Nhận thức đó là lý do để chúng tôi chọn vấn đề tìm hiểu tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh và ảnh hưởng của nó đối với chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn làm đề tài nghi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHAN THỊ THU HẰNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHAN THỊ THU HẰNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số:
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS ĐỖ THỊ HÒA HỚI
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
tài liệu trong luận án trung thực, đảm bảm tính khách quan Các tài liệu
tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Phan Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới đãtận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quátrình thực hiện luận án
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các quý thầy cô Khoa Triết học luôntạo điều kiện, tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt nhữngnăm học Cao học vừa qua Tôi cũng xin cảm ơn các anh chị em, bạn bè đồngnghiệp tại Viện Triết học đã nhiệt tình chia sẻ kiến thức giúp tôi hoàn thànhluận án này
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình đã luôn động viên và ủng hộ tôi theo đuổicon đường nghiên cứu khoa học thú vị nhưng đầy chông gai và thử thách
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 91.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở hình thành tư tưởng
chính trị - xã hội của Minh Mệnh 91.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung tư tưởng chính trị
- xã hội của Minh Mệnh 141.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của tư tưởng
chính trị - xã hội Minh Mệnh đến chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều
Nguyễn 20Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA
MINH MỆNH 272.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội
Chương 3 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH 513.1 Tư tưởng của Minh Mệnh về đạo trị nước 52
3.1.1 Cơ sở của đường lối Đức trị 52
Trang 63.1.3 Công cụ thực hiện đường lối Đức trị 67
3.2 Tư tưởng về hoàn thiện bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền 75
3.2.1 Tư tưởng xây dựng đội ngũ quan lại theo chuẩn mực 76
3.2.2 Tư tưởng cải cách bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương 79
3.2.3 Tư tưởng thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát trong bộ máy nhà nước 84
3.3 Tư tưởng bảo vệ chủ quyền quốc gia và văn hóa truyền thống 90
3.3.1 Nhận thức của Minh Mệnh về tác động của phương Tây đến chủ quyền quốc gia và văn hóa truyền thống 90
3.3.2 Tư tưởng cấm đoán Công giáo 90
3.3.3 Tư tưởng củng cố Chính đạo - Nho giáo 104
Chương 4 ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI MINH MỆNH ĐẾN CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN 115 4.1 Ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh tế 115
4.2 Ảnh hưởng đến lĩnh vực chính trị 117
4.3 Ảnh hưởng đến lĩnh vực tôn giáo 122
4.4 Ảnh hưởng đến lĩnh vực tư tưởng 128
KẾT LUẬN 136
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 157
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Namtrước khi đất nước diễn ra cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, bước vào giaiđoạn hiện đại Đây là giai đoạn lịch sử mà đã để lại nhiều bộ sử liệu quý giácho đến ngày nay và được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên trướcthời kỳ Đổi mới, xu hướng nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh đến sự bất cập, hạnchế của vương triều Nguyễn để tập trung phê phán nó Từ sau những năm Đổimới cho đến nay, công tác nghiên cứu về triều Nguyễn đã có sự chuyển biếnđáng kể, xuất hiện những quan điểm đa chiều, khách quan, toàn diện về vươngtriều này Các cuộc hội thảo với quy mô liên ngành, liên tỉnh hay quốc gia,quốc tế về triều Nguyễn và các nhân vật lịch sử trong thời kỳ này như PhanThanh Giản, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Trọng Hợp đãđược tổ chức ở nhiều địa phương Công tác dịch thuật, xuất bản và tái bản các
thư tịch thời Nguyễn như bộ Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Tự Đức văn tập, Châu bản triều Nguyễn cùng với việc khảo cứu
dựa trên các tài liệu địa bạ, hương ước ngày càng được đẩy mạnh, làm phongphú thêm kho tư liệu nghiên cứu về triều Nguyễn
Không chỉ vậy, nhiều công trình nghiên cứu của một số học giả nướcngoài về thời kỳ này cũng được dịch và xuất bản tại Việt Nam Có thể kể tên
hai công trình tiêu biểu sau đây: Y.Tsuboi (1990), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847 – 1885) của NXB Thành phố Hồ Chí Minh và Choi Byung Wook (2011), Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng của NXB Thế
giới Tình hình học thuật trên đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả
Trang 8trong và ngoài nước tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vương triều Nguyễn và lịch
sử tư tưởng Việt Nam ở giai đoạn này Việc đánh giá triều Nguyễn do đó cónhiều thay đổi, xuất hiện các quan điểm, nhận định khoa học mang tính xácthực hơn Trên cơ sở đó, diện mạo tư tưởng của vương triều Nguyễn và cácvua Nguyễn cũng ngày càng được khắc họa rõ nét hơn, nhưng cũng đặt ranhiều vấn đề cần được tiếp tục làm rõ hơn
Có thể nói, trong số các vị vua triều Nguyễn, Minh Mệnh là người để lạinhiều đóng góp và có ảnh hưởng đáng kể nhất đối với lịch sử tư tưởng ViệtNam Trong bối cảnh lịch sử - xã hội của thế giới và Việt Nam nửa đầu thế kỷXIX, Minh Mệnh đã phải đối diện với những vấn đề mang tính thực tiễn cấpbách Đó là việc mở cửa hay đóng cửa với phương Tây, ứng xử thế nào vớiCông giáo? Với tư cách là một nhà vua trị vì đất nước đồng thời là một nhàNho, cộng với cá tính mạnh mẽ, quyết đoán, Minh Mệnh đã áp dụng các lýtưởng Nho giáo vào thực tiễn, giải quyết các yêu cầu lịch sử đặt ra Tư tưởngchính trị - xã hội của Minh Mệnh vì thế phản ánh sâu sắc dấu ấn thời đại Nhìnchung, trong những năm gần đây, các nghiên cứu về Minh Mệnh đã ngày càngcung cấp cho người đọc hiểu biết đầy đủ, toàn diện và khách quan hơn về conngười và tư tưởng của ông Tuy nhiên, nhiều vấn đề về tư tưởng của ông cũngnhư ảnh hưởng của nó đến chế độ phong kiến Việt Nam vẫn cần phải được tiếptục nghiên cứu, đánh giá lại để đi đến nhận định thống nhất về vai trò của MinhMệnh trong lịch sử Bên cạnh đó, việc rút ra từ tư tưởng chính trị - xã hội củaMinh Mệnh những bài học về nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, quản lýhành chính, pháp luật, quốc phòng cho sự nghiệp Đổi mới toàn diện của đấtnước là rất cần thiết
Trang 9Nhìn chung, dựa trên các thành tựu của người đi trước, việc tiếp tục nghiêncứu hệ thống tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh, đánh giá các giá trị vàhạn chế của nó trên cơ sở tư liệu đầy đủ hơn trước là việc làm cần thiết vừa mang
ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cấp bách Nhận thức đó là lý
do để chúng tôi chọn vấn đề tìm hiểu tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
và ảnh hưởng của nó đối với chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn làm
đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ triết học của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ tư tưởng chính trị - xã hội của MinhMệnh, từ đó chỉ ra ảnh hưởng của tư tưởng này đến một số lĩnh vực thuộc đờisống chính trị - xã hội trong các triều vua Nguyễn tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích các cơ sở khách quan và chủ quan cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
- Hệ thống hóa các nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
- Phân tích một số ảnh hưởng của tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh đến một số lĩnh vực thuộc đời sống chính trị - xã hội triều Nguyễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
Trang 103.2 Về phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án chủ yếu thông qua các sử liệu như Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu, Minh Mệnh ngự chế văn, Minh Mệnh ngự chế thi
Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng tư tưởng chính trị - xã hội đếnmột số lĩnh vực thuộc đời sống chính trị - xã hội tập trung dưới thời Thiệu Trị
Luận án cũng dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước, tư tưởng HồChí Minh về vấn đề kế thừa di sản truyền thống đối với hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp như phương pháp lôgic- lịch
sử, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, đối chiếu và đồng thời sử dụng phương pháp liên ngành triết học - vănhóa, triết học - tôn giáo
5 Những kết quả mới về mặt khoa học của luận án:
Tiếp cận dưới góc độ Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kếthợp với các phương pháp liên ngành, luận án đã trình bày có hệ thống và rõ
Trang 11hơn cơ sở khách quan và chủ quan cho sự hình thành và phát triển tư tưởngchính trị - xã hội của Minh Mệnh Trong đó, luận án chú ý phân tích đầy đủhơn những điều kiện và tiền đề khách quan từ sự biến đổi của thế giới, khu vực
và Việt Nam cùng với sự phân tích các nhân tố cuộc đời, sự nghiệp di thảomang đậm dấu ấn chủ quan của Minh Mệnh đối với sự hình thành của tư tưởngđó…
Luận án hệ thống hóa trình bày và phân tích những nội dung cơ bản trong
tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh, nhất là những đường lối, địnhhướng từ đó đề ra chính sách về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và giáodục, tôn giáo
Luận án đã dựa vào những căn cứ trên đi sâu chỉ ra ảnh hưởng to lớn của
tư tưởng chính trị - xã hội Minh Mệnh đối với vương triều của ông và đối vớicác vương triều Nguyễn tiếp sau đó trên một số lĩnh vực như: chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội (rõ nhất là triều Thiệu Trị và Tự Đức) Từ đó phân tích chỉ racác mặt đóng góp, giá trị và cả những hạn chế của chúng
6 Ý nghĩa của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung, góp phần vào việc làm sáng tỏhơn nhận thức về cơ sở và điều kiện lịch sử hình thành và nội dung cơ bản tưtưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh dưới chế độ phong kiến triều Nguyễn.Trên cơ sở đó góp phần làm sáng tỏ hơn về ảnh hưởng của tư tưởng đó đối với
xã hội Việt Nam Những kết quả đó còn là gợi ý rút ra những bài học đối vớiviệc xây dựng tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam hiện đại
Trang 126.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho người quan tâm đến về lịch sử
tư tưởng Việt Nam thời Nguyễn, góp phần vào giảng dạy và nghiên cứu tưtưởng chính trị - xã hội cho sinh viên, học viên cao học và những người quantâm nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung, lịch sử tư tưởng và tư tưởng triếthọc Việt Nam nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục các bài viết củatác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung chính của luận án bao gồm 4 chương, 13 tiết và kết luận các chương
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở hình thành tư tưởngchính trị - xã hội của Minh Mệnh
Về điều kiện hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh, phầnlớn các công trình nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, xã hội Việt Nam từcuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX đang trải qua một cuộc khủng hoảng
chính trị - xã hội Tác giả Trần Văn Giàu trong công trình Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng tám, Tập 1, NXB Chính
trị quốc gia xuất bản năm 1996 đã nhận định tình hình xã hội Việt Nam thế kỷXIX là “khủng hoảng xã hội, khủng hoảng chế độ” Trong các chương sách,tác giả đưa ra những biểu hiện tiêu cực của một xã hội khủng hoảng toàn diệnnhư: Triều đình chuyên chế, bảo thủ, nạn quan lại hà khắc, cường hào cướpbóc của dân, ngay khi mới thành lập triều Nguyễn đã bị nhân dân phản kháng,khởi nghĩa nông dân liên miên, kinh tế sa sút, mặc dầu các vua Nguyễn có chútrọng việc chọn người tài nhưng nhân tài vẫn thiếu vắng, nền văn hóa giáo dụcNho học bế tắc, khủng hoảng do không có nội dung và phương pháp gì mới
Có thể thấy tác giả Trần Văn Giàu đã đặt chế độ phong kiến triều Nguyễntrong mối tương quan với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản – đại diện cho xuhướng vận động của xã hội đương thời Chính vì thế mà sự bất cập, lạc hậu củatriều đại này đã được bộc lộc rõ khi không đáp ứng được yêu cầu đổi mới, bảo
vệ độc lập dân tộc Chúng tôi kế thừa luận điểm trên của học giả Trần VănGiàu trong khi nghiên cứu điều kiện hình thành tư tưởng chính trị - xã hội củaMinh Mệnh Tuy nhiên, chúng tôi còn xem xét tiến trình vận động
Trang 14lịch sử tư tưởng Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX để nhìnnhận rõ hơn quá trình hình thành tư tưởng của Minh Mệnh.
Tác giả Lê Thành Khôi trong sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb Nhã Nam và Nxb Thế giới Thế giới xuất bản năm 2014 đã
cho rằng triều Nguyễn đã xây dựng nền quân chủ chuyên chế mang tính “bấtđộng” Sự bất động thể hiện ở việc nhà nước không khai thác các trào lưu mớicủa thế giới để nâng cao đời sống người dân, kinh tế trì trệ, tư tưởng hướng vềquá khứ
Tác giả phân tích bối cảnh thế giới và trong nước, cho rằng trong khi xuhướng tư bản chủ nghĩa đang phát triển mạnh mẽ thì nhà Nguyễn lai bó hẹptrong ý thức hệ Nho giáo:
Từ đầu thế kỷ, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tiếp theo sau cuộc cáchmạng kỹ nghệ đã đưa các cường quốc Tây phương tới chỗ chinh phựccác thị trường thế giới (…) Nhưng triều đình Huế, thờ ơ đối với diễntiến của các biến cố thế giới, mặc dù chiến tranh Nha phiến đã nổ ra nhưhồi còi báo động, do coi thường những “tên man di” và hồ nghi đối vớicác kỹ thuật của họ, vẫn tiếp tục duy trì đất nước trong sự cô lập được tô
vẽ một cách lộng lẫy [46, tr 458]
Một số học giả nghiên cứu về triều Nguyễn cũng có cùng quan điểm vớihọc giả Lê Thành Khôi trên đây Đặc biệt khi lý giải nguyên nhân chậm cảicách, canh tân đất nước của nhà Nguyễn trước đây, hầu hết các nghiên cứu đềucho rằng, đó là do triều Nguyễn có hệ tư tưởng Nho giáo là bảo thủ, cố chấp,hạn chế nên thành kiến với các nước phương Tây Triều Nguyễn từ thờ ơ, lạnhnhạt đến khước từ các đề nghị cải cách cũng như khước từ việc đặt
Trang 15quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây Tuy nhiên, từ sau Đổi mới quahội thảo về triều Nguyễn, một số nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng, nhà Nguyễn
đã có những cố gắng nhất định trong việc thực thi tư tưởng cải cách như chongười đi học tập nước ngoài, tìm hiểu các kỹ nghệ phương Tây, ví dụ như đóngthuyền theo kiểu phương Tây, cử người sang các nước phương Tây học hỏi…
Trong luận án, chúng tôi kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứutrong đó có học giả Lê Thành Khôi để tiếp tục xem xét đầy đủ hơn bối cảnh lịch
sử mà Minh Mệnh trị vì Có thể thấy thời đại mà Minh Mệnh sống ở trên thếgiới và khu vực đang có những biến chuyển mạnh mẽ Sự phát triển củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đưa các nước Âu Mỹ tiến bộ nhanhchóng để trở thành chủ nghĩa đế quốc đồng thời đe dọa sự tồn tại của các nướcphong kiến phương Đông Trước tình thế đó, các quốc gia phương Đông, trong
đó có Việt Nam buộc phải có những lựa chọn tự vệ xác đáng để phản ứng kịpthời với diễn biến của thời đại Tuy nhiên, theo chúng tôi, khi nghiên cứu vềtriều Nguyễn cũng cần phải phân tách các tương quan giai đoạn lịch sử cụ thể
để thấy được thái độ, tư tưởng, chính sách ứng đối trước thời cuộc của từng vịvua triều Nguyễn là khác nhau Căn cứ vào các tài liệu mới được bổ sung khánhiều về triều Nguyễn tiến sát với thực tế lịch sử cho thấy không phải triều nàocũng co cụm, “bất động” trước thời cuộc Do đó, tiếp cận từ góc độ chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong luận án này, chúng tôitập trung làm rõ hơn các đường lối chính trị chỉ đạo sự kiện lịch sử nổi bật diễn
ra vào thời Minh Mệnh và xem xét phản ứng với thời cuộc trong mối tương tácgiữa Minh Mệnh với các vị vua triều Nguyễn khác
Trang 16Về tiền đề hình thành tư tưởng chính trị - xã hội Minh Mệnh, trong tácphẩm của Trần Văn Giàu chú ý nhiều đến sự tiếp thu tư tưởng Hán, Tống Nho.
Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Duy Hinh trong “Hệ tư tưởng Nguyễn”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (3-4), 1989 cũng tán thành với quan điểm đó Cùng quan điểm với hai tác giả trên đây, Lê Sỹ Thắng trong công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội cũng khẳng định ảnh
hưởng mạnh mẽ của Nho giáo trong tư tưởng của Minh Mệnh Tuy nhiên, tácgiả cũng khẳng định rằng, mặc dù vẫn lấy Nho giáo làm nòng cốt nhưng với
tác phẩm Minh Mệnh chính yếu, Minh Mệnh đã thể hiện “ý thức xây dựng hệ
tư tưởng chính thống của vương triều họ Nguyễn Đó là một hệ tư tưởng hoànchỉnh, được sáng tạo để đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đất nước và vươngtriều, có tham khảo đến một mức nào đó kinh nghiệm lịch sử của dân tộc vàcủa Bắc sử” [140, tr 109]
Học giả Du Minh Khiêm trong hai bài viết “Tư tưởng triết học của hoàng
đế Minh Mệnh triều Nguyễn Việt Nam” và “Minh Mệnh” đăng trên Truyện bình về các nhà triết học nổi tiếng phương Đông, NXB Nhân dân Sơn Đông,
2000, tr 215 - 234 cho rằng tư tưởng trị nước của Minh Mệnh là sự kết hợpgiữa tư tưởng kính trời và thiên nhân giao cảm, của vô vi và hữu vi Tác giảcòn cho rằng Minh Mệnh là một ông vua rất tôn sùng Nho giáo, chú trọng lịch
sử và chuyên cần chính sự Do đó dấu ấn Nho giáo trong tư tưởng của ông khá
rõ nét Đây cũng là quan điểm đã được đông đảo học giả Việt Nam thừa nhận.Nhưng khía cạnh đặc sắc riêng của tư tưởng Minh Mệnh chưa được chú ý làmnổi bật Trong luận án chúng tôi sẽ đi sâu hơn về khía cạnh đó
Lê Cảnh Vững (2012), “Tư tưởng đề cao Nho giáo của vua Minh Mệnh
Trang 17trong Minh Mệnh chính yếu”, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, tập 72A, số 3.
Theo quan điểm của tác giả, Minh Mệnh đã vận dụng, kế thừa các nội dungcủa tư tưởng chính trị Nho giáo Cụ thể như, Minh Mệnh chịu ảnh hưởng của
tư tưởng “Thiên nhân tương cảm” và “Thiên nhân tương dữ” của Đổng TrọngThư đời Hán Bên cạnh đó, tác giả khẳng định tư tưởng Đức Trị của Nho giáo
đã được Minh Mệnh vận dụng trong quá trình trị vì đất nước, thể hiện ở cácluận điểm “ái dân”, “vua sáng tôi hiền” và “Đề cao vai trò của giáo dục và cầungười hiền tài” Có thể nói, bài viết của tác giả Lê Cảnh Vững đã chỉ ra đượccác ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đến sự hình thành tư tưởng chính trị củaMinh Mệnh Tuy nhiên, trong bài viết tác giả thể hiện sự mâu thuẫn trong lậpluận Một mặt ở phần đầu bài viết, tác giả khẳng định Minh Mệnh chịu ảnhhưởng tư tưởng Thiên mệnh của Đổng Trọng Thư và Đức Trị của Khổng Tử,Mạnh Tử nhưng ở phần kết luận, tác giả lại cho rằng Nho giáo mà vua MinhMệnh tiếp thu cơ bản là Tống Nho với nhiều nội dung bảo thủ Trong khi đóhầu như ảnh hưởng của Tống Nho và các nhân tố tư tưởng chính trị - xã hộicủa truyền thống Việt Nam trong tư tưởng của Minh Mệnh không được tác giảchỉ ra trong bài viết
Kế thừa thành quả nghiên cứu trên đây của các nhà nghiên cứu nhất là từluận điểm của Lê Sỹ Thắng, luận án sẽ tiếp tục đi sâu phân tích nội dung vàảnh hưởng của Nho giáo trong tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnhtrong động cơ nhằm xây dựng ý thức hệ cho triều Nguyễn độc lập Đồng thờiluận án cũng tiếp tục đi sâu, góp phần làm rõ hơn các yếu tố tư tưởng chính trị
- xã hội của truyền thống dân tộc, mang màu sắc văn hóa Việt Nam có vai tròquan trọng đến sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh mà tác giả đã đềcập trên đây
Trang 181.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
Thông qua khảo cứu tư liệu liên quan đề tài chúng tôi nhận thấy, hầu hết cáccông trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến một số nội dung tư tưởng chính trị - xãhội liên quan đến Nho giáo trong tư tưởng Minh Mệnh mà chưa đi sâu hệ thốnghóa nội dung đặc sắc trong tư tưởng thể hiện ở sự nghiệp của ông Tuy nhiên cáckết quả từ công trình nghiên cứu trước đây vẫn là nguồn tư liệu tham khảo quantrọng, có những gợi mở cần thiết cho việc nghiên cứu của đề tài luận án
Điều đáng nói về quy mô nghiên cứu, việc nghiên cứu tư tưởng của MinhMệnh từ sau thời kỳ Đổi mới cho đến nay ngày càng được mở rộng toàn diệnhơn cùng việc đẩy mạnh tìm hiểu nghiên cứu chung về thời Nguyễn và triềuNguyễn Các kết quả thực hiện thông qua các công trình nghiên cứu quy mô,các hội thảo khoa học về nhà Nguyễn hoặc các bài viết đăng trên tạp chí khoahọc Song đến nay vẫn còn ít các công trình nghiên cứu sâu một cách hệ thống,toàn diện về tư tưởng chính trị - xã hội của vị vua này Chúng tôi xin kể tên một
số công trình nghiên cứu đề cập đến một vài khía cạnh trong tư tưởng MinhMệnh được công bố trong những năm gần đây: Nguyễn Minh Tường (1996),
Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh 1820- 1840, NXB Khoa học xã hội; Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, T.1, NXB Chính trị quốc gia; Lê Sỹ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, T.2, NXB Khoa học xã hội; Nguyễn Lưu Lê, Phan Tấn Tô (1998), Vua Minh Mệnh và viện thái y triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa, 1998; Lê Thị Thanh Hòa (1998), Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884, NXB Khoa học xã hội;
Trang 19Nguyễn Hoài Văn (2002), Tìm hiểu tư tưởng chính trị nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, NXB Chính trị quốc gia; Choi Byung Book (2011), Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1841), NXB Thế giới
Trong công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập II, của tác giả Lê Sỹ
Thắng chủ biên được NXB Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1997 là mộttrong những nghiên cứu có giá trị về tư tưởng của Minh Mệnh Trên cơ sở phân
tích nội dung tác phẩm Minh Mệnh chính yếu, tác giả khẳng định vấn đề cơ bản
xuyên suốt trong tư tưởng chính trị của Minh Mệnh là: Đạo làm vua; Đạo làmngười; Tư tưởng nhân chính và quốc phòng Chúng tôi thấy rằng, điểm nổi bậtcủa công trình này là tác giả không chỉ khẳng định Minh Mệnh là người đặt cơ
sở tư tưởng và thể chế của triều Nguyễn, mà còn đề cập đến mặt hạn chế trong
tư tưởng chính trị của Minh Mệnh, cho rằng, điều đó đã đẫn dến những hậu quảnghiêm trọng cho đời sau Đây là những luận điểm mà chúng tôi trong luận ánnày tiếp tục kế thừa và phát triển đi sâu với mong muốn sẽ bổ sung thêm, táihiện được diện mạo đầy đủ hơn tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
Một công trình nghiên cứu khác đề cập đến tư tưởng Minh Mệnh là Tìm
Trang 20Nguyễn Hoài Văn, được NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002 Trongcông trình này, tác giả phân tích chủ yếu là các nội dung tư tưởng chính trịNho giáo ảnh hưởng ở Việt Nam theo diễn tiến lịch sử, từ khi Nho giáo được
du nhập vào Việt Nam cho đến nửa đầu thế kỷ XIX Theo quan điểm của tácgiả, nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị chịu ảnh hưởng Nho giáo củaMinh Mệnh bao gồm: Đề cao và độc tôn Nho giáo, Nho học; Tư tưởng thốngnhất quốc gia, củng cố nền độc lập dân tộc và yên dân; Tư tưởng tăng cườnghiệu lực của Nhà nước và pháp luật Các tư tưởng ảnh hưởng từ Nho giáo củaMinh Mệnh được tác giả lần lượt chứng minh thông qua các hoạt động thựctiễn, chính sách mà vị vua này đã thực hiện trong thời gian trị vì đất nước.Nhìn chung, trong công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Hoài Văn đãchỉ ra được những nét ảnh hưởng từ tư tưởng chính trị Nho giáo đến tư tưởngcủa Minh Mệnh Đặc biệt tác giả còn cho rằng, tư tưởng thương dân của MinhMệnh đáng được xem là những cống hiến vào truyền thống nhân ái của dân tộcViệt Tác giả cũng nhấn mạnh điểm hạn chế ở tư tưởng Minh Mệnh là mảnh đấttốt nuôi dưỡng chủ nghĩa bảo thủ - giáo điều, chủ nghĩa khuôn mẫu, tư tưởnghiếu cổ, hạ - di, tự cao tự đại và hậu quả của nó là “đưa đất nước trượt đi mộtcách chậm chạp trên con đường suy thoái” [150, tr 333] Có thể nói đây làcông trình nghiên cứu có giá trị về tư tưởng chính trị Nho giáo của Minh Mệnh,góp phần khẳng định vị trí, vai trò của Minh Mệnh trong lịch sử tư tưởng ViệtNam Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của công trình này là tư tưởng chính trịNho giáo nên tác giả chủ yếu tập trung vào sự vận dụng Nho giáo trong tưtưởng Minh Mệnh Do đó, các nội dung độc đáo, có khía cạnh mới trong tưtưởng Minh Mệnh như chính sách văn hóa, tôn giáo, đạo đức… hầu như chưađược chú trọng đến trong luận án này
Trang 21Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu chỉ mới tập trung đến một
số mặt khác của tư tưởng chính trị - xã hội thể hiện trong tư tưởng Minh Mệnh
Trong số đó, trước hết phải kể đến Luận án Tiến sĩ Sử học Công cuộc cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840) của Nguyễn Minh Tường,
bảo vệ năm 1994 tại Viện Sử học, Trung tâm khoa học xã hội và nhân vănquốc gia Mặc dù trọng tâm nghiên cứu của luận án là công cuộc cải cách hànhchính của Minh Mệnh nhưng trong công trình này, tác giả đã chỉ ra mối liên hệchặt chẽ giữa tư tưởng chính trị của Minh Mệnh và cuộc cải cách hành chính
do ông đề xướng Theo phân tích đó, Nguyễn Minh Tường cho rằng, tư tưởngchính trị của Minh Mệnh quyết định nội dung, cách thức tiến hành công cuộccải cách hành chính Ông cho rằng, nội dung tư tưởng chính trị của Minh Mệnhbao gồm ba yếu tố sau đây: 1 Độc tôn Nho giáo, Nho học; 2.Đề cao Pháp trị;3.Tiếp nối tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia và yên dân Theo quanđiểm của tác giả luận án, các nội dung trong tư tưởng chính trị trên đây củaMinh Mệnh được thể hiện rõ nét thông qua các chỉ, dụ, chính sách, biện phápcải cách
Với các dẫn chứng sắc bén, lập luận thuyết phục, tác giả đã chứng minhthành công cuộc cải cách hành chính Minh Mệnh là hệ quả của việc thực hiện
tư tưởng chính trị của vị vua này Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh tư tưởng yên dâncủa Minh Mệnh và xem đó là sự kế thừa giá trị truyền thống của dân tộc Tuynhiên, do đây là một luận án Sử học nên trọng tâm nghiên cứu của tác giả làcuộc cải cách hành chính của Minh Mệnh chứ không phải hệ thống đầy đủ nộidung tư tưởng chính trị - xã hội của ông nên đây là điểm mà luận án chúng tôicần mở rộng, đi sâu hệ thống hóa, cập nhật thêm
Trang 22Tiếp đó phải kể đến Luận án PTS.Khoa học Lịch sử Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884 của Lê Thị Thanh
Hòa bảo vệ năm 1994 tại Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia.Luận án chủ yếu phân tích tư tưởng Minh Mệnh ở khía cạnh đào tạo và sửdụng quan lại trong bộ máy nhà nước Tác giả cho rằng từ thời Minh Mệnh kế
vị (1820) trở đi, việc học Nho ngày càng được chấn chỉnh, mở mang và đi vàoqui củ, nề nếp Theo tác giả lý giải, việc các vua Nguyễn tiếp tục củng cố vịthế độc tôn của Nho giáo vốn được xác lập từ thời Hồng Đức là nhằm mụcđích đào tạo cũng như tuyển lựa đội ngũ quan lại có đủ năng lực, tài đức phục
vụ đất nước
Tuy nhiên, tác giả cũng đã kế thừa những đánh giá về hạn chế của giáodục Nho giáo triều Nguyễn trong các công trình trước đây cho rằng, hệ thốnggiáo dục khoa cử mà Minh Mệnh cùng những vị vua sau ông cố gắng duy trì đã
tỏ ra bất cập trước đòi hỏi của thực tiễn đất nước mới xuất hiện trong thời đạibấy giờ Tác giả khẳng định, bản thân vua Minh Mệnh cũng ít nhiều nhận thứcđược tình trạng này song bất lực Mặc dù luận án trên đây không đặt trọng tâm
đi sâu phân tích tư tưởng Minh Mệnh nhưng đã góp phần khẳng định vị thế củaNho giáo trong tư tưởng chính trị của Minh Mệnh Mặt khác, từ việc khảo cứuthực trạng đào tạo và sử dụng quan lại dưới triều Minh Mệnh ta có thể hìnhdung phần nào tác động tư tưởng chỉ đạo, chi phối của Minh Mệnh về vấn đềnày để có thêm căn cứ nhận định về ông
Gần đây, tác giả Nguyễn Quang Hưng trong sách Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 – 1883) do NXB Tôn giáo xuất bản năm 2007 đã
dày công tập trung khảo cứu chính sách của các vua trong đó có vua Minh
Trang 23Mệnh về Công giáo, góp phần tái hiện diện mạo tư tưởng về tôn giáo của vịvua Nguyễn này trong lịch sử Cuốn sách gồm 2 phần nội dung lớn, phần 1 làCông giáo Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, phần 2 là Công giáo thời kỳ triềuNguyễn (1802 - 1883) Trong cuốn sách này, tác giả đi từ việc xác lập tiếntrình truyền bá của Công giáo qua các thế kỷ XVII, XVIII và XVIII, đồng thờikhảo cứu các hoạt động của Công giáo tại Việt Nam cũng như phản ứng củangười dân và ảnh hưởng của các chính sách về Công giáo của các triều vuatrong 3 thế kỷ này Ở phần 2, tác giả đã khái quát về bối cảnh chính trị, xã hội,tôn giáo của Việt Nam thế kỷ XIX, các hội nhóm Công giáo khác nhau có mặttại Việt Nam và hoạt động truyền giáo cùng phản ứng của người Việt Nam, cácvua Nguyễn với Công giáo.
Qua công trình nghiên cứu Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802
-1883) của Nguyễn Quang Hưng, chúng ta thấy được những nhận định mới khách
quan hơn của tác giả đối với các chính sách cấm đạo Công giáo của các vuaNguyễn nói chung và Minh Mệnh nói riêng Điều đáng ghi nhận nữa trong côngtrình này là tác giả bằng các cứ liệu lịch sử mới được công bố đã có ý chứng minhMinh Mệnh không “đáng” được gọi là một “Neron của Việt Nam”, bằng nhữngdẫn chứng cụ thể về số người bị tàn sát và so sánh với vị vua Neron, so sánhnhững con số cụ thể ở các triều vua khác của nhà Nguyễn sau ông
Cùng đề cập đến tư tưởng Minh Mệnh về Công giáo, Lê Tuấn Đạt trong
bài viết “Thái độ của Minh Mạng với Công giáo” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4, 2007 cho rằng, cần xem xét thái độ của vị vua này đối với
Công giáo trong bối cảnh khu vực và trong nước Đồng thời, tác giả cũngkhẳng định, khi xem xét chính sách cấm đạo của Minh Mệnh, cần thiết phải
Trang 24Trên cơ sở tư liệu mới được công bố, tác giả kết luận, Minh Mệnh tỏ ra ít nhiềukhoan dung với đạo Phật, đạo Lão là bởi vì các tôn giáo này không gây tácđộng “nghịch chiều” với Nho giáo, đó là những tôn giáo đã bám rễ sâu vào vănhóa và đời sống tâm linh dân tộc Với Công giáo, ngoài sự “đối đầu” gay gắt vềvăn hóa, Công giáo đã “dính” với vấn đề phương Tây, “dính” tới các cuộc nổiloạn chống đối Minh Mạng và “dính” tới việc tranh giành quyền lực trong nội
bộ triều đình, hoàng tộc, điều mà Minh Mệnh vừa lo sợ vùa không dễ tha thứ,như cách đối xử với Lê Văn Duyệt là một thí dụ” [21, tr 42]
Qua khảo cứu các công trình trên đây, chúng tôi nhận thấy rằng nhờ cónhững tìm hiểu từ các khía cạnh khác nhau này mà đã có thể và cần thiết phảitiến hành một nghiên cứu tổng hợp, khái quát đầy đủ hơn nữa mới có thể điđến hệ thống hóa nội dung tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh một cáchđầy đủ hơn
1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của tư tưởngchính trị - xã hội Minh Mệnh đến chế độ phong kiến Việt Nam dưới triềuNguyễn
Đánh giá về ảnh hưởng của Minh Mệnh tới triều Nguyễn đã được kết hợpphân tích trong các công trình chúng tôi đã kể trên Ngoài ra còn phải kể tới
công trình của Văn Tạo là Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, xuất bản năm 2006.
Cuốn sách gồm 3 phần nội dung, đi từ nhận thức lý luận chung về vấn đềcải cách, đổi mới qua khảo cứu 10 cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử ViệtNam để rồi liên hệ rút ra bài học liên quan với các vấn đề của công cuộc Đổimới hiện tại Đánh giá về giá trị và các bài học, hạn chế từ cuộc cải cách của
Trang 25Minh Mệnh được tác giả tập trung trong phần 2, với tiêu đề: “Cải cách hành chính của Minh Mệnh - thành công và hạn chế” Đứng từ lập trường khoa học
hiện đại, tác giả cho rằng: “Tư tưởng củng cố đế nghiệp phong kiến đã lỗi thờitrước yêu cầu phải mở cửa nhìn rộng ra thế giới cả phương Đông lẫn phươngTây” [136, tr 25], song sự phân tích của ông khách quan đánh giá những thànhcông trong cải cách hành chính của Minh Mệnh ở một số mặt như sau: “Thànhcông nhất hay cũng có thể nói là cống hiến lớn nhất cho lịch sử dân tộc của cảicách hành chính dưới triều Minh Mệnh là việc thống nhất phân cấp quản lýhành chính và phân chia địa giới hành chính từ tỉnh đến xã trong cả nước mà disản tích cực còn để lại cho đến hiện nay” [139, tr 230]
Bên cạnh việc ghi nhận những mặt thành công đó, tác giả cũng đưa ranhận định về các mặt hạn chế trong tư tưởng và cải cách của Minh Mệnh: (1)
- không đổi mới được tư duy, vẫn duy trì tư duy bảo thủ, lạc hậu của phong kiếnTống Nho, trong bối cảnh yêu cầu phải chuyển sang canh tân theo hướng tư bản chủnghĩa (2) - Mới chỉ chú trọng vào củng cố vương quyền hơn là cải thiện dân sinh, mụctiêu cải cách đáng lẽ phải lấy kinh tế - xã hội làm hàng đầu (3) - Tư tưởng củng cố đếnghiệp phong kiến đã lỗi thời trước yêu cầu phải mở cửa nhìn rộng ra thế giới cả phươngĐông lẫn phương Tây Tức là vấn đề cần phải đặt ra vấn đề cải cách mô hình, thể chế đápứng yêu cầu thời đại
Ở một phần khác, tác giả lại nhận định, dựa trên các kết quả đặt trongtương quan so sánh với các cuộc cải cách và đổi mới trong lịch sử Việt Nam, có thể thấycải cách của Minh Mệnh quả là còn “chưa được” như một cuộc “đổi mới”, chứ chưa nói
gì tới một cuộc “cách mạng” Nhưng ông nhấn mạnh, nếu xét tới bối cảnh lịch sử mộtthời kỳ dài từ thế kỷ XVI –
Trang 26XIX của Việt Nam như: suốt hơn 2 thế kỷ nội chiến chia cắt, dân chúng li tánloạn lạc, ba miền Bắc - Trung - Nam mới thống nhất thành một dải chưa lâu;vùng đất phương Nam mới khai phá nhưng còn đầy thách thức và vấn đề chủquyền nhất thống đặt ra cho người quản lý xã hội như vấn đề đa dạng tộcngười; vấn đề ổn định đời sống dân chúng; vấn đề nổi dậy chống đối của cácthế lực hào trưởng thì với một ông vua Nho giáo ở cương vị tối cao thống trịquản lý đất nước, việc làm đầu tiên chắc hẳn phải là sự kiện toàn bộ máy hànhchính, địa lý để phục vụ cho việc quản lý đất nước Vừa thống nhất đất nước
mà ngay liền lại nhanh chóng mở cửa để canh tân rất có thể dẫn tới một cuộcnội chiến hoặc ngoại xâm
Thực tế lịch sử chứng minh mặc dầu các vua triều Nguyễn có lỗi trongviệc không giữ được chủ quyền đất bán nước, sau đó trở thành chính quyền bùnhìn của Pháp, nhưng triều Nguyễn đã tiếp nhận thông tin về những cuộc bànhtrướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân vẫn đang diễn ra trong khu vực Do
đó, chủ đích tập trung xây dựng một nhà nước vững mạnh củng cố bản sắc vănhóa trong tư tưởng của Minh Mệnh cùng những nỗ lực của ông là lựa chọnxuất phát từ đặc thù lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Kế thừa quan điểmnày, những phần tiếp theo của chương 2 và 3 của luận án sẽ góp thêm tiếng nóilàm sáng tỏ về ảnh hưởng của tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh đếncác vua sau đó cả về phương diện giá trị và hạn chế
Trong cuốn Vùng đất Nam bộ dưới triều Minh Mạng của tác giả Choi
Byung Wook, NXB Thế giới, năm 2011 trong đó đã nhận định, Minh Mệnhgiống như một “phiên bản thu nhỏ” hình mẫu thần tượng của ông là vua Lê
Trang 27Thánh Tông Trong điều kiện chế độ phong kiến nhà nước quan liêu bị dồn épvào thế biệt lập trước những thách thức đến từ các cường quốc thực dânphương Tây Đáng chú ý là Choi Byung Book cho rằng, các chính sách MinhMệnh đề ra đã đạt kết quả nhất định: Thống nhất quốc gia về lãnh thổ, văn hóanhưng gây ra hệ lụy: giáo hóa người phương Nam, “Việt hóa” các nhóm tộcngười (bao gồm cả người Hoa) và chính sách đạc điền mới chính là nguyênnhân dẫn đến những biến động về chính trị ở Nam Bộ vào thế kỷ XIX Thậmchí tác giả còn gọi các chính sách văn hóa đối với các sắc tộc thiểu số của MinhMệnh là chính sách “đồng hóa” người Khơme, người Hoa và những tộc ngườithiểu số ở vùng đất Nam Bộ.
Từ đó, dẫn tới hệ quả là những mâu thuẫn, xung đột dân tộc và sắc tộcbùng nổ thành nhiều cuộc bạo loạn xảy ra dưới thời Minh Mệnh Tác giả đưa
ra kết luận: “Chính sách đồng hóa triệt để đã dẫn đến những cuộc nổi dậy lanrộng của các nhóm sắc tộc khác kể từ cuối triều Minh Mạng và một sự rạn nứtgiữa người Việt và những nhóm sắc tộc khác đã châm ngòi cho những cuộc nổidậy tàn phá Nam Bộ, làm tiêu hao những nguồn lực và năng lực của khu vựcphía Nam” [158, tr 306]; Những ý kiến này sẽ tiếp tục được bàn luận trên cơ
sở khoa học với các cơ sở tư liệu lịch sử mới nhất ở các chương 3 và 4
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, ông cũng đánh giá cao công lao củaMinh Mệnh trong việc đưa ra những chính sách thay đổi sâu sắc trên cả babình diện là văn hóa, đối ngoại, kinh tế cho vùng đất Nam Bộ Đặc biệt, ChoiByung Book bước đầu đánh giá cao vai trò của Minh Mệnh trong việc tạodựng ý tưởng thực thi chính sách nhằm đưa tới một Việt Nam thống nhất,
Trang 28nhưng để thuyết phục hơn nữa thì các phân tích, dẫn chứng còn chưa sâu vàđầy đủ Ở phần chương 3 và 4, chúng tôi sẽ tiếp tục bổ sung.
Kế thừa thành quả nghiên cứu của Choi Byung Wook, trong quá trìnhphân tích sử liệu bổ sung, luận án sẽ tìm hiểu xem động cơ nào khiến tư tưởngchính trị - xã hội của ông đã hướng dẫn, thúc đẩy việc đưa ra những chính sáchnày Hay nói cách khác, động cơ, mục tiêu, lý do nào đã ảnh hưởng tới sự hìnhthành các chính sách và hành động mạnh mẽ, quyết liệt nhưng mang tính thực
tế này của Minh Mệnh Sau khi xem xét các tư liệu lịch sử mới, từ đó chúng tôi
hy vọng góp phần đánh giá bổ sung, làm rõ hơn về ảnh hưởng tư tưởng chínhtrị - xã hội của ông đối với đời sau, nhất là dưới triều Thiệu Trị và Tự Đức
Trong sách Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802- 1883) của
Nguyễn Quang Hưng, NXB Tôn giáo xuất bản năm 2007, khi phân tích lý giải
về chính sách đối với Công giáo của các vị vua Nguyễn cũng đã góp phần vàoviệc đánh giá ảnh hưởng tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh đối với cácđời sau Từ việc phân tích các ảnh hưởng chính sách đối với Công giáo thời kỳtriều Nguyễn, tác giả đi đến nhận định rằng mặc cho việc vua Nguyễn có cấmđạo, thì Công giáo vẫn phát triển, mà nguyên nhân của nó là:
(1) tinh thần khoan dung tôn giáo của người Việt Nam, (2) Vì các vua Nguyễnvốn không am tường về Công giáo, cấm đạo nhưng chính sách thiếu nhất quán nên khóthực thi, (3) Tổ chức chặt chẽ của Giáo hội Công giáo được bổ trợ và củng cố thêm bởikết cấu làng, giúp người Công giáo vượt qua được các cuộc cấm đạo
24
Trang 29Qua cuốn sách này, chúng ta có thể hiểu thêm những đánh giá về ảnhhưởng chính sách của Minh Mệnh với Công trước đây còn chưa thật sự đầy đủ.
Từ việc so sánh về sự tăng dần mức nghiêm trọng trong chính sách cấm đạocủa các vua triều Nguyễn, Nguyễn Quang Hưng nhận định chung về ảnhhưởng của chính sách cấm đạo thời Minh Mệnh đến các vua sau đó: “Nhữngngười hậu duệ của Minh Mạng, đặc biệt là Tự Đức, phải gánh chịu hậu quả từnhững sai lầm của Minh Mạng” [45, tr 228]
Tuy nhiên, hướng tiếp cận của Nguyễn Quang Hưng nghiêng về tôn giáo
- xã hội học, nên những đánh giá về ảnh hưởng tư tưởng chính trị - xã hội từ góc
độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Minh Mệnh chưa đượcphân tích nhiều Cũng như chưa phân tích động cơ, mục tiêu, lý do nền tảng của việc đưa
ra chủ trương “Chính Đạo”, “Tà đạo” mà các vua triều Nguyễn đề ra như một phản ứng
tự vệ, biện pháp bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Kế thừa các công trình trên trong luận
án chúng tôi sẽ đi sâu chỉ ra lý do, động cơ và mục tiêu của chủ trương trên, ở phần phântích về nội dung “Chính đạo” và ảnh hưởng của chính sách sẽ được phân tích tiếp ởchương 4 của luận án này
Tiểu kết chương 1
Có thể thấy triều Nguyễn, các giá trị tư tưởng nhất là tư tưởng chính trị
-xã hội của Minh Mệnh đã thu hút nhiều sự chú ý, nên đã có nhiều công trìnhnghiên cứu lớn nhỏ Các công trình nghiên cứu ở trên đã có những kết quả tolớn có ý nghĩa đặt tiền đề về mặt khoa học Từ đó chúng tôi tiếp tục đi sâu liênkết, tổng hợp, khái quát và bổ sung nhận định đầy đủ làm sáng tỏ nhiều vấn đềliên quan về tư tưởng triều Nguyễn nói chung, tư tưởng chính trị - xã hội củaMinh Mệnh nói riêng Kế thừa các kết quả đó đánh giá lại, đầy đủ hơn
Trang 30về nhà Nguyễn thì việc tập trung nhìn nhận, đánh giá công lao, vị trí, vai tròcủa tư tưởng chính trị - xã hội Minh Mệnh cũng có điều kiện mới được đặt ra
từ nhiều chiều dưới tư duy thời kỳ Đổi mới mà luận án này là một nghiên cứu
bổ sung làm đầy đủ hơn, hệ thống hơn Dù là khi lý giải về nguồn gốc, tiền đềcho sự hình thành hay hệ thống hóa, phân tích nội dung tư tưởng của ông trongcác công trình của người đi trước vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục đượcphân tích, nhận định tuy các công trình nghiên cứu về Minh Mệnh những nămgần đây đã góp phần khắc phục dần cách nhìn nhận, đánh giá một chiều, xơcứng, phiến diện về nội dung ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng chính trị - xãhội triều Nguyễn nói chung và Minh Mệnh nói riêng Vì vậy trong luận án này,chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu theo sát các tư liệu mới được công
bố, đưa vào khai thác ở các nội dung sau đây:
Thứ nhất, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng
chính trị - xã hội Minh Mệnh dưới các góc độ khác nhau như Sử học, Chính trịhọc, Văn bản học Tuy nhiên, tiếp cận nghiên cứu tư tưởng của Minh Mệnhdưới góc độ Triết học thì còn tồn tại nhiều khoảng trống cần được nghiên cứumột cách công phu, đầy đủ hơn Do đó, từ những thành tựu đó vấn đề cơ sởhình thành, các nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của MinhMệnh sẽ được tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu từ góc độ chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời sử dụng các phương phápliên ngành triết học văn hóa, triết học chính trị, triết học tôn giáo
Thứ hai, cho đến nay đã có những công trình khoa học nghiên cứu về ảnh
hưởng của Minh Mệnh đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tuynhiên, trong các công trình nghiên cứu đó, ảnh hưởng của tư tưởng chính
Trang 31trị - xã hội của Minh Mệnh đến chế độ phong kiến Việt Nam dưới thời Nguyễncòn chưa được tập trung đề cập tương xứng với vai trò, vị thế của ông vua này.Hơn thế nữa, cho đến thời điểm này, chưa có một chuyên khảo nào nghiên cứumột cách đầy đủ, có hệ thống tương ứng về vấn đề từ cơ sở, tiền đề, nội dung
và ảnh hưởng của tư tưởng đó đến một số lĩnh vực dưới góc độ Triết học Vìvậy, trong luận án này, chúng tôi sẽ luận giải những vấn đề đó và nhất là ảnhhưởng của tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh đến đến chế độ phongkiến triều Nguyễn ở các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tiêubiểu ở triều Thiệu Trị và Tự Đức
Trang 32Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
CỦA MINH MỆNH2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xãhội của Minh Mệnh
2.1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực nửa đầu thế kỷ XIX
Minh Mệnh sinh vào năm 1791, lên ngôi vua trị vì đất nước vào năm
1820 và mất năm 1841 Đây là giai đoạn ở phương Tây, các nước tư bản đangthực hiện chính sách thực dân, xâm chiếm mạnh mẽ các nước phương Đôngnói chung và Đông Nam Á nói riêng
Việc xâm thực các quốc gia làm thuộc địa được nảy sinh từ thế kỷ XVIđến XVII gắn với nhu cầu tìm kiếm thị trường và gắn với các cuộc phát kiếnđịa lý của các nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Dưới sự bảo trợ của TòaThánh La Mã, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã trở thành các nước tư bản đầutiên đặt chân đến các quốc gia ở phương Đông, tìm kiếm các vùng đất mới vàtiến hành truyền đạo Đến thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng tư sản Pháp bùng nổnăm 1789 đã lật đổ chế độ phong kiến tại nước này, mở đường cho chủ nghĩa
tư bản phát triển nhưng lại tạo sự khó khăn truyền giáo tại Châu Âu Do đó, từcuối thế kỷ XVIII trở đi, nước Pháp và nước Anh đóng vai trò chủ đạo trongcông cuộc xâm chiếm các nước phương Đông làm thuộc địa Để bù đắp vàophí tổn truyền đạo các nhà truyền giáo đã cấu kết với làn sóng thực dân Tìnhhình thế giới trên đây đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các quốc gia châu
Á như Trung Quốc, Malaixia, Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam nguy cơ bịthôn tính Trong bối cảnh đó, phản ứng phổ biến của các nước châu Á trongcuối thế kỷ XVIII trong quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây là “đóngcửa” , điển hình là Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản
Trang 33Lúc này, ở Trung Quốc, triều đình Mãn Thanh đã thực hiện chính sách “đóngcửa”, phong tỏa vùng duyên hải và cấm buôn bán với nước ngoài Đối với việctruyền bá Công giáo, chính phủ nhà Thanh thi hành chính sách cấm đạo.
Ở Nhật Bản, ngay từ năm 1603 chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã tiếnhành “đóng cửa”, không cho các nước Tây phương (ngoại trừ Hà Lan) xâm nhập Chínhsách tỏa quốc (Sakotu) của Nhật Bản kéo dài cho đến ngày 31 tháng 3 năm 1854, khiNhật buộc phải ký Hiệp ước thân thiện Nhật - Mỹ, chấp nhận mở cửa Êdô, Nigata, Kôbe,Yôkôhama, Ôsaka và Nagasaki Cùng với việc “đóng cửa” chính quyền Mạc Phủ cũngtiến hành chính sách cấm đạo Công giáo Toàn bộ các nhà giảng đạo ngoại quốc đều bịtrục xuất khỏi nước Nhật, hoạt động của những người theo Công giáo bị cấm đoán gắtgao và kéo dài cho đến năm 1870 mới chấm dứt
Tình hình cấm đạo tại Nhật Bản ngày càng gia tăng đã dẫn đến nhiều kiềudân Nhật tránh nạn đến Hội An Cha Đắc Lộ trong cuốn Lịch sử Vương quốcĐàng Ngoài đã ghi lại sự kiện này như sau:
Có rất nhiều giáo dân ( Nhật), kể từ năm 1614 bắt đầu có sắc lệnh cấmđạo, đã kéo nhau lũ lượt đi, nhất là vào mùa chay, và cả ngoài mùa chay nữa,mỗi năm ba hay ba bốn lần, để được xưng tội với các cha dòng biết nói tiếngNhật và rước lễ, và mỗi lần có tới bốn chiếc tàu Họ tự do đi, lấy cớ buôn bán
Và cứ thế gần mười năm nay, họ tiếp tục và rất được mãn nguyện và yên ủi vềthiêng liêng [63, tr 36]
Qua đây tin tức về “đóng cửa”, cấm đạo ở Nhật Bản, Trung Quốc do đónhanh chóng lan dần đến Việt Nam Như vậy, vào nửa đầu thế kỷ XIX, sự pháttriển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thành chủ nghĩa đế quốc
Trang 34ngày càng chiếm thế lớn trên thế giới, dẫn đến sự hiện hữu các nước đế quốcphương Tây nhòm ngó uy hiếp chủ quyền tới các nước phương Đông châu Á.Việc phản ứng phòng vệ của Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản thực hiệnbiện pháp “đóng cửa” và “cấm đạo” Thiên Chúa để ngăn chặn nguy cơ xâmlược từ các nước phương Tây đã ít nhiều dội đến Việt Nam Thực tiễn lịch sửtrên đây ít nhiều tác động tới quá trình hình thành tư tưởng chính trị - xã hộicủa Minh Mệnh Trong đó từ nhận thức đến phương thức ứng xử với các nướcphương Tây và Công giáo ở Minh Mệnh phần nào đó có điểm tương đồng vớicác vị vua Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản đầu thế kỷ XIX Bên cạnh đó,nội dung tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh phản ánh, chịu sự quyđịnh của tình hình xã hội đặc thù của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.
2.1.2 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
Tình hình chính trị - kinh tế - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX đã đặt
ra những vấn đề thực tiễn cấp bách đòi hỏi cá nhân người làm vua là MinhMệnh phải trực tiếp đưa ra các định hướng, phương cách giải quyết
Về kinh tế
Nội tranh kéo dài từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII đã để lại nhiều hậuquả nặng nề về mọi mặt, nhất là kinh tế Các tập đoàn phong kiến giai đoạn nàykhó toàn tâm chăm lo đến việc khuyến nông, sửa sang đê điều như trước, dẫnđến việc sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế bị sa sút Trong khi đó,một số địa chủ, phong kiến cường hào chiếm đoạt ruộng đất của nông dân,khiến người dân không còn tư liệu sản xuất, đời sống trở nên bần cùng Cuộcsống của người nông dân Đàng Ngoài trong thời kỳ phân tranh giữa chúa Trịnh
và chúa Nguyễn được mô tả như sau:
Trang 35Sang thế kỷ XVIII, ở Đàng ngoài, quảng đại quần chúng nông dân cùngkhổ đến cực độ, không có ruộng đất để sinh sống Ruộng đất tư của nông dânphần nhiều bị bọn phong kiến, địa chủ chiếm đoạt mất hết ( ) Trong khi đó,sưu thuế chồng chất lên đầu người dân lại càng nặng nề khắc nghiệt Nạn bóclột cướp đoạt ấy đã dẫn đến kết quả là ở Đàng ngoài, khoảng những năm 40của thế kỷ XVIII dân phiêu tán dìu dắt nhau đi kiếm ăn đầy đường [7, tr 21].
Ở Đàng Trong, hiện tượng dân bỏ ruộng hoang ngày càng trở nên phổbiến Thiên tai lụt lội xảy ra liên miên càng khiến cho người nông dân lâm vào cảnh đóirét, khổ cực Các nạn đói diễn ra vào năm 1752 và 1774 đã đẩy cuộc sống người dân vàocảnh khó khăn Do đó, nhằm đáp ứng nhu cầu khôi phục và phát triển đất nước sau thờigian loạn lạc, vua Gia Long đã lập lại chế độ công điền, quân điền, ra lệnh cấm bán ruộngđất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố công điền công thổ này để bảo đảm đất càycho người nông dân Đạo dụ năm Gia Long thứ 2 (1803) ghi rõ:
Theo lệ cũ thì công điền công thổ cho dân quân cấp, đem bán riêng là cótội, do đó nhân dân đều được lợi cả Từ đời Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dângian nhiều người đổi ruộng công làm ruộng tư, cũng có kẻ tạ sự việc công
mà cầm bán ruộng đất công Phàm xã dân có công điền công thổ đềukhông được mua bán riêng, làm trái là có tội Ai mua nhầm thì mất tiền [1, tr 91]
Với tư tưởng trọng nông nghiệp, vua Gia Long đã áp dụng nhiều biệnpháp như khai hoang phục hóa, lấn biển, lập đồn điền, trị thủy, góp phần nângcao cuộc sống của nhân dân, phục hồi sản xuất nông nghiệp yếu kém từ cuốithế kỷ XVIII và giải quyết tình trạng lưu tán của người nông dân Mặc dù
Trang 36nhận thấy ưu thế của buôn bán với nước ngoài nhưng do sợ mất chủ quyền và
sự nổi dậy cát cứ ở địa phương, Gia Long đã tiếp tục chính sách mà các triềuđại phong kiến trước đó thực hiện là hạn chế người dân tự do hoạt độngthương nghiệp Đặc biệt, trong quan hệ giao lưu kinh tế với các nước phươngTây, vua Gia Long đã từ chối việc mở cửa ký kết các hiệp định thương mại.Trong hai năm 1803 và 1804, nước Anh đề nghị triều đình Huế cho phép đặtthương điếm ở Đà Nẵng nhưng đã bị triều đình từ chối Gia Long đã lựa chọnphương án “đóng cửa” với các nước phương Tây, áp dụng chính sách “bế quantỏa cảng” giống như Trung Quốc đã thực hiện Do đó, nền kinh tế nước ta tuy
ít nhiều có khởi sắc nhưng mầm mống kinh tế hàng hóa được manh nha từ thờitrước đã không có điều kiện phát triển thuận lợi
Về chính trị
Từ sau những thế kỷ nội chiến kéo dài, chính trị nổi loạn, năm 1802, khiNguyễn Ánh lên ngôi vua với niên hiệu Gia Long đã chấm dứt thời kỳ nộichiến loạn lạc kéo dài hai thế kỷ giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài và cục diệnphân quyền giữa anh em Tây Sơn Từ đây, đất nước được nhất thống về mộtmối và cương giới lãnh thổ được mở rộng so với các triều đại trước đó Tuynhiên, lãnh thổ rộng lớn biên giới trải dài từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Maucũng đặt ra cho vua Gia Long nhiều thách thức mới về quản lý đất nước
Trước yêu cầu đó, Gia Long đã chủ trương tổ chức kiện toàn bộ máy nhànước theo Nho giáo, có vận dụng kết hợp giữa tập quyền với phân quyền trên
cơ sở kế thừa mô hình Nhà nước của nhà Lê sơ Đứng đầu triều đình là Vua,
có quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tối cao Vua còn kiêm luôn là Thầnchủ quyết định toàn bộ lực lượng thần linh trong cả nước
Trang 37Các cơ quan hành chính trung ương thời Gia Long cơ bản vẫn theo quychế bộ máy triều đình nhà Lê, gồm 6 bộ (Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công).Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư với sự trợ giúp của Tả Hữu Tham tri, TảHữu thị lang và các quan chức thuộc hạ Về bộ máy hành chính địa phươnggần như vẫn tuân theo cách thức tổ chức cũ của chúa Nguyễn ở miền Nam vàtriều Lê ở Miền Bắc Chẳng hạn như, trừ đất Kinh kỳ gồm 4 dinh Quảng Bình,Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam thì lãnh thổ được chia làm 23 trấn - làhình thức đơn vị hành chính của miền Bắc trước đây.
Triều Nguyễn dưới thời Gia Long đã có sự tập quyền thống nhất quản lýNhà nước về mặt lãnh thổ song bộ máy quản lý hành chính vẫn bảo lưu duy trì
sự tản quyền, thể hiện ở việc tiếp tục duy trì chức Tổng trấn Gia Định đóng tạiGia Định thành và Tổng trấn Bắc Thành đóng tại Bắc Thành Mặt khác, để hạnchế sự phân tán quyền lực của nhà vua, vua Gia Long chủ trương không lậpHoàng hậu, không lập chức Tể tướng và không lấy đỗ Trạng nguyên Bộ máychính quyền thời Gia Long còn chưa hoàn toàn thống nhất giữa miền Bắc vàmiền Nam, giữa đồng bằng và miền núi Đội ngũ quan lại chủ yếu xuất thân làcác võ quan từng hỗ trợ Gia Long chống lại nhà Tây Sơn, chưa được đào tạoNho học Thực tế đội ngũ quan lại, triều đình mới thiết lập đó đã đặt ra yêu cầucho Minh Mệnh khi tiếp nhận di sản vua Gia Long để lại là phải củng cố hoànthiện một chính quyền tập trung, nhất thống, vững mạnh, tạo điều kiện cho sự
ổn định, phát triển của đất nước
Về văn hóa
Lịch sử Nam tiến của Việt Nam đến thời Gia Long không chỉ đơn thuần
là một sự mở rộng về mặt địa lý mà đó còn quá trình mở rộng giao thoa, hỗn
Trang 38dung về mặt văn hóa tộc người Sự giao thoa, dung hợp giữa yếu tố văn hóatruyền thống Đại Việt mang đậm ảnh hưởng Nho giáo với những yếu tố vănhóa mới bản địa Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đã khôngngừng “diễn ra” trên vùng đất Đàng Trong kéo dài hơn 200 năm Khởi nguồn
từ vùng Thuận Quảng, người lưu dân Việt Đàng Ngoài theo chân các đời chúaNguyễn đã tiếp xúc hỗn dung với một số nền văn hoá bản địa Đầu tiên là vănhóa Chăm Pa, sau đó là văn hóa Chân Lạp, Phù Nam, văn hóa Tây Nguyên.Tuy bị đánh bại trên phương diện quân sự và sau này bị suy vong nhưng vănhóa Chăm Pa đã để lại nhiều hỗn dung ảnh hưởng sâu đậm trong văn hóa ĐạiNam Tiếp đó là sự hỗn dung giữa văn hóa Đại Việt với văn hóa Chân Lạp -Phù Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn - của lưu dân Việt khiNam tiến vào khu vực Đồng Nai, Nam Bộ ngày nay
Các yếu tố trong hệ thống thần linh bản địa của văn hóa Chăm Pa và ChânLạp - Phù Nam đã dần được người Việt chấp nhận và thờ cúng trong quá trìnhsinh sống Trong số đó phải kể đến sự tích hợp, hỗn dung giữa hình tượng NữThần bản địa với Thánh Mẫu của người Việt mà tiêu biểu là các hình tượng thờThánh Mẫu Pô Nagar ở Điện Hòn Chén và thờ Bà Đen ở vùng Tây Ninh, ChâuĐốc, An Giang
Tìm hiểu lịch sử trước đó đã cho thấy từ thời kỳ Nguyễn Hoàng trở đi cácChúa đã có ý thức chủ động tích hợp tín ngưỡng Đàng Ngoài với các tínngưỡng dân gian ở địa phương Sự hoà trộn hình ảnh vị thần Đất, Nước ThánhMẫu Po Nagar của người Chăm với hình ảnh bà Tiên, bà Trời của Đạo giáothành hình tượng Thiên Mụ được thờ cúng tại chùa Thiên Mụ, Huế có thể xem
là hành động có chủ ý mang màu sắc chính trị của chúa Nguyễn Hoàng
Trang 39Việc xây dựng biểu tượng văn hóa tâm linh chùa Thiên Mụ một mặt gópphần xóa bỏ các khác biệt văn hóa giữa cư dân hai miền, mặt khác hợp thứchóa vai trò cai quản vùng Đàng Trong của chúa Nguyễn với sự ủng hộ củathần linh Kế thừa kinh nghiệm của tiền bối, vua Gia Long đã tiếp tục phát huy
di sản văn hóa, tư tưởng thời các chúa Nguyễn
Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, đổi tên Quốc hiệu thành Nam Việt vào năm
1802, đã cho thấy sự hình thành một nước Việt mới, hoàn toàn khác với lịch sửtrước đó Nam Việt là viết tắt của An Nam - Việt Thường Nam chỉ cư dânsống ở Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ tức An Nam cũ Việt là Việt Thường chỉ vùngđất và cư dân của Chămpa cũ, văn hóa đó đã được hỗn dung trở thành mộttrong những thành tố cấu tạo nên một nước Việt Nam mới Gia Long do đó xâydựng cơ nghiệp nhất thống không chỉ đối mặt với sự hoài vọng của người dân
về triều Lê hưng thịnh mà còn là tâm thức luyến tiếc của cư dân bản địa vềnước cũ Đây cũng chính là thách thức về mặt văn hóa mà bối cảnh xã hội ViệtNam lúc bấy giờ đã đặt ra cho Gia Long và Minh Mệnh tiếp nhận ngai vị kếthừa trách nhiệm phải giải quyết
2.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội củaMinh Mệnh
Như vậy, Minh Mệnh khi tiếp quản ngôi vị từ vua Gia Long đã phải đứngtrước những thách thức của thời đại và đất nước, trong đó nổi lên một số vấn
đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất là khắc phục hậu quả chiến tranh gây ra, tiếp tục phát triển các
mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và cố kết nhân tâm để ổn định đất
nước Thứ hai là tương ứng với sự mở rộng quy mô đất nước cũng là yêu cầu
hoàn thiện và nâng cao năng lực của nhà nước phong kiến, củng cố quyền lực
Trang 40của triều đình Thứ ba là việc chuẩn bị đối mặt với sự xâm nhập của làn sóng
văn minh phương Tây hoàn toàn khác biệt với nền tảng văn hóa bản địa
Do đó, tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh không phải hình thànhngẫu nhiên nảy sinh mà bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễntrên đây, có mục tiêu động cơ là củng cố ngai vàng và triều đình, chế độ, quốcgia Đại Nam Đồng thời, tư tưởng của ông cũng là sự tiếp tục kế thừa các giátrị truyền thống, tư tưởng trong lịch sử dân tộc
2.2.1 Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
Trong tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh, dấu ấn của Nho giáođược thể hiện tương đối đậm nét trong toàn bộ các trước tác và di sản ông đểlại Trong các bài minh được chạm khắc trên 33 đồ đồng ( được lưu trongNghệ chế Minh văn cổ khí đồ), phần lớn Minh Mệnh dựa vào ý tứ của củaKinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Luận Ngữ
Chẳng hạn như ở bài minh số 4, được khắc trên đồ đồng mô phỏng đỉnhcủa Văn Vương nhà Chu sau đây: “Phỏng theo đồ vật ấy, noi theo con người
ấy, nước tuy là nước cũ (nhưng) mệnh trời ban cho thì lại mới Con cháu trămđời của ta, hãy muôn năm noi theo” [43, tr.1] Minh Mệnh đã dựa vào ý củacâu "Bang tuy cựu, mệnh duy tân" lấy ở Văn Vương - Đại Nhã "Chu tuy cựubang, kỳ mệnh duy tân" của Kinh thi (nhà Chu tuy là một nước cũ nhưng cáimệnh trời ban cho thì lại mới)
Bên cạnh đó, mẫu mực tiếp nhận tư tưởng chính trị - xã hội Nho giáo thờivua Lê Thánh Tông đã khơi nguồn cảm hứng cho Minh Mệnh trong vấn đề xáclập đường lối cai trị đất nước theo học thuyết Nho giáo trị nước, an dân