1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyện ngắn việt nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại

206 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 386,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có những công trình nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 trênnhững mảng vấn đề, những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn nghiên cứu về các tác giả và nhóm tác giả truyện ngắn t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NĂM HOÀNG

TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NĂM HOÀNG

TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Lê Văn Lân và PGS TS

Hà Văn Đức (Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án này.

Xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới các thầy cô giáo đã đào tạo, dìu dắt tôi trong nhiều năm qua để tôi có được tri thức và phương pháp trong nghiên cứu khoa học.

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo và đồng nghiệp tại Khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã luôn luôn động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành luận án này.

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Năm Hoàng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của tập thể hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của người khác.

- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án.

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Năm Hoàng

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triểnvững bền, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mớithường xuyên các khuynh hướng ấy Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới,vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định” [150, tr.253] Trong quá trình sáng tạo, mỗi nhàvăn khi kiến tạo tác phẩm thuộc một thể loại nhất định, một mặt bảo lưu những đặctrưng cốt yếu của thể loại, mặt khác không ngừng tìm tòi, cách tân để tác phẩm củamình có được diện mạo, sức sống riêng, nhờ thế góp phần làm nên sự biến đổi, pháttriển của thể loại ấy Việc quan sát sự vận động của các thể loại trong mỗi nền vănhọc là một công việc cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu lịch sử vănhọc nói chung

Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đã thực hiện một công cuộc hiện đại hóamau lẹ và phức tạp để tiến một bước dài từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiệnđại, từ quỹ đạo vùng Đông Á gia nhập vào quỹ đạo toàn thế giới Một trong nhữngbiểu hiện rõ nét nhất của công cuộc hiện đại hóa đó là sự phá vỡ mô hình thể loạitruyền thống, hình thành cấu trúc thể loại mới với tự sự, trữ tình và kịch Vận độngtrong dòng chảy chung đó của cả nền văn học, truyện ngắn hiện đại được hìnhthành và qua các giai đoạn 1932 – 1945, 1945 – 1975 đã đạt được nhiều thành tựu,đánh dấu những bước đi quan trọng của thể loại

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, miền Nam được giải phóng, đất nước thốngnhất, cuộc sống trở về với quỹ đạo bình thường của nó Hoàn thành sứ mệnh phục

vụ kháng chiến, nền văn học từ năm 1975 đến nay vừa kế thừa thành tựu của giaiđoạn trước, vừa vận động và phát triển với những nguyên tắc, những khuynhhướng, những đặc điểm mới Nếu như thơ ca phải đợi đến sau năm 1986 mới thực

sự có được những bước ngoặt quan trọng cho quá trình đổi mới thì trong văn xuôi,quá trình này đã được khởi tạo ngay sau năm 1975 Với một cách nhìn mới mẻ vềcon người và hiện thực, nhiều tác giả văn xuôi đã từng bước đổi mới phương thức

Trang 6

xây dựng hình tượng nghệ thuật và những đặc điểm thi pháp của tác phẩm, trong đó

sớm nhất phải kể tới những tiểu thuyết của Lê Lựu (Thời xa vắng), Ma Văn Kháng (Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn), Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, Cù

lao Tràm), Nguyễn Khải (Cha và Con, và…, Gặp gỡ cuối năm) hay truyện ngắn của

Thái Bá Lợi (Hai người trở lại trung đoàn), Xuân Thiều (Gió từ miền cát), Nguyễn Minh Châu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê)… Cuộc chiến tranh

vừa đi qua của dân tộc và những vấn đề về thế sự, đời tư, số phận con người trongđiều kiện lịch sử mới đã được tư duy, nhận thức một cách mới mẻ Có thể nói,không đợi đến công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng khởi xướng vàocuối năm 1986, nhu cầu đổi mới tư duy và những thể nghiệm đổi mới đã được cácnhà văn hiện thực hoá mạnh mẽ trong văn chương ngay khi chiến tranh kết thúc, đấtnước bước vào giai đoạn hòa bình, dựng xây Những biến chuyển đó đã phác thảonên một thời kỳ phát triển mới cho nền văn học: thời kỳ đương đại

Trong bức tranh chung đó, những thành tựu đổi mới của truyện ngắn đã đượcxác lập rất sớm và sôi nổi Có thể nói thể loại tự sự cỡ nhỏ năng động, linh hoạt này đãchứng tỏ sự nhạy bén cũng như ưu thế của nó trong bước chuyển và sự định hình củavăn học Việt Nam bốn mươi năm qua Thực tế trên đặt ra một nhiệm vụ: tìm hiểu diệnmạo lịch sử của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn thể loại

Đã có những công trình nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 trênnhững mảng vấn đề, những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn nghiên cứu về các tác giả

và nhóm tác giả truyện ngắn tiêu biểu; về bộ phận truyện ngắn được đăng tải trên một

số tờ báo, tạp chí; về đặc điểm truyện ngắn từng vùng miền, từng chặng đường pháttriển cụ thể v.v… Theo quan sát của chúng tôi, nếu tiểu thuyết và thơ đã được quan tâmnghiên cứu một cách bao quát và chi tiết trong nhiều công trình khoa học về lý luậncũng như lịch sử thể loại, thì đến nay vẫn còn thiếu vắng những công trình soi rọi mộtcách có hệ thống truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 từ góc độ thể loại để thấy được

sự vận động biến đổi của thể loại trong giai đoạn này so với các giai đoạn trước, cũngnhư trong tương quan với các thể loại khác của cùng giai

Trang 7

đoạn – tức là chỉ ra được những đặc điểm của thể loại xét từ cả hai chiều lịch đại vàđồng đại.

Xuất phát từ những tiền đề lý luận và thực tiễn như trên, luận án này của

chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 - nhìn từ

góc độ thể loại

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là những đặc điểm chothấy sự vận động và đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 xét trênphương diện thể loại, đó là những đặc điểm về dung lượng, tình huống, kết cấu,nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, luận án khảo sát và nghiên cứu truyện ngắn ViệtNam trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay Tuy nhiên, đứng trước sự hiện diện vôcùng đa dạng và phong phú của truyện ngắn trong văn học Việt Nam giai đoạn này,với một số lượng lớn tác giả, tác phẩm và rất nhiều kiểu loại, nhiều khuynh hướng,phong cách, chúng tôi tập trung nghiên cứu nhiều hơn vào những tác phẩm thể hiện

rõ nhất sự vận động, đổi mới của thể loại, và phù hợp với hướng tiếp cận của chúngtôi Đó là các tác phẩm đã đạt các giải thưởng văn học, các tác phẩm khi công bố đãtạo nên dư luận sôi nổi, và tác phẩm của những nhà văn đã định hình phong cách,được biết đến rộng rãi trong công chúng văn học, được các giáo trình, các bài viết

có uy tín về văn học Việt Nam giai đoạn này đánh giá là tiêu biểu Với giới hạn vềquy mô và khả năng bao quát tư liệu, những sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Việt ởnước ngoài giai đoạn này không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong luậnán

Do đối tượng nghiên cứu vẫn đang tiếp tục vận động và phát triển, chúng tôixác định mốc thời gian sau cùng cho những tác phẩm trong phạm vi khảo sát củaluận án là những truyện ngắn được xuất bản năm 2014

Trang 8

Chúng tôi hy vọng thông qua đó, có thể thấy được, tuy không phải tất cả,những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 từ góc độ thể loại.

Bên cạnh đó, một số truyện ngắn tiêu biểu trong những giai đoạn phát triểntrước đó và một số tác phẩm đồng đại thuộc các thể loại khác cũng sẽ được liên hệ,đối sánh tới khi cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại, luận án

hướng đến mục đích nhận diện các đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Việt Nam saunăm 1975, từ đó tổng kết, khái quát những thành tựu cũng như những điểm dừng, hạnchế của thể loại này trong bối cảnh chung của văn học Việt Nam đương đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát đối tượng nghiên cứu, luận án tìm hiểu sự vận động vềmặt thể loại của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trên các phương diện: sự co giãn

về dung lượng tác phẩm, sự xâm nhập và giao thoa của các phương thức tự sự, sựvận động trong các kiểu tình huống chính, sự đa dạng hóa các hình thức kết cấu,nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ

Luận án cũng đặt truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong tiến trình vận động

và phát triển của thể loại truyện ngắn ở Việt Nam, chỉ ra được tính kế thừa vànhững biến thiên, cách tân của thể loại trong giai đoạn này so với những giai đoạntrước

Từ đó, chúng tôi đưa ra một số đánh giá về những thành tựu và lý giải nhữngđiểm dừng, giới hạn của truyện ngắn trong bối cảnh chung của các thể loại văn họcđương đại Việt Nam

Đạt được những mục đích trên, luận án sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan vềtruyện ngắn trong văn học Việt Nam sau 1975 nhìn từ góc độ thể loại, có thể trởthành một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu văn xuôi nói riêng, vănhọc Việt Nam nói chung

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thi pháp học và tự sự học vào việc phân tích, tìm hiểunhững đặc trưng của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Với ý nghĩa là một công trìnhnghiên cứu về một giai đoạn phát triển của một thể loại, trước hết, chúng tôi vậndụng phương pháp thực chứng lịch sử để mô tả, khái quát về tình hình vận động vàphát triển của truyện ngắn trên những phương diện cơ bản làm nên đặc trưng củathể loại Từ đó, luận án vừa là một sự tổng kết về đối tượng, vừa đưa ra đượcnhững so sánh, liên hệ về đối tượng với truyện ngắn Việt Nam các giai đoạn trước

Bên cạnh đó, phương pháp loại hình được vận dụng trong chương mở đầucủa luận án nhằm phân chia đối tượng nghiên cứu thành những kiểu, loại với nhữngtiêu chí nhận diện cụ thể Phương pháp này cũng sẽ giúp cho luận án, ở các chươngtiếp theo, nhìn nhận những phương diện làm nên đặc trưng thể loại của truyện ngắngiai đoạn này (tình huống, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ) như một tổng thể với nhiềunhóm đối tượng được phân loại và khảo sát một cách độc lập tương đối, vừa thốngnhất, vừa đa dạng

Các thao tác khoa học cụ thể được vận dụng trong luận án như sau:

Thao tác thống kê, phân loại, hệ thống hoá: nhằm nhận diện các nhóm đốitượng và khảo sát đặc điểm của chúng như các kiểu truyện, các kiểu tình huống, kếtcấu, nhân vật

Thao tác phân tích, tổng hợp, khái quát: nhằm đưa ra những nhận định khoahọc, những minh chứng về các đối tượng khảo sát, từ đó đánh giá, lý giải về các kếtluận thu được

Thao tác so sánh: là một thao tác khoa học quan trọng để nhìn nhận đốitượng nghiên cứu trong sự liên hệ, trong thế tương quan, đối sánh, trong sự soi rọi

từ nhiều góc độ, qua đó có thể chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong truyện ngắn

ở các kiểu khác nhau, các tác giả khác nhau… Sự vận động của thể loại so với cácgiai đoạn trước đó và những biến chuyển bên trong bản thân đối tượng giai đoạnnày, nhờ thế, sẽ được làm rõ

Trang 10

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án là một công trình khoa học áp dụng lý thuyết tự sự học và thi pháphọc vào việc nghiên cứu thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Tuy đã có một sốcông trình đi theo hướng nghiên cứu này, nhưng với phạm vi nghiên cứu rộng lớn

và hướng triển khai của mình, luận án là công trình đầu tiên khảo sát đối tượng để

đi đến những nhận định, tổng kết khái quát nhất về các đặc điểm thi pháp, sự vậnđộng và những thành tựu của truyện ngắn Việt Nam bốn mươi năm qua Vì thế,luận án không chỉ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận về thể loại, màcòn là một khảo sát gắn với những quan điểm về việc phân kỳ và tổng kết văn họcsử

Cùng với những công trình nghiên cứu tổng quan về các thể loại khác (tiểuthuyết, thơ ), luận án góp phần đưa ra một hình dung khái quát về chặng đườngbốn mươi năm vận động và phát triển của nền văn học Việt Nam trong thời kỳđương đại

Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảngdạy và học tập ngành Văn học trong các trường Đại học, Cao đẳng, và cho nhữngđộc giả quan tâm về văn học Việt Nam sau 1975

6 Cấu trúc của luận án

Luận án bao gồm Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Tài liệu tham khảo Nội dung chính được chia thành bốn chương:

- Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.

- Chương 2: Tình huống và kết cấu truyện ngắn Việt Nam sau 1975.

- Chương 3: Nhân vật truyện ngắn Việt Nam sau 1975.

- Chương 4: Ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam sau 1975.

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

Trước sự phát triển đa dạng, phong phú của truyện ngắn Việt Nam sau năm

1975, các nhà nghiên cứu, phê bình, giới báo chí và công chúng đã dành sự quantâm đáng kể tới thể loại này Trong phạm vi quan sát của mình, chúng tôi nhận thấycác kết quả nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 có thể phân chia mộtcách tương đối thành mấy nhóm chính sau đây: Thứ nhất, nhóm công trình nghiêncứu lý luận về truyện ngắn; thứ hai, nhóm công trình khảo sát, bình luận, giới thiệutổng quát về truyện ngắn Việt Nam sau 1975; thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu

về từng hệ vấn đề trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975: tác giả, nhóm tác giả, vùngmiền, chủ đề, khuynh hướng, kiểu truyện, sự tương tác của truyện ngắn với các thểloại khác; và thứ tư, nhóm bài viết về những tác phẩm truyện ngắn cụ thể trong giaiđoạn này

Dưới đây chúng tôi sẽ mô tả tổng quan các kết quả nghiên cứu của từngnhóm công trình

1.1.1 Nghiên cứu lý luận về truyện ngắn

M Bakhtin từng nêu lên những khó khăn đặc biệt trong nghiên cứu tiểuthuyết – thể loại văn chương “đang biến chuyển và còn chưa định hình”, khiến cho

“Các nhà nghiên cứu không chỉ ra được một dấu hiệu xác định và chắc chắn nào củatiểu thuyết mà lại không phải đính chính, để rồi sự đính chính ấy lại bác bỏ ngay cáidấu hiệu ấy như chính là một dấu hiệu thể loại” [12, tr.29] Nhà thơ B Dimitrova thìthốt lên: “Ôi, nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi chẳng đau khổ thế này” Có lẽ đócũng là nỗi niềm chung của những ai muốn đi tìm một định nghĩa chính xác nhất, toànvẹn nhất về bất cứ thể loại, loại hình nghệ thuật nào, bởi lẽ nghệ thuật trong bản chất làcái chủ quan, và sự định hình nó phụ thuộc một phần quan trọng vào chủ thể sáng tạo.Không như trong các ngành khoa học khác, các nhà lý luận

Trang 12

văn học nghệ thuật khó có thể đưa ra một khái niệm duy nhất chính xác và chặt chẽ

về từng thể loại, mà dựa trên thực tế tồn tại và phát triển của thể loại để khái quátnên những vấn đề khả dĩ bao quát nhất Đối với thể loại truyện ngắn, cũng có rấtnhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau đã ra đời, và thật khó có thể xác định đượcmột định nghĩa đúng với mọi trường hợp trong thực tiễn sáng tác Điều đó khiếncho việc nghiên cứu mang tính lý luận về thể loại này vẫn không ngừng hấp dẫn,đồng thời cũng không ngừng là một thử thách đối với giới chuyên môn Thuật ngữtruyện ngắn và những vấn đề lý luận liên quan đã xuất hiện trong không ít các côngtrình nghiên cứu sau năm 1975

Trong Từ điển Văn học do nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1984,

truyện ngắn được quan niệm là một loại “truyện” một “hình thức tự sự loại nhỏ.Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnhcủa cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đócủa đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiệnmột khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [11, tr.457] Truyện ngắn được định tính là

“thể loại tự sự cỡ nhỏ” trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên Các soạn giả của cuốn từ điển này nhấn mạnh đếnmột số đặc điểm mấu chốt làm nên thể loại truyện ngắn về dung lượng, nội dung,nhân vật, cốt truyện, kết cấu, bút pháp và chi tiết Thể loại này cũng được đánh giá

là “gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạtđộng báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống” [52, tr.314 –

315] Từ điển văn học bộ mới do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu,

Trần Hữu Tá chủ biên, xuất bản năm 2004 định nghĩa truyện ngắn là “Thể loại tự sự

cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện củađời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dunglượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nóliền một mạch không nghỉ” [112, tr.1846]

Không chỉ được đề cập đến với tư cách là một khái niệm, một thuật ngữ, thểloại truyện ngắn, cùng với các thể loại khác, đã được các nhà lý luận và phê bình

Trang 13

văn học thời kỳ đổi mới quan tâm phân tích từ nhiều góc độ, nhiều phương pháptiếp cận khác nhau.

Hầu hết các giáo trình Lý luận văn học do tập thể tác giả của các trường đại

học biên soạn đều nêu lên định nghĩa cũng như những vấn đề liên quan đến bảnchất, đặc trưng của truyện ngắn với tư cách là một thể loại văn học độc lập

Từ góc độ ngôn ngữ học, công trình Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn

học của Nguyễn Lai khi bàn về Phong cách thể loại qua đặc trưng ngôn ngữ đã lấy

các thể loại văn học, trong đó có truyện ngắn, làm đối tượng khảo sát Tác giả đisâu vào ranh giới giữa các thể loại, tìm hiểu cơ chế sáng tạo khác nhau giữa chúnggắn với chức năng và chất liệu của ngôn ngữ, từ đó bàn về sắc thái riêng của từngphong cách thể loại trong mối quan hệ với ngôn ngữ

Trong cuốn sách Những vấn đề thi pháp của truyện, tác giả Nguyễn Thái Hòa

đã đi sâu phân tích nội hàm khái niệm “truyện” trong sự phân biệt với khái niệm

“chuyện”, từ đó “miêu tả những khái niệm cơ sở của Thi pháp học thể loại Truyện ởgóc nhìn ngôn ngữ học” [59, tr.3] Tác giả không đặt ra vấn đề phân loại truyệnngắn, truyện vừa, tiểu thuyết mà đặt các thể loại này trong một khái niệm chung là

“truyện kể hiện đại” với tư cách là một bộ phận trong loại hình tự sự văn học đểnghiên cứu về mặt thi pháp qua các phương diện: “Chuyện của con người và conngười trong truyện”, “Lời kể và lời thoại trong truyện”, “Không gian như một nhân

tố nghệ thuật của truyện”

Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy là cuốn

sách tập hợp các báo cáo khoa học từ hội thảo cùng tên do Khoa Ngữ văn - TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội tổ chức Trong cuốn sách này có hai bài viết trực tiếp bàn

về lý luận truyện ngắn: Phùng Ngọc Kiếm với bài Quan niệm về thể tài truyện ngắn

trong văn học Việt Nam sau 1975 đã mô tả tổng quan về tình hình nghiên cứu lý

luận truyện ngắn sau năm 1975 đồng thời phân tích một số quan niệm cơ bản, đi sâubàn luận về những vấn đề cốt yếu của thể loại này; Nguyễn Thanh Hùng trong bài

Nghiên cứu và giảng dạy truyện ngắn hiện đại thì đưa ra một quan niệm về truyện

ngắn hiện đại, từ đó đề xuất những phương pháp, thao tác cần thiết

Trang 14

để đọc hiểu, nghiên cứu và giảng dạy truyện ngắn trong nhà trường Cũng nhà

nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Văn học và nhân cách đã bàn về tính

hàm xúc (khả năng biểu cảm cao), chính xác và đa nghĩa cũng như độ kết dính vàkhả năng liên kết trong lời văn nghệ thuật như là “ánh kim sa trong truyện ngắn”

Ý thức đi tìm một định nghĩa khả dĩ tiếp cận gần nhất với thực tế vận độngcủa thể loại cũng như đặt ra những vấn đề lý luận căn cốt về truyện ngắn còn đượcthể hiện trong một số cuốn sách, chuyên luận dành riêng cho việc nghiên cứu thể

loại này Sổ tay truyện ngắn do Vương Trí Nhàn sưu tầm, biên soạn, dịch đã tập

hợp 37 ý kiến của các nhà văn, giới báo chí trong và ngoài nước xoay quanh nhữngđặc điểm, đặc trưng của truyện ngắn, những yêu cầu đối với quá trình sáng tạotruyện ngắn, những bí quyết, kinh nghiệm và chuyện “bếp núc” trong thực tế sáng

tác truyện ngắn Cuốn Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký do Tạ Duy Anh chủ biên trong Phần I Nghệ thuật truyện ngắn cũng tập hợp 10 bài viết của các nhà nghiên

cứu, giới sáng tác về quan niệm truyện ngắn, một số đặc điểm của truyện ngắn, kỹthuật viết truyện ngắn… Hai cuốn sách kể trên đã giúp độc giả tiếp cận với nhữngcách nhìn nhận khá phong phú và sinh động về truyện ngắn, tuy nhiên, những ý kiếnđược tập hợp là riêng lẻ, thường mang tính chủ quan, xuất phát từ kinh nghiệm cánhân của người viết nên chưa tạo ra một hệ thống tri thức lý luận khách quan vớimột hệ quy chiếu nhất quán và toàn diện về đối tượng

Bổ sung thêm những nghiên cứu lý luận về thể loại này, có thể kể đến hai công

trình Truyện ngắn – những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại của Bùi Việt Thắng và Truyện ngắn: lý luận, tác gia và tác phẩm của Lê Huy Bắc Công trình của tác giả Bùi Việt Thắng bao gồm hai phần chính: Phần thứ nhất Truyện ngắn – những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại được triển khai qua năm nội dung chính: Định nghĩa truyện ngắn, Nguồn gốc truyện ngắn, Đặc trưng thể loại truyện ngắn, Các kiểu truyện ngắn và Khái quát sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XX; Phần thứ hai Bàn về truyện ngắn tập hợp một số ý kiến của các nhà văn về truyện ngắn Là người giảng dạy

và nghiên cứu văn học Việt Nam, tác giả đã đúc kết các vấn đề lý luận chủ yếu dựa trên

và gắn với thực tế phát triển của truyện ngắn

Trang 15

trong lịch sử văn học Việt Nam Công trình của tác giả Lê Huy Bắc lại chủ yếu khảosát các tác phẩm truyện ngắn nước ngoài, trên cơ sở đó mong muốn “cố gắng hìnhthành một hệ thống lí luận về truyện ngắn nói chung, truyện ngắn của từng giai đoạn

và của từng tác giả,…” [18, tr.6] với cấu trúc gồm ba phần: Tổng luận: bao gồm các vấn đề lí luận về thể loại; Truyện ngắn khu vực và tác giả: bao gồm các bài viết giới

thiệu khái quát truyện ngắn từng châu lục, các quốc gia tiêu biểu và phong cách

riêng của một số tác giả nổi tiếng bậc nhất; Giải phẫu tác phẩm: phân tích, bình

giảng các tác phẩm cụ thể

Năm 2007, công trình Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân

dung do Phan Cự Đệ chủ biên lần đầu tiên đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về thể loại

truyện ngắn Việt Nam từ thời trung đại đến nay qua các giai đoạn phát triển, các đặc

điểm thi pháp và các tác giả, tác phẩm tiêu biểu Trong chương IX Đặc trưng của

thể loại truyện ngắn hiện đại, tác giả Phan Cự Đệ sau khi phân tích các quan điểm

của nhiều nhà lý luận, nhà văn trong và ngoài nước, đã tổng kết thành một định

nghĩa “bao gồm một hệ thống đặc điểm nhằm phản ánh những đặc trưng về hình

thức, về chủ đề, về kết cấu và cốt truyện, về ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật

của thể loại truyện ngắn”[38, tr.443] Trên cơ sở đó, ở chương X Thi pháp truyện

ngắn hiện đại, ông bàn đến kết cấu và cốt truyện, tình huống và khoảnh khắc, chủ

đề và chi tiết trong truyện ngắn hiện đại

Những cuốn sách kể trên là những công trình mang lại một hệ thống tri thức

có tính lý luận hơn cả, cung cấp cho người đọc cái nhìn khá bao quát và khách quan

Trang 16

truyện, tiểu thuyết; mối quan hệ giữa truyện ngắn với các thể loại văn học khác; thứ

ba, xác định những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn, những yêu cầu quan trọngtrong sáng tạo tác phẩm truyện ngắn; và thứ tư, phân loại truyện ngắn thành một sốkiểu cơ bản

Những quan niệm thuộc bốn hệ vấn đề cơ bản trên thường không mang tính

lý luận thuần túy mà gắn với thực tế phát triển của truyện ngắn trong nước và thếgiới Lý luận được khái quát từ một nền văn học cụ thể, một kinh nghiệm sáng tác

cụ thể hoặc một số tác giả, tác phẩm cụ thể; và lý luận đó sẽ được ứng dụng để tiếpcận và giải mã các hiện tượng cụ thể trong đời sống văn học

Sẽ là sơ suất khi mô tả kết quả nghiên cứu lý luận về truyện ngắn mà không

đề cập đến lĩnh vực dịch thuật Để đáp ứng nhu cầu vận dụng các thành tựu lý luậnvăn học hiện đại thế giới của giới nghiên cứu trong nước, nhiều công trình lý luận

có giá trị về văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng đã được dịch và giới thiệu,

tiêu biểu là các công trình của M Bakhtin: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Những vấn đề thi pháp Đoxtoiepxki (Trần Đình Sử dịch); của R Barthes: Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nhập môn phân tích cấu trúc

truyện kể (Đỗ Lai Thúy giới thiệu, Tôn Quang Cường dịch), Những huyền thoại

(Phùng Văn Tửu dịch); của M Kundera: Tiểu luận (Nguyên Ngọc dịch, trong đó bao gồm phần Nghệ thuật tiểu thuyết); của Iu Lotman: Cấu trúc văn bản nghệ thuật

(Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch); của K Hamburger:

Logic học về các thể loại văn học (Vũ Hoàng Địch, Trần Ngọc Vương dịch); của

Meletinsky: Thi pháp của huyền thoại (Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch); của Grojnovski: Đọc truyện ngắn (Trần Hinh, Phùng Ngọc Kiên dịch), v.v… Hầu hết

dịch giả của các công trình trên đều là những giảng viên chuyên ngành văn học,những nhà nghiên cứu, phê bình, sáng tác văn học, những thành tựu mà họ chuyểnngữ và giới thiệu kể trên đã cung cấp một hàm lượng tri thức khoa học, hiện đại vàhữu ích cho khoa nghiên cứu văn học trong nước những năm qua Trong nhữngcông trình này, nhiều vấn đề chung của các thể loại tự sự đã được luận bàn từ các lýthuyết, các khuynh hướng tiếp cận khác nhau Và dù có trực tiếp bàn về lý luận

Trang 17

truyện ngắn hay không, đây vẫn là những cuốn sách mang tính công cụ quan trọng,giới thiệu những hướng tiếp cận, những phương pháp, thao tác nghiên cứu của lýluận văn học phương Tây để các nhà nghiên cứu truyện ngắn có thể vận dụng Tuynhiên, các công trình về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu chuyên biệt về truyệnngắn nhìn chung vẫn còn ít ỏi.

1.1.2 Nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Để tổng kết, đánh giá một giai đoạn phát triển của nền văn học, cần đến một độlùi nhất định về thời gian Tuy vậy, đứng trước sự phát triển đa dạng, phong phú củavăn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay, một số nhà nghiên cứu, phê bình cũng đã cónhững công trình bước đầu đưa ra được cái nhìn tổng quan về nền văn học nói chung,đồng thời đánh giá những thành tựu cũng như đặc điểm quá trình vận động của từngthể loại Trong những công trình này, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đều được đánhgiá là có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, với một đội ngũsáng tác đông đảo, một số lượng lớn tác phẩm đa dạng, phong phú về nội dung và hìnhthức, trong đó có những tác giả tác phẩm trở thành tiêu biểu cho văn học hiện đại Việt

Nam Sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh giá cao sự khởi sắc của truyện ngắn giai đoạn 1975 – 2000 Trong công trình Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ ghi nhận: “Truyện ngắn và tiểu thuyết thời kỳ Đổi

mới (1986 – 2006) phát triển hết sức mạnh mẽ Điều đó hoàn toàn phù hợp với quyluật” [38, tr.369] Từ việc phân tích các tiền đề khách quan và chủ quan, tác giả khẳngđịnh thành tựu của truyện ngắn giai đoạn này trên các phương diện: đổi mới chủ đề vànội dung phản ánh; tính chất dân chủ trong sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm; đề cao dấu

ấn của chủ thể sáng tạo; sự đa dạng về phương pháp sáng tác, phương thức tiếp cậnhiện thực và bút pháp nghệ thuật Năm 1991, Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng “chúng

ta đang đứng trước một vụ được mùa truyện ngắn mới Truyện ngắn đông, nhiều vàthật sự có một số truyện ngắn thật hay”, và “truyện ngắn bỗng nổi bật lên hàng đầu”như “một quy luật rất thú vị về sự phát triển của các thể loại văn học” [103, tr.12] Ôngcho rằng truyện

Trang 18

ngắn là thể loại “tiến xa hơn cả” trong đời sống văn học đương đại Lý Hoài Thu

trong bài viết Sự vận động của các thể văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới cũng

khẳng định “Có thể nói rằng, trong văn xuôi, truyện ngắn là thể loại đã khẳng địnhđược vị trí của mình và có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất đối với đời sống văn họcthời kỳ đổi mới” [143, tr.182] Bích Thu nhận định “Chưa bao giờ truyện ngắn lạiphát triển phong phú về số lượng lẫn hiệu quả nghệ thuật như hôm nay” Sự pháttriển ấy được tác giả đánh giá là “một hiện tượng mang tính tất yếu không chỉ bởi

sự phát triển nội tại của bản thân thân thể loại mà còn do sự tác động của những đổimới về mọi phương diện của môi trường sáng tạo mới, của sự giao lưu rộng rãi vớivăn hóa thế giới” [139, tr.34] Thành tựu của truyện ngắn giai đoạn này được nhànghiên cứu tổng kết trên ba phương diện chủ yếu: cốt truyện và kết cấu, quan niệmnghệ thuật về con người và nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ Đề cao truyệnngắn như một thể loại mạnh của nền văn xuôi hiện đại nước nhà, Nguyễn Thị Bìnhcho rằng: “Với truyện ngắn, văn học Việt Nam đang tiệm cận văn học đương đạithế giới ở tư duy thể loại” [89, tr.278]

Làm nên sự “lên ngôi”, “thăng hoa”, sự phát triển mạnh mẽ đó của truyện ngắn,theo các nhà nghiên cứu, là nhờ một đội ngũ sáng tác hùng hậu: “Truyện ngắn đã vàđang là trung tâm thu hút sức sáng tạo của các thế hệ cầm bút, là thể loại sở trường củanhiều nhà văn, người đến trước, kẻ đến sau, tập hợp thành một lực lượng hùng hậu”[139, tr 34] Phan Cự Đệ đã làm một thống kê về đội ngũ những người viết truyệnngắn theo không gian, bao gồm những cây bút truyện ngắn miền xuôi, những nhà văndân tộc thiểu số, và các nhà văn Việt Nam ở hải ngoại Bùi Việt Thắng lại có cái nhìnlịch sử khi ghi nhận sự đóng góp của đội ngũ sáng tác văn xuôi theo từng thế hệ: thế hệtrưởng thành từ kháng chiến chống Pháp và hòa bình (1954), thế hệ trưởng thành từcuộc kháng chiến chống Mỹ, thế hệ xuất hiện sau 1975, và “một thế hệ mới với nhiềutiềm năng sáng tác” xuất hiện từ thời kỳ đổi mới Trong sự trưởng thành của lực lượngsáng tác, các nhà nghiên cứu đã thống nhất thừa nhận có một phần đóng góp đáng kể từ

các giải thưởng văn học do Hội Nhà văn Việt Nam, một số tờ báo, tạp chí như Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ… khởi

Trang 19

xướng Một hiện tượng đáng chú ý về đội ngũ tác giả truyện ngắn giai đoạn nàyđược nhiều nhà nghiên cứu đề cập, đó là sự nở rộ của các cây bút nữ Sự xuất hiệnngày càng nhiều và ngày càng thành công của các tác giả nữ được Phương Lựuđánh giá là “một hiện tượng tốt đẹp, đánh dấu một phương diện phát triển của vănhọc thế kỷ này trên đất nước ta”, khiến ông nhận thấy “Đã đến lúc, trên bình diện lýthuyết, phải đặt vấn đề tìm hiểu những đặc điểm của nữ văn sĩ, với tất cả mặt mạnhyếu của nó, để góp phần nhỏ thúc đẩy việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng sángtác của nửa phần dân tộc và nhân loại này” [96, tr 66] Thậm chí một số nhà nghiêncứu đã sử dụng những cụm từ “gương mặt nữ”, “âm hưởng nữ quyền” để phác họadiện mạo văn học Việt Nam đương đại.

Việc xác định các khuynh hướng nội dung chính trong truyện ngắn Việt Namsau 1975 cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm và tiến hành từ những góc tiếpcận khác nhau Căn cứ vào chủ đề và cảm hứng, Nguyễn Thị Bình nhận thấy vănxuôi, trong đó có truyện ngắn, giai đoạn này nổi bật ba khuynh hướng: “khuynhhướng nhận thức lại hiện thực”, “khuynh hướng đạo đức – thế sự” và “khuynhhướng triết luận” Nguyễn Văn Long nói đến bốn khuynh hướng của văn xuôi giaiđoạn này là “khuynh hướng sử thi”, “khuynh hướng nhận thức lại”, “khuynhhướng thế sự - đời tư” và “khuynh hướng triết luận”, tuy nhiên, “khuynh hướng sửthi” được ông khái quát chủ yếu từ các tác phẩm tiểu thuyết Bích Thu xác định

Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua hệ thống mô típ chủ đề, bao

gồm “chủ đề thiện ác”, “chủ đề sám hối”, “chủ đề cô đơn”…

Ngoài việc khái quát sự vận động của các khuynh hướng, một số công trìnhcũng đã đi vào phân tích một số đề tài, chủ đề, khuynh hướng cảm hứng cụ thể trongtruyện ngắn sau 1975 Nếu như trong các giáo trình văn học Việt Nam sau 1975, trongkhi khái quát về sự vận động của văn xuôi, thường phân chia các khuynh hướng chínhdựa trên đề tài, chủ đề của các sáng tác, thì trên các báo và tạp chí cũng xuất hiện nhiềubài viết đi vào phân tích sự thể hiện của từng đề tài, chủ đề, cảm hứng trong văn xuôi

và truyện ngắn sau năm 1975 Đề tài chiến tranh trong truyện ngắn được tìm hiểu trong

các bài viết của Tôn Phương Lan (Từ một góc nhìn

Trang 20

về sự vận động của truyện ngắn chiến tranh), Lê Dục Tú (Truyện ngắn đương đại

về đề tài chiến tranh – những đổi mới trong tư duy thể loại) Truyện ngắn và văn

xuôi nói chung viết về đề tài dân tộc và miền núi được nghiên cứu công phu, có hệ

thống trong luận án của Phạm Duy Nghĩa: Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và

miền núi Phạm Xuân Thạch bàn về đề tài lịch sử trong các tác phẩm tự sự đương

đại qua bài viết Quá trình hóa hư cấu Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử

giữa truyền thống và hiện đại Trần Cương chú ý đến Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80 Nhiều bài viết đề cập đến các đề tài tình yêu, gia đình, dục

tính… trong truyện ngắn Các chủ đề của truyện ngắn như sám hối, nhận thức lạithực tại, cô đơn cũng được tìm hiểu trong một số bài viết

Về các chặng đường vận động, phát triển của truyện ngắn Việt Nam sau năm

1975, các tác giả đều khẳng định từ sau 1975, truyện ngắn đã có những thay đổiđáng kể so với giai đoạn trước đó, song bước phát triển vượt bậc được tính từ thời

kỳ đổi mới (1986 tới nay) Bùi Việt Thắng chia sự phát triển của thể loại này thànhhai “khúc”: khúc vượt qua quán tính (1975 – 1985) và khúc đổi mới (từ 1986 tớinay) Nguyễn Thị Bình cũng mô tả các chặng đường vận động của văn xuôi giaiđoạn này qua hai chặng: những năm từ 1975 đến 1985 là “chặng đường “khởiđộng” chuẩn bị cho cao trào đổi mới”, còn từ 1986 là thời kỳ “đổi mới văn xuôi đạtđến cao trào sau đó lắng lại” Nguyễn Văn Long lại cho rằng “Nằm trong sự vậnđộng chung của cả nền văn học, văn xuôi sau 1975, trên đại thể cũng đã đi qua bachặng đường: từ 1975 đến 1985, 1986 đến đầu những năm 90, và từ giữa nhữngnăm 90 đến nay” [90, tr.48]

Đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt

Nam đương đại là luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 – nhìn từ góc độ

thể loại của tác giả Lê Thị Hương Thủy, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội –

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2013 Ngoài chương Tổng quan vềtình hình nghiên cứu, ba chương sau của luận án đi vào khảo sát và phân tích các

vấn đề: Truyện ngắn – quan niệm và sự đổi mới tư duy thể loại, Các dạng thức xây

dựng nhân vật và tổ chức kết cấu văn bản truyện ngắn, Ngôn ngữ và điểm nhìn trần

Trang 21

thuật Theo tác giả luận án, từ sự thay đổi theo hướng ngày càng uyển chuyển của

tư duy thể loại, “truyện ngắn Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đã có những biến đổi sâusắc trên phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức văn bản truyện ngắn”,

“truyện ngắn Việt Nam đương đại cũng đã có những thay đổi đáng kể từ góc độngôn ngữ và phương thức tổ chức trần thuật” [148, tr.147] Những thành tựu củatruyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới từ góc độ thể loại đã được tác giả phân tíchvới những minh chứng cụ thể Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày trong phần Mởđầu, quá trình đổi mới tư duy, quan niệm thẩm mỹ và thi pháp thể loại trong truyệnngắn, không cần đợi đến năm 1986, mà đã bắt đầu và xác lập được một số thành tựungay sau năm 1975, tiêu biểu là nhiều sáng tác quan trọng của Nguyễn Minh Châu.Luận án của chúng tôi, bên cạnh việc lấy năm 1975 làm lát cắt cho việc phân kỳ quátrình phát triển của thể loại – cũng tức là nới rộng đối tượng và phạm vi nghiên cứu,

sẽ có những cách thức triển khai, lựa chọn tư liệu và kiến giải vấn đề của mình, đểvừa kế thừa những kết quả nghiên cứu của công trình kể trên, vừa góp phần tạo nênmột cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu từ góc độ thể loại

1.1.3 Nghiên cứu các hệ vấn đề trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt Nam sau

1975 để đánh giá thành tựu, lý giải các tiền đề, nguyên nhân của sự phát triển, phânchia các khuynh hướng, kiểu loại, các chặng đường phát triển và giới thiệu nhữngtên tuổi tiêu biểu cho thể loại trong giai đoạn này như chúng tôi vừa kể trên, đã cónhững công trình đi vào tìm hiểu một khía cạnh, một phương diện, một vấn đề cụthể nào đó của truyện ngắn sau 1975 Có thể kể đến những công trình nghiên cứuthành tựu và phong cách của các tác giả hay nhóm tác giả tiêu biểu; nghiên cứu các

đề tài, chủ đề, khuynh hướng cảm hứng của truyện ngắn giai đoạn này; nghiên cứuthành tựu đổi mới nghệ thuật truyện ngắn giai đoạn này; nghiên cứu các kiểu truyệnngắn cụ thể; và nghiên cứu sự tương tác của truyện ngắn với các thể loại khác tronggiai đoạn này

Trang 22

1.1.3.1 Nghiên cứu thành tựu và phong cách của các tác giả, nhóm tác giả tiêu biểu

Sự phát triển mạnh mẽ của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là thành quả củamột đội ngũ hùng hậu các nhà văn ở nhiều thế hệ, nhiều vùng miền, đa dạng vềphong cách, bút pháp Trong đội ngũ đó, có những tác giả mà sáng tác của họ đặt ranhững vấn đề tiêu biểu cho sự vận động của thể loại trong giai đoạn này Nhiều nhànghiên cứu, phê bình đã đi sâu tìm hiểu quan điểm sáng tác, thế giới nghệ thuật vàphong cách của những tác giả tiêu biểu đó Các nhà văn từ Nguyễn Minh Châu, ĐỗChu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Y Ban, Võ Thị Hảo, TrầnThùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Sương Nguyệt Minh đến Nguyễn Ngọc Tư, ĐỗBích Thúy, Phạm Duy Nghĩa… cùng với thành tựu truyện ngắn của mình, đều đãtrở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên luận, bài viết, luận án, luận văn.Đặc biệt, trong số đó, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp là những tác giảtừng thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình Truyệnngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 đã tạo nên một cuộc thảo luận sôi nổi vớinhiều ý kiến đa dạng, phức tạp Tôn Phương Lan, Lại Nguyên Ân khi biên soạn

cuốn Nguyễn Minh Châu – con người và tác phẩm đã nhận xét: “Các truyện ngắn từ

đầu những năm 80 dường như trình diện một Nguyễn Minh Châu khác trước.Những sáng tác này lại trở thành một trong những tiêu điểm chú ý của dư luận Bắtđầu xuất hiện những cách hiểu khác nhau Ấy là chưa kể đến loại dư luận khôngthành văn” [78, tr.158] Theo thống kê của Tôn Phương Lan, từ 1976 đến 1991 cótới 82 bài viết bàn về Nguyễn Minh Châu được đăng tải trên các báo, tạp chí, trong

đó phần lớn là các bài viết về truyện ngắn của ông Năm 1999, một chuyên luận

công phu của Tôn Phương Lan ra đời mang tên Phong cách nghệ thuật Nguyễn

Minh Châu Năm 2001, Mai Hương tuyển chọn và biên soạn 59 bài viết trong sách Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật, trong đó bộ phận truyện ngắn

sau 1975 của ông được bàn luận, nghiên cứu từ nhiều góc độ Các phương diện cụthể về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu như quan niệm nghệ thuật về con người, thếgiới nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tình huống truyện… cũng được nhiều

Trang 23

luận văn lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu Bên cạnh Nguyễn Minh Châu,Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn bắt đầu xuất hiện vào giữa những năm

80 của thế kỷ XX cũng là một hiện tượng văn học phức tạp, gây xôn xao dư luận và

tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình Giáo trình Văn học Việt

Nam sau 1975 của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc

gia Hà Nội cho biết: “Từ khoảng giữa năm 1987 đến 1989 đã có khoảng 70 bài viết

về sáng tác của nhà văn này Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được dịch ra tiếngAnh, Pháp và nhiều hơn cả là ở các nước châu Âu” [81, tr.122] Những vấn đề đặt

ra trong các truyện ngắn của nhà văn tài năng và phức tạp này tạo ra những luồng

dư luận rất đa dạng, thậm chí nhiều ý kiến trái chiều nhau, cả ngợi ca suy tôn lẫn

phê phán đều rất mạnh mẽ Cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (2001) do Phạm

Xuân Nguyên sưu tầm, biên soạn, với 54 bài viết của giới nghiên cứu, phê bình,sáng tác trong và ngoài nước, đã cho thấy sức nóng, sức hấp dẫn của truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp đối với văn đàn lúc bấy giờ Và cho đến nay, truyện ngắn củaông vẫn tiếp tục là đối tượng khảo sát, nghiên cứu của những người quan tâm đếnvăn học đương đại Việt Nam, và đến thể loại này Hai tác giả Nguyễn Minh Châu

và Nguyễn Huy Thiệp cũng được các giáo trình, các công trình nghiên cứu về vănhọc Việt Nam sau 1975 giới thiệu đến người học và công chúng như là hai đại diệntiêu biểu hàng đầu trong thể loại truyện ngắn nói riêng, văn học nói chung giai đoạnnày

Cùng với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả tiêu biểu,còn có nhiều công trình đi vào khảo sát, phân tích các nhóm tác giả truyện ngắnquan trọng theo những tiêu chí lựa chọn nhất định Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị

Bích đi vào nghiên cứu Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975

(Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng) Theo tác

giả luận án, ba nhà văn được lựa chọn là “những đại biểu tinh anh của phong tràođổi mới văn học sau 1975 Họ là những cây bút trưởng thành trong chiến tranh vàtrở về từ chiến tranh nhưng trong bối cảnh đổi mới, họ vẫn là những tác giả cónhiều bạn đọc” [20, tr.3] Lựa chọn hướng tiếp cận từ tự sự học, luận án đã phân

Trang 24

tích đặc điểm sáng tác của ba tác giả này trên các phương diện: ngôi kể, điểm nhìn

và giọng điệu trần thuật, để thấy được sự chuyển động của thể loại truyện ngắntrong hành trình của các nhà văn tiêu biểu thế hệ “3X”

Thành tựu, hạn chế, những đặc điểm trong sáng tác của một loạt nhà văn nữcũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Cuối năm 1996,Phương Lựu thuật lại: “Chỉ trong mấy tháng cuối năm 92 đầu 93, nhà phê bình NguyễnVăn Lưu đã liên tiếp viết về sáng tác của Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân

Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ v.v… Rồi Tạp chí Văn học số 6 năm nay đã công bố nội dung buổi tọa đàm Phụ nữ và sáng tác văn chương của một số nhà phê bình như Văn Tâm,

Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, với một số nhà thơ nhà vănnhư Ngô Thế Oanh, Đặng Minh Châu, trong đó có cả các cây bút nữ, phê bình lẫn sángtác: Đặng Anh Đào, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo v.v…” [96, tr 66] Bích Thu viết về

Văn xuôi của phái đẹp trên Tạp chí Sông Hương, số 3

– 2001 Rất nhiều tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn nữ đã ra đời Bùi ViệtThắng tuyển chọn, biên soạn nhiều tuyển tập truyện ngắn của các tác giả nữ như

Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Mùa thu vàng rực rỡ, Có một thời yêu, và ở mỗi tuyển

tập, ông đều có những bài giới thiệu khái quát về thành tựu, đặc điểm của truyệnngắn các nhà văn nữ Theo ông, “Thực tiễn văn học, đặc biệt trong lĩnh vực truyệnngắn, những cây bút nữ đã góp phần quan trọng làm cho văn đàn sôi nóng lên, hấpdẫn hơn nhờ vào sự đa hương sắc của tác phẩm” Gần đây, lý thuyết Nữ quyềnđược nhiều nhà nghiên cứu, phê bình từng bước áp dụng để tìm hiểu truyện ngắn

của các nhà văn nữ Cuối năm 2012, Viện Văn học tổ chức tọa đàm Văn xuôi nữ

trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại Gần 30 tham luận của tọa đàm đã đề

cập và phân tích một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác của các cây bút nữ

trong văn học đương đại, trong đó có bộ phận quan trọng là truyện ngắn Bên cạnhviệc khẳng định đóng góp của các nhà văn nữ vào đời sống văn học, một số thamluận đã đề cập đến “vấn đề nữ quyền”, đề xuất việc áp dụng lý thuyết nữ quyềntrong nghiên cứu bộ phận sáng tác này

Trang 25

Một số công trình đã nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của một nhóm tác giả

theo địa bàn, khu vực Trần Mạnh Hùng trong luận án Khảo sát đặc điểm truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay đã phác thảo khái quát đội ngũ tác giả

truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long, sự vận động của truyện ngắn đồng bằng sôngCửu Long từ 1975 đến nay, sau đó khảo sát những đặc điểm của bộ phận truyện ngắnnày trên hai phương diện: cảm hứng và một số phương diện nghệ thuật Sáng tác củacác nhà văn hải ngoại cũng bước đầu được chú ý Nhà xuất bản Phụ nữ giới thiệu 25

truyện ngắn của 21 tác giả nữ trong tuyển tập Khung trời bỏ lại với thiện ý “Mặc dù

còn xa cách nhưng cố gắng tạo nên một cuộc gặp gỡ, một sự giao lưu thân tình giữabạn đọc, bạn viết trong nước với chị em cầm bút đang sống ở nước ngoài”, tập truyện

đã được đề cập đến trong sách Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung cùng với sáng tác truyện ngắn của một loạt cây bút hải ngoại khác cho thấy đóng góp

của các nhà văn đang ở nước ngoài vào sự phát triển chung của thể loại Nguyễn ThịNăm Hoàng phân tích “toàn tập truyện như một kết cấu nghệ thuật thống nhất trong đadạng, chỉ ra được cái mạch ngầm đã liên kết những âm, những giọng, những dàn trong

các tác phẩm riêng biệt, độc lập đó thành một liên khúc, cũng như liên kết liên khúc đó

với hợp âm chung của đời sống văn học đương đại Việt Nam Mạch liên kết đó đượctạo thành bởi nhiều yếu tố, trong đó chủ đạo là sự liên kết về tình huống, kết cấu vàgiọng điệu” [113, tr.442], từ đó chỉ ra những nét tương đồng, những điểm gặp gỡ cũngnhư những sắc thái riêng biệt trong truyện ngắn của các nhà văn nữ hải ngoại so vớicác đồng nghiệp trong nước

Bên cạnh các tác giả, nhóm tác giả trên, các nhà văn trẻ, các nhà văn quânđội… cũng được quan tâm như những nhóm tác giả đáng chú ý trong thể loạitruyện ngắn

1.1.3.2 Nghiên cứu thành tựu đổi mới nghệ thuật truyện ngắn

Những nỗ lực đổi mới, hiện đại hóa của truyện ngắn sau 1975 trên phươngdiện nghệ thuật được thể hiện đa dạng, phong phú từ nghệ thuật xây dựng nhân vật,kết cấu, điểm nhìn trần thuật, không gian và thời gian nghệ thuật đến ngôn ngữ,

Trang 26

giọng điệu… Nhiều công trình nghiên cứu đã đi vào khảo sát các phương diện này.

Lê Thị Hường trong luận án Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam

1975 – 1995 đã phân tích những đổi mới của truyện ngắn giai đoạn này trong các

lĩnh vực: cốt truyện và kết cấu, thời gian nghệ thuật, hệ thống nhân vật và ngôn ngữ.Đứng trước hiện tượng “Các nhà văn mượn lại tên nhân vật trong một số truyện cổ

để đặt tên cho nhân vật của mình để thực hiện những mục đích sáng tạo mới” [152,

tr.43], Phạm Thị Ngọc Trâm có bài viết Về hiện tượng mượn nhân vật truyện cổ dân

gian trong truyện ngắn từ sau năm 1975 Lê Thị Tuyết Hạnh là tác giả của chuyên

luận khảo sát và nghiên cứu Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự

(Qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995) nhờ đó, như lời giới thiệu

của Lê Nguyên Cẩn, “góp phần lý giải bản chất nghệ thuật của kiểu thời gian tự sựđược dùng trong thể loại truyện ngắn Việt Nam xét trên bình diện tổng quát” [53,

tr.6] Nguyễn Thị Bình khảo sát Về một phương diện nghệ thuật trần thuật trong văn

xuôi sau 1975: ngôn ngữ và giọng điệu qua nhiều truyện ngắn, bên cạnh các tiểu

thuyết Nguyễn Văn Hiếu nêu lên Một vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn

trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 bao gồm khuynh hướng cá thể hóa, khuynh

hướng đối thoại và khuynh hướng gián cách, ở mỗi khuynh hướng tác giả đều cónhững phân tích cụ thể với những dẫn chứng từ truyện ngắn…

Đổi mới, hiện đại hóa truyện ngắn sau 1975 là thành tựu được kết tinh từ tàinăng, nỗ lực của các nhà văn trong tinh thần đổi mới chung của thời đại, từ sự kếthừa và nối dài những thành tựu của truyện ngắn các giai đoạn trước, đồng thờicũng là do ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng, các trường phái sáng tác văn họchiện đại, hậu hiện đại thế giới mang lại Nhiều nhà nghiên cứu đặt ra vấn đề xem xét

sự tồn tại của chủ nghĩa hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại Phạm

Ngọc Lan bàn về Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh văn hóa hậu hiện đại sơ kỳ

những năm đầu đổi mới Lã Nguyên nhận diện Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài Hỏa Diệu Thúy đi tìm Dấu ấn hậu hiện đại trong bút pháp Hồ Anh Thái Thái

Phan Vàng Anh nhìn nhận Văn học nữ quyền Việt Nam sau 1986 từ cảm quan hậu

Trang 27

hiện đại Lê Văn Trung tìm hiểu về Nhân vật hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986 Phùng Gia Thế nêu lên Tính chất carnaval trong ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam đương đại … Các bài viết trên đã phác họa một khuynh hướng vận động

của văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng, đó là tinh thần “giải cấu trúc”, từchối các “đại tự sự”, là tính chất “liên văn bản”, là ngôn ngữ với các đặc điểm

“thông tục hóa phi thẩm mỹ ngôn từ”, “sự bành trướng của cái biểu đạt” và “sự hỗnloạn của diễn ngôn” Theo đó, nhân vật trong truyện ngắn cũng mang những đặcđiểm hậu hiện đại, đó là “sự phân rã hình tượng trung tâm”, sự xuất hiện “nhữngnhân vật ngoại biên, dị biệt”, “kiểu nhân vật nữ quyền”, “những nhân vật ký hiệu”

và “nhân vật mảnh vỡ, ghép mảnh”… Những đặc điểm trên vừa là sản phẩm tất yếucủa một “hoàn cảnh hậu hiện đại” trong đời sống đương đại, vừa thể hiện một ýthức mạnh mẽ của các nhà văn trong việc kiếm tìm một con đường hiện đại hóa,đưa văn chương nước nhà hòa nhập với văn học thế giới

1.1.3.3 Nghiên cứu các kiểu truyện ngắn

Nhiều nhà nghiên cứu khi nhận định chung về tình hình phát triển của truyệnngắn sau 1975 đã nêu lên một số kiểu truyện ngắn như là những sản phẩm mới củathời đại như truyện ngắn giả cổ tích, truyện ngắn kỳ ảo, kinh dị, truyện ngắn liênhoàn, truyện ngắn rất ngắn (truyện mi ni) Từng kiểu truyện này đã được một số bàiviết đi vào nghiên cứu để chỉ ra đặc điểm, nguyên tắc xây dựng tác phẩm và sự phát

triển trong thực tế nền văn học Năm 1991 Đặng Anh Đào có bài viết Một hiện

tượng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay đề cập đến hai hình thức truyện kể là

“phản cổ tích” và “truyện lịch sử giả” với mục đích “phân tích hiện tượng này nhưmột nét mới không riêng ở Nguyễn Huy Thiệp mà ở nhiều truyện xuất hiện vài ba

năm gần đây” [35, tr.21] Lý do khiến nhà nghiên cứu gộp hai loại truyện này lại để

phân tích, là bởi chúng có một dấu hiệu chung: hình thức nhại lại (parodie) Hìnhthức nhại có một dấu hiệu nhận biết là tính chất hài hước và tính chất đó, đến lượt

nó, làm tăng “bản chất dân chủ” của văn bản Tác giả đã phân tích cái “giả” nhưmột “quy ước trò chơi” trong loại truyện này, hiệu quả, tác động của nó đối với thóiquen tư duy của người đọc, từ đó đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa sự thật lịch sử, cổ

Trang 28

tích và hư cấu trong các truyện này – điều khiến cho chúng trở thành “truyện ngắn”chứ không phải truyện lịch sử hay cổ tích Như vậy, từ các hiện tượng trong thực tếphát triển của truyện ngắn, tác giả muốn đi đến khái quát về bản chất, quy luật,nguyên tắc sáng tạo của các loại truyện này như là những tiểu loại mới góp phầnlàm nên sự phát triển phong phú của thể loại trong giai đoạn này Một số nhà nghiên

cứu quan tâm đến truyện ngắn kỳ ảo như Đặng Anh Đào (Vai trò của cái kỳ ảo

trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam), Phan Cự Đệ (Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử

- Thi pháp – Chân dung) Loại truyện cực ngắn hay còn gọi là truyện mi ni cũng thu

hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu: Lê Dục Tú bàn về Thể loại truyện rất ngắn

trong đời sống văn học đương đại, Phùng Ngọc Kiếm trong bài Trần thuật trong truyện rất ngắn định nghĩa “Truyện ngắn mi ni, truyện rất ngắn, truyện cực ngắn,

truyện thật ngắn là cách gọi khác nhau cho một loại tác phẩm tự sự hạn hẹp về dunglượng ngôn từ xuất hiện từ lâu, ngày càng trở nên phổ biến trên báo chí, trong đờisống văn hóa những năm cuối thế kỷ XX Đó là một xu thế vận động của văn họcphù hợp với tư tưởng, tâm lý, nhịp sống của con người hiện đại” [73, tr.28]

1.1.3.4 Nghiên cứu sự tương tác của truyện ngắn với các thể loại khác trong văn học Việt Nam sau 1975

Sự tương tác giữa truyện ngắn với các thể loại khác, hay nói cách khác, sựxâm nhập một số yếu tố, đặc điểm của các thể loại khác vào truyện ngắn giai đoạnnày là hiện tượng được đặt ra trong một số công trình nghiên cứu Vũ Tuấn Anh với

bài viết Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại khi đề cập đến sự

biến đổi trong các thể loại truyện ngắn, truyện vừa đã cho rằng “Tư duy tiểu thuyếtthâm nhập vào những thể loại nhỏ và vừa này tạo ra cho chúng một sức chứa lớnhơn nhiều so với bản thân chúng và mở rộng khả năng thể loại đến độ đáng ngạcnhiên Lối khai thác theo chiều sâu, tính dồn nén đã khiến cho nhiều truyện ngắn,truyện vừa có được tầm vóc và dung lượng của tiểu thuyết” [5] Về truyện rất ngắn,ông cho rằng thể truyện này đã dung nạp được trong nó cả “tính biểu tượng, ám thị,ngụ ngôn, sự vận dụng các thủ pháp xung đột kịch” và cả “lối nói ít gợi

Trang 29

nhiều của thi pháp thơ”, nhờ đó mà ngày càng khẳng định được ưu thế của mình.

Đinh Trí Dũng phân tích Xu hướng tiểu thuyết hóa trong truyện ngắn Việt Nam từ

1986 đến nay, chỉ ra vùng giao thoa giữa truyện ngắn và tiểu thuyết đương đại Ông

cho rằng “Truyện ngắn đang làm mờ đi ranh giới giữa nó với tiểu thuyết” [34, tr.14]với các biểu hiện: kéo dài ra về dung lượng, mở rộng không gian thời gian, diễn tảnhững số phận có nhiều thăng trầm biến đổi; lồng ghép nhiều chủ đề, nhiều ýtưởng; mở ra nhiều tuyến cốt truyện, hệ thống nhân vật, sự phức tạp của hệ thốngtình tiết; kể câu chuyện của nhiều người, cả gia đình, dòng họ, cả làng, cả một thời;thể nghiệm những hình thức kết cấu độc đáo Nguyên Ngọc phát biểu “Cầm cáitruyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu Có nhữngtruyện ngắn, chỉ mươi trang thôi, mà sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểuthuyết trường thiên” [87, tr.174] Cũng nhìn truyện ngắn trong sự tương tác với cácthể loại khác thông qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu, Phạm Vĩnh Cư có bài

Về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, T N.

Filimonova tìm hiểu Thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp, Bích Thu bàn về Yếu tố trữ

tình trong truyện ngắn Lưu Quang Vũ, Đào Duy Hiệp phân tích Chất thơ trong Cánh đồng bất tận… Qua những bài viết này, có thể phần nào thấy được sự vận

động uyển chuyển, linh hoạt của truyện ngắn và những ưu thế của thể loại này trongđời sống văn học đương đại

1.1.4 Tiếp cận các tác phẩm truyện ngắn cụ thể

Đây là bộ phận phong phú và sôi động hơn cả trong nghiên cứu, phê bìnhtruyện ngắn giai đoạn này Có rất nhiều bài viết đã ra đời sau khi các truyện ngắn/tập truyện ngắn được trình làng, nhằm giới thiệu, bình phẩm, đánh giá, thảo luận vềtác phẩm Các bài viết này, nhìn một cách tổng quan, một mặt đã cập nhật tình hìnhsáng tác truyện ngắn, mặt khác, góp phần luận giải về sự vận động của các tác giả

về mặt tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, phong cách, bút pháp, kỹ thuật… qua mỗicột mốc trong sáng tác, từ đó cho thấy quá trình sinh động, cụ thể trong sự vận độngcủa thể loại nói chung Đáng chú ý hơn cả trong nhóm công trình này là những bài

Trang 30

viết xung quanh một số tác phẩm mà ở vào thời điểm ra đời, nó tạo nên những điểmnhấn, những ấn tượng mạnh mẽ, độc đáo về cách nhìn nhận, thể hiện con người,cuộc sống hoặc cách viết của tác giả.

Hai người trở lại trung đoàn (1977) của Thái Bá Lợi được coi là một “cú

hích” đầu tiên của truyện ngắn sau 1975 trong việc đổi mới cách nhìn con người và

hiện thực Trên báo Văn nghệ ngày 19/12/1981, Nguyên Ngọc Nhân đọc một tác

phẩm mới của Thái Bá Lợi đã phát biểu “Anh biết mười chỉ để viết có một Chỉ có

những người thật sự giàu có vốn sống, am hiểu sâu, tường tận, ngồn ngộn điềumình đang viết mới viết được như vậy” Phạm Phú Phong nhận định tác phẩm “làmột bước tiến khá xa so với truyện ngắn, thoát khỏi lối viết bản năng do nhu cầuđòi hỏi của cuộc sống và chiến đấu, ngòi bút được triển khai một cách điềm tĩnh,thận trọng, thể hiện phong độ của nhà tiểu thuyết tương lai” [114] Phan Ngọc Thu

cho rằng với Hai người trở lại trung đoàn, “dòng chảy văn học viết về chiến tranh ở

nước ta, sau 1975, đã không còn xuôi chiều như trước Bằng cảm quan của ngườinghệ sĩ từng lăn lộn ở chiến trường, bằng vốn sống trực tiếp và thông qua sự sànglọc của ký ức, Thái Bá Lợi đã hướng ngòi bút của mình về phía biểu hiện cuộcchiến đã qua với cái nhìn nghiêm cẩn hơn, nhiều phía hơn” [144] Ngô Vĩnh Bìnhkhi đánh giá vai trò tiên phong của các nhà văn quân đội trong việc nhận thức lại

cách nhìn và đổi mới cách viết đã dẫn Hai người trở lại trung đoàn với tư cách là

truyện ngắn đầu tiên sau năm 1975 “viết khác trước” [21] Giáo trình lịch sử văn

học của các trường đại học đều coi Hai người trở lại trung đoàn là một trong những

tác phẩm đầu tiên đánh dấu thành tựu của truyện ngắn nói riêng, văn xuôi nói chungsau năm 1975

Sự xuất hiện các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu vào những năm đầuthập niên 80 của thế kỷ XX đã tạo nên những cuộc thảo luận sôi nổi trên văn đàn

Năm 1985, trên hai số báo 27 và 28, phóng viên Văn nghệ đã tổng thuật lại cuộc

Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu với nhiều ý

kiến đa dạng, thậm chí trái chiều nhau của giới phê bình và các nhà văn Bức tranh,

Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, Chiếc thuyền ngoài xa,

Trang 31

Bến quê, Mùa trái cóc ở miền Nam, Cỏ lau, Phiên chợ Giát là những tác phẩm tạo

được sự chú ý hơn cả với rất nhiều bài viết bàn luận trên các báo và tạp chí Cáctruyện ngắn của ông khi được dịch và giới thiệu ở nước ngoài bằng tiếng Nga,tiếng Pháp cũng đã được công chúng và giới phê bình quan tâm, phân tích trênnhiều bình diện Cho đến nay, những sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châugiai đoạn này về cơ bản đã được thống nhất đánh giá là những minh chứng tiêubiểu, thuyết phục đầu tiên cho sự vận động của văn xuôi nói chung, văn học nóiriêng sau 1975 trên tinh thần dân chủ hóa và đổi mới

Vào cuối thập niên tám mươi và trong suốt thập niên chín mươi của thế kỷ

XX, các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng đã làm nóng văn đàn, tạo nênnhững luồng sóng dư luận mạnh mẽ và phức tạp, trong đó sức nóng và sức hút đặc

biệt là từ các truyện Tướng về hưu, Chút thoáng Xuân Hương, Vàng lửa, Phẩm tiết,

Kiếm sắc, Nguyễn Thị Lộ Một số vấn đề nổi bật được các nhà nghiên cứu trong và

ngoài nước bàn đến trong các truyện ngắn này là cái nhìn đối với con người và hiệnthực, mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu, mối quan hệ giữa “tâm và tài”, “tài vàtật” Đến những năm gần đây, các truyện vừa nêu và hầu hết truyện ngắn củaNguyễn Huy Thiệp lại thường được quan tâm trên phương diện hình thức thể loại,với những vấn đề cụ thể như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, và ảnh hưởng của chủnghĩa hậu hiện đại

Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh công bố cuối năm 1989 cũng là một

truyện ngắn gây chú ý Tác phẩm được đánh giá không chỉ là câu chuyện về chàngtrai và cô gái, với mối thù hai dòng họ trên vai và tình yêu trong tim, cùng dắt taynhau bước qua lời nguyền, mà còn là sự tái hiện bức tranh toàn cảnh nông thôn ViệtNam những năm 1950 - 1970, phản ánh khuynh hướng nhận thức lại thực tại trongvăn xuôi đương thời Theo Dương Phương Vinh, nhà thơ Trần Đăng Khoa từng

đánh giá: “Nếu tính 50 truyện ngắn hay nhất Việt Nam, phải có Bước qua lời

nguyền, cần chọn ra 20 truyện, 10 truyện hay nhất vẫn phải có; và thậm chí nếu chỉ

được phép chọn 5 truyện đặc sắc nhất, không thể thoát Bước qua lời nguyền” Nhà

Trang 32

nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến mượn tên truyện này để khái quát: “Có một dòng vănhọc bước qua lời nguyền” [163].

Một số tập truyện ngắn mà sự ra đời của nó có thể kể như một hiện tượngcủa nền văn học, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng và các nhà báo, nhà phê

bình, đó là Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu,

Truyện ngắn 8X của 18 tác giả sinh trong những năm 80 của thế kỷ XX Tập truyện

ngắn Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê ra đời cuối năm 2012 cũng đã gây nên

một ấn tượng sâu đậm đối với những người quan tâm đến văn chương nước nhà

Trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành xuất bản, pháthành sách, thị trường sách ngày càng sôi động trong khi văn hóa đọc ngày càngphải cạnh tranh khốc liệt với các loại hình truyền thông, giải trí khác, thì những bàiviết xoay quanh các tác phẩm văn học cụ thể đã tạo nên được những điểm nhấnnhất định giúp các tác phẩm đến gần hơn với công chúng, tạo ra được những cuộcthảo luận về văn học Tuy nhiên, bên cạnh những bài viết công phu, soi rọi tác phẩm

từ nhiều góc độ một cách chuyên sâu, thì đa phần những bài viết về các truyện ngắnhoặc tập truyện ngắn cụ thể thường nghiêng về khen chê mang tính chủ quan, hoặcchỉ tiếp cận tác phẩm từ một góc độ nào đó nên không tránh khỏi phiến diện Hơnnữa, đa phần các bài viết này thường được đăng tải trên báo chí hoặc mạngInternet, đáp ứng được tính thời sự, thức thời, song lại khó đạt đến sự bền lâu

Bốn mảng vấn đề, bốn nhóm công trình nghiên cứu về truyện ngắn mà chúngtôi phân chia để mô tả ở trên chỉ mang tính chất tương đối Thực tế có những côngtrình vừa thuộc nhóm này lại vừa thuộc nhóm kia Mặt khác, đây cũng chỉ là bốnnhóm cơ bản nhất, quan trọng nhất, chiếm số lượng lớn và đề cập đến những vấn đềcốt yếu nhất, chưa phải tất cả các nghiên cứu về truyện ngắn đương đại Với nhữngquan sát của mình, chúng tôi tạm đi đến một số nhận định khái quát về lịch sử vấn

đề nghiên cứu như sau:

Trang 33

Thứ nhất, những vấn đề cơ bản trong lý luận về truyện ngắn đã bước đầuđược một số nhà nghiên cứu đặt ra và giải quyết, song để có một bộ khung lý luậnphong phú và chi tiết hơn thì vẫn cần những nỗ lực lớn để bổ sung và hoàn thiện.

Thứ hai, thành tựu của truyện ngắn Việt Nam sau 1975, những xu hướngchính, những chặng đường vận động và phát triển, những tác giả tiêu biểu đã đượcnhìn nhận, đánh giá tương đối thống nhất Nhiều vấn đề cụ thể trong sự phát triểncủa thể loại đã được bàn luận, phân tích khá kỹ lưỡng từ nhiều góc độ khác nhau,đặc biệt là những tác giả, tác phẩm tạo được ấn tượng mạnh đối với công chúng vàgiới phê bình

Thứ ba, số lượng các bài viết về truyện ngắn sau 1975 khá lớn và phong phú,song ít những công trình dài hơi, quy mô lớn và có hệ thống Các công trình đi vàonhững vấn đề cụ thể chiếm số lượng lớn hơn là những công trình tổng quan, kháiquát về truyện ngắn giai đoạn này

Thứ tư, các công trình nghiên cứu những vấn đề chung của truyện ngắn sau

1975 thường tập trung sự quan tâm vào truyện ngắn theo từng chặng: từ 1975 đến

1995 hoặc từ 1986 đến nay Do đó, cần thiết phải có những công trình tổng quan vềtruyện ngắn từ 1975 đến nay

Thứ năm, trong sự phong phú, đa dạng của các hướng tiếp cận, các phươngpháp nghiên cứu, vẫn còn những hứa hẹn cho hướng tiếp cận truyện ngắn Việt Namsau 1975 từ góc độ thể loại, để mô hình hóa, hệ thống hóa các xu hướng vận động

cơ bản của truyện ngắn trên phương diện thể loại, trong sự tương tác qua lại với cácthể loại khác của nền văn học, trong một thời đại khác với các giai đoạn trước, từ

đó phân tích những đặc điểm nổi bật của các dạng thức truyện ngắn về mặt tìnhhuống, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ - những nhân tố quan trọng nhất làm nên diệnmạo của thể loại

Và đó chính là những nhiệm vụ mà chúng tôi xác định sẽ thực hiện trongluận án này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đã được xác lập, và nhucầu nhận thức đối tượng trong cả tính toàn vẹn và sự chuyển động, trong cả những

Trang 34

nguyên tắc nội tại và sự vận động theo những quy luật chung của quỹ đạo văn học

mà nó tham dự và cấu thành

1.2 CÁC KIỂU TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, việc phân chia và định danh một số kiểuloại truyện ngắn Việt Nam đã được thực hiện trong một số công trình nghiên cứu vềthể loại này Tuy nhiên, việc phân chia này thường không dựa trên một hệ quy chiếuthống nhất nên dẫn đến tình trạng chồng chéo giữa các kiểu truyện ngay trong mộtcông trình, một chủ thể phân chia

Từ những góc nhìn, những cách tiếp cận khác nhau, chúng ta có thể có nhiềuphương án phân chia các kiểu (type) truyện ngắn Việt Nam đương đại Nếu xét từnội dung phản ánh, có thể kể đến truyện ngắn về đề tài chiến tranh, truyện ngắn về

đề tài lịch sử, truyện ngắn thế sự Nếu xét trên những yếu tố cấu thành tác phẩm, cóthể bàn về truyện ngắn giả cổ tích, truyện ngắn kỳ ảo, kinh dị, truyện ngắn dòng ýthức Nếu căn cứ vào tính chất và mục đích tự sự, có thể kể đến truyện ngắn tâm lý,truyện ngắn luận đề (triết luận) Nếu dựa trên độ dài văn bản, ta có truyện ngắn,truyện vừa, truyện cực ngắn (truyện mi ni), v.v Dĩ nhiên, mỗi phương án đem đếnmột hướng nhận thức khác nhau về đối tượng, giúp người nghiên cứu, từ góc nhìn

và phương pháp của mình, đi sâu tìm hiểu các nhóm, các xu hướng phát triển củatruyện ngắn đương đại một cách chuyên biệt, song sẽ không có phương án nào khả

dĩ bao quát toàn bộ thực tế vận động đa dạng và phong phú của đối tượng

Luận án của chúng tôi tiếp cận truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 từ góc

độ thể loại Từ thực tế quan sát, chúng tôi nhận thấy trong văn xuôi đương đại ViệtNam, các thể loại đang vận động một cách mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt, có sựảnh hưởng, xâm nhập lẫn nhau, và trong nhiều trường hợp đã phá vỡ khung lýthuyết truyền thống về từng thể loại Truyện ngắn vừa có những đặc điểm khu biệt,vừa gần gũi với các thể loại tự sự khác Bên cạnh đó, dù về lý thuyết, phương thứctái hiện hiện thực của truyện ngắn là tự sự, nhưng trong thực tế phát triển, truyệnngắn lại có những phẩm chất rất gần với thơ Điều đó là hết sức bình thường, bởi

Trang 35

mỗi thể loại luôn luôn tồn tại trong quan hệ biện chứng với các thể loại khác; hơn nữa,dựa trên một cái khung chung, mỗi nhà văn lại có cách vận dụng, ứng xử, biến hóariêng của mình đối với thể loại Vì thế, bên cạnh những truyện ngắn cổ điển (theo nghĩatuân theo những tiêu chí, những chuẩn mực lý luận mang tính truyền thống về truyệnngắn), thì trong một số lượng không nhỏ truyện ngắn khác, sự xâm nhập, thẩm thấucủa các thể loại khác vào tác phẩm là một hiện tượng khá rõ nét Nhiều truyện ngắnđược viết với cảm hứng và cấu trúc bay bổng, trữ tình, giàu chất thơ Có những truyệntái hiện hiện thực với dung lượng khá lớn lao, bề bộn, thể hiện cả quá trình và cuộc đờinhân vật, có xu hướng vươn tới tính chất đa thanh của tiểu thuyết Nhiều truyện lại có

xu hướng tự do và giàu giá trị thông tin, tri thức về văn hóa, lịch sử, địa lí… như lànhững bút ký Bên cạnh đó, tính nhất quán về thời gian, không gian, hành động vànhững xung đột gay gắt trong nhiều truyện cũng khiến người đọc có cảm giác nhưđang chứng kiến một vở kịch Điều đó chứng minh nghệ thuật bao giờ cũng sinh động,uyển chuyển hơn lý luận, và sự vận động đi ra ngoài, thậm chí phá vỡ các công thức,chính là khởi phát cho những sáng tạo không ngừng nghỉ của các nghệ sĩ để ngườinghiên cứu tiếp tục tìm hiểu, tổng kết, bởi lẽ “Văn bản nghệ thuật không bao giờ thuộc

về chỉ một hệ thống hoặc một khuynh hướng đơn nhất nào đó: tính quy luật và sự bănghoại của nó, sự hình thức hóa, và trong chung cục – là sự tự động hóa và giải tự độnghóa cấu trúc của văn bản thường xuyên đấu tranh lẫn nhau” [90, tr.182] Nó cũng phảnánh sự phát triển hết sức đa dạng, cởi mở, và dân chủ của truyện ngắn nói riêng, vănhọc nói chung trong thời đương đại Xuất phát từ thực tế trên, từ góc độ thể loại, chúngtôi nhận thấy truyện ngắn Việt Nam sau 1975, một cách tương đối, có thể phân chiathành các kiểu loại cơ bản sau đây: truyện ngắn truyền thống, truyện ngắn trữ tình,truyện ngắn mang tư duy tiểu thuyết, truyện ngắn – kịch, truyện – ký và truyện cựcngắn Các kiểu loại trên thực chất cho thấy truyện ngắn đương đại vận động theo haikhuynh hướng: sự tiếp tục các khuynh hướng đã có từ trước năm 1975 (truyện ngắntruyền thống, truyện ngắn trữ tình, truyện – ký) và sự kiếm tìm, xác lập những khuynhhướng đương đại (truyện ngắn mang tư duy tiểu thuyết, truyện ngắn – kịch và truyệncực

Trang 36

ngắn) Việc phân chia này có liên quan chặt chẽ đến những phân tích của chúng tôitrong các chương tiếp theo về tình huống, kết cấu, nhân vật và ngôn ngữ của truyệnngắn Việt Nam giai đoạn này.

1.2.1 Các kiểu truyện tiếp tục những khuynh hướng vận động trước năm 1975

Cho đến năm 1975, trong văn học Việt Nam, bên cạnh những truyện ngắn cótính chất mẫu mực, cổ điển (classic), cũng đã tồn tại những kiểu truyện thể hiện sựvận động uyển chuyển của thể loại này Đó là truyện ngắn trữ tình và truyện – ký.Truyện ngắn trữ tình xuất hiện từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 với tác phẩmcủa Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh… và trong giai đoạn kháng chiến đã phát

triển mạnh mẽ Tác giả của chuyên luận Truyện ngắn hiện đại Việt Nam 1945 –

1975 nhận thấy trong văn học 1945 – 1954, cảm hứng lãng mạn đã mở đường cho

sự phát triển của hình thức truyện ngắn trữ tình, và hình thức này nở rộ vào các năm

1955 – 1964 Cũng từ những năm sau Cách mạng tháng Tám 1945, với quan niệmhiện thực thời đại tự nó đã là nghệ thuật và “sống đã rồi hãy viết”, trong nền vănhọc diễn ra “khuynh hướng truyện ngắn bị ký hóa và vị trí ưu trội của thể “già” ký

“non” truyện” [146, tr.99] Những truyện ở hình thức này đã cho thấy khả năng ápsát của thể loại tự sự cỡ nhỏ với tình hình thời sự nóng bỏng của đất nước Có thểnói truyện ngắn truyền thống, truyện ngắn trữ tình và truyện – ký là những kiểutruyện đã tương đối định hình trong văn học trước năm 1975 Bước sang thời kỳhậu chiến và đổi mới, các kiểu truyện này vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển, vàđạt được nhiều thành tựu mới, cho thấy sức sống và tính kế thừa của chúng trongvăn học đương đại

Trước hết là Truyện ngắn truyền thống Kiểu truyện này đảm bảo những

tiêu chí lý thuyết cổ điển, mẫu mực của thể loại Những truyện ngắn thuộc khuynhhướng này thường có dung lượng ngắn, tái hiện hiện thực trong một thời gian vàkhông gian hạn chế, chú trọng biểu hiện một tình huống đặc biệt, một lát cắt quantrọng trong cuộc đời để làm nổi bật hành động, tính cách, số phận nhân vật, tính hấpdẫn của cốt truyện được đề cao và các thành phần cơ bản của cốt truyện (trình bày,

Trang 37

thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút) đều được đảm bảo Khuynh hướng truyềnthống tuy không mới nhưng cũng chưa bao giờ cũ đối với tất cả các cây bút truyệnngắn Khuynh hướng này không phải là lựa chọn hàng đầu để trổ tài những lối kếtcấu phức tạp, những thao tác kỹ thuật cầu kỳ hoa mỹ, nhưng tính chất cổ điển, mẫumực về thể loại của nó luôn có sức hấp dẫn các nhà văn bởi chính trong cái bề mặttưởng như giản đơn ấy, nét đặc sắc trong nghệ thuật tạo tình huống, cái duyên củaviệc kể chuyện và sức sống của những chi tiết nghệ thuật đặc biệt sẽ lôi cuốn ngườiđọc, và tài năng của tác giả được khẳng định Hầu hết các nhà văn khi viết truyện

ngắn đều có những tác phẩm ở kiểu truyện này Những truyện như Chiếc thuyền

ngoài xa, Đứa ăn cắp, Hương và Phai, Một lần đối chứng, Dấu vết nghề nghiệp của

Nguyễn Minh Châu; Một người Hà Nội, Luật trời của Nguyễn Khải; Nợ đời của Ma Văn Kháng; Tướng về hưu, Những người thợ xẻ, Những bài học nông thôn của

Nguyễn Huy Thiệp… là những truyện ngắn truyền thống tiêu biểu

Với kiểu Truyện ngắn trữ tình, tác giả không chú trọng xây dựng một cốt

truyện đặc sắc mà hướng đến biểu hiện dòng chảy tâm lý của nhân vật, vì thế cáctruyện thuộc khuynh hướng này còn được gọi là truyện không có cốt truyện hoặctruyện ngắn có cốt truyện tâm lý hoặc truyện ngắn tâm tình Truyện được viết vớicảm hứng tự do, phóng khoáng, với những liên tưởng bất chợt, phi logic Trữ tình –phương thức tái hiện hiện thực thường được vận dụng chủ yếu trong thơ ca – đượctác giả của loại truyện này sử dụng để biểu đạt tâm trạng, cảm xúc của nhân vậtthông qua hệ thống lời văn nghệ thuật tinh tế, nhiều miêu tả, gợi tả, liên tưởng, biểucảm, giàu hình ảnh, nhịp điệu, xuất hiện nhiều đoạn trữ tình ngoại đề Truyện ngắntrữ tình có cấu trúc lỏng lẻo, kết cấu tuân theo quy luật tâm lý, ngôn ngữ đậm chấtthơ Ở nhiều truyện, tác giả còn đan xen thơ vào cấu trúc văn bản nghệ thuật

Loại truyện này được các nhà văn Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long, NguyễnQuang Thiều tiếp tục phát triển; và gần đây có thể kể đến truyện ngắn trữ tình củamột loạt các nhà văn nữ Với Nguyễn Huy Thiệp, người đọc còn nhớ đến nhiều

truyện có đan xen những bài thơ, bài ca vào bề mặt văn bản như Nguyễn Thị Lộ,

Trang 38

Trương Chi, Thiên văn, Thương nhớ đồng quê, Mưa Nhã Nam, Thương cả cho đời bạc, Không khóc ở California…

Cũng là một thể loại tự sự nhưng điểm khác biệt của ký so với truyện ngắn

và tiểu thuyết là ký tôn trọng tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánhtrong tác phẩm Sự việc và con người trong ký phải là người thật việc thật, mangtính cá biệt để phản ánh đời sống một cách sinh động, chân xác Nhiều truyện ngắn,tuy thực chất vẫn là một hư cấu nghệ thuật, song do cách tác giả gọi tên sự việc vàcon người một cách cụ thể, với những địa chỉ, mốc thời gian xác định nên ngườiđọc có cảm tưởng đó là câu chuyện về người thật việc thật Ngoài ra, lối viết giàuliên tưởng cùng với sự phong phú những thông tin, tri thức về văn hóa, lịch sử cũngkhiến tác phẩm mang bóng dáng của một bài ký Chúng tôi tạm gọi loại truyện này

là Truyện – ký với nghĩa truyện ngắn có sự giao thoa một số đặc điểm của thể ký.

Trong các tập truyện của Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Tư, ởnhiều truyện, người đọc cảm nhận được dư vị của thể ký trong những trang viếtthấm đẫm cảm thức văn hóa về vùng đất mà các nhân vật sinh sống, nghĩ suy, yêuthương, đau khổ Truyện của Dili mang hơi hướng của những ghi chép báo chí vớicách đặt vấn đề và những bình luận dí dỏm, sắc sảo…

1.2.2 Các kiểu truyện mang khuynh hướng đương đại

Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất và bước vào một giai đoạn lịch sửmới, hiện thực đời sống sau năm 1975 đã đặt con người trước những yêu cầu mới

về tư duy, cảm xúc và lối sống Các thể loại văn học cũng không ngừng tìm kiếm,xác lập những hình thức, khuynh hướng vận động phù hợp với cách nghĩ, cách sốngcủa con người thời đại Hướng tới thể hiện quá trình chuyển biến của thời cuộc vànhững đổi thay lớn lao trong tư duy, nhận thức của các nhân vật, một số tác giả đãcho ra đời những truyện ngắn mang tư duy tiểu thuyết Khi đời sống xã hội bộc lộmột số xung đột giữa cái mới và cái cũ, giữa nhu cầu đổi mới và thói quen tư duybảo thủ, lạc hậu, giữa nhu cầu, khát vọng và những ràng buộc của hoàn cảnh, giữahình thức bên ngoài và bản chất bên trong, hoặc những mâu thuẫn về thế hệ, về lối

Trang 39

sống…, nhiều truyện ngắn chứa đựng xung đột căng thẳng như những vở kịch đãxuất hiện Bên cạnh đó, khi các loại hình truyền thông hiện đại và mạng Internetphát triển mạnh và cuộc sống của con người đương đại ngày càng bận rộn, thìtruyện cực ngắn cũng là một kiểu truyện phát triển, đáp ứng nhu cầu về văn hóa đọctrong bối cảnh hạn hẹp về thời gian của độc giả Đó là những kiểu truyện cho thấyquá trình tìm tòi và xác lập những khuynh hướng đương đại của thể loại này trongvăn học Việt Nam sau 1975.

Xét trên góc độ lý thuyết, truyện ngắn và tiểu thuyết là hai thể loại cơ bản của

hư cấu văn xuôi và giữa chúng có sự phân biệt trên một số phương diện cơ bản: Về độdài, truyện ngắn thường được viết từ vài đến vài chục trang giấy trong khi tiểu thuyếtthường từ vài trăm đến hàng nghìn trang; truyện ngắn chú trọng sự cô đọng, súc tíchtrong khi tiểu thuyết có thể dàn trải; truyện ngắn khai thác một thời điểm, một khoảnhkhắc trong khi tiểu thuyết diễn tả một quá trình; truyện ngắn thường xây dựng ít nhânvật hơn, và câu chuyện thường diễn ra trong bối cảnh nhỏ hẹp hơn trong khi tiểu thuyếtthường tái hiện hiện thực ở quy mô rộng lớn hơn; truyện ngắn tạo ra một hiệu quả nhậnthức nào đó trong khi tiểu thuyết hướng đến nhiều hiệu lực Nhà nghiên cứu người

Pháp Daniel Grojnowski – tác giả cuốn Đọc truyện ngắn - từng viết “Truyện ngắn cô

lại điều mà tiểu thuyết có thể dùng làm chất liệu cho mình” [48, tr.96], ông cũng dẫn lại

nhận định của Paul Bourget trong Khảo cứu và chân dung để phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết: “Cách thức của một thể loại này với một thể loại kia là rất khác nhau Với

truyện ngắn đó là tình tiết, với tiểu thuyết, đó là phần tiếp theo của tình tiết Truyệnngắn nếu có dự định miêu tả tình tiết này, thì phải cách ly nó, rời khỏi nó Cũng vớinhững tình tiết này mà phần tiếp theo của nó làm thành đối tượng của tiểu thuyết, thìtiểu thuyết phải gắn kết chúng Tiểu thuyết vận hành bằng sự phát triển, truyện ngắn thìrút gọn lại Truyện ngắn là một khúc solo, còn tiểu thuyết lại là một bản giao hưởng”[48, tr.17] Tuy nhiên, trong thực tế phát triển của văn học, ở đây cụ thể là trong vănhọc Việt Nam đương đại, sự khác biệt giữa hai thể loại này không phải lúc nào cũng rõrệt như vậy Từ sau năm 1975, nếu như trong thể loại tự sự cỡ lớn, người đọc chứng

Trang 40

kiến sự xuất hiện một loạt tiểu thuyết được viết theo “xu hướng ngắn, thu hẹp bềngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa nghĩa”[2], thì nhiều truyện ngắn lại nỗ lực mở rộng biên độ và quy mô phản ánh hiện thực,không chỉ tái hiện những khoảnh khắc mà còn tái hiện những cuộc đời, những quátrình, phát hiện và giải quyết những vấn đề của cộng đồng, của lịch sử thông qua sốphận những cá nhân; nhân vật được xây dựng trong chiều dài của thời gian, chiềurộng của không gian và có quá trình phát triển tính cách; gia tăng tính đối thoại củatác phẩm đối với những xác tín về hiện thực Dĩ nhiên, tính cô đọng, hàm súc vẫnđược các tác phẩm này đề cao, vì thế mà chúng chưa trở thành những tiểu thuyết

thực thụ Có thể hình dung những tác phẩm này là những Truyện ngắn mang tư

duy tiểu thuyết Ở một số truyện, tư duy tiểu thuyết được thể hiện trong độ dài

nhiều chục trang, thậm chí gần một trăm trang, và thường được gọi là truyện vừa;song cũng có những truyện, sức nặng ngang tầm một cuốn tiểu thuyết được gói gọn

trong độ dài rất khiêm tốn như một truyện ngắn thông thường Người đàn bà trên

chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Khách ở quê ra, Mùa trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Vàng lửa, Phẩm tiết, Giọt máu của Nguyễn Huy

Thiệp, Bước qua lời nguyền, Vòng trầm luân trần gian, Luân hồi của Tạ Duy Anh,

Luật trời của Nguyễn Khải, Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ của Võ Thị

Hảo, Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị Thu Huệ, Bóng đè, Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Xe Camry ba chấm, Đồ cũ,

Nhiệt đới gió mùa… của Lê Minh Khuê là những tác phẩm tiêu biểu của khuynh

hướng này

Một kiểu truyện đáng chú ý là Truyện ngắn – kịch Kiểu truyện này thường

có một cốt truyện điển hình được kết cấu theo chiều tuyến tính, chứa đựng nhữngxung đột căng thẳng, gay gắt, hành động của nhân vật mang tính ước lệ, tượngtrưng; nhịp điệu kể chuyện nhanh; ngữ pháp câu văn chặt chẽ, nhiều câu ngắn Kịchtính được xây dựng trong truyện ngắn để biểu thị những mâu thuẫn, xung đột căngthẳng về mặt xã hội hoặc tâm lý khi các nhân vật trải qua những giai đoạn gay cấncủa cuộc đời mà ở đó có sự giằng co, tranh đấu giữa các mặt đối lập giữa tính cách

Ngày đăng: 17/10/2020, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. An-đrê-mốp (1963), Hình tượng nghệ thuật, NXB Văn hóa Nghệthuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng nghệ thuật
Tác giả: An-đrê-mốp
Nhà XB: NXB Văn hóa Nghệthuật
Năm: 1963
2. Tạ Duy Anh (1999), “Tiểu thuyết - cái nhìn cuối thế kỷ”, Báo Vănhóa (18), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết - cái nhìn cuối thế kỷ”, "BáoVăn"hóa
Tác giả: Tạ Duy Anh
Năm: 1999
3. Tạ Duy Anh (chủ biên) (2000), Nghệ thuật truyện ngắn và ký, NXBThanh niên. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật truyện ngắn và ký
Tác giả: Tạ Duy Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXBThanh niên. Hà Nội
Năm: 2000
4. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Vănhọc (4), tr.14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Tạpchí Văn"học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
5. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phươngdiện thể loại”, Tạp chí Văn học (9), tr.28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phươngdiện thể loại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
6. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩmđịnh, NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thứcvà thẩm"định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội
Năm: 2001
7. Antônov (1956), Viết truyện ngắn, Bùi Hiển dịch, NXB Văn nghệ, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết truyện ngắn
Tác giả: Antônov
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 1956
8. Lại Nguyên Ân (1987), “Thử tìm hiểu loại hình các mô típ chủ đề trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Văn học (6), tr.3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu loại hình các mô típ chủ đề trong văn học Việt Nam hiện đại”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
9. Lại Nguyên Ân (1987), “Sáng tác truyện ngắn gần đây”, Tạp chí Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác truyện ngắn gần đây”
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w