Lí do chọn đề tài Đây là một đề tài khảo sát về hiện tượng đảo ngữ trong tiếng AnhĐNTA trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, qua đó đối chiếu với tiếngViệt nhằm tìm ra các cách th
Trang 1NGUYÔN THÞ QUúNH HOA
LUËN ¸N TIÕN SÜ NG÷ V¡N
Hµ NéI - 2004
Trang 2NGUYÔN THÞ QUúNH HOA
Trang 3Bảng 3.1 : Đảo ngữ tiếng Anh và đảo ngữ tiếng Việt
với trạng ngữ chỉ vị trí đứng ở đầu câu 124
Bảng 3.2 : Đảo ngữ tiếng Anh luôn luôn tương ứng
Bảng 4.1 : Tiêu điểm thông báo
-Chủ ngữ đảo tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt 134
Trang 4MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT
Trang 5CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM CỦA LUẬN ÁN VỀ ĐẢO NGỮ
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐẢO NGỮ VỚI CHỨC NĂNG GIỚI THIỆU
2.2.1 “Position Adjunct + Be + Noun Phrase Subject” 1043
2.2.2 “Position Adjunct + Existence Verb + Noun Phrase Subject” 1123
2.3 A là trạng ngữ chỉ hướng (Direction Adjunct) 1173
2.4 A là trạng ngữ chỉ nguồn (Source Adjunct) 1183
2.5 A là trạng ngữ chỉ thời gian (Time Adjunct) 1213
2.6 A là trạng ngữ định vị trừu tượng (Abstract Location Adjunct)
1243
3
4 Mô hình PREDICATION + BE + NOUN PHRASE SUBJECT
1273
Trang 8DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đây là một đề tài khảo sát về hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh(ĐNTA) trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, qua đó đối chiếu với tiếngViệt nhằm tìm ra các cách thể hiện tương ứng của đảo ngữ tiếng Anh trong tiếngViệt để thấy được những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ
Về mặt lí luận, di chuyển thành tố trong câu là hiện tượng bình thườngtrong các ngôn ngữ Điều này đã được sự xác nhận của nhiều nhà ngôn ngữhọc [W Chafe 1976, Hoàng Trọng Phiến 1980, R Quirk 1985, Phan Thiều
1988, Lưu Vân Lăng (dẫn theo lần xuất bản 1998), Nguyễn Minh Thuyết
1998, D Biber 1999, R Huddleston 2002] Tiếng Anh và tiếng Việt đều lànhững ngôn ngữ SVO, trong đó vị trí thuận của chủ ngữ là ở trước vị ngữ, vịtrí điển hình của bổ ngữ là sau vị ngữ Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợpchủ ngữ được đảo ra sau vị ngữ, bổ ngữ được đảo lên vị trí đầu câu, v.v
“Đảo ngữ” trong tiếng Anh, tức “inversion”, là một hiện tượng ngữpháp dễ nhận diện và đã được một số nhà Anh ngữ học quan tâm nghiên cứu
Là một quá trình cú pháp làm thay đổi trật tự các thành tố trong câu nhưngkhông làm thay đổi các quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố đó, ĐNTA gắn bómật thiết với cấu trúc câu
Đảo ngữ liên quan đến khả năng di chuyển của các thành tố trong câu, do
đó tất yếu gắn với sự khác biệt nào đó giữa các biến thể trật tự của câu: đó là sựkhác biệt giữa một trật tự được cho là cơ bản, hay trật tự chuẩn, với những trật
tự được hình thành nhờ vào hiện tượng đảo ngữ Chắc hẳn sự khác biệt về trật tựnhư vậy (với tư cách là “cái biểu đạt”) sẽ thể hiện những khác biệt về nội dung(với tư cách là “cái được biểu đạt”) Đây chính là một hệ quả của nguyên lí vềtính hình tuyến của cái biểu hiện mà F D Saussure đã nêu ra trong “Giáo trìnhngôn ngữ học đại cương” [1955, tr 126] khi bàn về bản chất
Trang 10của tín hiệu ngôn ngữ: “Vốn là vật nghe được, cái biểu hiện diễn ra trong thời
gian và có những đặc điểm vốn là của thời gian: a) nó có một bề rộng, và b)
bề rộng đó chỉ có thể đo trên một chiều mà thôi: đó là một đường chỉ, một
tuyến.” Như vậy, tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ khiến cho người nói/viết không thể cùng một lúc tạo ra hai yếu tố trong câu nói hay câu viết củamình Do đó, tính hình tuyến cũng có vai trò nhất định đối với việc lựa chọnmột cấu trúc câu cũng như xuất phát điểm của câu
Tiếng Anh là một ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-prominentlanguage) và có chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject) đứng ở vị trí đầutiên trong mô hình cấu trúc cơ bản của câu đơn trần thuật với tư cách là dạngthức chuẩn của câu (the canonical form of the sentence) Nhìn chung, có haicách phân tích câu đã được áp dụng rộng rãi trong ngữ pháp tiếng Anh, cụ thể
là như sau:
♦ Cách thứ nhất phân tích câu ra thành 5 thành phần bắt buộc: S(Subject), V (Verb), O (Object), C (Complement) và A (Adverbial); cáchphân tích này cho kết quả là 7 mô hình cơ bản của câu được hình thành căn
cứ vào khả năng kết hợp của các thành phần câu theo trật tự thông thườngcủa chúng, đó là: SV, SVO, SVC, SVA, SVOO, SVOC, SVOA
♦ Cách thứ hai chia câu ra thành Chủ ngữ (Subject) và Vị ngữ(Predicate), Vị ngữ lại được chia nhỏ ra thành “Operator” (trợ động từ thứ nhất) và
“Predication” (vị ngữ không ngôi) Cách phân tích thứ hai này đưa đến hai môhình cơ bản: “Subject + Predicate” và “Subject + Operator + Predication”
Hiện tượng đảo ngữ xuất hiện trong những biến thể (variation) của các
mô hình cơ bản nêu trên, cụ thể là như sau:
Nếu chủ ngữ đứng sau động từ thì sẽ có 5 mô hình: VS, OVS, AVS , CVS và “Predication + Be + Subject”
Trang 11Nếu chủ ngữ đứng sau trợ động từ thì sẽ có 3 mô hình: “Operator +Subject + Predication”, “Pro-form + Operator + Subject” và “X + Operator +Subject + Y” ( X: yếu tố đứng ở vị trí đầu câu; Y: phần còn lại của câu).
Với những mô hình cấu trúc như vậy, các kiểu câu ĐNTA là bằngchứng cho thấy rằng thành tố tận cùng về bên trái (the left-most constituent)trong câu tiếng Anh không phải lúc nào cũng là chủ ngữ ngữ pháp(grammatical subject) Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần liệt kê các mô hình cấutrúc như đã nêu thì sẽ khó tránh khỏi nguy cơ sa vào chủ nghĩa hình thức.Vậy những mô hình ĐNTA có thể được xem xét và tiếp cận như thế nào vềmặt ngữ nghĩa? Để chuyển tải nội dung của những câu ĐNTA, tiếng Việt sửdụng những cấu trúc gì và những phương tiện gì trong những câu dịch tươngứng? Việc đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này chính là một trong những
lí do chọn đề tài của chúng tôi
Từ góc độ lí luận, lời giải đáp cho những câu hỏi trên sẽ góp phần làm
rõ những đặc trưng loại hình của tiếng Anh và tiếng Việt, trước hết, với tưcách là những ngôn ngữ phân tích tính và sau đó, cho thấy một số khác biệtmang tính nội bộ trong tổng thể những đặc điểm loại hình của hai ngôn ngữ,vốn khác biệt đáng kể so với những loại hình khác theo cách phân loại cổđiển
Về mặt thực tiễn, trong các sách ngữ pháp tiếng Anh hiện đang lưuhành tại Việt nam, kể cả các giáo trình ngữ pháp ở bậc đại học, chúng tôinhận thấy rằng hầu như chỉ có một sự liệt kê các trường hợp đảo ngữ mà ít
có sự phân tích về ngữ nghĩa đối với loại câu này Mặt khác, từ thực tiễn dạyhọc tiếng Anh, với tư cách là một giáo viên, chúng tôi nhận thấy rằng ngườihọc luôn luôn có nhu cầu muốn được lí giải cụ thể về bản chất của ĐNTA để
có được những hướng dẫn đúng đắn liên quan đến việc sử dụng loại câu này.Thiết nghĩ một công trình nghiên cứu về cả hai bình diện cấu trúc và ngữ
Trang 12nghĩa của ĐNTA sẽ góp phần mang lại cho người học một cái nhìn toàn diệnhơn, thấu đáo hơn đối với vấn đề này - vấn đề của những câu được gọi là
“không cơ bản” (non-basic) và biểu thị sự “lệch chuẩn” (deviation from thenorm) nhưng lại là một đặc trưng của ngữ pháp tiếng Anh Đồng thời vớiviệc trình bày một cách nhìn đối với ĐNTA về cả hai phương diện cấu trúc vàngữ nghĩa, chúng tôi tiến hành đối chiếu ĐNTA với tiếng Việt nhằm nâng caohiệu quả giảng dạy ngoại ngữ trên cơ sở nhận biết những tương đồng và dịbiệt giữa hai ngôn ngữ Qua việc thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốngóp phần giúp người Việt học tiếng Anh hiểu rõ bản chất của hiện tượng đảongữ; nhờ đó, khi nói và viết, người học có thể sử dụng các mô hình câu đảongữ nhằm đa dạng hoá và làm phong phú thêm cách diễn đạt của mình Điềunày sẽ góp phần vào thành công của người học trong giao tiếp bằng tiếngAnh
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được thể hiện một cáchkhái quát qua tên gọi của đề tài: “Khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của hiệntượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt” Trong tên gọi này, có ba điểmchúng tôi muốn làm sáng tỏ:
a- “Cấu trúc” được hiểu là “sự sắp xếp có quy tắc của các đơn vị ngôn ngữ để
tạo thành một tổng thể có nghĩa” [Asher et al., 1994, t 10, tr 5175] Trongluận án này, các cấu trúc đảo ngữ được chúng tôi xem xét dưới dạng các
mô hình cú pháp được trừu tượng hoá từ những câu cụ thể, với các thànhphần bắt buộc theo quan niệm của đại đa số các nhà Anh ngữ học Hiệntượng đảo ngữ không làm thay đổi chức năng ngữ pháp cũng như vainghĩa của các thành phần bị đảo So với mô hình của câu có trật tự thuậntương ứng, mô hình câu đảo ngữ thể hiện sự khác biệt về trật tự sắp xếpcác thành tố trong câu
Trang 13b- “Ngữ nghĩa” của các câu đảo ngữ trong luận án này được chúng tôi hiểu
không chỉ là nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề (descriptivemeaning/propositional meaning) mà còn là nghĩa phi miêu tả hay nghĩaphi nội dung mệnh đề (non-descriptive meaning/non-propositionalmeaning) Đây là cách hiểu về ngữ nghĩa theo nghĩa rộng, dựa trên quanđiểm của J Lyons [1995, tr xii-xiii] Theo quan điểm này, ngữ nghĩađược xem là đối tượng của “ngữ nghĩa học” hiểu theo nghĩa rộng, tức ngữnghĩa học mà trong đó bao hàm cả những nội dung của ngữ dụng học ĐỗHữu Châu, trong cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học”, tập hai [2003, tr.45], đã nêu rõ: “Ngữ nghĩa học hiểu theo nghĩa rộng có đối tượng là ngữnghĩa nói chung, bao gồm cả ngữ nghĩa bị quy định bởi tính đúng - sailôgic và ngữ nghĩa không bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic” Khi khảosát ngữ nghĩa của đảo ngữ, luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào phầnnghĩa phi miêu tả hay nghĩa phi nội dung mệnh đề, được giới hạn và cụthể hoá trong ba chức năng của đảo ngữ, đó là: chức năng giới thiệu thựcthể trong diễn ngôn, chức năng nhấn mạnh và chức năng liên kết
c- “Hiện tượng đảo ngữ” trong luận án này có nội hàm của thuật ngữ
“inversion” của ngữ pháp tiếng Anh Bản thân thuật ngữ “đảo ngữ” được
sử dụng trong luận án này chỉ là một cách gọi theo thói quen khi chuyểndịch thuật ngữ “inversion” sang tiếng Việt Vì vậy, cách hiểu của chúngtôi đối với hiện tượng đảo ngữ không căn cứ vào cách chiết tự, chẳng hạnnhư “đảo” tức là “đổi ngược vị trí” ra trước hoặc sau đối với các yếu tốtheo trật tự hình tuyến và “ngữ” là “cụm từ” có tư cách của một thànhphần câu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là loại câu trần thuật tiếng Anh cótrật tự đảo Đối tượng này được chúng tôi xác định dựa vào định nghĩa củaGreen [1982, tr 120]: đảo ngữ là “những cấu trúc câu trần thuật mà trong đó
Trang 14chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động ngữ” Địnhnghĩa này cũng chính là điểm xuất phát của nhiều công trình trực tiếp hoặcgián tiếp có liên quan đến đảo ngữ trong tiếng Anh hiện đại [H Dorgeloh
1997, M A Gomez-González 2001]
Sau khi xác định đối tượng nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng phạm
vi nghiên cứu của luận án không bao hàm những trường hợp sau đây:
i. Phép đảo trợ động từ với tư cách là một phương tiện ngữ pháp để tạo câu hỏi trong tiếng Anh
Phép đảo này là một phép cải biến làm cho câu hỏi được phái sinh từ câutrần thuật và có tác dụng phân biệt thức trần thuật với thức nghi vấn Đó
là một sự chuyển vị mang tính chất ngữ pháp hoá, tức nó là một trongcác phương tiện cú pháp để tạo câu hỏi [Givón 1993, t 2, tr 249 & 259]
Nó được xem là một phương tiện mã hoá ngữ pháp (grammatical codingdevice) và là một hình thức ngôn ngữ học (linguistic form) mang tínhđặc thù ngôn ngữ (language specific) [J Penhallurick 1987, tr 99]
ii. Hiện tượng đảo trong những câu cầu khiến như “Post this letter for me,can you?”, hoặc những câu cảm thán mang đậm phong cách tu từ như “How softlyglides the moon!” hoặc “How beautiful are the flowers!”
iii. Những câu khuôn thức (formulae/formulaic sentences) như “May yourdreams come true”, “Long live the Queen”, được dùng để diễn tả một lời cầuchúc, lời chào hay một niềm mong ước Đây là một loại “câu bất quy tắc”(irregular sentences) thuộc về thức giả định nguyện ước (optative subjunctive),trong đó đảo ngữ đã bị “hóa thạch” (fossilized), theo cách diễn đạt của R Quirk vàcác đồng sự [1972, tr 411]
iv. Đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn (quotation inversion) Ví dụ:
1: 1“The newspaper is late again”, said John (OVS) [87, tr 590]
0: 2 “The newspaper is late again”, John said (OSV) [87, tr 590]
Trang 150: 3 “The newspaper,” John said, “ is late again.” [87, tr 590]0: 4 “The newspaper,” said John, “ is late again.” [87, tr 590]1: 5 Says John: “The newspaper is late again” (VSO) [87, tr 590] Theo
H H Hartvigson và L K Jakobsen [1974, tr 80], sự xuất hiện của đảo ngữ trong
câu có lời trích dẫn là một vấn đề thuộc về phong cách cũng như sở thích của
người viết Trong nhiều trường hợp, lời trích dẫn bị phân tách thành hai phần, và
xen vào giữa hai phần đó là các mệnh đề tường thuật (reporting clauses) như John said và said John trong các ví
dụ {0:3} và {0:4} R Quirk và các đồng sự [1985, tr 1378] xem cácmệnh đề tường thuật này là các mệnh đề phụ (dependent clauses) bởi vìxét về các phương diện cú pháp lẫn ngữ nghĩa, các mệnh đề tường thuậtnày giống với các mệnh đề bình luận (comment clauses) nêu lên ý kiếnhoặc quan điểm của người nói đối với điều được nói đến Cũng theonhóm tác giả này [1985, tr 1023], tính độc lập của lời trích dẫn trực tiếp(direct quotation) thể hiện ở chỗ có những lời trích dẫn trực tiếp khôngcần sự hiện diện của mệnh đề tường thuật Như vậy, về mặt cấu trúc,hiện tượng đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn thể hiện qua nhiều kiểusắp xếp trật tự các thành tố; các ví dụ {0:3} và {0:4} là bằng chứng chothấy không phải lúc nào lời trích dẫn trực tiếp cũng có chức năng ngữpháp là “Object” (O) như trong các mô hình OVS và VSO, mà lời tríchdẫn này có thể bị tách ra và chen vào giữa bởi mệnh đề tường thuật Vềmặt ngữ nghĩa, yếu tố V trong các mô hình này chỉ có thể là những động
từ ngoại động chỉ hành động nói năng (verbs of saying) Với những đặcđiểm này, hiện tượng đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn là một hiệntượng riêng biệt, khác hẳn với đối tượng nghiên cứu của luận án
v. Cũng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án là hiện tượng
“preposing” (còn gọi là “fronting”) và câu tồn tại trong tiếng Anh
Trang 16(existential sentences) Đây là những trường hợp thoạt nhìn thì dườngnhư có những đặc điểm giống với đối tượng nghiên cứu của đề tài luận
1: 8There was a unicorn in the garden [98, tr 179] Có một con kì lân
trong khu vườn.
Trong các ví dụ {0:6} và {0:7}, bổ ngữ trực tiếp (the routine letters, the rest) và bổ túc ngữ (intelligent, omniscent) đã được đảo lên vị trí đầu
câu; tuy nhiên, không có sự dịch chuyển của chủ ngữ ra phía sau động
từ, cũng không có sự xuất hiện của trợ động từ trước chủ ngữ; riêng ví
dụ {0:8} là một câu thể hiện ý nghĩa tồn tại, trong đó chủ ngữ ngữ pháp
là “there”, đứng ở vị trí đầu câu Như vậy, các câu này có bản chất kháchẳn so với các câu đảo ngữ hiểu theo định nghĩa của Green [1982, tr.120] Do đó, chúng không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án
Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của luận án là loại câu trần thuật tiếngAnh được cấu tạo bởi 3 mô hình khái quát của “đảo ngữ toàn phần” (ĐNTP),tức “full inversion” và 3 mô hình khái quát của “đảo trợ động từ” (ĐTĐT),tức “auxiliary/operator inversion”, cụ thể là như sau:
Đảo ngữ toàn phần: AVS
Trang 17CVSPREDICATION + BE + SUBJECTĐảo trợ động từ: OPERATOR + SUBJECT + PREDICATION
PRO-FORM + OPERATOR + SUBJECT
X + OPERATOR + SUBJECT + Y
(X : yếu tố đứng ở vị trí đầu câu; Y: phần còn lại của câu)
Ngoài ra, trong tiếng Anh, chủ ngữ còn có thể xuất hiện sau động từtrong các mô hình VS, OVS và AVSA Tuy nhiên, luận án không nghiên cứucác mô hình này vì những lí do như sau:
(i) Đối với mô hình VS, trong nguồn tư liệu, chúng tôi chỉ tìm thấy 2 ví dụ:1: 9Came frightful days of snow and rain [157, tr 32-33]
Rồi đến những ngày đáng sợ, đầy tuyết và mưa.
1: 10 Came a terrific flash of lightning and clap of thunder [73, tr
trạng ngữ như then hoặc next; khi đó, mô hình đầy đủ của hai câu này sẽ
là AVS, được hiện thực hoá như sau:
Then came frightful days of snow and rain.
Next came a terrific flash of lightning and clap of thunder.
Như vậy, trong nguồn tư liệu của chúng tôi, số lượng câu có mô hình VSthực sự quá ít ỏi và chúng chỉ là một trường hợp nhỏ của mô hình AVS Do
đó, chúng tôi sẽ không đề cập đến mô hình VS trong luận án này
Trang 18(ii) Đối với mô hình OVS, chúng tôi cũng chỉ tìm thấy 2 ví dụ - chính là các
ví dụ của R Quirk và các đồng sự [1972, tr 699] [1985, tr 1381]:
1: 11 Oxford is likely to win the next boat race So say all my friends.
Đội Oxford chắc sẽ thắng trong cuộc đua thuyền sắp tới Tất cả các bạn tôi đều nói thế.
1: 12 So say the rest of us.
Những người còn lại trong chúng tôi đều nói thế cả.
Cũng theo nhóm tác giả Quirk [1985, tr 1381], một số người quan niệmrằng các câu đảo ngữ trong hai ví dụ {0:11} và {0:12} thể hiện một đặcđiểm của tiếng Anh cổ (archaic English) Đây cũng chính là lí do khiếnchúng tôi loại trừ mô hình OVS trong luận án này, vì cứ liệu nghiên cứucủa chúng tôi là tiếng Anh hiện đại
(iii) Trong mô hình AVSA, có sự xuất hiện của hai trạng ngữ Ví dụ:
1: 13 In the garden sat an old man unhappily [57, tr 235]
Trong khu vườn có một cụ già đang ngồi rầu rĩ.
Xét về phương diện cấu trúc, trong trường hợp này, trạng ngữ cuối câukhông có tính bắt buộc (obligatory) so với trạng ngữ đứng ở vị trí đầucâu Trong khi “In the garden sat an old man” là một câu hoàn chỉnh, thì
* “Sat an old man unhappily” là một trường hợp không thể chấp nhậnđược, bởi lẽ đây không phải là một câu đúng theo những quy tắc của ngữ pháptiếng Anh Do đó, trong luận án này chúng tôi sẽ không nghiên cứu mô hìnhAVSA, mà tập trung khảo sát các mô hình được tạo lập bởi sự hiện diện mang tínhbắt buộc của các thành phần câu
Phạm vi nghiên cứu của luận án cũng không bao hàm ngữ điệu và cácyếu tố ngôn điệu khác, mặc dù các yếu tố này bao giờ cũng đi kèm với bất kìmột câu nói hay câu viết nào trong các ngôn ngữ tự nhiên
Trang 193 Mục tiêu của luận án
Luận án đặt ra những mục tiêu sau:
Xác lập khái niệm “đảo ngữ trong tiếng Anh” là cơ sở của việc nghiên cứu
Xác lập một cách hiểu chung về cấu trúc và ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ ứng với thực tế của tiếng Anh và sự biểu đạt của nó trong tiếng Việt Đây cũng chính là nền tảng để xây dựng nội dung nghiên cứu
Hệ thống hoá tất cả các trường hợp ĐNTA trong câu trần thuật; miêu tả cấu tạo hình thức của chúng bằng cách căn cứ vào các mô hình cú pháp.Chọn ra các cấu trúc đảo ngữ giống nhau về mặt chức năng trong diễn ngôn; mặt chức năng đó chính là sự cụ thể hoá của một thứ nghĩa “phi miêu tả” (non-descriptive meaning) hay “phi nội dung mệnh đề” (non-propositional meaning) mà đảo ngữ biểu thị
Phân tích cả hai mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của từng kiểu câu đảo ngữ tiếng Anh, đồng thời đối chiếu với tiếng Việt nhằm tìm ra các cách thức thể hiện chúng trong tiếng Việt, qua đó thấy được các kiểu tương đươngdịch thuật cũng như những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ.Trình bày những nhận xét tổng quát mang tính lí luận về vấn đề nghiên cứu và những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm mục đích khảo sát ĐNTA trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữnghĩa, đồng thời nắm bắt được những tương đồng và dị biệt giữa hai ngônngữ Anh và Việt dựa trên cứ liệu đối dịch Anh-Việt, luận án này được thựchiện dựa trên ba phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp quy nạp: phương pháp này được sử dụng nhằm xử lí cứliệu, tổng hợp các kết quả và rút ra kết luận
Trang 20Phương pháp miêu tả: phương pháp này được thể hiện thông qua việcphân tích mặt cấu trúc cú pháp và chức năng của đảo ngữ trong diễn ngôn; cáccấu trúc cú pháp được nhận diện nhờ vào những mô hình được tạo lập bởicác thành phần câu theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống.
Phương pháp phân tích đối chiếu: phương pháp này được sử dụngnhằm nêu bật những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Về phạm vi đốichiếu, chúng tôi lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở hay ngôn ngữ chỉ đạo, tứcngôn ngữ này là ngôn ngữ đối tượng cần được phân tích, làm sáng tỏ; còntiếng Việt là ngôn ngữ phương tiện, được sử dụng như là ngôn ngữ liên hệ đểlàm sáng tỏ các đặc điểm của ngôn ngữ đối tượng
Luận án được thực hiện theo các bước như sau:
a- Tổng hợp tài liệu và những kiến giải về hiện tượng ĐNTA.
b- Thu thập ngữ liệu của cả hai ngôn ngữ Anh-Việt từ các bản dịch song ngữ
và các tài liệu ngữ pháp
c- Phân loại, miêu tả, phân tích đối chiếu và quy nạp để đi đến kết luận Việc
phân loại dựa trên các tiêu chí về cấu tạo hình thức và chức năng của đảongữ Việc đối chiếu có tính đến những đặc điểm loại hình học
Để thuận tiện cho việc miêu tả và đối chiếu, một số thuật ngữ và cách gọitên của ngữ pháp truyền thống vẫn được sử dụng trong luận án, do ý nghĩa thựctiễn của đề tài này là phục vụ cho việc dạy học và thực hành ngoại ngữ
5 Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án
♦ Các bản dịch song ngữ Anh-Việt, đặc biệt là các tác phẩm văn học như tiểu thuyết, truyện ngắn
♦ Các sách ngữ pháp và các công trình nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt
♦ Các loại từ điển tiếng Anh và tiếng Việt
Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo một số cấu trúc câu
“không cơ bản”, hiện tượng ĐNTA lại không xuất hiện với tần số cao, nếu
Trang 21không nói là “tương đối hiếm” [D Biber et al 1999, tr 926] Cũng theo các tácgiả này, các cấu trúc ĐNTA xuất hiện trong bút ngữ nhiều hơn là trong khẩungữ, đặc biệt các tác phẩm văn chương cho thấy tần số xuất hiện của đảo ngữ làcao hơn cả Chính vì vậy mà nguồn tư liệu của chúng tôi chủ yếu dựa vào cáctiểu thuyết, truyện ngắn, Trên cơ sở tham khảo 927 đoạn văn tiếng
Anh có sử dụng đảo ngữ, chúng tôi đã chọn ra 500 ví dụ tiêu biểu nhất để làmdẫn liệu cho việc miêu tả và phân tích trong luận án
6 Vấn đề đối chiếu trong luận án
Trong luận án này, việc đối chiếu từ tiếng Anh sang tiếng Việt chính làmột sự phân tích tương phản ứng dụng (applied contrastive analysis), chứkhông phải là phân tích tương phản lí thuyết (theoretical contrastive analysis).Đây là hai loại phân tích tương phản mà Carl James [1980] đã nêu ra trongcuốn sách bàn về đối chiếu ngôn ngữ có nhan đề “Contrastive Analysis” CarlJames [1980, tr 142] đã dẫn lời Fisiak và các đồng sự [1978, tr 10], rằngphân tích tương phản lí thuyết “tìm kiếm sự hiện thực hoá của một phạm trùphổ quát X trong cả hai ngôn ngữ A và B”; còn phân tích tương phản ứngdụng thì lại “quan tâm sâu sắc đến vấn đề một phạm trù phổ quát X, đượchiện thực hoá là y trong ngôn ngữ A, được biểu đạt như thế nào trong ngônngữ B” Sau đây là sơ đồ minh hoạ cho hai loại phân tích tương phản này:
Phân tích tương phản lí thuyết Phân tích tương phản ứng dụng
Sơ đồ 0.1: Các loại phân tích tương phản
(Nguồn: C James 1980, tr 142)
Trang 22Sơ đồ này cho thấy phân tích tương phản ứng dụng mang tính chất mộtchiều (unidirectional) từ ngôn ngữ đối tượng sang ngôn ngữ phương tiện,trong khi đó phân tích tương phản lí thuyết “không cần thiết phải phản ánhbất kì một tính định hướng nào đối với việc học ngôn ngữ” [C James 1980,
tr 142] Vì mục đích thực tiễn của việc đối chiếu trong luận văn này là nhằmphục vụ cho việc học tiếng Anh của người Việt, nên hướng phân tích đốichiếu của chúng tôi là phân tích tương phản ứng dụng Dựa trên cơ sở đó mà
sự miêu tả trong luận án này chủ yếu thiên về tiếng Anh và việc đối chiếu tậptrung vào cách thức biểu đạt của ĐNTA khi chuyển dịch sang tiếng Việt
Mặc dù “đảo ngữ” đã được xem là một phổ quát ngôn ngữ, nhưng tìnhhình trong tiếng Việt có khác với tiếng Anh: khác với ĐNTA, “đảo ngữ trongtiếng Việt” là một vấn đề đã và đang gây nhiều tranh luận trong các nhànghiên cứu Có nhiều ý kiến khác biệt, thậm chí trái ngược nhau đối với sựtồn tại của một hiện tượng gọi là “đảo ngữ” trong tiếng Việt Các nhà Việtngữ học có thể đồng ý về sự hiện diện của các kiểu câu như Danh ngữ - Danhngữ - Vị ngữ và Vị ngữ - Danh ngữ, tuy nhiên lại khá dè dặt và thận trọngtrong cách đặt tên cho sự dịch chuyển thành tố trong các kiểu câu này Một số
cách gọi đã được nêu ra: sự đề bạt, hiện tượng đảo trí, phép đảo, đảo ngữ,
Vấn đề tư cách thành phần câu của các yếu tố đảo trí cũng đã làm nảy sinhnhững quan điểm khác nhau Có thể nói rằng, cho đến nay, đảo ngữ trongtiếng Việt đã được thừa nhận trong lĩnh vực phong cách học, còn trong lĩnhvực ngữ pháp, “đảo ngữ” là một phạm trù chưa có sự định hình rõ nét nhưtrong tiếng Anh Chính vì vậy chúng tôi chưa có điều kiện để thực hiện đượcmột sự phân tích đối chiếu hai chiều thể hiện sự cân đối trong việc miêu tảđầy đủ cả hai ngôn ngữ Anh-Việt ở một mức độ như nhau Do đó, chúng tôichọn giải pháp đối chiếu một chiều Giải pháp này không yêu cầu hai sự miêu
tả của hai ngôn ngữ phải ở một mức độ thấu đáo như nhau (equally
Trang 23exhaustive theo C James [1980, tr 65] hoặc delicate theo M A K Halliday
[1961, tr 272, dẫn theo C James 1980, tr 65]) Mặt khác, giải pháp này chophép đặt trọng tâm đối chiếu thiên về ngôn ngữ đối tượng - ngôn ngữ màngười học đang hướng đến
Việc đối chiếu trong luận án này được thực hiện dựa vào cứ liệu đốidịch Anh-Việt và trên cơ sở thừa nhận sự tồn tại của tương đương dịch thuật(TĐDT) Carl James [1980, tr 67] đã khẳng định rằng việc sử dụng các câudịch tương đương (translationally equivalent sentences) tạo điều kiện thuậnlợi cho quá trình đối chiếu
Trong bài viết “Về vấn đề tương đương trong dịch thuật” [2001], tiếpthu các quan điểm của A Fedorov [1968], Catford [1969], Nida & Taber[1969], Newman [1980] & Koller [1990], tác giả Nguyễn Hồng Cổn đã nêu ramột định nghĩa về tương đương dịch thuật như sau:
Tương đương dịch thuật (TĐDT) là sự trùng hợp hay tương ứng trên một hoặc nhiều bình diện (ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng) giữa các đơn vị dịch thuật của văn bản nguồn (VBN) và văn bản đích (VBĐ) với tư cách vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của dịch thuật như một quá trình giao tiếp.
Theo Nguyễn Hồng Cổn, định nghĩa trên đây ngụ ý rằng:
a) TĐDT là một thuộc tính khách quan, một mối quan hệ có thực tồn tại giữa VBN và VBĐ và các đơn vị của chúng
b) TĐDT là một đại lượng động, biến thiên theo số lượng và tính chất của các bình diện tương đương được dịch
c) TĐDT chịu sự ảnh hưởng và chi phối của nhiều nhân tố trong việc ưu tiên lựa chọn một bình diện, một khía cạnh tương đương này hay khác
Trang 24Như vậy, cách hiểu về TĐDT như trên cho thấy rằng không có mộtTĐDT lí tưởng nào chung cho các đơn vị dịch thuật Giữa các đơn vị dịchthuật có thể có các kiểu TĐDT khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất và số lượngcủa các bình diện tương đương được chuyển dịch.
Nguyễn Hồng Cổn đã phân biệt bốn bình diện TĐDT cơ bản, cụ thể là:
Tương đương ngữ âm (phonetic equivalence) là khả năng tương ứng giữa
các đơn vị dịch của VBN và VBĐ về cấu trúc âm vị, đặc trưng ngôn điệu (trọng âm, ngữ điệu), và độ dài tuyến tính
Tương đương ngữ pháp (grammatical equivalence) là khả năng tương
đương giữa các đơn vị dịch thuật về các phương diện phạm trù từ loại của các từ, trật tự từ, cấu trúc cú pháp và kiểu câu
Tương đương ngữ nghĩa (semantic equivalence) là khả năng tương
đương giữa các đơn vị dịch của VBN và VBĐ về a) nghĩa sở biểu và
nghĩa sở chỉ ở cấp độ từ; b) nghĩa mô tả hay nghĩa mệnh đề ở cấp độ câu
Tương đương ngữ dụng (pragmatic equivalence) là sự tương ứng giữa các
đơn vị dịch thuật của VBN và VBĐ về các thông tin ngữ dụng (hay còn gọi là thông tin phi miêu tả), liên quan đến các nhân tố của tình huống giao tiếp
Căn cứ vào sự có mặt/vắng mặt của 4 bình diện tương đương cơ bảnnày, Nguyễn Hồng Cổn đã phân chia các TĐDT thành 2 nhóm lớn với 6 kiểutương đương như sau:
♦ Các tương đương hoàn toàn, bao gồm hai kiểu: tương đương hoàn toàn tuyệt đối và tương đương hoàn toàn tương đối.
Tương đương hoàn toàn tuyệt đối: là các TĐDT tương đương với
nhau trên cả 4 bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Tương đương hoàn toàn tương đối: là các TĐDT giống nhau trên 3
bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Trang 25Kiểu tương đương hoàn toàn tuyệt đối rất ít khi xảy ra bởi vì phần lớn các ngôn ngữ có các hệ thống âm vị khác nhau Còn kiểu tương đương hoàn toàn tương đối thì xuất hiện phổ biến hơn.
♦ Các tương đương bộ phận: các TĐDT chỉ tương ứng với nhau trên một
hoặc hai bình diện Chúng bao gồm các kiểu sau:
Tương đương ngữ pháp-ngữ nghĩa: kiểu TĐDT này được tìm thấy
khi mà, do sự khác biệt tinh tế giữa hai ngôn ngữ, người dịch không thể chuyển tải được hết các thông tin dụng học khác nhau của đơn vị dịch Kiểu TĐDT này thường chỉ dùng để dịch chú giải nghĩa nguyênvăn của câu hoặc thành ngữ; nó ít được sử dụng trong dịch giao tiếp
Tương đương ngữ pháp-ngữ dụng: là kiểu TĐDT mà trong đó các
đơn vị dịch của VBN và VBĐ chỉ tương đương nhau về ngữ pháp vàngữ dụng nhưng không tương đương về ngữ nghĩa
Tương đương ngữ nghĩa-ngữ dụng: là kiểu tương đương phổ biến
nhất, trong đó đơn vị gốc và đơn vị đối dịch có nghĩa biểu hiện và nghĩa ngữ dụng (đích ngôn trung, giá trị thông báo ) tương ứng với nhau, nhưng giữa các đơn vị này có những khác biệt nhất định về mặtngữ pháp
Tương đương thuần ngữ dụng: là kiểu tương đương tự do nhất, trong
đó các khía cạnh tương đương khác nhau về thông tin ngữ dụng (đặt biệt là đích ngôn trung và giá trị thông báo) hầu như độc lập với tương đương ngữ pháp và ngữ nghĩa Kiểu tương đương này thườngxảy ra khi chuyển dịch các câu có tính nghi thức hoặc tính thành ngữ cao
Căn cứ vào 6 kiểu TĐDT theo sự phân loại của Nguyễn Hồng Cổn, khitiến hành đối chiếu Anh-Việt, luận án đặt mục tiêu tìm ra các kiểu TĐDT cóthể có giữa hai ngôn ngữ trên cơ sở các mô hình cấu trúc của ĐNTA Cụ thể
Trang 26là: đối với mỗi một cấu trúc ĐNTA, chúng tôi sẽ tìm kiếm kiểu TĐDT phùhợp nhất có thể có trong tiếng Việt Trong một số trường hợp, có thể có hơnmột cấu trúc trong tiếng Việt ứng với một cấu trúc đảo ngữ tiếng Anh.
Việc đối chiếu trong luận án được thực hiện ở cấp độ câu, do đó chúngtôi thấy cần phải xác định các khái niệm “ngữ pháp”, “ngữ nghĩa”, “ngữdụng” trong cách gọi tên các kiểu TĐDT mà luận án sử dụng
“Ngữ pháp”, theo cách hiểu của luận án, là bình diện kết học của câu,được thể hiện qua cấu trúc cú pháp của câu, với những đặc điểm hình thứccủa các yếu tố cấu tạo nên câu
“Ngữ nghĩa”, trong cách gọi tên các kiểu TĐDT mà luận án sử dụng,được giới hạn trong bình diện nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề của câu, cònđược gọi là nghĩa biểu hiện Đó là phần nghĩa của câu phản ánh một sự tình(state of affairs) nào đó của hiện thực Đây là cách hiểu về “ngữ nghĩa” theonghĩa hẹp so với cách hiểu về “ngữ nghĩa” trong tên đề tài luận án mà chúngtôi đã trình bày ở mục 2, trong phần “MỞ ĐẦU”
“Ngữ dụng”, cũng trong cách gọi tên các kiểu TĐDT của luận án, làbình diện của mối quan hệ giữa câu và việc sử dụng câu trong hoạt động giaotiếp, được thể hiện qua các thông tin phi miêu tả, có liên quan đến các nhân tốcủa tình huống giao tiếp như người sử dụng, mục đích sử dụng, hoàn cảnh sửdụng
Như đã trình bày ở mục 2, phần “MỞ ĐẦU”, trong tên gọi của đề tài
“Khảo sát cấu trúc-ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếngViệt”, thuật ngữ “ngữ nghĩa” được chúng tôi hiểu theo nghĩa rộng, tức đó là đốitượng của ngữ nghĩa học hiểu theo quan điểm của J Lyons [1995, tr 342]: “Vềnguyên tắc, ngữ nghĩa học nên bao quát (tất cả và duy nhất) những nghĩa được
mã hoá trong cấu trúc từ vựng và cấu trúc ngữ pháp của các ngôn
Trang 27ngữ cụ thể, bất luận là những nghĩa đó có thể được phân tích theo điều kiệnchân trị hay không” Đây là quan niệm được chấp thuận rộng rãi ở Việt Namhiện nay, khi mà nghĩa học điều kiện chân trị và một số khuynh hướng nghĩahọc hình thức (Formal Semantics) chưa thật sự được giới thiệu rộng rãi Trên
cơ sở những cân nhắc về lí luận và thực tiễn như vậy, luận án này được thựchiện chủ yếu nhằm tìm hiểu những nghĩa được mã hoá trong cấu trúc cú phápcủa đảo ngữ tiếng Anh, ngoài phần nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề, tức hiểu
“ngữ nghĩa” theo cách hiểu rộng Riêng trong phần đối chiếu giữa các câu đảongữ tiếng Anh với các câu đối dịch trong tiếng Việt, để làm rõ các kiểu TĐDT
có thể có giữa hai ngôn ngữ, chúng tôi tạm phân biệt khái niệm “ngữ nghĩa”với khái niệm “ngữ dụng” như đã trình bày ở trang 17 Sự phân biệt này đượcnêu ra chỉ như là một sự phân biệt ở khía cạnh kĩ thuật, bởi vì cuộc tranh luận
về ranh giới giữa nghĩa học và dụng học nói chung, giữa việc xếp nội dungnào thuộc nghĩa học, nội dung nào thuộc dụng học là một vấn đề quá sứcphức tạp Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập trung giải quyết một sốvấn đề cốt lõi của nghĩa, với tư cách là “cái được biểu đạt”, trong những giớihạn của đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã được đặt ra
7 Cái mới của luận án
Luận án nghiên cứu ĐNTA trong mối quan hệ gắn bó giữa hai bìnhdiện cấu trúc và ngữ nghĩa, xem đảo ngữ không chỉ là một hiện tượng thuộc
về cấu trúc nội tại của câu xét trên bình diện cú pháp mà còn là một hiệntượng có quan hệ mật thiết với diễn ngôn, với việc tổ chức diễn ngôn củangười nói/ viết Quá trình nghiên cứu được xuất phát từ những luận điểm vànhững nguyên lí cơ bản trong truyền thống nghiên cứu ngôn ngữ học, đồngthời hướng tiếp cận vấn đề dựa trên cơ sở những khái niệm và phạm trù củangôn ngữ học hiện đại như tiêu điểm thông báo, chức năng nhấn mạnh, tínhliên kết, quan hệ giữa chức năng và ngữ nghĩa,
Trang 28Luận án cũng đã bước đầu hệ thống hoá các cách nhìn nhận đối với vấn
đề đảo ngữ trong tiếng Việt, mặc dù không lấy đảo ngữ tiếng Việt làm đốitượng nghiên cứu chính của đề tài
Luận án góp phần giúp người Việt học tiếng Anh nắm vững và sử dụng
có hiệu quả các cấu trúc ĐNTA nhằm đa dạng hoá các cách thức diễn đạtbằng tiếng Anh cho những mục đích giao tiếp nhất định Kết quả đối chiếu cóthể góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập ngữ pháp tiếng Anh chongười Việt Nam
8 Bố cục của luận án
Luận án được trình bày trong ba phần:
1) Mở đầu :Đây là phần giới thiệu luận án
2) Nội dung :Phần này gồm năm chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đảo ngữ tiếng Anh, tiếng Việt và các
cơ sở lí thuyết có liên quan
Chương này trình bày khái quát về ĐNTA và ĐNTV cùngvới những vấn đề lí thuyết làm cơ sở nghiên cứu
Chương 2: Quan niệm của luận án về đảo ngữ trong tiếng Anh và
Chương 4: Đảo ngữ với chức năng nhấn mạnh
Chương này phân tích chức năng nhấn mạnh của ĐNTA, đồng thời tiến hành đối chiếu với tiếng Việt
Trang 29Chương 5: Đảo ngữ với chức năng liên kết
Chương này phân tích chức năng liên kết của ĐNTA, đồng thời tiến hành đối chiếu với tiếng Việt
3) Kết luận : Phần này nêu ra những đúc kết của luận án về các đặc
trưng của đảo ngữ tiếng Anh trên các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, đồng thời trình bày những nhận xét về tiếng Việt trong việc chuyển dịch các cấu trúc đảo ngữ tiếng Anh, qua đó thấy được các kiểu TĐDT cũng như những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ đối với vấn đề đảo ngữ
Trang 30NỘI DUNGCHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT
VÀ CÁC CƠ SỞ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
Trong chương này, chúng tôi trình bày một cái nhìn mang tính kháiquát về đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt, điểm qua tình hình nghiên cứuđảo ngữ và nêu ra một số cơ sở lí thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu
1.1 Tổng quan về đảo ngữ tiếng Anh
Trong luận án này, nội hàm của “đảo ngữ” (inversion) được hiểu theođịnh nghĩa của Green [1982, tr 120], đó là “những cấu trúc câu trần thuật màtrong đó chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động ngữ”.Trên cơ sở đó, các nhà Anh ngữ học đã phân biệt hai loại đảo ngữ như sau:
Đảo ngữ toàn phần (full inversion) (ĐNTP):
1: 1At the end of the garden stood a handsome building of the
Trang 311: 4Gone are the days when industrial goods were made to last forever [155, tr 170]
Đã qua rồi cái thời mà hàng công nghiệp được chế tạo ra để có tuổi thọ vĩnh viễn.
Đảo trợ động từ (auxiliary/operator inversion) (ĐTĐT):
1: 5Never have I seen such a magnificent performance [52, tr 218]
Chưa bao giờ tôi trông thấy một cuộc trình diễn lộng lẫy như vậy.
1: 6In no circumstances would I agree to such a proposal [6, tr 134]
Dù trong bất kì hoàn cảnh nào tôi cũng không đồng ý với một đề nghị như thế.
1: 7So violent was the gale that all the trees were uprooted.[6, tr.136]
Cơn bão quá sức dữ dội đến nỗi tất cả cây cối đều bị bật gốc.
1: 8 Ed passed the exam and so did Mary [74, tr 229] Ed
đã thi đỗ và Mary cũng vậy.
1: 9Ed didn‟t pass the exam and neither/nor did Mary [74, tr 229]
Ed đã không thi đỗ và Mary cũng vậy/cũng không.
1.1.1 Đảo ngữ tiếng Anh từ góc nhìn lịch đại
Theo H Dorgeloh [1997, tr 29], trật tự XVS (trong đó X là một thành
tố chiếm vị trí đầu câu nhưng không đóng vai trò chủ ngữ) đã tồn tại qua cácgiai đoạn phát triển của tiếng Anh Trong kiểu trật tự này, động từ thay vì theosau chủ ngữ lại đứng sau một thành tố khác xuất hiện ở vị trí đầu câu
Trong thời kỳ của tiếng Anh Cổ (Old English), có một quy tắc gọi là
“Verb-Second Rule”, tức là động từ được đặt ở vị trí thứ hai trong câu, cho
dù đứng trước động từ có thể là chủ ngữ hoặc một thành tố khác của câu Đâychính là quy tắc chi phối trật tự từ cơ bản trong các mệnh đề chính của các
Trang 32ngôn ngữ Germanic Khi nghiên cứu về lịch sử của đảo ngữ tiếng Anh,Schmidt [1980] (dẫn theo H Dorgeloh 1997, tr 30) đã chỉ ra rằng trong tiếngAnh Cổ (Old English) có sự lựa chọn giữa hai mô hình: SVO hoặc XVS Tuynhiên, sự lựa chọn này không mang tính ngẫu nhiên Hopper [1979] (dẫn theo
H Dorgeloh 1997, tr 30), cho rằng trong các văn bản tường thuật của tiếngAnh Cổ, trật tự SV gắn liền với phần thông tin nền hay thông tin hậu cảnh(backgrounded material), còn trật tự VS thì gắn với phần thông tin tiền cảnh(foregrounded material) So với trật tự SV, trật tự VS thường được dùng đểmiêu tả sự khởi đầu của các sự kiện cũng như giới thiệu các sự vật hiệntượng “đóng một vai trò nào đó trong câu chuyện tường thuật”
Chuyển sang thời kì của tiếng Anh Trung đại (Middle English), xuấthiện một khuynh hướng mạnh mẽ đối với việc sử dụng trật tự SV khi chủ ngữmang thông tin cũ (given), đặc biệt là chủ ngữ đại từ (pronominal subject);còn đảo ngữ toàn phần (ĐNTP), tức trật tự VS thì được dùng để giới thiệuchủ đề (topic introduction), và đảo trợ động từ (ĐTĐT) được sử dụng để làmnổi bật yếu tố được đảo lên vị trí đầu câu (the preposed constituent)
Kể từ đây bắt đầu quá trình ngữ pháp hoá dần dần trật tự SVO Kèm
theo đó là việc sử dụng trợ động từ do để hỗ trợ cho động từ trong mô hình SdoV Theo Schmidt [1980], cũng trong thời kì tiếng Anh Trung đại, các trường hợp đảo ngữ với trợ động từ do dường như được dùng để nhấn mạnh
vào động từ hơn là nhấn mạnh vào một yếu tố được đảo lên vị trí đầu câu (the
preposed constituent) Tuy nhiên, chức năng này của do đối với hiện tượng
ĐTĐT cũng dần dần thay đổi một cách rõ rệt: sự nhấn mạnh được chuyển từyếu tố động từ sang yếu tố đứng ở vị trí đầu câu
Vào đầu thời kì tiếng Anh hiện đại (Early Modern English), trật tự
SdoV đã trở thành phương tiện nhấn mạnh vào động ngữ (verb phrase), trong khi đó trật tự XdoVS lại xuất hiện trong những ngữ cảnh có liên quan đến sự
Trang 33tăng cấp hay cường điệu (intensity) [Stein 1990] (dẫn theo H Dorgeloh 1997,
tr 33), trong đó yếu tố đầu câu được nhấn mạnh
Ngày nay, tiếng Anh hiện đại tuân theo quy tắc “Verb-Third Rule”, vớitrật tự cơ bản là SVX hay SVO [Denison 1993] (dẫn theo H Dorgeloh 1997,
tr 29) Tuy nhiên, chính Denison lại thừa nhận rằng tên gọi “Verb-ThirdRule” quả là “một sự chọn lựa khá bất hạnh” (a somewhat unhappy choice oflabel) đối với trường hợp “động từ theo sau chủ ngữ bất luận có hoặc không
có bất kì một yếu tố nào xuất hiện ở vị trí trước chủ ngữ” Như vậy, trật tựSVX trong tiếng Anh hiện đại là kết quả của cả một quá trình ngữ pháp hoá(grammaticalization) những trường hợp chủ ngữ đứng trước động từ theo quytắc “Verb-Second Rule” trong tiếng Anh Cổ Những trường hợp còn lại củaquy tắc “Verb-Second Rule” có mô hình khái quát nhất là XVS, trong đó chủngữ S đứng sau động từ nội động V, còn yếu tố X đứng ở vị trí đầu câu có đặctrưng là một yếu tố định vị: X có thể là một yếu tố chỉ không gian, thời gian,chỉ phương hướng hoặc chỉ sự định vị trừu tượng Đây chính là hiện tượngĐNTP Riêng đối với hiện tượng ĐTĐT thì mô hình khái quát nhất của nótrong tiếng Anh hiện đại là XOpSV, với Op (Operator) là trợ động từ thứ nhất(the first auxiliary), X là một yếu tố đứng ở vị trí đầu câu mà theo sau nó bắtbuộc phải là trợ động từ thứ nhất (Operator), rồi mới đến chủ ngữ So vớiĐNTP, hiện tượng ĐTĐT có mức độ ngữ pháp hoá cao hơn, bởi vì yếu tố Xđược giới hạn trong một phạm vi hẹp, chủ yếu là một yếu tố phủ định, mộtdạng thế hoặc một liên từ trong một số cặp liên từ nhất định
Theo những dữ liệu của Stockwell, trước cuối thời kì tiếng Anh Trungđại, chưa có sự ra đời của những cấu trúc đảo ngữ có yếu tố đứng đầu câu làmột động ngữ hoặc một tính ngữ, chẳng hạn như những cấu trúc của các câu
“Addressing the demonstration was a quite elderly woman” và “Equallyinexplicable was his behaviour to close friends” H Dorgeloh [1997, tr 34]
Trang 34gọi đây là các trường hợp đảo ngữ “cách tân” (innovations) Chúng khôngphải là kết quả của một quá trình ngữ pháp hoá mà sự hiện diện của chúngđược quy định bởi bản chất cân bằng (equational nature) của cấu trúc.
Như vậy, nhìn từ khía cạnh lịch đại, hiện tượng ĐNTA gắn liền vớilịch sử phát triển của ngôn ngữ này Những cấu trúc đảo ngữ là sự hiện thựchoá những “dấu vết còn lại” (remnants) của quy tắc “Verb-Second Rule”trong tiếng Anh Cổ Bên cạnh đó, việc di chuyển các thành tố trong câu cònnhằm mục đích tạo ra tính hài hoà, cân đối cho cấu trúc
1.1.2 Tình hình nghiên cứu đảo ngữ tiếng Anh
Theo những tài liệu mà chúng tôi thu thập được, hai tác giả Hans H.Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakcobsen [1974] đại diện cho những người đitiên phong có công trình chuyên khảo về đảo ngữ trong tiếng Anh hiện đại.Tuy nhiên, cuốn sách có độ dày 93 trang của hai ông với nhan đề “Inversion
in Present-Day English” hầu như chỉ liệt kê các trường hợp ĐNTA, thiên vềtrình bày cấu tạo hình thức mà ít chú trọng đến mặt ngữ nghĩa của đảo ngữ
Trong những thập niên 1980 và 1990, một số nhà nghiên cứu đã tỏ raquan tâm hơn đến phương diện ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ, trong nỗlực tìm kiếm cơ chế (mechanism) hoặc động cơ (motivation) chi phối hiệntượng này Chúng tôi đã tìm thấy một số kiến giải khác nhau về ĐNTA trongcác bài báo của các tác giả John Penhallurick [1984 & 1987], Ekkehard Konig[1988], Hans Bernhard Drubig [1988], Betty Birner [1994 & 1995] và gầnđây nhất là cuốn sách “Inversion in Modern English: Form and Function” củaHeidrun Dorgeloh [1997] Các công trình có quy mô lớn về ngữ pháp tiếngAnh cũng đã đề cập đến đảo ngữ như là một biến thể trật tự từ, điển hình là:
“A Grammar of Contemporary English” [1972], “A Comprehensive Grammar
of the English Language” [1985] của R Quirk và các đồng sự, “A UniversityCourse in English Grammar” [1995] của Angela Downing và
Trang 35Philip Locke; “Longman Grammar of Spoken and Written English” [1999] doDouglas Biber chủ biên và mới đây nhất là cuốn sách “The CambridgeGrammar of the English Language” [2002] do Rodney Huddleston chủ biênvới sự cộng tác của nhiều chuyên gia về ngôn ngữ học hiện đại Nhìn chung,các công trình này đều thể hiện những điểm tương đồng trong việc miêu tảmặt cấu tạo hình thức của hiện tượng đảo ngữ; mặc dù trên bình diện nộidung, các ý kiến còn khá tản mạn và đi theo những hướng khác nhau Tuyvậy, hầu hết các tác giả đều trực tiếp hay gián tiếp khẳng định rằng hiệntượng ĐNTA không làm thay đổi chức năng cú pháp cũng như vai nghĩa củacác thành phần trong câu, do đó sẽ không thoả đáng nếu nghiên cứu đảo ngữnhư là một hiện tượng thuần túy mang tính cú pháp mà phải xem xét hiệntượng này trong sự tác động qua lại khá phức tạp (a complex interplay) củanhiều nhân tố thuộc về diễn ngôn, dụng học và cả những nhân tố liên quanđến nhận thức (cognitive).
Như đã nói, các tác giả đều khá nhất trí khi cho rằng, căn cứ vào vị trícủa chủ ngữ so với động từ hoặc trợ động từ trong câu, ĐNTA được phânthành hai loại: đảo ngữ toàn phần (ĐNTP) và đảo trợ động từ (ĐTĐT), vớinhững khác biệt về mặt hình thức và ngữ nghĩa
ĐNTP được hiện thực hoá trong những cấu trúc có 3 yếu tố theo trình
tự yếu tố đầu câu + động từ + chủ ngữ ngữ pháp, với những đặc điểm nhưsau:
♦ Yếu tố đầu câu thường là một trạng ngữ chỉ không gian hoặc thời gian.
Ngoài ra, nó có thể là một bổ túc ngữ (Complement) hoặc một vị ngữ không ngôi(Non-finite Predication) Trong nhiều trường hợp, yếu tố đầu câu tạo nên sự liênkết giữa câu đảo ngữ với phần văn bản trước đó
♦ Động từ trong câu ĐNTP là động từ to be hoặc một động từ nội động
(intransitive verb), thường gặp là những động từ chỉ sự tồn tại hay xuất
Trang 36hiện của một thực thể trong một bối cảnh Động từ này có thể ở dạng đơn (single form) hoặc dạng phức (complex form) Ví dụ:
1: 10Alan walked along Elmdale Avenue and found number sixteen
without difficulty Outside the house was a furniture van [123, tr 108]
Alan đi dọc theo Đại lộ Elmdale và dễ dàng tìm ra số nhà mười sáu Bên ngoài căn nhà là một chiếc xe tải chở vật dụng.
1: 11 Best of all would be to get a job in Wellingham [56, tr 914]
Tốt hơn cả là đi tìm một việc làm ở Wellingham.
1: 12Among the sports will be athletics, badminton, basketball [56,
tr 914]
Trong số các môn thi đấu sẽ có điền kinh, cầu lông, bóng rổ.
1: 13 On a hill in front of them stood a great castle [113, tr 281]
Trên quả đồi trước mặt họ sừng sững một toà lâu đài tráng lệ.
1: 14 On the stairs was sitting a small dark-haired girl [113, tr 277]
Ngồi trên cầu thang là một cô gái người nhỏ nhắn, tóc đen.
♦ Chủ ngữ trong câu ĐNTP bao giờ cũng là một danh ngữ, không thể là một
đại từ Chủ ngữ trong câu ĐNTP thường gặp là một danh ngữ có độ dài vật chấthay cấu tạo hình thức khá phức tạp Danh ngữ này thường giới thiệu thông tin mới
và có thể là chủ đề (topic) của câu tiếp theo sau Đại từ thường mang tính xác định(về ngữ pháp và nghĩa) và tính đã biết (về thông báo); do đó, đại từ không thể giữchức năng của chủ ngữ trong câu ĐNTP
Khác với ĐNTP, hiện tượng ĐTĐT có những đặc điểm như sau:
♦ Phạm vi của các động từ tham gia vào câu ĐTĐT không hạn chế như đối
với ĐNTP: đó có thể là động từ to be, hoặc bất kì một động từ nào khác.
♦ So với ĐNTP, những yếu tố mở đầu câu ĐTĐT bị giới hạn trong phạm vi
Trang 37hẹp hơn.
♦ Hầu hết các cấu trúc ĐTĐT đều mang tính ngữ pháp hoá ở một mức độcao, thể hiện qua tính bắt buộc (obligatory) của chúng trong những điều kiện nhấtđịnh
♦ Đảo trợ động từ mang tính bắt buộc khi đứng đầu câu là một yếu tố phủ
định, bán phủ định hoặc một trạng ngữ hạn định, chẳng hạn như never, nowhere,
on no condition, at no time, hardly, rarely, scarcely, seldom, little, not only, no sooner, only then, Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý đến mối quan hệ giữa đảo
ngữ và tầm tác động của sự phủ định (scope of negation) D Biber và các đồng sự[1999, tr 916] đã nêu rõ: “Đảo ngữ chỉ được tìm thấy khi tầm tác động của phủđịnh ảnh hưởng đến toàn bộ câu” Do vậy, hiện tượng đảo ngữ không xảy ra trongnhững câu chỉ có một thành tố cấu trúc bị phủ định, như trong các ví dụ sau:
1: 15 No doubt he will issue his instructions [56, tr 916]
Chắc chắn ông ta sẽ đưa ra những chỉ thị.
1: 16 Not surprisingly, most studies have concerned themselves with ill
effect, notably that of emotional stress [56, tr 916]
Thảo nào mà hầu hết các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến tác động tiêu cực, nhất là ảnh hưởng của chứng trầm cảm.
1: 17 Not many years ago, it seemed that almost all readability research,
and almost all research in linguistics confined itself to the analysis of units no larger than a sentence [56, tr 916]
Cách đây không lâu, hầu hết tất cả các công trình nghiên cứu có giá trị, cũng như hầu hết các nghiên cứu về ngôn ngữ học dường như đều giới hạn trong phạm vi phân tích các đơn vị không lớn hơn câu.
Trang 381.1.2.1 Một số kiến giải tiêu biểu về đảo ngữ toàn phần
i Nhóm tác giả H H Hartvigson và L K Jakcobsen
Hans H Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakcobsen [1974] đặt mục tiêu
đi tìm cơ chế tạo ra (provoke) ĐNTP Theo hai tác giả này, có hai yếu tố thamgia vào quá trình đảo ngữ: thứ nhất là độ phức tạp về mặt cú pháp, số lượng
âm tiết hay cấu tạo hình thức của một yếu tố, tức “formal weight”; thứ hai là
“nội dung thông báo” (information content) hay “giá trị thông tin” (newsvalue) của các yếu tố, còn gọi là “notional weight” Khái niệm “notionalweight” được các tác giả miêu tả dựa theo lí thuyết phối cảnh chức năng câu(Functional Sentence Perspective) với quan niệm của J Firbas Theo lí thuyếtnày, mỗi một yếu tố trong câu đều mang một mức tỉ lực thông báo(communicative dynamism) nhất định Tỉ lực thông báo là “phần đóng gópcủa mỗi yếu tố của câu vào sự phát triển của thông báo, phần „thúc đẩy sựgiao tế tiến lên‟” [J Firbas 1964, tr 270] (dẫn theo Hartvigson và Jakcobsen
1974, tr 49) Những yếu tố có mức tỉ lực thông báo thấp làm thành phần đềcủa câu, những yếu tố có mức tỉ lực thông báo cao làm thành phần thuyết củacâu Sự phân bố cơ bản của tỉ lực thông báo được tạo ra bởi “khả năng củacác vị trí trong câu thể hiện sự tăng dần mức tỉ lực thông báo theo hướng từđầu câu đến cuối câu” [J Firbas 1964, tr 270] Theo Hartvigson và Jakcobsen[1974, tr 12], hai yếu tố “formal weight” và “notional weight” thường haykết hợp với nhau trong hầu hết các trường hợp của ĐNTP tiếng Anh Do đóhiện tượng ĐNTP có thể được lí giải như sau: chủ ngữ được di chuyểnxuống vị trí cuối câu vì nó có độ dài vật chất phức tạp và mức tỉ lực thông báolớn; trong khi đó một yếu tố khác lại được đảo lên vị trí đầu câu do có mức tỉlực thông báo thấp và yếu tố này chính là “cái đã biết” đối với ngườinghe/người đọc (known to the reader/hearer)
Có thể nói rằng cách lí giải của H H Hartvigson và L K Jakcobsen về
Trang 39cơ chế của ĐNTP vẫn chưa thật sự chặt chẽ và đủ sức thuyết phục Đó là vì hai lí do sau đây:
* Thứ nhất, như B Birner [1994, tr 238] đã chỉ ra, có những trường hợpchủ ngữ có độ dài vật chất phức tạp nhưng vẫn đứng đầu câu chứ không bị đảoxuống vị trí cuối câu Ví dụ:
1: 18 In the grass little jeweled lizards darted [57, tr 238]
Trên bãi cỏ, những con thằn lằn màu ngọc đang nhảy nhót
1: 19 The largest betting-shop in London belongs to my father [108, tr.
34]
Văn phòng đánh cá ngựa lớn nhất London thuộc sở hữu bố tôi.
* Thứ hai, có những câu đảo ngữ mà yếu tố đầu câu không phải là “cái đã biết” đối với người nghe/người đọc Ví dụ:
1: 20 I had lunch at Ritzy‟s yesterday, and you wouldn‟t believe who
was there Behind a cluster of microphones was Hilary Clinton, holding another
press conference [97, tr.1387]
Hôm qua tôi ăn trưa ở nhà hàng Ritzy, và anh có tin là tôi đã gặp ai không Đằng sau một số mi-crô chụm lại với nhau là Hilary Clinton, lại đang chủ trì một cuộc họp báo nữa.
Chính H H Hartvigson và L K Jakcobsen [1974, tr 51] cũng đã thừanhận rằng kiến giải của hai ông về ĐNTP dựa trên “formal weight” và
“notional weight” cũng chỉ phản ánh một khuynh hướng khá phổ biến trongtiếng Anh, chứ không phải là một nguyên tắc áp dụng cho mọi trường hợp
ii John Penhallurick
Trong bài báo “Full-Verb Inversion in English” [1984, tr 40-43], JohnPenhallurick cho rằng ĐNTP là một hiện tượng có cơ sở trong diễn ngôn (adiscourse-based phenomenon) và động cơ chủ yếu của nó là nhằm giới thiệu
Trang 40thông tin mới vào trong diễn ngôn Chính vì vậy mà chủ ngữ xuất hiện ở vị trísau động từ và chủ ngữ phải mang thông tin mới, tức là thông tin mà ngườinói cho là không có trong ý thức của người nghe vào thời điểm của phátngôn Để phù hợp với chức năng giới thiệu một thực thể vào trong diễn ngôn,yếu tố động từ cũng như các yếu tố đứng đầu trong cấu trúc ĐNTP phải mangmột số những đặc điểm nhất định Mở đầu câu đảo ngữ thường là các trạngngữ chỉ vị trí hay phương hướng, còn động từ của câu thì chủ yếu là động từchỉ sự tồn tại hay sự xuất hiện trong một bối cảnh Do đó không phải bất kìmột động từ nội động nào cũng có thể tham gia vào ĐNTP, chẳng hạn không
thể chấp nhận động từ laugh trong một trường hợp như * “In a corner laughed Harry ”.
Penhallurick đã nêu ra một nhận xét rất xác đáng rằng việc đặt thôngtin cũ trước thông tin mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lí thông tin củangười nghe/người đọc Tuy nhiên ông đã không hoàn toàn đúng khi khẳngđịnh rằng “chủ ngữ không thể được dời về cuối câu (backed) trừ phi nó biểuthị thông tin mới” B J Birner [1994, tr 241] đã dẫn ra một phản ví dụ, chothấy chủ ngữ không mang thông tin mới nhưng hiện tượng đảo vẫn xảy ra:1: 21 Yes, this is no ordinary general election
„Evan is a Democrat; Daley is a Democrat Different Democratshave different points of view about the City of Chicago and its
politics,‟ Jackson noted „The war between forces within the
party continues, and within our coalition.‟
Standing in the middle of it all is Jesse Jackson [57, tr 241]
Vâng, đây không phải là một cuộc tổng tuyển cử bình thường.
“Evan là thành viên của Đảng dân chủ; Daley cũng là thành viên của Đảng dân chủ Những người dân chủ khác nhau có những quan điểm khác nhau về thành phố Chicago và tình hình