ nghĩa, bỏqua bình diện ngữ dụng
Trang 22Bài “The acquisition order of coherence relations: On cognitivecomplexity in discourse” (Trình tự tri nhận các mối quan hệ mạch lạc: Sựphức tạp của nhận thức trong diễn ngôn) của Wilbert Spooren đưa ra trình tựtri nhận về các mối quan hệ mạch lạc giữa các phân đoạn diễn ngôn(discourse segments) dựa trên cơ sở lý thuyết nhận thức các mối quan hệmạch lạc của Sanders et al (1992),… Chúng tôi thấy rằng các nghiên cứu nêutrên đều dựa trên cơ sở lí luận về mạch lạc của các nhà ngôn ngữ học tiền bối
để khảo sát các mối quan hệ mạch lạc và vai trò của mạch lạc trong các vănbản hay các ngôn ngữ cụ thể chứ không đưa ra những quan niệm mới nào vềmạch lạc
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản thật
sự chưa nhiều, nhưng cũng có những kết quả đáng chú ý Ngoài Trần Ngọc
Thêm (1985), được xem là người tiên phong trong việc nghiên cứu ngữ phápvăn bản và phân tích diễn ngôn ở Việt Nam, với quan niệm về liên kết nộidung và liên kết hình thức, vấn đề mạch lạc đã được một số tác giả quan tâmnghiên cứu và có những đóng góp nhất định
Diệp Quang Ban (1998), có lẽ là người đầu tiên giới thiệu về mạch lạctrong cuốn “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”, đã xác định ba phạm vi củamạch lạc là: Mạch lạc trong triển khai mệnh đề; mạch lạc trong chức năng(mạch lạc diễn ngôn); và mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác Sau đó, các vấn
đề liên quan đến mạch lạc trong văn bản đã được tác giả tiếp tục nghiên cứu
và công bố ở các công trình tiếp theo Điển hình là trong cuốn “Giao tiếp Diễnngôn và Cấu tạo của Văn bản”, xuất bản năm 2009, Diệp Quang Ban địnhnghĩa: “Mạch lạc là sự kết nối có tính chất hợp lý về mặt nghĩa và về mặtchức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như mộttruyện kể, một hội thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sựkiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” [4, tr.297] và khẳng
Trang 23định: “Mạch lạc là một khái niệm có ngoại diên bao quát rất rộng, nó bao gồmtất cả các kiểu cấu trúc có bản chất khác nhau, liên quan đến mặt nghĩa và mặt
sử dụng văn bản” [4, tr.293]
Nguyễn Thiện Giáp, trong “Dụng học Việt ngữ” (2000) và “Những lĩnhvực ứng dụng của Việt ngữ học” (2006) khẳng định: “Cái quyết định để mộtsản phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay văn bản chính là mạch lạc”
và tác giả đã gợi ý vận dụng lí thuyết mạch lạc vào việc tạo lập văn bản, trong
đó có lưu ý đến các vấn đề ngữ cảnh, ngữ nghĩa, ngữ dụng, cấu trúc thông tin,diễn ngôn, Mặc dù không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về mạch lạcnhưng Nguyên Thiện Giáp đã nêu rõ tầm quan trọng của mạch lạc trong việctạo lập văn bản
Nguyễn Hòa (2000) quan niệm: Mạch lạc là sự kết hợp của ba yếu tố làliên kết, cấu trúc và quan yếu Ba yếu tố này tạo thành mạch lạc trong liên kết,mạch lạc trong cấu trúc và mạch lạc trong quan yếu Nếu một văn bản nào đóthiếu sự liên kết hình thức thì tính mạch lạc của diễn ngôn sẽ giảm, còn nếuthiếu mặt cấu trúc thì văn bản sẽ trở nên lộn xộn, không mạch lạc Về mạchlạc trong quan yếu, tác giả đã đưa ra bốn yếu tố phát triển nội dung chính, baogồm: thông tin nền; thông tin nhận xét phản ứng của bên thứ ba; bằng chứngchi tiết hóa; và kết quả hay hành động kéo theo của sự kiện chính Đến năm
2003, trong công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phươngpháp”, Nguyễn Hòa làm rõ thêm: “Mạch lạc được tạo ra bởi không chỉ trêncăn cứ ngôn ngữ mà còn trên cả những căn cứ ngoài ngôn ngữ Nó có căn cứngôn ngữ khi được tạo ra trên sự phát triển mệnh đề, liên kết hay tổ chứcđược khuôn mẫu; song khi thông tin ngữ cảnh được đưa vào, hoặc cácnguyên tắc hiểu nội bộ và loại suy được áp dụng để hiểu nội dung diễn ngôn,thì mạch lạc mang tính văn hóa-xã hội nằm ngoài ngôn ngữ” [36, tr.51]
Trang 24Ngoài những công trình nghiên cứu về mạch lạc đã xuất bản của các tácgiả nêu trên còn có một số bài báo khoa học và luận án ngôn ngữ học nghiêncứu về mạch lạc trong văn bản Chẳng hạn bài “Về mạch lạc của văn bảnviết” của Nguyễn Thị Thìn đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ số 3/2003 đưa ra bốnphương diện của mạch lạc trong văn bản viết là: (1) Sự thống nhất về chủ đề
và đích giao tiếp của toàn văn bản; (2) Trình tự triển khai chủ đề văn bản đảmbảo tính hợp lý; (3) Mối quan hệ giữa các thành tố nội dung của văn bản; (4)Giải pháp triển khai chủ đề phù hợp ý đồ giao tiếp và thể loại của văn bản.Mặc dù tác giả đã mạnh dạn đưa ra cách hiểu của mình về mạch lạc trong vănbản viết nhưng những vấn đề mà tác giả đưa ra chỉ dừng lại ở sự lô gic trongcách trình bày văn bản
Luận án “Biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trìnhthuộc văn bản hành chính – công vụ” của Nguyễn Thị Hường (2010) khảo sát
sơ bộ những biểu hiện của mạch lạc nói chung và những biểu hiện cụ thể quamột số kiểu quan hệ mạch lạc có tần suất xuất hiện cao trong các thể loại vănbản báo cáo và tờ trình chứ không khảo sát tất cả các biểu hiện của mạch lạctrong văn bản
Từ tổng quan những nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản chúng tôithấy rằng mạch lạc là một khái niệm rộng, có thể được khai thác ở nhiều bìnhdiện ngôn ngữ khác nhau và ở những thể loại văn bản khác nhau Mạch lạcđược rất nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiêncứu với những kết quả có ý nghĩa khoa học về mặt lí luận lẫn thực tiễn Mặc
dù chưa có một công trình nghiên cứu nào về những biểu hiện của mạch lạctrong văn bản hợp đồng kinh tế, nhưng những nghiên cứu về mạch lạc đượcxem xét ở trên đều xuất phát từ góc nhìn của ngôn ngữ học và là đườnghướng nghiên cứu phù hợp với luận án của chúng tôi Do đó, trong công trìnhnày chúng tôi sử dụng phương pháp ngôn ngữ học để phân tích diễn ngôn
Trang 25theo hướng nghiên cứu tính mạch lạc trong giải thuyết diễn ngôn của GillianBrown và George Yule.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn bản hợp đồng kinh tế
Đối với văn bản hợp đồng kinh tế, mặc dù các mẫu và các quy định vềhợp đồng kinh tế đã có từ lâu, nhưng đến nay mới chỉ có một số công trìnhnghiên cứu ngôn ngữ trong hợp đồng kinh tế, đó là:
Luận văn Thạc sỹ Ngôn ngữ Anh của Nguyễn Hương Giang năm 2007,nghiên cứu về: “Liên kết logic trong Hợp đồng Kinh tế: So sánh đối chiếuAnh – Việt” (Logical Cohesion in Business Cotract: A Vietnamese - EnglishContrastrive Analysis) Trong luận văn viết bằng tiếng Anh này, tác giả mớichỉ tập trung vào so sánh đối chiếu những điểm tương đồng và dị biệt trongcách dùng các liên từ trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
để tạo logic trong diễn ngôn
Năm 2007, Nguyễn Trọng Đàn cho ra mắt cuốn “Hợp đồng thương mạiquốc tế” Cuốn sách này do Nhà xuất bản Lao đồng phát hành gồm 445 trang,được chia thành 11 phần, viết bằng tiếng Anh, nhưng chỉ có một phần làphần 2 gồm 12 trang đề cập đến các từ/cụm từ, mệnh đề/câu được dùng phổbiến trong hợp đồng kinh tế tiếng Anh Cuốn sách này là một tham khảo cótính gợi ý cho những người quan tâm đến hợp đồng kinh tế quốc tế (bằngtiếng Anh) chứ chưa phải là một nghiên cứu đích thực về ngôn ngữ trong hợpđồng kinh tế tiếng Anh nhìn từ góc độ ngôn ngữ học
Như vậy, đến thời điểm này, việc nghiên cứu ngôn ngữ học về mạchlạc trong văn bản hợp đồng kinh tế mới chỉ được quan tâm ở mức độ khiêmtốn Chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về các khía cạnh diễn ngôn cụthể của mạch lạc trong hợp đồng kinh tế Vì vậy, việc nghiên cứu nghiêm túc
Trang 26về vấn đề này là một việc làm cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Cơ sở lí luận về mạch lạc
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu về mạch lạc nêu trên, với đề tài luận
án: “Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh
với tiếng Việt”, chúng tôi sẽ triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu dựa trên cơ
sở lí luận ngôn ngữ học đối với các đơn vị trên câu, đó là: ngữ pháp văn bản(text grammar) và phân tích diễn ngôn (discourse analysis), bởi vì:
Thứ nhất, ngữ pháp học truyền thống chỉ quan tâm đến những đơn vịngôn ngữ trong phạm vi câu, chưa đi sâu nghiên cứu chức năng giao tiếp củangôn ngữ cũng như quá trình tiếp nhận và tạo lập các tín hiệu giao tiếp bằngngôn ngữ nên đó không đủ khả năng giải thích nhiều hiện tượng biểu hiệntrong phạm vi câu nhưng lại có liên quan đến những cơ chế ngoài câu nhưđiệp, đối, việc lựa chọn các quán từ, vai trò của đại từ, từ nối, các mối liên kếtgiữa các câu, v.v Điều này khiến cho nó không đáp ứng được các nhu cầuthực tiễn trong phân tích và xây dựng các loại văn bản khác nhau Vì vậy, ngữpháp văn bản đã ra đời nhằm giải quyết những hạn chế của ngữ pháp trongphạm vi câu Theo M.A.K Halliday và R.Hasan (1976): “Một văn bản khôngphải là một cái gì giống như câu, chỉ lớn hơn câu Nó là cái gì đó khác vớicâu về chủng loại” I.R.Galperin (1981) cho rằng: “Văn bản là kết quả của quátrình tạo lời mang tính mục đích, tính hoàn chỉnh, thường được khách quanhóa dưới dạng tài liệu viết theo một loại hình nhất định, bao gồm các kết cấutrên câu được liên kết bằng các phương tiện liên kết” [20, tr.6] Đinh TrọngLạc (1994) quan niệm: “Văn bản là một thể thống nhất toàn vẹn được xâydựng theo những quy tắc nhất định” Trong số các quan niệm về văn bản của
Trang 27các nhà ngôn ngữ học như: M.A.K Halliday và Hasan (1976), H.G.Widdowson (1984), I.R.Galperin (1987), Đinh Trọng Lạc (1994), Trần NgọcThêm (2009),… thì định nghĩa sau đây của Trần Ngọc Thêm có lẽ sẽ được đa
số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam chấp nhận: “Văn bản là một hệ thống màtrong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong hệthống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu
và những mối liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toànvăn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy”
[53, tr.19] Từ cơ sở lí thuyết này, chúng tôi thấy rằng liên kết (cohesion) là
nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu thành văn bản và liênkết cũng là nhân tố trọng tâm của ngữ pháp văn bản hay ngôn ngữ học văn
bản với những đặc tính chỉ có ở cấp độ trên câu.
Thứ hai, hiện nay đang tồn tại hai hệ thống liên kết trong nghiên cứu vănbản: một của Trần Ngọc Thêm với sự phân biệt liên kết nội dung và liên kết hìnhthức; và một của M.A.K Halliday và R.Hasan với các hệ thống yếu tố từ ngữ cótác dụng tạo liên kết giữa câu với câu Trong cuốn “Liên kết trong tiếng Anh”[91, tr.28], M.A.K Halliday và R.Hasan quan niệm liên kết là thành tố phi cấutrúc tính (non-structural component) và hướng nghiên cứu của mình vào cácphương tiện hình thức tạo liên kết, trên cơ sở đó để xếp loại các phương tiện liênkết thành liên kết ngữ pháp (gồm các hiện tượng quy chiếu, thay thế và tỉnhlược), liên kết từ vựng và liên kết trung gian (hiện tượng liên hợp) Nếu nhưHalliday và Hasan quan niệm liên kết chỉ như một khái niệm chuyên môn khôngthuộc về cấu trúc mà thuộc về ý nghĩa và chỉ các phương tiện hình thức củangôn ngữ làm nhiệm vụ liên kết mới thuộc liên kết (gọi là liên kết phi cấu trúctính), thì Trần Ngọc Thêm quan niệm liên kết là khái niệm thuộc về cấu trúc củavăn bản, được khai thác trên cả hai phương diện hình thức lẫn mặt ý nghĩa, vàchính do có tính đến mặt ý nghĩa cho nên
Trang 28liên kết được hiểu là “nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câutrở thành văn bản” Liên kết hiểu theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm gồmliên kết hình thức và liên kết nội dung Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: “Do liênkết nội dung và liên kết hình thức là hai mặt gắn bó mật thiết với nhau, cho
nên mỗi văn bản đều phải có có đủ hai mặt liên kết này Đây chính là dấu
hiệu cho phép phân biệt văn bản với “phi văn bản”, tức là với những chuỗi
phát ngôn hỗn độn” [53, tr.21] Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Chuỗi phát ngôn
hỗn độn là những chuỗi thuộc một trong 3 trường hợp sau:
1) Chỉ có liên kết hình thức và hoàn toàn không có liên kết nội dung;2) Chỉ có liên kết nội dung và hoàn toàn không có liên kết hình thức;3) Không có cả liên kết hình thức lẫn liên kết nội dung Đây là chuỗi phát ngôn hỗn độn thuần túy [53, tr.21]
Ông khẳng định: nhận diện trường hợp 1 rất dễ vì liên kết hình thứcbộc lộ ra ngoài; phân biệt trường hợp 2 với trường hợp 3 khó hơn vì liên kếtnội dung vốn không được đánh dấu; và “một chuỗi hỗn độn không có liên kết
hình thức sẽ được coi là chuỗi phát ngôn hỗn độn chỉ có liên kết nội dung”
[53, tr.21] Tuy nhiên, Trần Ngọc Thêm (2009) chỉ đưa ra ví dụ minh chứng
cho trường hợp chuỗi phát ngôn hỗn độn là chuỗi chỉ có liên kết hình thức và
hoàn toàn không có liên kết nội dung chứ không đưa ra dẫn chứng cho
trường hợp chuỗi phát ngôn hỗn độn là chuỗi chỉ có liên kết nội dung và hoàn
toàn không có liên kết hình thức.
Mặc dù những gợi ý về việc phân biệt văn bản với phi văn bản dựa
trên hai mặt liên kết hình thức và liên kết nội dung của Trần Ngọc Thêm lànguồn cơ sở lí luận bổ ích cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu văn bản,chúng tôi vẫn lựa chọn hệ thống liên kết của M.A.K Halliday do tính thuậntiện và hợp lí của nó đối với nghiên cứu của chúng tôi Khi chúng tôi lựa chọn
Trang 29quan niệm liên kết của Halliday thì cái gọi là “liên kết nội dung” không được
tính đến Do đó, liên kết không giữ vai trò quyết định cho cái “là văn bản” của một sản phẩm ngôn ngữ Nhiệm vụ đó thuộc về “mạch lạc (coherence), hoặc
rộng hơn thuộc về tính văn bản (textuality) hay chất văn bản (texture)”[M.A.K.Halliday và R.Hasan, 1994: 2] – theo chúng tôi, ưu điểm của quanđiểm này là nó thuận tiện hơn cho việc phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói vàviết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, baogồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiệntrong khái niệm ngữ vực với nội dung hết sức phong phú và đa dạng Trên thếgiới, đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn hoặc liênquan đến phân tích diễn ngôn quan trọng và đã được dịch sang tiếng Việt,như: “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” (Introducing Discourse Analysis) củaDavid Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); “Phân tích diễn ngôn”(Discourse Analysis) của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch,2002), “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” (An Introduction to FunctionalGrammar) của M.A.K Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004)… các côngtrình này tập trung vào giải thích diễn ngôn là gì, đặc điểm và chức năng củadiễn ngôn, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu trúc thông tincủa diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đường hướng phântích diễn ngôn… Ở Việt Nam, phân tích diễn ngôn cũng được khá nhiều nhàngôn ngữ học quan tâm Cụ thể là các công trình nghiên cứu về: “Hệ thốngliên kết văn bản tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm (1985); “Văn bản và liênkết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản” của Diệp QuangBan (1998, 2009), “Đại cương ngôn ngữ học, tập 2” của Đỗ Hữu Châu(2001), “Dụng học Việt ngữ” của Nguyễn Thiện Giáp (2000), “Phân tích diễnngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp” của Nguyễn Hoà (2003),
Trang 30Tuy nhiên, diễn ngôn là một khái niệm rất khó định nghĩa vì nó cónhiều cách hiểu về nội hàm khác nhau, vì thế việc đưa ra một định nghĩa duynhất có thể dẫn đến thiếu hụt một nội dung tiềm ẩn nào đó Theo Diệp QuangBan thì: “Trong cách hiểu ngắn gọn nhất, phân tích diễn ngôn là một cách tiếpcận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồmcác tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu… Hiểu một cách cụ thểhơn thì phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói vàviết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, baogồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiệntrong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng” [4,tr.158].
Như vậy, phân tích diễn ngôn là một bậc cao hơn của phân tích văn bảnbởi vì nếu như ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệtlập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổibật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với nhữngyếu tố ngoài văn bản Cơ sở lí thuyết, phương pháp, đối tượng,… của phântích diễn ngôn được các tác giả G.Brown và G.Yule trình bày theo 7 nội dungchính trong cuốn “Phân tích diễn ngôn” - cuốn sách được giới chuyên mônquan tâm nhất ngay từ khi xuất bản lần thứ nhất năm 1983, sau đó đã được táibản rất nhiều lần và được Trần Thuần dịch sang tiếng Việt năm 2002 là: hìnhthức và chức năng ngôn ngữ, vai trò của ngữ cảnh trong giải thuyết diễn ngôn,chủ đề và biểu hiện của nội dung diễn ngôn, phân đoạn và biểu hiện của cấutrúc diễn ngôn, cấu trúc thông tin, bản chất qui chiếu trong văn bản và diễnngôn, tính mạch lạc trong việc giải thuyết diễn ngôn Có thể thấy rằng: trongphân tích diễn ngôn, mạch lạc đóng một vai trò quan trọng và theo Nguyễn
Hòa thì: “Mạch lạc là một vấn đề cốt yếu của lí luận phân tích diễn ngôn”
[36, tr.50]
Trang 31Thứ ba, chúng tôi áp dụng lí luận của phân tích diễn ngôn vào luận ánnày bởi lí luận này tập trung vào việc xem xét ngữ cảnh giao tiếp để tìm ra cácmục đích giao tiếp của văn bản, từ đó tìm hiểu cơ chế hoạt động của từ vựng,ngữ pháp, các phương tiện liên kết văn bản, các cấu trúc ngầm ẩn quy định sựsắp xếp các đơn vị từ vựng/câu để đảm bảo tính mạch lạc cho văn bản Ngoài
ra, phân tích diễn ngôn không chỉ làm rõ các đặc điểm hình thức của văn bản
mà còn giải thích cơ chế nào tạo ra hình thức đó Vì vậy, những thông tinmang tính giải thuyết theo chiều sâu về một thể loại diễn ngôn như vậy sẽ rấthữu ích cho việc ứng dụng vào soạn thảo văn bản, giảng dạy ngôn ngữ chuyênngành và dịch thuật các văn bản chuyên ngành Khuynh hướng xem xét vănbản ở cả góc độ chức năng và dụng học của phân tích diễn ngôn là cơ sở líluận tối ưu giúp chúng tôi rút ra một quan niệm về mạch lạc trong văn bảnphù hợp với đường hướng nghiên cứu của mình, từ đó xác định được các yếu
tố làm nên mạch lạc trong văn bản, rồi tiến hành nghiên cứu các biểu hiện củamạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt
1.2.1.1 Phân biệt mạch lạc với liên kết
Như đã đề cập trên đây, mạch lạc (coherence) và liên kết (cohesion) đượcnhắc đến như là hai yếu tố không thể thiếu khi phân tích diễn ngôn hay phân tíchvăn bản Do đó, đã có rất nhiều nghiên cứu trước đây cố gắng phân biệt mạchlạc với liên kết Để nhận biết mạch lạc khác với liên kết ra sao, chúng tôi trích lạiquan niệm của David Nunan (“Dẫn nhập Phân tích diễn ngôn”, bản dịch năm1997) như sau: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là
có “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không cóliên quan nhau” Quan niệm này đã khu biệt mạch lạc với liên kết: Một chuỗi câu
có liên kết có thể không tạo ra mạch lạc, tức là
Trang 32không tạo thành văn bản; ngược lại một chuỗi câu không có liên kết nhưng
Nếu xét từng đôi câu một đứng liền kề nhau thì thấy rõ là mỗi cặp câu
đó đều có sự liên kết với nhau bằng phương thức lặp từ vựng và từng cặp câu
đó cũng hình thành được một chủ đề chung nào đấy Nhưng xét tổng thể từcâu (a) đến câu (g) thì ta không biết đề tài - chủ đề của chuỗi câu này là gì Do
đó, chuỗi câu có liên kết nhưng thiếu mạch lạc này không phải một văn bảnbởi lẽ một diễn ngôn hoặc một văn bản phải gồm các câu có liên hệ về nghĩavới nhau, cùng hướng vào một chủ đề nhất định
Ngược lại, chúng ta có thể chỉ ra những thông điệp ngôn ngữ khôngđược trình bày thành câu và vì thế không được bàn đến về mặt hoàn chỉnh cúpháp (không có bất cứ sự liên kết nào), nhưng lại được hiểu rất dễ dàngchẳng hạn như trong đoạn trích lấy từ một thông báo của trường Đại họcEdinburgh (theo Gilian Brown & George Yule, 1983) sau đây:
Hội thảo về Tri thức luận: Thứ năm ngày 3 tháng 6, 2 giờ chiều.
Steve Harlow (Khoa Ngôn ngữ, Đại học York)
“Tiếng Welsh và Ngữ pháp Cấu trúc Ngữ Khái quát”
Trang 33Mặc dù không được thể hiện qua từ ngữ cụ thể, nhưng trong đoạn diễnngôn này, chúng ta vẫn biết rằng Steve Harlow sẽ nói chuyện (chứ không viếthay hát hay chiếu phim) về đề tài trong dấu ngoặc kép tại Đại học Edinburgh(không phải tại Đại học York, nơi ông ta làm việc) vào ngày 3 tháng 6 Vìvậy, thông báo trên được coi là mạch lạc và là một văn bản hoàn chỉnh.
Bussmann (1998) cũng phân biệt mạch lạc và liên kết như sau: “Mạchlạc có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, mạch lạc
là cấu trúc ngữ nghĩa giúp kết nối một vài câu vào một văn bản toàn diện.Theo nghĩa hẹp, mạch lạc là sự kết nối có được từ kiến thức của người đọc /người nghe mà nó giúp họ hiểu bất kỳ diễn ngôn nào (ví dụ như thông qua sựhiểu biết về bối cảnh mà diễn ngôn đang diễn ra) Mạch lạc gắn với quá trình
tư duy và kiến thức văn hóa chứ không phải là bất kỳ dấu hiệu ngôn rõ ràngnào như các từ trực chỉ hay các liên từ Liên kết được tạo ra bằng cách (a) lặplại các yếu tố của văn bản như hồi quy, diễn giải, song song; (b) rút gọn vănbản thông qua việc sử dụng các nhân tố như tỉnh lược (c) sử dụng các nhân tốhình thái và cú pháp thể hiện các dạng quan hệ khác nhau như kết nối, thời,thể, trực chỉ, hoặc các mối quan hệ đề-thuyết" [82, tr.199]
Gần đây nhất, trong cuốn "Quá trình diễn ngôn" (Discourse Processing)nhà xuất bản Morgan & Claypool xuất bản năm 2012, tác giả Manfred Stede
đã phân biệt: “Trong khi thuật ngữ mạch lạc đề cập đến liên kết các ngữ liệu
liền kề ở góc độ giải thích ngữ nghĩa / ngữ dụng và do đó "bên dưới bề mặt",
thì khái niệm liên kết mô tả chức năng của các phương tiện ngôn ngữ dùng để
đánh dấu các kết nối này một cách rõ ràng Điều này một mặt bao gồm nhữngphương tiện từ vựng như đại từ hay từ nối: những từ mà việc giải thích đòihỏi sự hiểu biết về một đơn vị văn bản khác Nhưng sự liên kết cũng được tạo
ra ở mức độ cú pháp, ví dụ bằng cách sử dụng các câu so sánh, hoặc bằngcách lựa chọn các cấu trúc câu song song cho các ngữ liệu cần được giải thích
Trang 34theo những cách tương ứng Thông thường, mạch lạc và liên kết trùng nhau,nhưng liên kết không phải là tuyệt đối cần thiết tạo ra mạch lạc, xem ví dụ;
“John đi tàu từ Paris đến Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành một điểm du lịch
nổi tiếng”, ví dụ này không chứa một liên kết cụ thể nào mà vẫn không gây ra
bất cứ vấn đề cho việc giải thích, và cách diễn đạt trong ví dụ này được coi là
mạch lạc Ngược lại, trong ví dụ: “John đi tàu từ Paris đến Istanbul Ông
thích rau bina”, chúng ta có thể thấy có liên kết (đại từ “John/Ông”) nhưng
không mạch lạc” [92, tr.80]
Như vậy, mạch lạc và liên kết là hai phương diện khác nhau Mạch lạc
là “sợi dây” nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản, nối từ ngữ trong vănbản với các tình huống hữu quan, và gắn văn bản với cách dùng văn bản; cònliên kết là một bộ phận trong hệ thống của một ngôn ngữ với chức năng nốinghĩa của câu với câu trong văn bản theo những cấu hình xác định Theo cáchnhìn của các nhà nghiên cứu văn bản thì dù mạch lạc và liên kết là hai kháiniệm không đồng nhất nhưng chúng có quan hệ rất gần nhau và đóng vai trò
bổ sung cho nhau trong việc tạo lập văn bản: Liên kết tạo nên sự chặt chẽ vềmặt hình thức còn mạch lạc tạo nên sự chặt chẽ về mặt nội dung Do đó, nếu
sử dụng các phương tiện liên kết hợp lý thì liên kết sẽ là yếu tố góp phần tạonên mạch lạc cho văn bản
1.2.1.2 Quan niệm về mạch lạc
Trong thực tế có rất nhiều đường hướng nghiên cứu mạch lạc khácnhau Tuy nhiên, quan niệm về mạch lạc trong văn bản là một vấn đề kháphức tạp, được đề cập trong những công trình nghiên cứu nổi tiếng củaM.A.K Halliday và R Hasan (1976), V Dijk (1977), H.G Widdowson(1978), D Beaugrande và Dressler (1981), G Brown và G Yule (1983),G.M Green (1989), và D Nunan (1993),v.v
Trang 35Từ tổng quan tình hình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản trên thếgiới và trong nước về phân tích diễn ngôn, chúng tôi thấy có thể đồng ý vớiquan niệm về mạch lạc của tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Giao tiếpDiễn ngôn và Cấu tạo của Văn bản” rằng: “Mạch lạc là một khái niệm cóngoại diên bao quát rất rộng, nó bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có bản chấtkhác nhau, liên quan đến mặt nghĩa và mặt sử dụng văn bản” [4, tr.293] vàchúng tôi cũng khẳng định vai trò then chốt của mạch lạc đối với văn bản,
rằng mạch lạc chính là mạng lưới quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong câu,
các câu trong đoạn và các đoạn trong một văn bản để tạo nên một chỉnh thể
-Một chỉnh thể có cấu trúc ngữ nghĩa càng tường minh thì tính mạch lạc càngcao Để có được một văn bản thì từ cấp độ câu văn, đoạn văn đến chuỗi cácđoạn văn phải mạch lạc Tiêu chí để có câu văn mạch lạc là câu phải đúng ngữpháp, các từ ngữ phải tương hợp, các thành phần trong câu được sắp xếplogic và diễn đạt thông tin đầy đủ, chính xác Đoạn văn mạch lạc là đoạn văn
có sự thống nhất, tất cả các câu trong đoạn tập trung diễn đạt chủ đề một cáchlưu loát, chặt chẽ Chuỗi đoạn văn mạch lạc cũng cần được hiểu theo tinhthần như vậy
Tuy nhiên, như có thể thấy ở phần tổng quan, mạch lạc là một kháiniệm rộng, khó có thể đưa ra một định nghĩa chính xác về mạch lạc Việc lựachọn một quan niệm về mạch lạc cho phù hợp hoàn toàn phụ thuộc vào lĩnhvực nghiên cứu cụ thể của từng tác giả Vì vậy, đối với đề tài nghiên cứu nàychúng tôi rút ra một quan niệm chung nhất về mạch lạc trong văn bản như
sau: Mạch lạc là sự kết nối về mặt ngữ nghĩa (semantics) và mặt ngữ dụng
(pragmatics) giữa các yếu tố cấu thành văn bản nhằm tạo ra sự rõ ràng, thống nhất trong diễn ngôn.
Trang 361.2.1.3 Các yếu tố làm nên mạch lạc trong văn bản
Theo định nghĩa về diễn ngôn và văn bản của Widdowson (1984:100):
“Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp bằng các phương tiện tương tác Kếtquả tình huống của nó là một sự thay đổi trong trạng thái sự việc: thông tinđược chuyển tải, ý định được thực hiện rõ ràng, sản phẩm ngôn ngữ của nó làvăn bản” thì văn bản (text) là sản phẩm ngôn ngữ của diễn ngôn (discourse)
nên thuật ngữ mạch lạc trong diễn ngôn cũng bao hàm mạch lạc trong văn
bản, và khi dùng thuật ngữ mạch lạc trong văn bản thì đó là sự thể hiện mạch
lạc ở một diễn ngôn cụ thể
Trong tác phẩm “Liên kết trong tiếng Anh” (1976), M.A.K Halliday vàRuqaiya Hasan xác định năm phép liên kết chung tạo mạch lạc cho văn bản
là: quy chiếu (reference), tỉnh lược (ellipsis), thay thế (substitution), liên kết
từ vựng (lexical cohesion) và nối (conjunction) Trong “Hệ thống liên kết văn
bản tiếng Việt” (tái bản năm 2009), Trần Ngọc Thêm đã chia các phép liênkết thành ba nhóm theo ba loại phát ngôn, đó là: (1) Các phương thức liên kếtchung (dùng cho ba loại câu tự nghĩa, hợp nghĩa và ngữ trực thuộc) gồm:phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính (2)Các phương thức hợp nghĩa (dùng cho câu hợp nghĩa và câu ngữ trực thuộc)gồm: phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng (3) Các phương thứcliên kết trực thuộc (dùng riêng cho ngữ trực thuộc) gồm: phép tỉnh lượcmạnh, phép nối chặt Theo Trần Ngọc Thêm: “Có 5 phương thức liên kết là
tài sản chung mà cả ba loại phát ngôn đều có thể sử dụng được là: phép lặp
(gồm lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm), phép đối, phép thế đồng nghĩa,phép liên tưởng và phép tuyến tính” [53, tr.86]
Đến năm 2009, Diệp Quang Ban cũng đã nêu ra rất chi tiết những biểuhiện của mạch lạc trong cuốn “Giao tiếp Diễn ngôn và Cấu tạo của Văn bản”,gồm: mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, mạch
Trang 37lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài-chủ đề của các câu, mạch lạc biểuhiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩavới nhau, mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lý giữa các câu (hay các mệnh đề),mạch lạc theo kiểu suy luận quy kết, mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoạichiếu, mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói, mạch lạc biểuhiện trong quan hệ lập luận Cũng tập trung hướng nghiên cứu của mình vào cácquan hệ mạch lạc, Manfred Stede cho rằng: “Quan hệ mạch lạc (coherencerelation) là một quan hệ cụ thể dựa trên cấp độ mô tả ngữ nghĩa hoặc ngữ dụnggiữa các đơn vị liền kề của văn bản Việc xác định các mối quan hệ mạch lạc cóthể dựa trên khía cạnh ngữ nghĩa, hoặc dựa vào ý định của người nói Bản chấtcốt lõi của một tập hợp các quan hệ tất nhiên là có thể khác nhau, nhưng tương
đối phổ biến là các nhóm quan hệ nhân quả, tương đồng / tương phản, và tiếp
giáp (về thời gian hoặc yếu tố khác)” [92, tr.85].
Dựa trên những quan niệm về mạch lạc trong văn bản của các nhà ngônngữ học, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trongvăn bản của hai tác giả Việt ngữ học là Trần Ngọc Thêm (1985) và DiệpQuang Ban (2009), đặt trong mối quan hệ với mục đích nghiên cứu cụ thể củaluận án, chúng tôi hệ thống những biểu hiện của mạch lạc trong văn bản nhưsau:
(1) Mạch lạc biểu hiện qua các phương thức liên kết, bao gồm: phéplặp, phép quy chiếu, phép nối, phép thế, phép tỉnh lược, phép liên tưởng
(2) Mạch lạc biểu hiện qua các mối quan hệ, gồm có: quan hệ giữacác từ ngữ trong một câu, quan hệ về chủ đề giữa các câu, quan hệ thời gian, quan
hệ nhân quả, quan hệ lập luận, quan hệ điều kiện, quan hệ ngoại chiếu
Trang 381.2.2 Cơ sở lí luận về hợp đồng kinh tế
Hợp đồng được hình thành thông qua các hoạt động hợp tác kinhdoanh, mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các bên theo những thỏathuận cụ thể bằng văn bản Theo định nghĩa của Carvan et al (1995): “Hợpđồng là một thỏa thuận về nghĩa vụ và quyền hạn pháp lý được thiết lập giữahai hoặc nhiều bên (parties)” Jerry M Rosenberg (1992) cho rằng: “Hợpđồng là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người (persons) được pháp luậtcông nhận, trong đó một hoặc nhiều người phải thực hiện các yêu cầu củangười kia theo như thỏa thuận” [88, tr.82] Tóm lại, hợp đồng là một sự thỏathuận về việc sẽ thực hiện hay không thực hiện một điều gì đó Một hợp đồng
có tính logic có nghĩa là nó có sự ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực.Mỗi điểm thỏa thuận trong hợp đồng đều phải rõ ràng, có chủ thể đi kèm đểtránh những tranh chấp và kiện tụng có thể xảy ra
Trong hoạt động sản xuất và kinh doanh có hai loại hợp đồng: hợpđồng kinh tế và hợp đồng dân sự Vì nghiên cứu này này tập trung vào khảosát sự thể hiện của mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế nên chúng tôi sẽgiải thích khái niệm này một cách chi tiết hơn
1.2.2.1 Khái niệm về hợp đồng kinh tế
Đã từ lâu, Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế, viết tắt theo Tiếng Pháp
là UNIDROIT (insitut International pour l`Unification des Droits Privé), một
tổ chức quốc tế liên chính phủ thành lập năm 1929, đặt trụ sở tại Roma, Italia,
đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm các quy định chung để điều chỉnh hợp đồngsao cho có thể thích hợp trong nhiều hệ thống pháp luật của những nước khácnhau Năm 1994, UNIDROIT đã cho ra đời cuốn “Nguyên tắc Hợp đồngThương mại Quốc tế”, viết tắt theo tiếng Anh là PICC (Principles ofInternational Commercial Contracts) Cùng với Công Ước Viên 1980 về
Trang 39Buôn bán Hàng hoá Quốc tế (CISG), PICC là tài liệu tham khảo được nhắcđến nhiều nhất trong luật thương mại quốc tế Nguyên tắc Hợp đồng thươngmại Quốc tế PICC trình bày những qui tắc chung, chủ yếu áp dụng cho "cáchợp đồng thương mại quốc tế" với mục đích xác định tính quốc tế của hợpđồng Theo PICC, tính quốc tế của hợp đồng phải được công nhận cả trênphạm vi luật pháp quốc tế và phạm vi luật pháp quốc gia, từ việc căn cứ vàonơi kinh doanh hoặc nơi thường trú của các đối tác cho đến việc áp dụng tớinhững tiêu chuẩn tổng quát hơn như việc đánh giá hợp đồng "có quan hệquan trọng tới nhiều quốc gia", "liên quan đến sự lựa chọn giữa luật của cácnước khác nhau", hoặc "có ảnh hưởng đến các quyền lợi trong buôn bán quốctế" Các tiêu chuẩn áp dụng ở cả hai cấp độ quốc gia và quốc tế có thể đượcthay đổi tuỳ theo sự khác biệt giữa các hợp đồng giao kết PICC không hềđưa ra một định nghĩa rõ ràng nào, nhưng cho rằng hợp đồng thương mại nênđược hiểu theo một nghĩa rộng nhất có thể được, không chỉ bao gồm các giaodịch thương mại nhằm cung cấp hàng hoá hay dịch vụ, mà còn bao gồm cácloại hình kinh tế khác nữa, chẳng hạn như các hợp đồng về đầu tư hoặc uỷthác, các hợp đồng về cung cấp các dịch vụ chuyên môn và có thể gọi chung
là Hợp đồng Kinh tế Quốc tế (International Business Contracts)
Sự ra đời của hợp đồng kinh tế ở Việt Nam gắn liền với quá trình đổimới nền kinh tế của Đảng và Nhà nước Theo Điều 1 – Pháp lệnh hợp đồngkinh tế của Hội đồng Nhà nước ngày 25/9/1989: “Hợp đồng kinh tế là sự thoảthuận bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết về thực hiệncông việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quiđịnh rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kếhoạch của mình”
Trang 40Như vậy, hợp đồng kinh tế là những thỏa thuận bằng văn bản viết được
kí kết giữa các bên tham gia hợp đồng nhằm thực hiện các công việc sản xuất,trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàcác thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên; và có giá trị pháp lí theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Các đặc trưng của hợp đồng kinh tế
Về hình thức, hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản hoặc bằng tài
liệu giao dịch Những văn bản, tài liệu giao dịch này có chữ ký xác nhận củacác bên về nội dung thoả thuận, thể hiện dưới dạng công văn điện báo, đơnchào hàng, đơn đặt hàng Pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ cho những hợpđồng kinh tế được ký kết dưới hình thức văn bản viết, tài liệu giao dịch,nhằm để ghi nhận một cách đầy đủ rõ ràng các cam kết của các bên bằng
“giấy trắng mực đen” Đây là cơ sở pháp lý để các bên tiến hành thực hiện cáccam kết trong hợp đồng Cũng đồng thời để các cơ quan có thẩm quyền kiểmtra tính hợp pháp của hợp đồng, giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạmnếu có Cùng với văn bản chính là hợp đồng, các bên còn có thể kí kết các vănbản phụ lục hợp đồng để cụ thể hoá các điều khoản của hợp đồng hoặc có thể
là kí kết biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào bản hợpđồng chính Phụ lục hợp đồng và văn bản bổ sung có giá trị như hợp đồngkinh tế chính (Theo Điều 11 pháp lệnh hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhànước số 24 ngày 25/9/1989)
Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quantâm là hình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thếnào Về vấn đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếpcận khác nhau Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụthể đối với một số hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình