Những điều này đã gópphần tích cực xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước trở thành lực lượng chủđạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, là lực lượng vật chất quan trọng và làmột công c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LEE KANG WOO
Quá trình Đổi mới Doanh nghiệp nhà nước
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2002
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LEE KANG WOO
Quá trình đổi mới Doanh nghiệp nhà nước
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lee Kang Woo
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ
Mục lục
Bảng viết chữ tắt
Danh mục các bảng
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
2 Lịch sử vấn đề
3 Các nguồn tài liệu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Nhiệm vụ và đóng góp của luận án
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Bố cục luận án
Chương 1 : Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam
1.1 Lý luận và nhận thức về nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Về quan hệ của nhà nước và thị trường
1.1.1.1 Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường theo cách tiếp cận lịch sử kinh tế
1.1.1.2 Về sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường
1.1.2 Về khu vực DNNN
Trang 51.1.2.1 Khái niệm về DNNN 20
1.1.2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của DNNN 23
1.1.2.3 Về đặc trưng của DNNN 25
1.1.2.4 Về tiến trình cải cách của DNNN 26
1.2 DNNN trước Đổi Mới ở Việt Nam - quá trình hình thành, phát triển, thành quả và hạn chế 27
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của DNNN trước Đổi Mới 28
1.2.1.1 Giai đoạn 1945-1954 29
1.2.1.2 Giai đoạn 1955-1975 31
1.2.1.3 Giai đoạn 1976-1985 34
1.2.2 Những thành quả và yếu kém của khu vực DNNN 36
1.2.2.1 Những thành quả và ý nghĩa 36
1.2.2.2 Những yếu kém và nguyên nhân 37
1.2.3 Những cuộc cải tiến DNNN trước Đổi Mới 41
Chương 2 : Đổi mới DNNN 1986-2000 45
2.1 Đổi Mới tư duy về DNNN 45
2.2 Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới DNNN 48
2.3 Quá trình đổi mới DNNN 1986-2000 52
2.3.1 Giai đoạn 1986-1990 53
2.3.2 Giai đoạn 1990-2000 57
2.4 Những đặc trưng và nội dung cụ thể của các giải pháp cải cách DNNN 71
2.4.1 Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với DNNN 71
2.4.1.1 Tăng cường quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của DNNN 71
2.4.1.2 Đổi Mới cơ cấu tổ chức quản lý DNNN 72
Trang 62.4.2.1 Những giải pháp cụ thể 77
2.4.2.2 Đánh giá 78
2.4.3 Thành lập các TCT NN 80
2.4.3.1 Tính tất yếu của sự hình thành các TĐKD với quy mô sản xuất kinh doanh khổng lồ 80
2.4.3.2 Sự hình thành của TCT NN ở Việt Nam 81
2.4.3.3 Hệ thống tổ chức và hoạt động của TCT NN 86
2.4.3.4 Đánh giá 90
2.4.4 Cổ phần hoá DNNN 92
2.4.4.1 Khái niệm và ý nghĩa của CPH DNNN 94
2.4.4.2 Phân loại DNNN và quy trình CPH 96
2.4.4.3 Đánh giá 97
2.4.5 Giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê DNNN 102
Chương 3 : Một số nhận xét - kiến nghị 105
3.1 Đổi mới DNNN là sự vận dụng hợp quy luật của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam 105
3.1.1 Đổi mới DNNN là nhu cầu tất yếu 105
3.1.2 Quá trình đổi mới DNNN là sự vận dụng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan 105
3.2 Đổi mới DNNN ở Việt Nam là một quá trình tiến hành từng bước, thận trọng; giải quyết các vấn đề kinh tế kết hợp với các vấn đề xã hội 108
3.3 Đổi mới DNNN ở Việt Nam đã có những thành công nhất định nhưng cũng còn những hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới 111
3.3.1 Thành quả 112
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 114
Trang 73.3.2.1 Những hạn chế, yếu kém 114
3.3.2.2 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém 122
3.4 Một số kiến nghị 126
3.4.1 Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách 128
3.4.2 Đổi mới TCT NN 135
3.4.3 Thúc đẩy CPH DNNN 140
Kết luận 144
Danh mục công trình của tác giả 151
Tài liệu tham khảo 152
Phụ lục 159
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CTĐTTCNN Công ty đầu tư tài chính nhà nước
DN Doanh nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tỷ trọng tổng sản phẩm xã hội của khu vực DNNN
Bảng 2: Cơ cấu theo cấp quản lý và theo nhóm ngành hệ thống DNNN
giai đoạn 1960-1975
Bảng 3: Một số chỉ tiêu về DNNN giai đoạn 1976-1986
Bảng 4: Tình hình thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê DNNN
Bảng 5: Tình hình lạm phát và lãi suất tín dụng
Bảng 6: Nhu cầu vốn đầu tƣ ở một số TCT 91
Bảng 7: Mô hình tổ chức tổng quát của các TCT
Bảng 8: Quy trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần
Bảng 9: Cơ chế kiểm soát DNNN Việt nam theo luật và các qui định
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Nhiều nhà khoa học kinh tế-xã hội xác định xã hội hiện đại là xã hội tri thức hoặc kinh tế tri thức Trong quá khứ, người ta thường coi những thứ như : vốn đầu tư, sức lao động, thiết bị máy móc là phương tiện sản xuất quan trọng Nhưng trong xã hội hiện đại, chất lượng lao động, phẩm chất lãnh đạo, khả năng kinh doanh, bố trí, điều hành những phương tiện sản xuất được coi là nhân tố có giá trị hơn Và như vậy những yếu tố cần thiết để tạo nên cơ chế có hiệu quả cao là tri thức, thông tin Trong xã hội hiện đại, giá cả các phương tiện khác tăng lên và giá cả thông tin, tri thức thì giảm xuống nhờ có sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật như máy vi tính, internet.
Có thể nói, công cuộc Đổi Mới kinh tế ở Việt Nam là một bước chuẩn bịtất yếu để đi lối xây dựng kinh tế tri thức tại Việt Nam Công cuộc Đổi Mớiđược tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên định đi theo conđường XHCN, kiên trì giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong toàn bộnền kinh tế quốc dân và vai trò chủ thể hoặc cơ sở của kinh tế công hữu Đồngthời, Việt Nam xoá bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung và mô hình quốchữu hoá toàn bộ, tích cực hoàn thiện cơ chế kinh doanh của DNNN, điều chỉnhviệc sắp xếp và kết cấu tài sản nhà nước và DNNN Những điều này đã gópphần tích cực xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước trở thành lực lượng chủđạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, là lực lượng vật chất quan trọng và làmột công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân.Tuy nhiên, việc cải cách DNNN mới chỉ thu được kết quả bước đầu, bên cạnhnhững thành tựu đạt được, khu vực DNNN vẫn còn nhiều mặt yếu kém Tiếntrình sắp xếp lại DNNN; cổ phần hoá; sáp nhập, giải thể, bán, khoán, cho thuê
Trang 11một số DNNN đang hết sức khó khăn và chậm lại do chưa xử lý được công nợ, lao động dôi dư và tâm lý xã hội v.v
Chủ thể trực tiếp của nền sản xuất trong xã hội là DN và dưới thể chếXHCN như Việt Nam hiện nay, DNNN là chủ thể chủ yếu của nền kinh tế Vìvậy sức cạnh tranh của DNNN là sức cạnh tranh của nước Việt Nam Trong thế
kỷ 21, DNNN phải tiếp tục củng cố và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để xứng vớicương vị đầu tàu của nền kinh tế quốc dân Việt Nam Đặc biệt, tháng 7 năm
2000 Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại với Mỹ và tháng 12 năm 2001,hiệp định đã bắt đầu có hiệu lực Đây là một cơ hội và đồng thời là thách thứclớn đối với các DNNN Việt Nam trong sự đương đầu với những DN của cácnước tiên tiến trên thế giới trên trường quốc tế đầy sự cạnh tranh gay gắt
Nay, cải cách DNNN là con đường có tính tất yếu và có ý nghĩa quyếtđịnh đối với sự nghiệp Đổi Mới nền kinh tế Việt Nam từ một nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Hy vọngviệc nghiên cứu, tổng kết bước đầu quá trình cải cách DNNN, rút ra những bàihọc kinh nghiệm, làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cải cách DNNN, sẽ gópmột phần cho việc hiểu biết rõ và hoạch định chính sách có hiệu quả trong quátrình cải cách DNNN ở Việt Nam
Đó chính là tính cấp thiết của đề tài luận án, và cũng là lý do, để tôi-mộtnghiên cứu sinh nước ngoài, sau khi bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ về quátrình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, quyết định lựa chọn quá trình cải cách DNNN
ở Việt Nam làm luận án tiến sĩ
2. Lịch sử vấn đề
Từ khi loài người vượt qua thời kỳ mông muội đến nay biết bao nhiêunhà chính trị và nhà khoa học trăn trở nghiên cứu mưu cầu mang lại tự do vàhạnh phúc thật sự cho xã hội, quốc gia của mình và cho toàn nhân loại
Trang 12Sau cách mạng công nghiệp, nền sản xuất hàng loạt phát triển mạnh, vịthế và vai trò của xí nghiệp càng trở nên quan trọng Do vậy, nhiều nhà nghiêncứu các nước đã tập trung vào đề tài hoạt động và quản lý DN Ở Việt Nam, hệthống các xí nghiệp đã và đang trải qua quá trình chuyển đổi và cải cách DNNN
là một vấn đề hết sức quan trọng có thể quyết định tới vận mệnh của quốc gia.Nhiều nhà kinh tế Việt Nam và nước ngoài, nhiều nhà quản lý DN và hoạchđịnh chính sách kinh tế đã quan tâm nghiên cứu vấn đề DN để mang lại kết quảthiết thực
Các bài viết về DNNN Việt Nam thường được đăng tải trên “Thời báokinh tế”, tạp chí “Nghiên cứu kinh tế” hoặc trong các chuyên khảo về đổi mớikinh tế ở Việt Nam Đáng lưu ý là ý kiến của một số học giả sau đây :
Trong quyển sách “Đổi mới DNNN ở Việt Nam”(Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, 1997), viện sĩ Võ Đại Lược nghiên cứu bao quát từ sự hình thành vàphát triển các DNNN Việt Nam tới những giải pháp cụ thể để cải cách DNNNnhư hạch toán kinh doanh, đổi mới tài chính, sắp xếp và cổ phần hoá và ôngkết luận rằng: mục tiêu của công cuộc đổi mới DNNN ở Việt Nam là đảm bảokhu vực DNNN làm công cụ ổn định, điều tiết, định hướng sự phát triển kinh tế
- xã hội, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác với các chi phí thấp nhất chứkhông phải đặt hiệu quả kinh doanh đơn thuần của DNNN và mục tiêu tăng lợinhuận cao là số một
Ông Kwon Yul người Hàn Quốc, trong “Tình trạng và triển vọng của cảicách DNNN Việt Nam”(Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế đối ngoại,1997), nói Việt Nam cần phải chia thành DNNN thuộc về lĩnh vực công ích và
DN ngoài quốc doanh mưu cầu tính hiệu suất Cuối cùng, ông nói : để gặt háiđược lợi nhuận cao và đảm bảo môi trường đầu tư thuận lợi cho người nướcngoài, Chính phủ Việt Nam phải thực hiện tư nhân hoá DNNN
Trang 13Ông Tomoo Marukawa, Viện phát triển kinh tế Nhật Bản, trong báo cáo
“Vấn đề cải tổ các TCT và DNNN ở Việt Nam”(Hội thảo hợp tác Việt Nam Nhật Bản tại Hà Nội, ngày 8-9 tháng 12 năm 2000), nói TCT cần phải giải tán đểtạo ra cạnh tranh, hoặc phải xuất hiện các đối thủ cạnh tranh trên thị trường CácTCT có thể biểu lộ sức mạnh khi họ đối mặt với cạnh tranh khốc liệt với các đốithủ khác và khi cạnh tranh nội bộ đã được kiểm soát
-PGS.PTS Hoàng Công Thi, Nguyễn Thị Thanh Thảo, “Cải cách DNNN
ở Trung Quốc”(Nhà xuất bản Tài chính, 1999), nhận định rằng sở dĩ cải cáchDNNN ở Trung Quốc những năm qua chưa đạt được kết quả như mong muốn
là vì cải cách các DNNN do qúa thận trọng, ban đầu chưa kết hợp được đồng bộvới các cải cách khác như : cải cách thuế, cải cách tài chính, tiền tệ nên dẫnđến tình trạng cải cách DNNN luôn đi sau các cải cách khác, do đó, DNNN phảigánh chịu giá thành của các cải cách khác, tạo thành những khoản nợ lớn, nhữnggánh nặng xã hội khó có thể khắc phục Họ nêu lên cải cách DNNN ở Việt Namcần phải điều chỉnh nhịp độ cải cách và kết hợp đồng bộ với các cải cách vĩ môkhác
Những kết quả nghiên cứu trên tạo cơ sở để tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểuquá trình chuyển đổi của DNNN ở Việt Nam từ góc độ lịch sử kinh tế
3 Các nguồn tài liệu
Về tư liệu luận án, bởi vì công cuộc Đổi Mới nói chung, cải cách DNNNnói riêng đều được đề ra phương hướng và triển khai thực hiện do Đảng và Nhànước nên rất cần thiết hiểu biết đường lối và chủ trương Đảng Cộng sản và Chínhphủ Tôi tham khảo những văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX; nghị quyết,nghị định, quyết định, điều lệ, báo cáo của Đảng, Chính phủ, bộ, ngành, địaphương; tạp chí khoa học, báo chí; sách, luận văn do tác giả Việt Nam và nướcngoài, trong đó có Hàn Quốc Trong những tư liệu này, không ít tư liệu được Sứquán Hàn Quốc tại Việt Nam cung cấp, nhiều tư liệu được lưu giữ
Trang 14tại Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Cục lưu trữ Nhà nước, lưu trữ Trung ương Đảng, lưu trữ các tỉnh thành, bộ ngành
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình cải cách DNNN Phạm vinghiên cứu của luận án là khu vực DNNN ở Việt Nam, từ năm 1986 đến năm
2000 Nhưng để có cái nhìn toàn diện về những nội dung của đổi mới, cần phảixem xét tình hình trước đổi mới, bởi vì đổi mới là sửa chữa những sai sót trước
đó trên quan điểm kế thừa và phát triển chọn lọc kinh nghiệm trong nước vàquốc tế Đồng thời, tác giả cũng tham khảo những số liệu sau năm 2000 để phântích kết quả và định hướng cải cách DNNN
5. Nhiệm vụ và đóng góp của luận án
5.1 Trình bày hệ thống quá trình phát triển và đổi mới DNNN ở ViệtNam
5.2 Đánh giá những thành quả, hạn chế của quá trình cải cách DNNN5.3 Bước đầu rút ra một số nhận xét về quá trình đổi mới DNNN ở ViệtNam thông qua nhận thức của một nghiên cứu sinh người nước ngoài
Qua việc làm tròn những nhiệm vụ trên, luận án sẽ đóng góp như sau:
Về phương diện khoa học, ở thời điểm mà từ cuối thập kỷ 80, Liên Xô vàcác nước Đông Âu bị tan rã và đã chuyển sang kinh tế thị trường, cùng vớiTrung Quốc, Việt Nam đang triển khai thực hiện Đổi Mới kinh tế để xây dựngmột mô hình kinh tế mới mẻ là kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Như trọng tâm của Đổi Mới, việcnghiên cứu về cải cách DNNN sẽ nâng cao sự hiểu biết về tính chất và nội dungcủa đường lối Đổi Mới mà Việt Nam đang thực hiện
Về phương diện thực tiễn, luận án sẽ cung cấp những nội dung thiết thực
và số liệu mới cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳđổi mới, và chừng mực nào đó, cho nhà hoạch định chính sách và nhà kinh
Trang 15doanh, kẻ cả các nhà đầu tư nước ngoài.
6 Phương pháp nghiên cứu
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo và tập hợp sức lực tổng thể củanhân dân Việt Nam mà giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giànhđộc lập, tự do, và hiện đang được toàn dân tin cậy và ủng hộ Cải cách DNNNcũng như công cuộc Đổi Mới đều được triển khai thực hiện theo mục tiêu,đường lối do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra Vì vậy, luận án này coi trọngnghiên cứu đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam Điềunày không có nghĩa là quá trình cải cách DNNN ở Việt Nam chỉ được nhìn nhận
và phân tích thuần tuý trên phương diện lý thuyết, mà quá trình trên được phântích và đánh giá chủ yếu dựa vào các diễn biến thực tế Phương pháp lịch sử,logic và so sánh đối chiếu sẽ được vận dụng chủ yếu trong luận án Trên nềnlịch sử, tác giả coi trọng việc đi sâu phân tích những khai niệm và giải pháp liênquan đến đổi mới DNNN ở Việt Nam
7 Bố cục luận án
Luận án này bao gồm 3 chương như sau :
Chương I : Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam
Chương II : Đổi mới DNNN 1986-2000
Chương III : Một số nhận xét - kiến nghị
Chương I Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam
Ở chương này, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sở thực tiễn và lý luận tạotiền đề để Việt Nam tiến hành đổi mới các DNNN, đặc biệt đi sâu phân tích thựctrạng các DNNN trước đổi mới và những yêu cầu bức xúc đặt ra ở thời điểmcuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX
Trang 16Chương II Đổi mới DNNN 1986-2000
Trong chương trọng tâm này, luận án trình bầy những tư tưởng Đổi Mớicủa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam và quanniệm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước về DNNN Làm rõ quá trình thựchiện nội dung cụ thể của đổi mới DNNN và đánh giá kết quả trên các khía cạnhchủ yếu
Chương III Một số nhận xét - kiến nghị
Ở chương này, luận án đánh giá tổng quát quá trình cải cách DNNN bằngcách phân tích những mặt tích cực, những mặt tiêu cực, làm rõ những nguyên
nhân và đề ra một số nhận xét, kiến nghị để tiếp tục đổi mới DNNN
Trang 17CHƯƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỔI MỚI DNNN Ở VIỆT NAM 1.1 Lý luận và nhận thức về nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Về quan hệ của nhà nước và thị trường
1.1.1.1 Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường theo cách tiếp cận lịch
sử kinh tế
Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường đã trở thành một chủ đề quantrọng xuyên suốt lịch sử kinh tế, và xuất hiện rất nhiều lý thuyết và trường pháikinh tế với những quan điểm khác nhau và mâu thuẫn nhau gay gắt Các trườngphái được tập hợp lại thành hai dòng chủ yếu Một là, thị trường tự bản thân nó
có thể hoạt động một cách tối ưu Dòng nhận thức này còn được gọi là dòng cổđiển Hai là, thị trường có những khiếm khuyết cần phải được bổ sung bằng sựcan thiệp của nhà nước và sự can thiệp đó có thể cải thiện một cách đáng kểhoạt động kinh tế
Trường phái kinh tế cổ điển xuất hiện vào thế kỷ 18, mà đại diện đầu tiên làAdam Smith đã đưa ra lý thuyết về “bàn tay vô hình” và nguyên lý “nhà nướckhông can thiệp” vào hoạt động của nền kinh tế Adam Smith lý giải rằng, nhữnghành động xuất phát từ lợi ích cá nhân của con người như được điều khiển bởi mộtbàn tay vô hình dẫn dắt sản xuất, buôn bán và tiêu dùng, chúng sẽ cùng nhau phụng
sự cho phúc lợi chung, cho hạnh phúc của một xã hội hay một dân tộc nhất định
Từ việc lý giải như vậy, trường phái kinh tế cổ điển cho rằng mọi sự can thiệp củanhà nước vào nền kinh tế, vào hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp) sẽlàm méo mó sự phân bổ các nguồn lực của xã hội Vì vậy, theo họ, nhà nước chỉnên thực hiện một chức năng duy nhất là điều chỉnh để duy trì các luật chơi của thịtrường Tư tưởng như vậy đã thống trị ở các nước
Trang 18TBCN trong suốt 200 năm, từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trong thế kỷ
19 đến những năm 30 của thế kỷ 20
Song, lý thuyết về bàn tay vô hình của trường phái kinh tế cổ điển đã tỏ
ra bất lực khi nền kinh tế của các nước phương Tây rơi vào tình trạng khủnghoảng, thất nghiệp diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng vào những năm 30của thế kỷ này Lý thuyết Keynes ra đời trong bối cảnh này, mà tư tưởng cơ bảncủa nó là phủ nhận vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô ngắn hạn của cơ chế thị trường
tự do và đề cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm kích thích nhucầu xã hội bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ trong việc mua sắm và xâydựng các công trình công cộng, qua đó tạo động lực cho phát triển sản xuất, tạocông ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp và bảo đảm duy trì tốc độ tăngtrưởng ổn định của nền kinh tế
Tuy nhiên, việc áp dụng lý thuyết Keynes vào thực tiễn cũng không làmgiảm tình trạng thất nghiệp và lạm phát trong nền kinh tế TBCN Mặt khác,trong thập niên 70, thế kỷ XX, những thất bại của các chương trình can thiệpcủa chính phủ đã thu hút các nhà khoa học kinh tế và chính trị nghiên cứu sựthất bại của chính phủ Chính những thất bại của chính phủ đã khích lệ sự phụchồi của dòng kinh tế cổ điển.[47, 12-14]
Hiện nay, lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp ra đời bởi sự kết hợp giữa haitrường phái Keynes và Tân cổ điển Trường phái nền kinh tế hỗn hợp cho rằngnền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cả hai cơ chế: thị trường và sựquản lý của nhà nước Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đang là nền tảng lý luậntrong thực tiễn quản lý nhà nước ở nhiều nước với mức độ “hỗn hợp” khácnhau Đây là một lý thuyết đang đựoc áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh
tế thị trường phát triển.[34, 83]
Quan điểm của Mác-Lê-nin về nhà nước và thị trường, tháng 3-1922, tạiĐại hội XI Đảng Cộng sản Nga, V.I Lê-nin đã nêu bài học về CNTB nhà nước
Trang 19dưới CNXH của giai đoạn chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản thời chiến sangchính sách kinh tế mới.[32, 25]
Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, CNTB nhà nước được hiểu như là
sự liên minh kinh tế giữa nhà nước với giai cấp tư sản dưới CNTB Các cán bộlãnh đạo đảng, các nhà kinh tế như N.I Bu-kha-lin, E.A Prê-ô-bra-gien-xki quan niệm rằng CNTB nhà nước là CNTB Hiểu như thế có nghĩa CNTB nhànước là kẻ thù của CNXH, của giải cấp vô sản và sẽ là đối tượng của chuyênchính vô sản Lê-nin cho rằng, đó là cách hiểu “sai lầm nhất” một cách hiểu kinhviện Lê-nin nói, “Giai cấp vô sản nắm chính quyền, lúc đầu sẽ tìm cách tổ chứcsản xuất lớn và việc phân phối cho nông dân, nhưng sau đó, do những điều kiệnvăn hoá nên không thể hoàn thành được nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản buộc phải
để CNTB tham gia vào sự nghiệp của mình”[36, 141]
Những hình thức mà CNTB tham gia trong nền kinh tế XHCN là:
- Tô nhượng đối với tư bản nước ngoài
- Kinh tế tư bản nhà nước đối với tư bản trong nước
- Kinh tế HTX
Tô nhượng, theo Lê-nin là hình thức hoạt động kinh tế khi chính quyền nhànước XHCN giao cho nhà tư bản tư liệu sản xuất của mình; nhà tư bản tiến hànhkinh doanh với tư cách là một bên ký kết, là người thuê tư liệu sản xuất XHCN, vàthu lợi nhuận do tư bản mà mình bỏ ra, rồi nộp cho nhà nước XHCN một phần sảnphẩm Lê-nin cho rằng không có sự liên minh kiểu tô nhượng với các tơ-rớt quốcgia của những nước tiên tiến thì Nga lạc hậu và bị tàn phá không thể khôi phục vàphát triển nền kinh tế được Khi gặp phải sự phản đối của nhiều đảng viên và quầnchúng, Lê-nin nói “Tô nhượng không đáng sợ, nếu chúng ta chỉ giao cho một vàinhà máy, còn đa số nhà máy thì vẫn giữ lại”.[36, 191]
Đối với kinh tế tư bản tư nhân, Lê-nin cho rằng từ trình độ xuất phát vềkinh tế, kỹ thuật thấp như nước Nga, đi lên CNXH là môt quá trình lâu dài, vì
Trang 20thế cách tốt nhất để phát triển kinh tế là làm cho kinh tế tiểu tư sản và tư bản tưnhân phát triển, nhưng phải tìm cách hướng nó vào con đường CNTB nhà nước
và sau đó là bảo đảm chuyển biến từ CNTB nhà nước sang CNXH trong tươnglai Trong sự nghiệp này, người nào thu được nhiều kết quả nhất, dù là bằng conđường tư bản tư nhân, thì người đó giúp ích nhiều hơn cho công cuộc xây dựngCNXH ở nước Nga so với những người chỉ ngồi lo cho sự thuần tuý của chủnghĩa cộng sản mà không thúc đẩy cho sự trao đổi tiến lên Như vậy, CNTB tưnhân lại đóng vai trò trợ thủ cho CNXH.[32, 27]
Vấn đề HTX được Lê-nin chú ý đặc biệt Lê-nin cho rằng, phương tiệntốt nhất giúp cho việc lưu thông kinh tế là HTX: “bộ máy phân phối tốt nhất làHTX mà CNTB đã để lại cho chúng ta, và chúng ta cần phải giữ lấy bộ máy đó”.[36, 77] Lê-nin coi HTX như là một phương thức cơ bản để tiến lên CNXH
ở một nước mà đa số dân cư là nông dân: “khi nhân dân đã vào HTX tới một mức đông nhất, thì CNXH từ nó sẽ được thực hiện”[36, 45]
Có thể nói, quan niệm kinh tế chủ yếu của Lê-nin là phát triển lực lượngsản xuất trên cơ sở những quan hệ thị trường trong chế độ tư bản độc quyền nhànước
1.1.1.2 Về sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường
Sự quản lý của nhà nước thể hiện qua hai chức năng : điều chỉnh thị trường và phát triển kinh tế
Về sự điều chỉnh thị trường, theo lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp, một
cơ chế thị trường dù tự do đến đâu cũng có những khiếm khuyết :
- Sự phân hoá giàu nghèo
- Sự thiếu quan tâm đến các công trình công cộng, hay không đáp ứng nổi một số nhu cầu cơ bản của xã hội
- Các vấn đề xã hội như : thất nghiệp, người về hưu, người tàn tật không được chú ý
Trang 21- Thị trường tự do dẫn đến độc quyền, buôn gian bán lận, đầu cơ làmgiảm tính cạnh tranh là động lực phát triển
- Cơ chế thị trường trong nhiều trường hợp kìm hãm sự tiến bộ của khoahọc và công nghệ
- Vấn đề môi trường xã hội không được giải quyết
Do nhận thức được những nhược điểm của hệ thống kinh tế thị trường,nên đến nay hầu hết các nước đều tăng cường vai trò của nhà nước trong điềutiết vĩ mô như sau:
- Thiết lập khuôn khổ pháp lý : Nhà nước phải thiết lập một khuôn khổpháp lý đảm bảo cho nền kinh tế vận hành thuận lợi Các hộ gia đình, các DN vàchính phủ đều phải tham gia và tôn trọng các luật chơi này
- Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô : Chính phủ sử dụng các chính sách tàichính-tiền tệ, thương mại nhằm điều tiết cung cầu, tác động đến sản lượng,đến công ăn việc làm và giá cả của nền kinh tế với mục đích tạo ra môi trườngkinh tế ổn định
- Giải quyết các vấn đề công bằng và bảo hiểm xã hội : Nhà nước sửdụng hệ thống thuế luỹ tiến để phân phối lại thu nhập, hỗ trợ người tàn tật,người phải nuôi con, cũng như bảo hiểm thất nghiệp cho người không có công
ăn việc làm và cung cấp các dịch vụ cho người nghèo
- Cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng
Về sự phát triển kinh tế, trong nền kinh tế hỗn hợp của các nước đang
phát triển, ngoài chức năng bảo đảm luật chơi, sửa chữa những khiếm khuyếtcủa thị trường, Chính phủ còn có chức năng tác động vào việc phân bổ lại cácnguồn lực phát triển của đất nước, để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá vàhiện đại hoá Hay nói cách khác, là bảo vệ và khuyến khích các ngành côngnghiệp non trẻ nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu phát triển
Trang 22Theo kinh nghiệm của các nước Đông-Đông Nam Á, chính phủ canthiệp vào quá trình phát triển kinh tế bằng việc đề ra và thực hiện chính sáchcông nghiệp thông qua hệ thống kế hoạch định hướng Chính sách công nghiệp
đã trở thành một công cụ quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đạihoá ở các nước NIEs châu Á.[47, 17-19]
Khi can thiệp vào kinh tế thị trường như trên, Chính phủ các nước đều
sử dụng hai cách : trực tiếp và gián tiếp Phương pháp gián tiếp là nhà nướcdùng các công cụ kinh tế vĩ mô và chính sách để điều tiết và thúc đẩy nền kinh
tế Phương pháp trực tiếp là nhà nước với tư cách là một nhà công nghiệp(DNNN) trực tiếp đầu tư thực hiện quá trình kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch
vụ nhằm thúc đẩy các ngành, các khâu của quá trình tái sản xuất, hay thoả mãnnhững nhu cầu cụ thể của xã hội Trong thực tế, nhà nước luôn kết hợp cả haiphương pháp để thúc đẩy và điều tiết nền kinh tế.[25, 29]
1.1.2 Về khu vực DNNN
Để điều chỉnh thị trường và đẩy nhanh phát triển kinh tế, nhà nước canthiệp vào nền kinh tế, và khu vực DNNN là một trong những công cụ quan trọngnhất để nhà nước đạt tới mục tiêu của mình Lịch sử phát triển của các nền kinh
tế trên thế giới cho thấy, khu vực DNNN luôn giữ vai trò quan trọng, và tầmquan trọng của nó bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu xã hội và yêucầu điều tiết kinh tế vĩ mô trong các nền kinh tế thị trường Một mặt khác, chính
vì vậy, các DNNN trong nhiều lúc, ở nhiều nơi thường kém hiệu quả hơn các
DN tư nhân, hạn chế tính năng động của toàn bộ nền kinh tế Nhưng người tavẫn không thể nào xoá bỏ chúng một cách dễ dàng Ngược lại làm sao nângđược hiệu suất của các DNNN trở thành chủ đề nóng bỏng của nhiều quốc gia
1.1.2.1 Khái niệm về DNNN
DNNN là những cơ sở kinh doanh do nhà nước sở hữu hoàn toàn haymột phần Quyền sở hữu thuộc về nhà nước là đặc điểm phân biệt DNNN với
Trang 23DN trong khu vực tư nhân, còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm phân biệtchúng với các tổ chức và cơ quan khác của chính phủ.
Trên thực tế, tiêu thức cụ thể về DNNN ở nhiều nước trên thế giới cònrất khác nhau Năm 1956 khi nước Anh thành lập Uỷ ban đặc biệt về quốc hữuhoá công nghiệp đã quy định các DNNN gồm 3 điều kiện : 1 Hội đồng quản trị
DN do chính phủ bổ nhiệm; 2 Uỷ ban quốc hữu hoá công nghiệp kiểm tra tàikhoản kinh doanh của DN; 3 Thu nhập của DN phần lớn không dựa vào sựcung cấp của quốc hội hoặc của các cơ quan tài chính nhà nước
Ở Pháp, DNNN được xác định là những DN thoả mãn đủ 3 điều kiện :một là, tính công hữu của quyền sở hữu DN, nhờ đó chính phủ xác lập được địa
vị lãnh đạo của nhà nước đối với DN; hai là, có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa
là địa vị của nó trong quá trình kinh tế giống như các DN pháp nhân khác; ba là,thực hiện các hoạt động công thương độc lập, quy định nó là tổ chức kinh tế cóhạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của chính phủ.[38, 8-9]
Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra 3 quanniệm tiêu biểu về DNNN, đó là: 1 Chính phủ là cổ đông chính trong DN hoặcnếu không thì chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung
mà DN theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý DN; 2 DN có nhiệm
vụ sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các DN tưnhân, DNNN khác; 3 DN phải chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động vềsản xuất kinh doanh.[66, 8]
Từ những sự xác định ít nhiều khác nhau trên, có thể khái quát ra nhữngđiểm chung của các DNNN Nhà nước chiếm trên 50% vốn của DN, nhờ đóchính phủ có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối vớicác DN, các DN đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu
Trang 24chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cảmục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội.
DNNN thường được phân loại theo mức độ sở hữu và mục tiêu kinh
tế-xã hội
Xét theo mức độ sở hữu, DNNN có 2 loại : loại DNNN chỉ có một chủ
sở hữu vốn duy nhất là nhà nước; Loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn, trong
đó nhà nước nắm giữ một phần sở hữu nhất định (tuỳ theo quy định của mỗinước)
Xét theo mục tiêu kinh tế-xã hội, DNNN có 2 loại : DN hoạt động vì mụctiêu phi lợi nhuận (hoạt động công ích); DN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận(hoạt động kinh doanh)[25, 35]
Ngoài ra, căn cứ vào sự khác nhau về địa vị pháp luật, DNNN có thểchia thành 3 loại :
- DNNN do chính phủ trực tiếp quản lý, không có đầy đủ địa vị phápnhân độc lập
Loại DNNN này có nguồn vốn từ ngân sách của các cơ quan chủ quảnthuộc chính phủ và các đại biểu chính phủ tham gia vận hành kinh tế, và chủ yếu
là xí nghiệp liên quan đến quốc kế dân sinh như điều trị y tế, giao thông côngcộng, điện nước, bưu điện, đường sắt, sản xuất vũ khí Hiện nay, DNNN nàykhông còn thấy nhiều ở các nước nữa
- DNNN có đầy đủ địa vị pháp nhân và toàn bộ tài sản thuộc về nhànước
Có thể thấy rằng, các DNNN mà toàn bộ tài sản do nhà nước đầu tư và cóđầy đủ địa vị pháp nhân độc lập, ở các nước trên thế giới đều thuộc các lĩnh vựccông cộng lấy việc phục vụ xã hội làm mục tiêu cơ bản, như đường sắt, bưu chính,điện, khí ga, nước sạch Loại DNNN này là những thực thể kinh tế được lập ra vàkinh doanh dựa theo một pháp quy cụ thể nào đó của nhà nước đồng
Trang 25thời lệ thuộc vào một cơ quan quản lý đó của nhà nước Tuy có đầy đủ địa vịpháp nhân độc lập đồng thời có quyền tự chủ kinh doanh nhất định trong phạm
vi đã xác định riêng, nhưng các DN này đều phải lấy một mục tiêu cụ thể nào đócủa nhà nước làm tôn chỉ hoạt động kinh doanh, và chấp hành sự điều tiết kinh
tế và chức năng quản lý nhất định từ chính phủ
- DNNN hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và nhà nước có quyền sởhữu một phần tài sản
Phần lớn ở các nước tư bản, DNNN hỗn hợp là hình thức chủ yếu nhấttrong mọi loại hình DNNN Đặc điểm lớn nhất của loại DNNN này là nhà nướctham dự cổ phần, nhờ đó có thể khống chế chúng Nhưng DNNN này hoạt độngkinh doanh theo nguyên tắc của DN tư nhân, thu lợi ích kinh doanh qua cạnhtranh với các DN khác Đồng thời, bằng chế độ tham dự, nhà nước có thể triểnkhai các hoạt động mà nhà nước cho là có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sựphát triển của cả nước, gồm những công trình cơ sở hạ tầng như ngân hàng,đường sắt, đường bộ, vận tải biển , và cũng có thể triển khai mở rộng vàotrong các ngành công nghiệp mới DNNN theo chế độ nhà nước tham dự ngàycàng tỏ ra là loại hình DNNN có hiệu quả nhất.[38, 10-14]
1.1.2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của DNNN
Khu vực DNNN có mặt ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới và đã trởthành một bộ phận tất yếu quan trọng để bù đắp những thiếu hụt của kinh tế thịtrường Tuy nhiên, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và điều kiện chính trị cụthể ở mỗi nước mà chính phủ các nước xây dựng khu vực DNNN với phạm vi
và quy mô khác nhau
Các nước phát triển:
Các nước phát triển đã hình thành khu vực DNNN như một phương tiện
để chính phủ thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô và điều chỉnh thất bại củathị trường Nội dung cụ thể là :
Trang 26- Cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công cộng cho dân chúng
- Xác lập sở hữu của nhà nước trong các ngành dễ nảy sinh độc quyền tựnhiên Đó là cách để chính phủ điều chỉnh tình trạng độc quyền
- Tạo công ăn việc làm, khắc phục sự mất cân bằng về phát triển kinh tếvùng
- Để chính phủ có công cụ đưa nền kinh tế vào kiểm soát và hoạt động theo kế hoạch[47, 24-25]
Trong những năm 50, 60, mức độ sở hữu công cộng chiếm tỷ trọng rất lớn
ở các nước phát triển Nhưng vào những năm 80, lại diễn ra một xu hướngngược lại : xu hướng tư nhân hoá Nguyên nhân chính của nó là do tính kémhiệu quả của DNNN và những thất bại của các chương trình can thiệp của chínhphủ
Các nước đang phát triển:
Các nước đang phát triển, vì đi sau, muốn tiến nhanh, đuổi kịp các nướctiên tiến, chính phủ các nước đang phát triển thường dựa nhiều hơn vào cácDNNN, xem chúng như những công cụ chủ yếu để tăng trưởng Do vậy, phạm
vi hoạt động của các DNNN không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực công cộng haycác lĩnh vực độc quyền tự nhiên như ở các nước phát triển, mà chúng còn tham
dự vào hoạt động sản xuất kinh doanh Các DNNN ở các nước Đông-Đông Nam
Á có mặt trong các ngành được coi là mũi nhọn và then chốt để duy trì lợi thếcạnh tranh của đất nước trên thị trường quốc tế.[47, 29]
Hoàn cảnh lịch sử của các nước đang phát triển cũng đã góp phần vàoviệc phát triển khu vực DNNN Vì những nước này đã từng chịu ách thống trịthực dân trong quá khứ, khi giành được độc lập, họ đã quốc hữu hoá những DNcủa các cường quốc thực dân cũ Sự tập trung sản xuất vào trong tay chính phủ
là cách bảo vệ, chống lại nguy cơ một lần nữa bị sở hữu của nước ngoài xâmnhập và kèm theo đó là sự đe doạ của chủ nghĩa thực dân mới về kinh tế, xây
Trang 27dựng và củng cố nền kinh tế dân tộc độc lập.
Các nước XHCN:
Xuất phát từ lý tưởng xây dựng CNXH dựa trên cơ sở công hữu hoá về tưliệu sản xuất, chính phủ các nước này sau khi giành được chính quyền đã ra sứcxây dựng các thành phần kinh tế XHCN, bao gồm một loạt các DNNN và HTX.Chỉ sau một thời gian quốc hữu hoá và xây dựng mới, hệ thống DNNN đã cómặt ở hầu khắp các ngành kinh tế và chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế
Sự thống trị của hệ thống DNNN ở các nước XHCN kéo dài suốt từ sau chiếntranh thế giới lần thứ 2 đến đầu những năm 1990.[47, 26]
1.1.2.3 Về đặc trưng của DNNN
Như đã kể trên, khu vực DNNN đóng vai trò tích cực như cung cấpnhững dịch vụ cơ sở quan trọng cho nền kinh tế quốc dân; gánh lấy những rủi rokhổng lồ trong sự phát triển kinh tế; giải quyết một loạt vấn đề kinh tế xã hội;đồng thời tiến hành chức năng đặc biệt như an ninh quốc phòng
Thế nhưng các DNNN ở các nước trên thế giới đều có một căn bệnhchung, đó là hiệu quả kinh tế thấp hơn rất nhiều so với các công ty tư nhân Còn
sự thua lỗ lớn của DNNN này dẫn đến sự thâm thủng lớn NSNN, làm rối loạnkhả năng điều hành kinh tế vĩ mô
Có thể nói những tiêu cực đối với DNNN đều nảy sinh từ tính chất phithương mại của chúng do sở hữu thuộc về nhà nước Người quản lý DNNNkhông có quyền linh hoạt đối phó với những điều kiện thay đổi của thị trườngbằng khu vực tư nhân, do đó làm tăng thêm chi phí đầu vào của họ Các tổ chứclao động trong các DNNN mạnh hơn trong khu vực tư nhân nên các DNNN ít
có khả năng thay đổi đầu vào về nguồn lao động của mình cho phù hợp với hoàncảnh bên ngoài Cũng vậy, việc quyết định các mặt hàng sản xuất nhiều khithuộc quyền của chính phủ, DN không thể đa dạng hoá một cách dễ dàng đầu racủa mình cho phù hợp với nhu cầu thị trường Và trong khi các công ty tư nhân
Trang 28lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích bao trùm thì các DNNN nhiều khi phải đầu tưphù hợp với kế hoạch quốc gia hoặc phải hy sinh lợi nhuận để thực hiện nhữngmục tiêu xã hội Một hệ quả khác của quyền sở hữu thuộc nhà nước là chủ thể
sở hữu không có mối liên hệ lợi ích bao nhiêu đối với sự thành công hay thất bạicủa DN, điều này cũng dẫn đến sự kém hiệu quả của DNNN
Một hệ quả đáng lưu ý khác là mặc dù có những hạn chế như trên nhưng
sở hữu thuộc về nhà nước vẫn mang lại cho các DNNN một thế mạnh vượt trộicác DN tư nhân, do đó DNNN không nỗ lực để tự vượt qua khó khăn mà nươngnhờ vào nhà nước
1.1.2.4 Về tiến trình cải cách của DNNN
Những đặc trưng của DNNN như trên cho thấy DNNN gần như thiếunhững điều kiện cần thiết cho sự kinh doanh có hiệu quả như các DN tư nhântrong một nền kinh tế thị trường Thế thì DNNN liệu phải biến mất khỏi nềnkinh tế thị trường chăng? Tại sao DNNN vẫn tồn tại và phát triển, cho dù đó là
sự phát triển không đều trong từng thời điểm khác nhau của quá trình vận độngcủa một nền kinh tế?
Như đã phân tích ở phần trước, lịch sử thế giới cho thấy khu vực DNNN
có nhiều chức năng tích cực như điều chỉnh thất bại của thị trường, làm ổn địnhđời sống kinh tế-xã hội và thúc đẩy công nghiệp hoá mà khu vực kinh tế tưnhân không thể và không muốn đảm nhận Vấn đề đặt ra là phải tiến hành cảicách để nâng cao hiệu quả của khu vực DNNN như thế nào? Các nước trên thếgiới đã và đang phấn đấu để có được những biện pháp nâng cao tính năng động
và hiệu suất của DNNN Theo kinh nghiệm đó, cải cách DNNN thường gồm baquy trình cơ bản:
- Tiến hành phân loại, sắp xếp hợp lý toàn bộ khu vực DNNN Chính phủcác nước đều rà soát lại xem những DNNN nào cần giữ lại, DNNN nào cần loại
bỏ và làm thế nào để loại bỏ được những DN xét thấy không cần thiết Điều này
Trang 29liên quan trước hết đến sự nhận định về vai trò mà các DNNN cần phải có trongmột nền kinh tế, đi đôi với sự đánh giá những nguồn lực mà chính phủ sẽ phải
bỏ ra để giám sát, theo dõi và cung cấp tài chính cho chúng về lâu dài
- Cải tiến tổ chức, nâng cao hiệu suất của từng DNNN Những DN đượcchính phủ giữ lại đều phải đổi mới theo chương trình cải cách Nội dung chủyếu của chương trình này là tăng cường quyền tự chủ và đổi mới cơ chế tổ chứcquản lý của DNNN để nâng cao tính hiệu suất sản xuất kinh doanh
- Thay đổi thể chế kinh tế, tạo ra môi trường cạnh tranh bằng cách khuyếnkhích phát triển khu vực tư nhân, đặt các DNNN trong sự cạnh tranh bình đẳngvới khu vực kinh tế tư nhân là một biện pháp kinh tế vĩ mô quan trọng để thúcđẩy các DNNN làm ăn có hiệu quả.[38, 36-46]
Khi tiến hành cải cách khu vực DNNN, ba bộ phận này cần được thựchiện đồng bộ và hữu cơ Trải qua những quá trình cải cách như trên, khu vựcDNNN các nước trên thế giới đang được bổ sung những thiếu sót và được biếnthành DN hoàn hảo hơn nữa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đã được giao
1.2 DNNN trước Đổi Mới ở Việt Nam - quá trình hình thành, phát triển, thành quả và hạn chế
Kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam luôn bị nằm trong tìnhtrạng chiến tranh và sự chia cắt Trong tình hình chiến tranh lâu dài, kinh tế ViệtNam, đặc biệt kinh tế hàng hoá không phát triển Nền kinh tế bao cấp XHCNtheo mô hình Liên Xô trước đây (kinh tế sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) cóđiều kiện tồn tại lâu dài ở Việt Nam
Lý luận và mô hình kinh tế của Liên Xô là xây dựng chế độ sở hữu đơnnhất, sự bao biện và độc quyền của chính phủ đối với kinh tế ở thành phố; kếhoạch có tính mệnh lệnh chỉ huy và tập quyền cao độ; chế độ làm thay hoặc chế
độ bao cấp trong DN; chế độ quản lý hành chính toàn diện và chế độ bao cấp từ
Trang 30trên xuống dưới Còn nữa, mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ và cơ chế thị trườngđều bị coi là những phạm trù kinh tế TBCN đối lập với kinh tế XHCN.
Phương thực tổ chức, quản lý điều hành sản xuất, mô hình kinh tế và chế
độ quản lý tập trung bao cấp, phân phối sản phẩm của thời kỳ ấy tạo cho xã hội
có độ ổn định cao trong chiến tranh Tổ chức HTX nông nghiệp cho phép huyđộng nhân lực tối đa ở khu vực kinh tế này cho tiền tuyến Mặt khác, nó không
có hiệu quả cao về mặt kinh tế, người lao động không phát huy được tính chủđộng, sáng tạo của mình Nhưng trong điều kiện đất nước có chiến tranh lâudài, những trạng thái bất ổn ấy có thể chưa bộc lộ hết hậu quả, bởi vì chiến tranh
có những quy luật, những nhân tố phi kinh tế của nó
Trong bối cảnh lịch sử như trên, mô hình kinh tế bao cấp XHCN dunhập vào, phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh lâu dài của Việt Nam Việt Nam đãtriệt tiêu kinh tế cá thể ở thành phố và nông thôn; quy mô HTX nông nghiệpngày một lớn, nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn, kinh tế tập thể dần dầnphát triển thành kinh tế gần như quốc doanh; chế độ bao cấp được thực hiệntrong kinh tế ở thành phố, đặc biệt là ở các DNNN, trên thực tế là một chế độcung cấp thời chiến Trong tình trạng này, mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ, sự hạchtoán kinh tế và kinh doanh lấy lãi trên thị trường, thậm chí cả trong các DN đều
bị mất chỗ đứng
1.2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của DNNN trước Đổi Mới
Trong thời kỳ đầu cải tạo và xây dựng CNXH ở Việt Nam, các DNNNđược hình thành từ ba nguồn sau đây:
- Nhà nước thực hiện chính sách quốc hữu hoá các tư liệu sản xuất nằmtrong tay đế quốc, tư sản mại bản Từ nền tảng vật chất đó nhà nước tổ chức lạithành các cơ sở kinh tế quốc doanh, thực chất là DN công nghiệp nhà nướcnhưng hồi ấy gọi là xí nghiệp công nghiệp quốc doanh
Trang 31- Nhà nước thực hiện cải tạo các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sảndân tộc, biến thành xí nghiệp công tư hợp doanh và cuối cùng biến thành các xínghiệp quốc doanh.
- Nhà nước đầu tư xây dựng thêm nhiều DNNN bằng các nguồn vốnviện trợ của nước ngoài (Liên Xô cũ, Trung Quốc và một số nước XHCN khác)
và bằng nguồn vốn NSNN Đây là con đường ra đời quan trọng nhất của cácDNNN Việt Nam.[73, 65]
Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, hệ thống DNNN
đã được hình thành Trong khoảng thời gian trên 40 năm (1945-1986), hệ thốngDNNN đã trải qua mấy giai đoạn lớn :
1.2.1.1 Giai đoạn 1945-1954:
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công khai sinh ra nước Việt Nam dânchủ cộng hoà Sau một tháng, thực dân Pháp trở lại xâm lược Toàn dân ViệtNam bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc kéo dài 9 năm, kết thúc vào năm
1954, giải phóng hoàn toàn miền Bắc
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Việt Nam thực hiện chủ trương
“vừa kháng chiến vừa kiến quốc” Để phù hợp với điều kiện kháng chiến, các cơ
sở công nghiệp được thành lập theo quy mô nhỏ, phân tán bí mật Công nghiệpquốc phòng phát triển với tốc độ nhanh Nhà nước đã thành lập các xưởng sảnxuất vũ khí, cơ sở quân nhu, quân dược bảo đảm nhu cầu cơ bản cho quân đội.Đáng lưu ý là một số xưởng vũ khí như xưởng Phan Đình Phùng ở Bắc Bộ,xưởng Cao Thắng ở Thanh Hoá và xưởng Đặng Thái Thân ở Nghệ An đãđược nhân dân góp vốn xây dựng.[56, 31] Điều này cho thấy tình hình lịch sửlúc bấy giờ là sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã chủ động đốiphó trước sự đe doạ của chiến tranh và tính chất của chính quyền Việt Nam.Những xưởng chế tạo vũ khí ấy cũng là công xưởng chế tạo cơ khí đầu tiên, đặcbiệt đã tiêu biểu cho nền công nghiệp chế tạo cơ khí mới phôi thai ở Việt Nam
Trang 32Song song với công nghiệp quốc phòng, nhà nước cũng đã xây dựng vàphát triển công nghiệp dân dụng trong những ngành như than, khai khoáng, cơkhí, hoá chất, dệt, thuốc lá, xà phòng, giầy da, diêm Các xí nghiệp dân dụngcủa nhà nước có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm cho nhu cầu tối thiểu của dân,cung cấp phân bón và nông cụ cho nông nghiệp, cung cấp máy móc thiết bị chocông nghiệp.
Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo đã sản xuất ra từ những ngày đầu củakháng chiến máy in, máy hơi, máy nổ Khi nhu cầu đòi hỏi, xưởng ấy đã chuyểnsang sản xuất cân treo và máy xay gạo cho Kho thóc, hòm gỗ để cung cấp choNgân hàng và Quân giới Khi bộ phận đúc và rèn rỗi việc, xưởng lại làm chảogang, nồi đồng, lưỡi cày Ngoài ra, xưởng đó còn sản xuất máy nghiền, máy tháisắn, quạt lò ga
Mỏ than Lam Sơn, Làng Cẩm và Tân Thành sản xuất than cám, đồng thờicũng sản xuất than cốc để cung cấp cho quân giới, nhà máy giấy Việt Nam, cácxưởng nông cụ, xưởng thuỷ tinh
Mỏ chì Bắc Sơn vừa tổ chức khai thác, vừa tổ chức luyện kim, vừa sảnxuất ra chì là sản phẩm chính, vừa sản xuất được ăng-ti-moan
Nhà máy giấy Hàng Văn Thụ đã đóng vai trò quan trọng trong việc cungcấp giấy để in bạc, cung cấp giấy cho các cơ quan và nhân dân Với độ ba nghìntấn thiết bị cũ của nhà máy giấy Đáp Cầu của Pháp di chuyển lên Việt Bắc trênmột quãng đường dài trên 150 cây số, công nhân đã xây dựng nên nhà máy giấylớn nhất ấy của thời kháng chiến
Xí nghiệp dệt Thống Nhất với 70 khung dệt và xí nghiệp dệt Tháng Támvới 50 khung dệt đã cung cấp một số lượng tương đối khá về vải màn cho Quânnhu [56, 39]
Nói chung các DNNN hoạt động theo chế độ cung cấp DN sản xuất theo kếhoạch cụ thể của nhà nước, được nhà nước cấp vốn, trả lương, lãi lỗ nhà nước
Trang 33chịu Cơ sở pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức DNNN là Sắc lệnh số 104-SL
về “ấn định nguyên tắc căn bản của DN quốc gia” do Chủ tịch Hồ Chí Minh kýban hành ngày 1-1-1948.[42, 740] Một năm sau, Sắc lệnh này được bổ sungbằng Sắc lệnh 9-SL ban hành ngày 25-2-1949 về phân cấp thành lập các DN.Hoạt động của các DNNN được thực hiện theo điều lệ tạm thời số 214-TTg, doThủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 30-12-1952.[25, 75]
Vai trò của DNNN trong giai đoạn này là trực tiếp phục vụ kháng chiến
và dân sinh, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế kháng chiến, mặc dùtrình độ kỹ thuật rất thô sơ lạc hậu song đã góp phần bảo đảm thắng lợi cuốicùng của cuộc kháng chiến
1.2.1.2 Giai đoạn 1955-1975:
Sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo vàphát triển kinh tế XHCN Thành phần kinh tế nhà nước được xây dựng từ trongkháng chiến phát triển nhanh chóng ở những ngành như công nghiệp, giao thôngvận tải, thương nghiệp, nông nghiệp Nhờ sự giúp đỡ của các nước XHCNkhác, DNNN phát triển mạnh trong ngành công nghiệp nặng Mặt khác, DNNNđược hình thành do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp quản, quốc hữuhoá của chính quyền thực dân ở miền Bắc, các công ty nước ngoài (Pháp) và doNhà nước đầu tư từ vốn ngân sách Hầu hết các đơn vị ở nhóm thứ 2 này thuộccác ngành công nghiệp nhẹ Do yêu cầu khôi phục kinh tế DNNN đã bắt đầuvươn lên giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
Hệ thống DNNN trong thời kỳ này phát triển qua hai giai đoạn với mụctiêu và nhiệm vụ khác nhau Giai đoạn mười năm trước và sau năm 1965 (tức làtrước và sau khi bùng nổ chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹvào miền Bắc)
Trong 10 năm đầu, nhiệm vụ chính là khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN.Hội nghị Trung ương khoá III lần thứ 14 tháng 11-1958 đề ra kế hoạch 3 năm
Trang 34cải tạo và phát triển kinh tế miền Bắc (1958-1960) với nhiệm vụ là cải tạoXHCN thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư doanh, phát triển kinh tếquốc doanh.[25, 76] Trong giai đoạn này, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tưdoanh là đối tượng của cuộc cải tạo XHCN nhằm cải biến nền kinh tế quốc dânthành nền kinh tế XHCN với hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể Đối với các xí nghiệp tư bản lớn, nhà nước cải tạo thành công tưhợp doanh Nhà nước trực tiếp đứng ra quản lý các xí nghiệp, nhà tư sản đượchưởng lãi theo cổ phần Đến cuối năm 1960, thành phần kinh tế tư bản tư doanh
ở miền Bắc về căn bản bị xoá bỏ Các xí nghiệp công tư hợp doanh dần dần bịthu hẹp và hoà nhập vào kinh tế quốc doanh
Công nghiệp quốc doanh năm 1957 mới chiếm 66,6% giá trị sản lượngcông nghiệp (không kể thủ công nghiệp), năm 1960 đã chiếm tới 90,8%; Nôngtrường quốc doanh từ 16 đơn vị cuối năm 1957, đến năm 1960 đã có 44 đơn vị;Vận tải quốc doanh năm 1957 mới chiếm 50,2% tổng khối lượng hàng hoá chuchuyển, năm 1960 đã chiếm tới 75,5%; thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xãmua bán năm 1957 mới chiếm 31,3% tổng mức bán lẻ của bộ máy thươngnghiệp thuần tuý, đến năm 1960 đã tăng lên tới 74,3%
Từ năm 1957 đến 1960 giá trị sản lượng công nghiệp (kể cả thủ côngnghiệp) tăng bình quân hàng năm 22,6% Tỷ trọng của công nghiệp (kể cả thủcông nghiệp) trong giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp từ 31,4% trong năm
1957 đã tăng lên 42,6% trong năm 1960, công nghiệp hiện đại đã từ 10,5% tăngtới 17,3%
Công nghiệp quốc doanh bình quân hàng năm tăng 51,2%; công nghiệp địaphương đã được phát triển mạnh mẽ, sản xuất năm 1960 tăng gấp 10 lần năm
1957 Công nghiệp cơ khí từ 5,66% đã tăng lên 9,8%, công nghiệp khai thác và chếbiến gỗ từ 7,0% tăng lên 10,2%, công nghiệp khai thác và luyện kim có chất sắt đãbắt đầu hình thành và chiếm tỷ trọng 0,4% Công nghiệp sản xuất hàng
Trang 35tiêu dùng phát triển với tốc độ bình quân hàng năm 16,1% Nhờ vậy, miền Bắc
từ chỗ trước kia phải nhập hầu hết mặt hàng tiêu dùng, nay đã tự cung cấp đượcphần lớn mặt hàng chủ yếu cần thiết cho đời sống của nhân dân.[65, 9]
Trong giai đoạn này, DNNN giữ vai trò chủ yếu như là một công cụ thựchiện đường lối cải tạo XHCN Ở nhiều nơi, DNNN được xây dựng một cách tậptrung Hội nghị TW lần thứ 7 (khoá III) tháng 6-1962 đã đề ra phương hướng côngnghiệp hoá đất nước là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Từ năm 1961, nhànước đã đầu tư vào ngành công nghiệp mỗi năm là 343 triệu đồng, gấp 3 lần so vớithời kỳ 1955-1960 Trong thời kỳ này đã hình thành một số khu công nghiệp ở HàNội, Việt Trì, Thái Nguyên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vinh
DNNN phát triển mạnh trong ngành điện lực, cơ khí, hoá chất, khai thác khoángsản Bên cạnh đó nhà nước cũng ra sức phát triển ngành công nghiệp thực phẩm
và công nghiệp nhẹ Tính đến năm 1965, ngành công nghiệp nhẹ đã có trên 500DN
Trong giai đoạn này, DNNN vẫn hoạt động trong chế độ quản lý nhưtrước là nhà nước cấp phát toàn bộ vốn Tuy nhiên khác với trước là chuyển từsản xuất phục vụ quốc phòng sang sản xuất phục vụ đời sống nhân dân và xâydựng kinh tế, DNNN đã thi hành từng bước chế độ hạch toán kinh tế theo quyếtđịnh 130-TTg ban hành ngày 4-4-1957.[25, 78]
Trong 10 năm tiếp theo, chiến tranh của Mỹ leo thang ra miền Bắc,nhiệm vụ của hệ thống DNNN ngoài việc sản xuất hàng hoá phục vụ cho nhucầu tiêu dùng còn phải sản xuất hàng hoá quốc phòng phục vụ sự nghiệp đấutranh thống nhất đất nước Phương châm “tất cả cho sản xuất, tất cả cho đánhthắng giặc Mỹ xâm lược, tất cả vì thống nhất đất nước ” là tư tưởng chính chiphối hành vi quản lý các DN
DNNN hình thành và phát triển chủ yếu trong các ngành công nghiệp,tiếp đến là thương mại, giao thông vận tải và dịch vụ bưu chính viễn thông Tỷ
Trang 36trọng của DNNN (kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh) xét về chỉ tiêu tổngsản phẩm xã hội, kinh tế quốc doanh chiếm từ 38,4% (năm 1960), đến 45,5%(năm 1965) và 44,4% (năm 1973), 47,5% (năm 1974), 51,7% (năm 1975) [50,70] (xem bảng 1)
Công nghiệp luôn được coi là lĩnh vực có vai trò quyết định nhất trongkinh tế quốc doanh Trong 12 ngành công nghiệp chủ yếu thuộc nhóm A và B,vai trò của DNNN gần như chi phối tuyệt đối về số lượng doanh nghiệp, lựclượng lao động cũng như gía trị tổng sản lượng Những DNNN hình thành ngay
từ đầu của giai đoạn này và đồng thời là lực lượng kinh tế lớn mạnh nhất củanền kinh tế là: điện lực, khai thác và chế biến nhiên liệu, luyện kim đen, luyệnkim màu, cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng, khai thác chế biến gỗ, thuỷ tinh,sành sứ, dệt, da, may, nhuộm, thực phẩm, in và văn hoá phẩm Trong những lĩnhvực này hệ thống DNNN giữ vai trò độc quyền
Trong giai đoạn này, nhất là 10 năm của phân đoạn sau, DNNN ở cácngành và lĩnh vực được phân cấp quản lý, do đó đã có sự phát triển mạnh về sốlượng các DNNN do các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)quản lý Nhóm A tập trung vào các ngành công nghiệp do Trung ương quản lý
và phát triển nhanh hơn số lượng DN thuộc nhóm B trong tất cả các thời kỳ củagiai đoạn 20 năm phát triển công nghiệp Việt Nam.[1, 84](xem bảng 2)
và tiếp quản, cải tạo và xây dựng DNNN theo ngành và địa phương
Trang 37Ở miền Nam, sau ngày giải phóng thống nhất đất nước có khoảng
200.000 nhà tư sản, gấp 10 lần số lượng tư sản miền Bắc năm 1954 Giai cấp
tư sản ở miền Nam có vốn và tài sản lớn hơn Công cuộc cải tạo công thươngnghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã được tiến hành mạnh mẽ theo chủtrương của Đảng Các xí nghiệp của tư sản mại bản và tư sản bỏ chạy ra nướcngoài đều bị quốc hữu hoá và chuyển thành DNNN Đến năm 1976, tư sản mạibản và tư sản lớn bị xoá bỏ Năm 1978 nhiệm vụ cải tạo công thương nghiệp tưsản tư doanh được coi là hoàn thành về cơ bản.[25, 81]
Trong thời kỳ này, sự phát triển về số lượng đối với DNNN trong cácngành công nghiệp theo nhóm A và công nghiệp địa phương vẫn chiếm vị tríhàng đầu Việc phân bố theo vùng, tỉnh không đều cuối năm 1976 trong số 1913DNNN trong công nghiệp, ở miền Bắc có 1269 DN chiếm 66,4% và miền Nam
có 643 DN chiếm 33,6%.[1, 86](xem bảng 3)
Trong 10 năm này, số lượng DNNN tăng lên 1,68 lần, trong đó nhóm Btăng nhanh hơn nhóm A, công nghiệp địa phương tiếp tục tăng nhanh hơn côngnghiệp trung ương So với năm 1980, năm 1987 giá trị sản lượng nhóm A bằng104,7% còn nhóm B bằng 241,2% Sự chuyển đổi cơ cấu hệ thống DNNN theohướng trên phù hợp với thực tế là : sau giải phóng miền Nam, nhu cầu của dân
cư về những nhu yếu phẩm tăng lên trong khi cung cầu về các mặt hàng nàyluôn căng thẳng
Trong thương nghiệp và giao thông vận tải, số lượng DNNN và tỷ trọngcủa chúng trong tổng giá trị bán lẻ xã hội và tổng mức hàng hoá luân chuyểntrong mười năm đã tăng lên rõ rệt Về thương nghiệp bán lẻ tỷ trọng này đã là37,0% trong năm 1976, giảm xuống 29,8% năm 1980 và vượt lên xấp xỉ 40,7%trong năm 1985.[51, 240]
Xét về đóng góp, trong tổng sản phẩm xã hội của hệ thống DNNN trongthời kỳ này đã có chiều hướng giảm sút
Trang 38Năm 1960 = 38,4% Năm 1980 = 35,5% Năm 1984 = 35,2%
Năm 1965 = 45,5% Năm 1981 = 35,2% Năm 1985 = 35,7%
Năm 1970 = 44,4% Năm 1982 = 33,1% Năm 1986 = 37,3%
Năm 1975 = 51,7% Năm 1983 = 33,2%[50,70][51,24]
Nguyên nhân của sự giảm sút này là ở chỗ trong giai đoạn 1976-1986 đã
có sự tăng trưởng không đồng đều của các ngành thuộc các thành phần kinh tếkhác nhau DNNN chỉ tập trung chủ yếu trong hai ngành lớn là công nghiệp vàthương mại, rất ít phát triển trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Trongkhi đó sau khi thống nhất đất nước, các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân là lựclượng lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp Thậm chí ở miền Nam, trong côngnghiệp và vận tải, thành phần tư nhân, cá thể cũng có tỷ trọng lớn Kết quả trêncũng có phần đóng góp của các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế
tư nhân, cá thể ở cả hai miền sau ngày thống nhất đất nước Nhờ vậy đã làmtăng kinh tế ngoài quốc doanh và giảm tỷ trọng kinh tế DNNN
Qúa trình hình thành và phát triển DNNN trong thời kỳ này cho thấyngay từ đầu tư tưởng cơ bản của Đảng và Nhà nước, thông qua các chính sách
và bố trí đầu tư, là làm phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng hệ thống DNNN, làmcho chúng trở thành lực lượng kinh tế chiếm ưu thế tuyết đối trong các ngànhsản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, trước hết là trong công nghiệp, xâydựng, giao thông, vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại và dịch vụ Các kếhoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm ở miền Bắc trong thời kỳ1955-1975 và trong cả nước trước Đổi mới là những kế hoạch tăng tỷ trọngDNNN trong GDP và giảm tương ứng GDP của các thành phần kinh tế khác.[1,92]
1.2.2 Những thành quả và yếu kém của khu vực DNNN
1.2.2.1 Những thành quả và ý nghĩa
Trang 39Trong lịch sử gần 4 thập kỷ, từ kháng chiến, khôi phục và phát triển kinh
tế ở miền Bắc cho đến sau khi thống nhất đất nước phát triển kinh tế trong điềukiện cả nước có hoà bình, DNNN đã dần dần trở thành hệ thống, hiện thân củasức mạnh nòng cốt của kinh tế nhà nước, là phương tiện vật chất giúp Nhànước giải quyết thành công các nhiệm vụ kinh tế-chính trị-xã hội qua các thời
kỳ DNNN đã có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến của toàn dântộc Việt Nam, bảo đảm hậu phương ổn định, chi viện cho tiền tuyến một cáchđắc lực, hoàn thành sứ mệnh của mình trong bối cảnh đất nước có chiến tranh
- Tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm tăng thu nhập quốc dân, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
- Thu hút lực lượng lao động đáng kể tham gia vào quá trình sản xuất vậtchất, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ CBCNVC và cán bộ khoa học kỹ thuật
- DNNN giữ vị trí chủ đạo trong các ngành then chốt như than, điện, luyện kim, cơ khí, hoá chất.[25, 83]
Trên thực tế, so với năm 1960, giá trị sản lượng công nghiệp trong khuvực DNNN năm 1975 tăng 4,39 lần Trong thương nghiệp, số cửa hàng bán lẻ
và tổng mức bán lẻ của thương nghiệp nhà nước tăng 12,53 lần và 25,21 lần Trongngành giao thông vận tải, khối lượng hàng hoá luân chuyển và khối lượng hànhkhách luân chuyển của các DNNN tăng 3,25 lần và 3,15 lần Năm 1975, số
Trang 40lượng CNVC và trí thức làm việc trong DNNN là 1.753.400 người, tăng hơn 3,6lần so với năm 1960.[25, 80] Như vậy, DNNN trước thời kỳ đổi mới là nhằm mụcđích xây dựng quan hệ sở hữu XHCN trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.2.2.2 Những yếu kém và nguyên nhân
Do chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và quá trình thực thi
mô hình CNXH kiểu cũ, DNNN ở Việt Nam tập trung vào phát triển nền kinh tếquốc phòng và xây dựng quan hệ sở hữu XHCN trên toàn bộ nền kinh tế quốcdân DNNN được nhận thức như là một tổ chức hành chính của Nhà nước hơn
là một đơn vị sản xuất kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là phục vụ chiến tranh,thực hiện cải tạo XHCN, phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, chứkhông phải là nhằm mục tiêu kinh tế vì lợi nhuận Vai trò này của DNNN tiếptục được thực hiện bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp của Nhànước, biểu hiện trên những nét cụ thể như sau :
Nhà nước quản lý DNNN trực tiếp bằng các chỉ tiêu pháp lệnh Kếhoạch sản xuất của DNNN được Nhà nước quy định một cách tỉ mỷ và chặtchẽ DNNN giữ vai trò như một cơ sở hành chính, chỉ việc chấp hành mệnh lệnhcủa cấp trên Mọi sự thay đổi trong kế hoạch và tổ chức sản xuất đều phải báocáo lên cơ quan chủ quản và phải được sự đồng ý mới được triển khai TheoNghị quyết 244-CP/HĐBT (20-12-1976), hệ thống pháp lệnh hàng năm giao chocác DNNN là :
- Giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện, trong đó ghi rõ giá trị sản lượng hàng hoá xuất khẩu
- Sản lượng sản phẩm chủ yếu theo chỉ tiêu chất lượng quy định, trong
đó ghi rõ sản lượng sản phẩm xuất khẩu
- Một số chỉ tiêu tiến bộ khoa học-kỹ thuật mà Nhà nước cần nắm
- Nhịp độ tăng năng suất lao động, mức tăng năng suất lao động tính bằng hiện vật