1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của việt nam hiện nay002

182 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 247,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu của luận án...7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI...8 1.1.Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hội nhập q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

-PHẠM THỊ THUỲ

ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

-PHẠM THỊ THUỲ

ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS

Mã số: 62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

PGS.TS NGUYỄN ANH TUẤN GS.TS TRẦN PHÚC THĂNG

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả được sử dụng, nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo qui định.

Tác giả

Phạm Thị Thuỳ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện được luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp

đỡ, hỗ trợ của các thầy cô, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn làGS.TS Trần Phúc Thăng đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinhnghiệm và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa Triết học đã tận tìnhgiảng dạy, cung cấp kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong thờigian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Điện lực và Bộ môn Khoahọc chính trị nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ tôi trong suốtthời gian làm nghiên cứu sinh

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã đồng hành,giúp đỡ, chia sẻ với tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận án

Do thời gian và năng lực bản thân có hạn, luận án này không tránh khỏi khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019

Tác giả

Phạm Thị Thùy

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

: Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công

cấp tỉnh ở Việt Nam: Uỷ ban nhân dân: Tổ chức Thương mại Thế giới: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 6

5 Đóng góp mới của luận án 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 7

7 Kết cấu của luận án 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1.Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế 8

1.2.Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế 20

1.3.Nhận xét về các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 30

1.3.1.Những vấn đề đã được giải quyết trong các công trình nghiên cứu 30

1.3.2.Những vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc nghiên cứu chưa thấu đáo 32

1.3.3.Những vấn đề luận án sẽ tiếp tục làm sáng tỏ 33

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 LÝ LUẬN ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 35

2.1 Khái niệm đổi mới chính trị và hội nhập quốc tế 35

2.1.1 Đổi mới chính trị 35

2.1.2 Hội nhập quốc tế 48

2.2 Mối quan hệ giữa đổi mới chính trị và hội nhập quốc tế 51

Trang 7

2.2.1 Hội nhập quốc tế quy định và tác động đến đổi mới chính trị 51

2.2.2 Đổi mới chính trị có tính độc lập tương đối và tác động trở lại hội nhập quốc tế 55

2.3 Những vấn đề cơ bản của đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam 57

2.3.1 Các nhân tố tác động đến đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam 57

2.3.1.1 Nhân tố bên ngoài 58

2.3.1.2 Nhân tố bên trong 60

2.3.2 Các nội dung chủ yếu của đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam 63

2.3.2.1 Đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế 63

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 69

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 69

3.1 Khái quát về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam 69

3.1.1 Quan điểm hội nhập quốc tế của Việt Nam 69

3.1.2 Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam 71

3.2 Thực trạng đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1986 đến nay 75

3.2.1 Những thành tựu đạt được 75

3.2.2 Một số hạn chế 106

3.3 Một số vấn đề đặt ra từ quá trình đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam 124

Tiểu kết chương 3 130

Trang 8

Chương 4 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 131 4.1.Phát triển những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam 131

4.1.1.Phát triển lý luận thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế 131

4.1.2 Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế với việc bảo đảm ổn định chính trị 138 4.2 Đổi mới hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay. 140

4.2.1 ổ chức s p ếp tinh g n các cơ quan trong toàn hệ thống chính trị

140

4.2.2 Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị bảo đảm hiệu lực hiệu quả quản lý và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân 143 Tiểu kết chương 4 161 KẾT LUẬN 162 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 164 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay là một quá trình thayđổi mang tính cách mạng sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong

đó đổi mới chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với tính cách là nhân tốdẫn đường, đảm bảo thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp đổi mới Quá trình đổimới nói chung và đổi mới chính trị nói riêng lại diễn ra đồng thời với quátrình hội nhập quốc tế, một đòi hỏi mang tính tất yếu cho sự phát triển đấtnước trong bối cảnh thế giới ngày nay Và việc nắm bắt, tận dụng cơ hội, vượtqua thách thức – tác động hai mặt của quá trình hội nhập quốc tế, rốt cuộc lạituỳ thuộc vào nhân tố chủ quan là tính chất và trình độ của các chủ thể chínhtrị Vì thế, đổi mới chính trị càng trở nên quan trọng

Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, với những bước chuyển vươn tầm thờiđại mà nước ta đạt được, đã chứng tỏ đường lối đổi mới chính trị và hội nhậpquốc tế là hết sức đúng đắn Đổi mới chính trị và hội nhập quốc tế là hainhiệm vụ chiến lược, hai vấn đề có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại,thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình thực hiện mục tiêu chung là xây dựng vàphát triển đất nước theo định hướng XHCN Việc kết hợp hai nhiệm vụ, haiyếu tố này với nhau là rất cần thiết, hợp quy luật phát triển; trong thực tiễn đãđạt được những thành công lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tiếnnhanh hơn, đúng hướng hơn, tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta Chẳngnhững kinh tế, xã hội có sự phát triển mang tính đột phá mà chính trị cũng cónhững chuyển biến quan trọng về nhận thức cũng như về đổi mới cách thức tổchức và phương thức hoạt động của cả hệ thống chính trị Tuy nhiên, một sựnghiệp to lớn và mới mẻ như vậy, không bao giờ chỉ có thành công mà không

có ít hoặc nhiều những hạn chế, những vấn đề phức tạp nảy sinh Những hạnchế không chỉ về nhận thức mà còn là những hạn chế

Trang 10

không nhỏ về cách thức tổ chức và phương thức hoạt động của các bộ máyĐảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội khác Những hạn chế này kéodài đã tạo nên những bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng

và bảo vệ đất nước

Thời gian tới là giai đoạn nước ta có thêm nhiều điều kiện mới, nhiềuyếu tố thuận lợi và thời cơ mới để phát triển Song đó cũng là giai đoạn đấtnước ta đứng trước những nhiệm vụ mới hết sức to lớn và nặng nề, bao gồmviệc khắc phục những hạn chế, yếu kém và tạo ra những triển vọng phát triểnđầy hứa hẹn Trong đó, phải nhìn lại quá trình đổi mới chính trị trong điềukiện hội nhập quốc tế từ nhiều góc độ khác nhau, nhất là dưới góc độ triết học

để có thể phát huy những lợi thế trong nước, nắm bắt thời cơ, đẩy lùi tháchthức từ hội nhập quốc tế bên ngoài, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới chính trị, tạođộng lực mới để vươn lên phát triển nhanh chóng và vững chắc Do đó, việcnghiên cứu đổi mới chính trị trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế có ýnghĩa quan trọng, làm sâu sắc thêm những nội dung lý luận và đẩy mạnh đổimới chính trị trong thực tiễn

Đổi mới chính trị và hội nhập quốc tế là những nội dung có tính thựctiễn, tính lịch sử và ý nghĩa khoa học sâu sắc; là chủ đề luôn được giới khoahọc và đề xuất chính sách quan tâm Tuy nhiên vấn đề đổi mới chính trị trongquan hệ với hội nhập quốc tế lại ít được nghiên cứu, vì đây là vấn đề haynhưng khó trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận củachuyên ngành CNDVBC&CNDVLS còn nhiều mới mẻ Do vậy tác giả lựa

chọn đề tài “Đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam

hiện nay” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành CNDVBC&CNDVLS là một đề

tài mới, không bị trùng lặp, có ý nghĩa lớn về giá trị khoa học và thực tiễn

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hoá cơ sở lý luận về đổi mớichính trị và thực tiễn đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ở

Trang 11

Việt Nam, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằmtiếp tục thực hiện đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của ViệtNam hiện nay.

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Tổng quan các công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

+ Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đổi mới chính trị; phân tích mối quan hệgiữa đổi mới chính trị và hội nhập quốc tế; chỉ ra những nhân tố tác động vàcác nội dung chủ yếu của đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ởViệt Nam

+ Phân tích thực trạng đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế củaViệt Nam từ năm 1986 đến nay, chỉ ra nguyên nhân và những vấn đề đặt ra từquá trình đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam

+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục thực hiệnđổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề đổi mới chính trị của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, khảo sát vấn đề đổi mới chínhtrị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay theo hai nội dung

cơ bản là đổi mới tư duy chính trị và đổi mới hệ thống chính trị, giai đoạn từnăm 1986 đến nay

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở tiếp cận nền tảng lýluận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là các quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận đổi mới, chính trị, đổi mớichính trị, đổi mới tư duy chính trị, đổi mới hệ thống chính trị và hội nhậpquốc tế; đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu của

Trang 12

các nhà khoa học trong và ngoài nước đã công bố liên quan tới đề tài.

- Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ nghiêncứu của luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học củachuyên ngành CNDVBC&CNDVLS, bao gồm các phương pháp thống nhấtlịch sử - lôgic, hệ thống – cấu trúc, phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp,

so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá…

5. Đóng góp mới của luận án

- Luận án làm rõ hai khái niệm trung tâm là đổi mới chính trị và hội nhậpquốc tế; luận giải mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính trị và hội nhậpquốc tế; chỉ ra những nhân tố tác động và các nội dung chủ yếu của đổi mớichính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam

- Luận án phân tích dưới góc độ triết học một số thành tựu và hạn chế cơbản của quá trình đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của ViệtNam từ năm 1986 đến nay, cũng như chỉ ra nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra

- Luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản tiếp tục đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở cho việc nhậnthức rõ đường lối đổi mới chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điềukiện hội nhập quốc tế hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa,nguồn tư liệu chuyên sâu cho công tác nghiên cứu lý luận, giảng dạy liên quanđến nội dung đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam,nhất là đối với chuyên ngành CNDVBC&CNDVLS vốn là một chuyên ngànhkhó

7. Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm: phần mở đầu; phần nội dung có 4 chương và 11 tiết;phần kết luận; phần danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả và phầndanh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Luận án nghiên cứu vấn đề đổi mới chính trị theo hai nội dung cơ bản

là đổi mới tư duy chính trị và đổi mới hệ thống chính trị Vì vậy, tổng quancác công trình nghiên cứu liên quan đến tài cũng là sự tổng quan các côngtrình nghiên cứu liên quan đến hai nội dung đó

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính

trị trong điều kiện hội nhập quốc tế

Đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam là đề tài thu hút khá đông các họcgiả, nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu Đầutiên là một số công trình nghiên cứu nước ngoài tiêu biểu liên quan đến đổimới tư duy chính trị ở Việt Nam

Cuốn sách Doi Moi: Vietnam's Renovation Policy and Performance

(1991) [153] của tác giả Forbes, Dean K đã có những phân tích sâu sắc vềtình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở Việt Nam đương đại Tác giả đánh giá

sự năng động của Việt Nam khi nhanh chóng rũ bỏ những khó khăn của mộtquá khứ buồn bã và dữ dội, dấn thân vào con đường phát triển nhanh chóng

và thịnh vượng bằng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Trong đó, tác giảphân tích khá chi tiết những quan điểm, tư tưởng đổi mới cũng như các chínhsách được thực thi trong quá trình đổi mới, đồng thời đánh giá hiệu suất thànhcông của công cuộc đổi mới ở Việt Nam Là một nhà nghiên cứu độc lập nướcngoài song tác giả có nhận định lạc quan về triển vọng phát triển của ViệtNam kể từ khi tiến hành đổi mới đất nước

Các tác giả William S Turley, Mark Selden của cuốn sách Reinventing

Vietnamese Socialism: Doi Moi in Comparative Perspective (1993) [159]

trình bày nhiều quan điểm có tính nguyên tắc và lý luận về vấn đề đổi mới ởViệt Nam, đồng thời khám phá công cuộc đổi mới của Việt Nam đặt trong

Trang 14

mối tương quan với những cải cách đang diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩakhác trên thế giới, so sánh vấn đề đổi mới ở Việt Nam với tái cấu trúc ở cácquốc gia xã hội chủ nghĩa khác Công trình nghiên cứu chỉ ra nhiều điểm khácbiệt trong tư duy, đường lối đổi mới của Việt Nam, tạo nên dấu ấn đổi mớiriêng của Việt Nam mà không làm thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Các cuốn sách The Politics and Economics of Transition to an Open

Market Economy in Viet Nam (1999) [155] của các tác giả James Riedel,

William S Turley; Renovating Politics in Contemporary Vietnam (2001)

[160] của tác giả Zachary Abuza và Vietnam's Development Strategies

(Routledge Contemporary Southeast Asia Series) (2006) [158] của tác giả

Pietro Masina có điểm chung trong nhận định và đánh giá công cuộc đổi mới

và đổi mới chính trị ở Việt Nam là một quá trình kéo dài, chứng kiến sựchuyển biến mạnh mẽ từ đổi mới tư duy kinh tế đến đổi mới tư duy chính trị

đi theo định hướng XHCN đã lựa chọn Trong đó các thiết chế chính trị vàthiết chế kinh tế đều có sự thay đổi nhất định về mô hình và thể chế cho phùhợp nền kinh tế thị trường mở ở Việt Nam

Ở trong nước, đổi mới tư duy chính trị là một nội dung quan trọng nằmtrong đường lối đổi mới chính trị của Đảng, gắn liền với công cuộc đổi mớiđất nước năm 1986 do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng Đổi mới tư duychính trị của Đảng được thể hiện rõ ràng và nhất quán trong các văn kiện đạihội, nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương các khoá VI đến XII, vàtrong các báo cáo tổng kết của Đảng Kế thừa những quan điểm, tư tưởng củaĐảng, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng có nhiềunghiên cứu, tìm tòi, phát kiến, cụ thể hoá, phân tích sắc bén, làm sáng tỏ hơncác quan điểm của Đảng về đổi mới tư duy chính trị ở nước ta

Đồng chí Trường Chinh với tác phẩm Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của

đất nước và của thời đại (1987) [30] chỉ ra rằng, thế giới ngày nay đang

Trang 15

nhanh chóng đổi mới, chủ nghĩa xã hội phải phấn đấu để chứng minh tính ưuviệt của mình về mọi mặt so với chủ nghĩa tư bản trên thực tế Con đường đểcác nước xã hội chủ nghĩa vươn lên đáp ứng những đòi hỏi phát triển của thựctiễn khách quan, đáp ứng những nhu cầu tất yếu và ngày càng cao của nhândân là xuất phát từ nhân tố đổi mới Đối với Việt Nam, đổi mới là yêu cầu bứcthiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đòi hỏi phải xuất phát từ bên trong và phùhợp với xu thế đổi mới của thời đại bên ngoài Quan điểm đổi mới, theo tácgiả, chính là phát huy những thành quả to lớn mà cách mạng đã giành được, làsửa chữa những khuyết điểm, sai lầm đã mắc phải trước đây, là sớm biết pháthiện và xử lý tốt những vấn đề mới phát sinh, phát huy sức mạnh dân tộc vàsức mạnh thời đại, giữ vững độc lập chủ quyền, từng bước vững chắc đi lênchủ nghĩa xã hội Lôgíc phát triển trong tư duy đổi mới là để đổi mới cần phải

có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm giải phóng sức sản xuất trongnước kết hợp với đường lối mở cửa hướng ra bên ngoài, khai thác có hiệu quảnhững thuận lợi ở bên ngoài để nhân lên sức mạnh ở bên trong

Đồng chí Nguyễn Văn Linh với 4 tập sách Đổi mới để tiến lên (1991)

[76] đưa ra quan điểm cho rằng, đổi mới là cuộc đấu tranh trường kỳ diễn ratrên mọi lĩnh vực và trong bản thân mỗi người để chống lại những cái cũ bảothủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống thahóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng Tác giả nhấn mạnhquan điểm đổi mới có nguyên tắc - đổi mới nhưng luôn luôn giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa với những bước đi và cách làm phù hợp với hoàncảnh của Việt Nam, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vữngvàng, chủ động, sáng tạo lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, vượt qua thử thách,tập trung đổi mới kinh tế, phát huy dân chủ, đồng thời giữ vững kỷ luật kỷcương, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, kiên quyết chống tệ thamnhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân

Trang 16

Trong 6 tập sách Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội

(1996) [86] của đồng chí Đỗ Mười cho thấy tư duy đổi mới nhất quán, không

gì lay chuyển được, kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Ông khẳngđịnh đó là con đường duy nhất đúng đắn, con đường mà Chủ tịch Hồ ChíMinh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Đổi mới là mệnh lệnh của cuộc sống,

là quá trình không thể đảo ngược, cần phải thực hiện toàn diện, đồng bộ trêntất cả các mặt, phải có nguyên tắc cụ thể và bước đi vững chắc Đối với nước

ta, quan trọng nhất đó là phải cải biến một cách cơ bản tình trạng kinh tế - xãhội kém phát triển, chiến thắng các thế lực thù địch chống phá và cản trở việcthực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước mạnh theo con đường xãhội chủ nghĩa

Một loạt các công trình nghiên cứu tiêu biểu của đồng chí Nguyễn Phú

Trọng như: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước (2002) [135], Đổi mới tư duy lý luận vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

(2005) [136], Đổi mới và phát triển ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn (2006) [138], Đảng vững mạnh đất nước phát triển dân tộc trường tồn (2015) [140], 2 tập sách Vững bước trên con đường đổi mới (2017) [141], Phải có tầm nhìn vượt trước; dự báo chuẩn xác xu thế phát triển; xây dựng

hệ thống luận cứ vững chắc cho chiến lược phát triển quốc gia (2018) [142]

là thành quả nghiên cứu lý luận đồ sộ về vấn đề đổi mới và phát triển, làm rõ

cơ sở lý luận cho việc hoạch định và triển khai đường lối đổi mới đất nước.Tất cả các công trình này đều có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, thể hiệntầm nhìn, quan điểm và cả những tâm tư trăn trở, đầy tinh thần trách nhiệm vàtâm huyết của người lãnh đạo cao nhất trong Đảng đối với những vấn đề quantrọng, sống còn của công cuộc đổi mới đất nước nói chung và đổi mới tư duychính trị nói riêng

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước cũng thu hút và lôi cuốn sự quantâm của các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành tham gia nghiên cứu lý

Trang 17

luận Phần lớn là các công trình nghiên cứu về đổi mới tư duy, đổi mới tư duy

lý luận, chỉ có số ít công trình nghiên cứu trực tiếp về đổi mới tư duy chínhtrị Mặc dù các công trình nghiên cứu của các tác giả có thể không trực tiếp đềcập tới vấn đề đổi mới tư duy chính trị, nhưng ít nhiều cũng có chứa đựngnhững nội dung cơ bản liên quan đến đổi mới tư duy chính trị

Trước hết, tác giả Nguyễn Ngọc Long đã đưa ra những quan điểm,nguyên tắc nhằm đổi mới, nâng cao năng lực tư duy lý luận, chống lại chủnghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh kinh nghiệm và giáo điều trong quátrình đổi mới tư duy của Đảng trong hai công trình nghiên cứu tiêu biểu là

Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy (1987) [78] và Chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong quá trình đổi mới tư duy lý luận (1988) [79].

Ngay sau khi Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3/1989) đề ra 6nguyên tắc cơ bản mà Đảng phải giữ vững trong quá trình đổi mới, tác giả

Nguyễn Đức Bình (1989) có bài viết Đổi mới có nguyên tắc [23], phân tích

vai trò của Đảng trong sự nghiệp đổi mới tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Trong đó, tác giả đưa ra quan điểm rất cơ bản và có ý nghĩa về đổi mới cónguyên tắc Tác giả cho rằng, chỉ có giữ vững nguyên tắc trong khi tiến hànhcông cuộc đổi mới thì mới có thể đưa đất nước vượt qua cơn khủng hoảng vàtiếp tục phát triển; ngược lại, đổi mới mà không giữ được nguyên tắc chỉ làmcho khủng hoảng trầm trọng thêm, làm hiện rõ nguy cơ đi chệch khỏi quỹ đạoXHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch và những phần tử cơhội trong Đảng lật đổ chế độ XHCN Thực tế cho thấy, sự sụp đổ của Liên Xô

và Đông Âu từ cuối năm 1989 đến cuối năm 1991 là bài học xương máu vôcùng quý giá chứng minh cho điều đó

Các tác giả Hồ Văn Thông, Phạm Thành, Lê Hữu Tầng với công trình

Triết học với sự nghiệp đổi mới (1990) [129] cho rằng, muốn đổi mới tư duy

Trang 18

lý luận phải có tư duy triết học mác xít, phải biết vận dụng thế giới quan,phương pháp luận mác xít để nhận thức những vấn đề mới của cánh mạngViệt Nam, từ đó định được rõ hướng đi và đề ra cách giải quyết đúng đắnnhững vấn đề ấy Cuốn sách nằm trong hệ thống sách trao đổi ý kiến về nhữngvấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội sau Đại hội VI của Đảng, chỉ rõ nguyênnhân cơ bản dẫn tới những sai lầm và khuyết điểm trong một loạt vấn đề củacách mạng xã hội chủ nghĩa là do sự lạc hậu về nhận thức và lý luận Cuốnsách gồm ba bài viết của ba tác giả về đổi mới tư duy triết học để khắc phục

sự lạc hậu về lý luận, triết học trong sự nghiệp đổi mới, vấn đề con người vàgiai cấp trong triết học mác xít

Tác giả Nguyễn Duy Quý trong một số công trình tiêu biểu như: Những

vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1998) [110], Đổi mới tư duy lý luận - Thành tựu và một số vấn đề đặt ra (2006) [111], Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam (2008)

[112] đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệthống về đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở nước ta, trên các lĩnh vực: tưduy kinh tế, tư duy về hệ thống chính trị, tư duy về văn hoá - xã hội và tư duytrong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Các công trình đã làm rõ nộidung đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới; chỉ ra tính tất yếu, vai trò, ý nghĩacủa đổi mới tư duy đối với sự nghiệp đổi mới đất nước; đồng thời phân tíchquá trình đổi mới tư duy với những chuyển biến thời đại trong cuộc sống

Tác giả Nguyễn Trọng Phúc (2006) có bài viết Đổi mới tư duy chính trị

của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới [100] bàn về các nội dung xoay

quanh vấn đề đổi mới tư duy chính trị Đảng đã nhận thức sự cần thiết, phảithường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, nănglực lãnh đạo của Đảng như thế nào

Tập thể tác giả Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc

Tòng đồng chủ biên cuốn sách Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ

Trang 19

năm 1986 đến nay (2011) [115] Đây là công trình nghiên cứu công phu của

tập thể tác giả về quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng, khảo cứu thựctiễn từ năm 1986 đến nay Trong đó, các tác giả nhấn mạnh, đổi mới là mộtquá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để; đổi mới thực sự làmột cuộc cách mạng để phát triển ở nước ta, mà trước hết là đổi mới tư duy

Do đó, Đảng phải đi tiên phong trong đổi mới, “đổi mới Đảng để đổi mới xãhội” Các tác giả cho rằng, thành tựu trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta códấu ấn quan trọng của đổi mới tư duy lý luận của Đảng Bởi lẽ, thực tiễn đổimới vừa đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết vừa mở ra thời cơ lớn vànhững thuận lợi rất căn bản cho sự phát triển lý luận, sự trưởng thành về nănglực tư duy lý luận và bản lĩnh chính trị của Đảng, một Đảng Cộng sản cầmquyền có trọng trách lãnh đạo xã hội, nhân dân và dân tộc ta đi tới CNXH.Không có thực tiễn đổi mới thì không thể sinh thành tư duy và lý luận đổimới, không thể có được những khởi sắc mới trong nhận thức và ý thức xã hộinhư hiện nay Mặt khác, chính đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức lý luậnmạnh mẽ và giữ vững định hướng XHCN, nhờ năng động sáng tạo trên cơ sởgiữ vững nguyên tắc, nhờ phát huy được sức mạnh dân tộc, kết hợp với sứcmạnh thời đại, Đảng và nhân dân ta đã làm cho kinh tế tăng trưởng, chính trị

ổn định, dân tộc đoàn kết, xã hội đồng thuận, các tầng lớp nhân dân có cuộcsống ngày một tốt hơn và một lòng tin tưởng ở Đảng, thế giới đồng tình, ủng

hộ công cuộc đổi mới của nước ta

Trong cuốn sách Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở

Việt Nam (2012) [94], tác giả Dương Xuân Ngọc quan niệm đổi mới tư duy

chính trị ở nước ta là đổi mới lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH;xây dựng, hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ XHCN bảo đảm sự phù hợp vàtương thích giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế; đổi mới quan điểm, chủtrương trong việc giải quyết các mối quan hệ lớn: (1) giữa đổi mới, ổn định và

Trang 20

phát triển; (2) giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (3) giữa phát triển kinh

tế thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; (4) giữa phát triển lực lượng sảnxuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; (5) giữa tăng trưởngkinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; (6) giữa xâydựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; (7) giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốctế; (8) giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ

Cuốn sách 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam (2015) [65] do tập

thể tác giả Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa đồng chủ biêncũng chỉ ra yêu cầu tất yếu của đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hiệnnay Để thúc đẩy đổi mới toàn diện mọi mặt đất nước, phải đổi mới tư duyquyết liệt hơn nữa, khắc phục những trì trệ, bảo thủ, khuynh hướng giáo điều,đổi mới cực đoan, chủ quan, duy ý chí, tâm lý nóng vội, xa rời thực tiễn; phảiphát triển và hoàn thiện lý luận đổi mới, lý luận CNXH và xây dựng CNXHphù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm lịch sử cụ thể của Việt Nam,thuận với xu thế phát triển chung của thời đại, của thế giới đương đại ngàynay Đặc biệt, nhấn mạnh đổi mới tư duy chính trị không chỉ là chiến lược màcòn là chính sách, quyết sách quan trọng của dân tộc; là lý luận gắn với thựctiễn, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn theo phương châm “lý luận hoáthực tiễn” và “thực tiễn hoá lý luận”

Tác giả Vũ Hữu Ngoạn trong bài viết Những nhận thức cơ bản về thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (2015) [92] cho rằng tư duy đổi mới

chính trị ở nước ta không phải là thay đổi mục tiêu, lý tưởng CNXH, mà làđổi mới nội dung và cách thức xây dựng CNXH từ một nước có nền kinh tếkém phát triển Đổi mới tư duy chính trị thực chất là việc đổi mới nhận thứccho đúng về thời kỳ quá độ, là việc xây dựng các mục tiêu, nhiệm vụ và xácđịnh tuần tự các bước đi của thời kỳ quá độ cho đúng Tác giả nhận định, côngcuộc đổi mới và quá độ lên CNXH ở nước ta thực chất là có cùng mục tiêu,nội dung và cách thức

Trang 21

Tác giả Nhị Lê trong bài viết Không ngừng đổi mới chính trị, vì sự phát

triển toàn diện, đồng bộ và tiếp tục thành công của sự nghiệp đổi mới (2016)

[70] cho rằng, đổi mới chính trị không thể không bắt đầu từ đổi mới tư duychính trị, là đổi mới tư duy, tìm tòi phương lược, hoạch định cơ chế, lộ trìnhphù hợp, giải quyết đúng đắn quy luật về các mối quan hệ chính trị, tất cảnhằm mục tiêu cao cả: bảo vệ và phát triển lợi ích của mỗi người, của từng tổchức trong xã hội, làm nền tảng lợi ích tối thượng của quốc gia dân tộc ViệtNam xã hội chủ nghĩa trong thế giới đương đại Theo tác giả, hạt nhân củamọi sự đổi mới chính trị dù ở góc độ nào, mức độ tới đâu đều phải xuất phát

từ lợi ích chính trị của đất nước và đặt dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng chứtuyệt đối không phải ngược lại và càng không phải là một thứ gì khác

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Vũ Thị Thu Hương (2018) với đề tài

Quá trình đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay [66], đã

phân tích và làm rõ thêm nội hàm của khái niệm tư duy chính trị, đổi mới tưduy chính trị Tác giả cho rằng, đổi mới tư duy chính trị ở nước ta là quá trìnhhình thành tư duy chính trị mới, những quan niệm mới, nhận thức mới, nhữngphương thức, cách thức tiếp cận mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời

kỳ đổi mới đối với các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam ở tầmchiến lược Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nhân tố tác động đến đổi mới

tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay; phân tích một số nội dung

cơ bản, những thành tựu của quá trình đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam từnăm 1986 đến nay và đưa ra một số vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục đổi mới tưduy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu khác có nội

dung liên quan đến đổi mới tư duy chính trị như: Có một Việt Nam như thế

-Đổi mới và phát triển (1997) [95] của tác giả Trần Nhâm; Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (2012) [20] của tác giả

Trang 22

Hoàng Chí Bảo; Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận từ công

cuộc đổi mới (2015) [121] của tác giả Tạ Ngọc Tấn.

Trong các nghiên cứu: Hội nhập quốc tế của Việt Nam: Từ lý thuyết đến

thực tiễn (2014) [53] của tác giả Đỗ Sơn Hải; Hội nhập quốc tế và những vấn

đề đặt ra đối với Việt Nam: Sách tham khảo (2015) [117] của tác giả Bùi

Thanh Sơn chủ biên; Hội nhập quốc tế của Việt Nam - Vấn đề đặt ra hôm nay

(2017) [96] của tác giả Vũ Dương Ninh đều quan niệm rằng, quá trình toàncầu hóa, hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra các cơ hội, đồng thời là nhữngthách thức phải đối mặt trong tiến trình đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay.Hội nhập quốc tế vừa là điều kiện, vừa là nguyên nhân của đổi mới chính trị.Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam muốn hội nhập ngày càng sâu rộng với thếgiới và nỗ lực khẳng định vị thế, vai trò nhất định trên trường quốc tế thì lẽ tấtyếu phải tiến hành đổi mới chính trị Vì vậy nghiên cứu về đổi mới chính trịtrong điều kiện hội nhập quốc tế ở nước ta thu hút sự quan tâm của không ítcác học giả nghiên cứu và nhà khoa học Dưới đây là một số công trìnhnghiên cứu tiêu biểu về đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hội nhập quốc

tế của Việt Nam

Tác giả Hoàng Chí Bảo trong bài viết Việt Nam đổi mới và hội nhập

quốc tế - Những vấn đề triết học cần nghiên cứu (2017) [22] cho rằng, những

vấn đề triết học cần nghiên cứu trong quan hệ giữa đổi mới và hội nhập quốc

tế của Việt Nam là việc phải làm rõ tính biện chứng giữa thời cơ với tháchthức của hội nhập quốc tế trong đổi mới của Việt Nam, làm thế nào để đổimới vừa phải đón kịp thời cơ vừa phải chủ động vượt qua những thách thức

và nguy cơ từ hội nhập quốc tế Tác giả lập luận đổi mới của Việt Nam là mộtquá trình, một tiến trình lâu dài, với lực đẩy khởi động là đổi mới tư duy, thayđổi cách nghĩ để thay đổi cách làm, xác lập quan niệm, nhận thức mới để kiếntạo mô hình phát triển mới Qua chặng đường hơn 30 năm đổi mới, vấn đề đổi

Trang 23

mới tư duy vẫn đặt ra với tất cả tính thời sự, bức xúc của nó Để phát triển bềnvững và hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là khi cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) đã xuất hiện, cần thiết tất yếuphải cách mạng hóa tư duy, phải thực sự có một cuộc cách mạng trên lĩnh vựcnày, xây dựng tư duy khoa học, tư duy sáng tạo, phong cách khoa học để khoahọc hóa sự lãnh đạo, quản lý và cầm quyền của các chủ thể được dân uỷquyền, trước hết đối với Đảng cầm quyền.

Tác giả Tạ Ngọc Tấn với bài viết Công tác tư tưởng, lý luận của Đảng

Cộng sản Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế (2017) [122] đã chỉ ra

bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ, của dân tộc trong giaiđoạn hội nhập hiện nay là tụt hậu, chệch hướng, tham nhũng và diễn biến hòabình Tác giả cho rằng, bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt ra chocông tác tư tưởng, nghiên cứu lý luận của Đảng những yêu cầu tất yếu, nhiệm

vụ mới mẻ và hết sức nặng nề Đó là trước hết phải xây dựng Đảng trongsạch, vững mạnh, bảo đảm năng lực lãnh đạo đất nước; là đổi mới mô hìnhphát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với trọng tâm phát triểnkinh tế tri thức; là thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, đồng bộ, hợp lý các lĩnh vựckinh tế, văn hóa, y tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo; là bảo vệ tàinguyên môi trường, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu và những nguy

cơ về an ninh phi truyền thống; là thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tựchủ, hòa bình, chính sách an ninh - quốc phòng tích cực nhằm bảo vệ vữngchắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi của dân tộc, bảo vệ cuộcsống hạnh phúc của nhân dân; là phát huy tốt nhất vai trò của báo chí - truyềnthông trong việc thông tin, tuyên truyền, thực hiện các nhiệm vụ công tác tưtưởng, hạn chế những tác động tiêu cực; là ngăn chặn kịp thời những biểuhiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đấu tranh chống lại các âmmưu chống phá của các thế lực thù địch… Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp

Trang 24

và nhiệm vụ cụ thể trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng đáp ứng nhữngyêu cầu đặt ra từ hội nhập quốc tế.

Trong bài viết Đổi mới tư duy là yếu tố quyết định, mở đường cho sự

phát triển kinh tế - xã hội có tính đột phá ở nước ta trong thời kỳ mới (2018)

[30] của tác giả Chu Văn Cấp cho rằng tư duy mới hay đổi mới tư duy trong

thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng, mởđường và tạo không gian cho sự phát triển kinh tế xã hội, mở ra vận mệnhmới cho dân tộc Theo tác giả, khởi đầu cho quá trình phát triển mới phải xuấtphát từ đổi mới tư duy, có tư duy mới thì sẽ có chính sách mới, có chính sáchmới sẽ tạo ra phong trào mới, có phong trào mới sẽ tạo ra kết quả mới Trongthời kỳ hiện nay, dưới những tác động mạnh mẽ của hội nhập quốc tế đòi hỏicần phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, tạo động lực mới cho sự phát triểnđột phá của kinh tế - chính trị - xã hội đất nước

Tác giả Nguyễn Phú Trọng trong bài viết Phải có tầm nhìn vượt trước;

dự báo chuẩn xác xu thế phát triển; xây dựng hệ thống luận cứ vững chắc cho chiến lược phát triển quốc gia (2018) [142] cho rằng thực tiễn sinh động đang

đặt ra nhiều vấn đề rất mới về lý luận đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng vàgiải quyết tốt Đó là tình hình thế giới, khu vực hiện nay đang và sẽ diễn biếnnhanh chóng, phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều chiều hướng bất ổn; sự pháttriển nhanh chóng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang và sẽ làmthay đổi căn bản cách nghĩ, cách làm và phương thức sinh hoạt của con người

Vì vậy theo tác giả, đổi mới tư duy chính trị trong bối cảnh hiện nay đặt lênvai giới lý luận nước nhà trọng trách rất lớn; phải có tầm nhìn vượt trước; dựbáo chuẩn xác xu thế phát triển; xây dựng hệ thống luận cứ vững chắc chochiến lược phát triển quốc gia với lộ trình khoa học, bước đi hợp lý nhằm chủđộng chớp thời cơ để đưa đất nước phát triển nhanh hơn, khắc phục bằngđược nguy cơ bị tụt hậu

Trang 25

Tác giả Vũ Văn Hiền có bài viết Chúng ta có giữ được độc lập, tự chủ

trong hội nhập quốc tế? (2018) [56] cho rằng, độc lập, tự chủ là yêu cầu có

tính nguyên tắc trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Quan điểm độclập, tự chủ trong chính trị được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, trong đối nội

và đối ngoại Đó là việc tự xác định mục tiêu, con đường phát triển; là tựhoạch định đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển; là tự xác lập và duytrì thể chế chính trị đã được tạo dựng, không chấp nhận bất cứ sự can thiệpnào từ bên ngoài Tác giả lập luận việc giữ được độc lập, tự chủ trong hộinhập quốc tế hay không phụ thuộc vào đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mớikinh tế, tối ưu hóa hoạt động của hệ thống chính trị, phân bổ quyền lực chínhtrị hợp lý, kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả Đây là những cách tốt nhấtđáp ứng các yêu cầu và thách thức đặt ra của yêu cầu giữ được độc lập, tự chủtrong hội nhập quốc tế

Ngoài ra vấn đề đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hội nhập quốc

tế còn được nhắc tới trong một số công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như:

Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới (2011)

[126] của tác giả Nguyễn Xuân Thắng; 2 tập sách Những tranh luận mới về

chủ nghĩa xã hội (2016) [134] của các tác giả Lê Văn Toan, Phương Sơn đồng

chủ biên; Đất nước phơi phới sắc xuân, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội

nhập quốc tế (2018) [57] của tác giả Vũ Văn Hiền…

1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới hệ thống chính

trị trong điều kiện hội nhập quốc tế

Vấn đề đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam trong điều kiện hội nhậpquốc tế là một đề tài hấp dẫn, có tính thực tiễn, thu hút đông đảo sự quan tâmnghiên cứu của nhiều học giả, nhà khoa học

Trước hết là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các học giả uytín liên quan đến đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ đổi mới

Trang 26

Tác giả Trần Phúc Thăng trong các bài viết: Xu hướng biến động của hệ

thống chính trị trong thời kỳ quá độ ở nước ta (1992) [124], Thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta và đặc điểm của hệ thống chính trị (1993) [125] đã phân

tích đặc điểm và xu hướng biến động của hệ thống chính trị ở nước ta trongthời kỳ quá độ lên CNXH Trên cơ sở đó đưa ra các quan điểm, phươnghướng cơ bản nhằm đổi mới, củng cố hệ thống chính trị ở nước ta đáp ứngyêu cầu của thời kỳ quá độ lên CNXH

Tác giả Nguyễn Đức Bình (1999) trong cuốn sách Đổi mới và tăng

cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới [24] đã trình bày những

vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu hệ thống chính trị nước tatrong giai đoạn mới Trong đó, tác giả tập trung vào phân tích những đặcđiểm, đặc trưng, quan điểm và nguyên tắc cơ bản trong xây dựng hệ thốngchính trị thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Đánh giá thực trạng hệ thốngchính trị nước ta giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa Trên cơ

sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và tăng cường hệ thốngchính trị nước ta trong thời kỳ mới của đất nước

Tác giả Đoàn Minh Duệ trong bài viết Đổi mới hệ thống chính trị để

phát huy dân chủ (2007) [37] cho rằng, đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta là

nhằm mục tiêu thực hành và phát huy dân chủ rộng rãi Trong đó, đổi mới tổchức và phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị khác là trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị Vai trò củaĐảng là nhân tố bảo đảm xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa

ở nước ta trong điều kiện hiện nay, vì vậy đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng là mấu chốt quan trọng nhất và việc đổi mới hệ thống chính trị tuyệt đốiphải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tác giả cho rằng, để chế

độ chính trị ở nước ta ngày càng bền vững, thể hiện đầy đủ và đúng đắn bảnchất XHCN, phát huy tính ưu việt và vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh

Trang 27

tế – xã hội thì tất yếu phải đổi mới hệ thống chính trị Trước hết, đổi mới hệthống chính trị phải gắn liền với việc từng bước hoàn thiện, nâng cao trình độnền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực chính trị thực sự thuộc về nhân dân.Tác giả cũng đưa ra nhiều giải pháp thiết thực nhằm phát huy dân chủ, xâydựng và hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN.

Cuốn sách Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt

Nam giai đoạn 2005-2020 (2008) [61] của tác giả Trần Đình Hoan chủ biên

đã phân tích, làm sáng tỏ tính tất yếu khách quan, quan điểm và nguyên tắcđổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020 Tác giả quanniệm, đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn này là đổi mới theohướng hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng hoạt động của hệ thống chính trị

để khắc phục các bất cập, yếu kém, tạo ra sự phù hợp và đáp ứng các yêu cầucủa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chứ không phải nhằm mục tiêuthay đổi bản chất của hệ thống chính trị hiện nay hay là tạo ra một hệ thốngchính trị hoàn toàn mới Trên cơ sở đó, tiến tới xây dựng nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.Tác giả nhấn mạnh, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm vụ quan trọng, có ýnghĩa chiến lược to lớn, cần dựa trên những nguyên tắc, quan điểm lý luận vàchính trị đúng đắn, khoa học và phải có phương hướng, mục tiêu rõ ràng vớinhững cách làm và bước đi thích hợp nhằm giữ vững ổn định chính trị, độclập dân tộc, củng cố và tăng cường mở rộng nền tảng xã hội của hệ thốngchính trị, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy sự đồng thuận xãhội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển

Bài viết Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện

nay: một số vấn đề lí luận và thực tiễn (2013) [89] của tác giả Lê Hữu Nghĩa

cho rằng, đổi mới hệ thống chính trị ngày càng trở nên bức xúc, đòi hỏi chúng

ta phải đi sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá và trên cơ sở đó tìm tòi, áp dụng

Trang 28

những giải pháp mới, xác định đúng và thực hiện tốt những đột phá để pháttriển trên lĩnh vực chính trị và đổi mới hệ thống chính trị Tác giả đưa ra quanđiểm, đổi mới hệ thống chính trị phải tiến hành từng bước, thận trọng, cónguyên tắc Nguyên tắc đó bao gồm: thứ nhất, kiên định con đường đi lênCNXH, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tưtưởng, ý thức hệ chủ đạo của Đảng; thứ hai, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa

vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa đảng và cóđảng đối lập; thứ ba, căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ, giữa thẩm quyền vàtrách nhiệm, phân biệt và phân định rõ mối quan hệ giữa hai bộ phận cốt lõitrong cấu trúc của hệ thống chính trị là Đảng và Nhà nước Bài viết của tácgiả đã cung cấp những nhận thức lý luận về hệ thống chính trị và đổi mới hệthống chính trị, đồng thời phân tích những vấn đề đặt ra từ thực tiễn đổi mới

và đánh giá thực trạng hệ thống chính trị nước ta hiện nay Từ đó tác giả đưa

ra các quan điểm, nguyên tắc, giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệthống chính trị ở nước ta trong tình hình mới và trước yêu cầu mới

Luận án Tiến sĩ Chính trị học Hệ thống chính trị ở Việt Nam từ năm

1986 đến nay (2013) [77] của tác giả Lý Vĩnh Long đã làm rõ lý luận về hệ

thống chính trị, đổi mới hệ thống chính trị và tính tất yếu phải đổi mới hệthống chính trị ở Việt Nam Trong đó, tác giả tập trung làm sáng tỏ vị trí, vaitrò, chức năng, nhiệm vụ của Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hộitrong hệ thống chính trị ở Việt Nam; phân tích kết quả của quá trình đổi mới

hệ thống chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay; từ đó đưa ra các phươnghướng và giải pháp cơ bản để tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị Việt Namtheo quan điểm của Đảng giai đoạn 2011-2020

Cuốn sách Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta (2014)

[80] của tác giả Lê Quốc Lý chủ biên tập trung làm rõ đặc điểm của quá trình

ra đời và xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam; xác định đặc trưng

Trang 29

cơ bản của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay; những biến đổi và pháttriển của hệ thống chính trị với các yếu tố như: mối quan hệ tương tác giữa hệthống chính trị với cơ sở kinh tế, cơ cấu xã hội - giai cấp, sự ảnh hưởng củanhân tố văn hoá truyền thống dân tộc, những quan điểm đạo đức, những tưtưởng triết học - chính trị, những truyền thống cộng đồng, truyền thống lịch

sử và bản sắc dân tộc Tác giả cho rằng, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới,tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có sự đổi mới, hoànthiện hệ thống chính trị, đảm bảo vận hành theo nguyên lý huy động tổng lựccủa mọi thành phần, lực lượng quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu chính trị củatoàn dân tộc, trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là hạt nhân, Nhà nước

là trụ cột, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội là tổ chức liên minh

Bài viết Đổi mới đồng bộ hệ thống chính trị - từ quyết sách đến triển

khai thực hiện (2016) [120] của tác giả Nguyễn Thị Tâm cho rằng, đổi mới hệ

thống chính trị ở Việt Nam hiện nay cần tiến hành đồng thời hai nội dungchính là đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của mỗi nhân tố cấu thành

hệ thống chính trị và đổi mới mối quan hệ giữa các thành tố đó Trong đó, tácgiả nhấn mạnh vai trò của Nhà nước là yếu tố quyết định trực tiếp sự thànhcông, tính hiệu quả trong vận hành của hệ thống chính trị Các bộ phận cấuthành vừa phải đảm bảo đủ khả năng thực hiện chức năng, thẩm quyền củamình, vừa phải có khả năng phối hợp để tạo ra sức mạnh, thích ứng và vượtqua mọi trở lực hay rủi ro của cả hệ thống chính trị Mối quan hệ hữu cơ giữacác thành tố trong hệ thống chính trị phải được thể chế rõ ràng, bảo đảm chứcnăng, nhiệm vụ của các tổ chức không bị chồng chéo nhau, không vượt quágiới hạn thẩm quyền của nhau và có sự giám sát, kiểm soát chặt chẽ lẫn nhautrong hoạt động

Trang 30

Một số tác giả có những nghiên cứu trực tiếp về vấn đề đổi mới hệthống chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế Tác giả Nguyễn Linh Khiếu

trong bài viết Thách thức nổi bật về chính trị - xã hội trong quá trình toàn cầu

hóa kinh tế ở nước ta (2006) [68] cho rằng, với các nước đang phát triển, toàn

cầu hóa vừa là cơ hội, nhưng cũng là thách thức Việt Nam là một quốc gia

nằm trong nhóm nước ấy, vì vậy, để phát triển, Việt Nam cần tích cực, chủđộng hội nhập quốc tế; kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, gắn độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội; gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hộinhằm xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội; gắn sức mạnh dân tộcvới sức mạnh thời đại; đổi mới và nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị,nhất là vai trò và vị trí của Đảng Cộng sản Việt Nam; tăng cường công tác đấutranh phòng chống tham nhũng và tệ nạn xã hội; ngăn chặn kịp thời và làmthất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động lợi dụng quá trìnhtoàn cầu hóa kinh tế chống phá nền chính trị nước ta

Trong bài viết Tiếp tục đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị nước ta

trong giai đoạn hiện nay (2010) [93] tác giả Dương Xuân Ngọc nêu lên một

số thành tựu trong đổi mới hệ thống chính trị và nhấn mạnh bên cạnh nhữngthành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại một số mặt còn hạn chế yếu kém, đòihỏi trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay chúng ta phảitiếp tục đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị, tạo sự phù hợp và tương thíchgiữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế đảm bảo cho sự phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững

Tác giả Nhị Lê trong bài viết Đổi mới hình thái cấu trúc, cơ chế vận

hành và kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam (2019) [72] chỉ

ra thời kỳ cạnh tranh và phát triển mới của thế giới, với cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư trong không gian phẳng và tốc độ toàn cầu hóa, hội nhậpquốc tế đã và đang mở ra những cơ hội phát triển mới mẻ chưa từng có,

Trang 31

với quy mô, tốc độ đột phá nhưng cũng đặt ra những thách thức tụt hậu nangiải đối với tất cả các quốc gia, dân tộc, trên quy mô toàn cầu Đối với ViệtNam, việc đón bắt được thời cơ và giải quyết thách thức trong bối cảnh quốc

tế hiện nay để đất nước “cất cánh” đòi hỏi chúng ta phải có tầm nhìn chiếnlược bao quát, có sự chuẩn bị vững chắc và chủ động về thế và lực Tác giảlập luận, để có sự phát triển chúng ta không thể không đổi mới chính trị, màtrước hết trực tiếp và trọng tâm là đổi mới hệ thống chính trị Đổi mới hệthống chính trị là một trong những nhân tố rường cột của đổi mới chính trịđồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội Để thực hiện đổi mới chính trịthành công trước hết phải đổi mới tư duy về hình thái cấu trúc và tổ chức bộmáy, từ đó xác lập và vận hành cơ chế hoạt động của toàn hệ thống, đồng thờikiểm soát quyền lực của các thành viên trong hệ thống chính trị

Mặt khác, có một số học giả trong và ngoài nước lại tiếp cận nghiêncứu dưới khía cạnh mối quan hệ giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị;vai trò, chức năng của nhà nước trong điều kiện hội nhập quốc tế

Cụ thể các tác giả Jennie Litvack, Dennis A Rondinelli của cuốn sách

Market Reform in Vietnam: Building Institutions for Development (1999)

[156] cho rằng chìa khóa để nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển đổi thànhcông sang nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế, mở rộng hợp tác quốc tế

và cải thiện phúc lợi của người dân là xuất phát từ năng lực xây dựng thể chếcủa nhà nước Các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải xác định rõ vai trò củanhà nước và tăng cường năng lực của nhà nước trong thiết lập cơ chế chínhsách, xây dựng thể chế pháp luật nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu đến từ hộinhập quốc tế và thực tiễn phát triển

Tác giả Jonathan D London trong bài viết Politics in Contemporary

Vietnam: Party, State, and Authority Relations (2014) [157] nhận định sự phát

triển của chính trị Việt Nam đã bước vào một giai đoạn phi thường với

Trang 32

việc giải quyết tốt bộ ba mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước và chính quyền.Trong đó hệ thống chính trị Việt Nam đã làm tốt vai trò của ba trụ cột: ĐảngCộng sản Việt Nam làm tốt vai trò lãnh đạo, dẫn dắt về đường lối; nhà nướclàm tốt hiệu lực quản lý bằng những cải cách hành chính có hiệu quả; chínhquyền làm tốt việc đảm bảo trật tự an ninh xã hội bằng những thể chế phápluật hợp lý Tác giả nhấn mạnh, nền chính trị Việt Nam có nhiều cơ hội để ổnđịnh và phát triển hơn nữa nếu hệ thống chính trị Việt Nam duy trì và giảiquyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước và chính quyền.

Tác giả Nguyễn Đình Tường trong bài viết Về mối quan hệ giữa Đảng

lãnh đạo và Nhà nước quản lý ở Việt Nam hiện nay (2015) [146] cho rằng,

trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đặt ra yêucầu khách quan và cấp bách để tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, trước hết làphải xác định rõ mối quan hệ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnhđạo và Nhà nước quản lý Trong đó tác giả tập trung luận giải ba vấn đề quantrọng bao gồm: vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; vai trò quản lýcủa Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo vàNhà nước quản lý - một số vấn đề đặt ra

Luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò nhà nước trong việc giải quyết cơ hội

và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay (2015) [2] của

tác giả Đinh Nguyễn An đã tập trung phân tích làm rõ được những vấn đề lýluận căn bản về cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, về vai trònhà nước trong giải quyết cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế ởViệt Nam Đồng thời phân tích thành tựu, hạn chế cũng như chỉ ra những vấn

đề đặt ra trong việc thực hiện vai trò nhà nước giải quyết cơ hội và thách thứcqua thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở dự báonhững nhân tố tác động đến vai trò nhà nước trong thời gian tới, tác

Trang 33

giả đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn vai trò nhà nước giảiquyết cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam trongnhững giai đoạn tiếp theo.

Trong luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò của nhà nước trong chủ động và

tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay (2015) [97] tác giả

Hoàng Thị Kim Oanh cũng phân tích, chỉ ra được sự cần thiết của nhà nướcViệt Nam phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Dưới góc độtriết học, tác giả đã cơ bản làm rõ được lý luận về vai trò của nhà nước trongchủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam; đánh giá khá cụ thểđược thành tựu và hạn chế của thực trạng vai trò của nhà nước trong chủ động

và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam; và đề xuất được các quanđiểm, giải pháp cơ bản góp phần nâng cao vai trò của nhà nước trong chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ (2016) [87] của các chuyên gia Việt Nam, Ngân hàng

thế giới và chuyên gia quốc tế do Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng thế giớiphối hợp thực hiện, đã phân tích cụ thể việc tăng cường năng lực và tráchnhiệm giải trình của Nhà nước trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay Báocáo chỉ ra, cải cách hệ thống chính trị và thể chế phải song hành với quá trìnhphát triển và hội nhập ở Việt Nam Hiệu lực của nhà nước dựa trên ba trụ cột

hỗ trợ: chính phủ được tổ chức tốt với chức nghiệp thực tài và có kỷ luật; vậndụng nguyên tắc thị trường trong hoạch định chính sách kinh tế; có cơ chếđảm bảo sự kiểm soát và cân bằng giữa các nhánh quyền lực trong nhà nước

và sự tham gia rộng rãi của công chúng Ba trụ cột này là cần thiết để đảm bảohiệu lực của nhà nước Nghiên cứu nhấn mạnh, hiện đại hóa thể chế của ViệtNam đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nướcvới thị trường, xã hội

Trang 34

Bài viết Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hướng tới

một nhà nước kiến tạo (2017) [38] của tác giả Trần Văn Duy cho rằng, thực

tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong những năm qua

đã và đang làm thay đổi bộ máy nhà nước từ cơ chế hành chính, tập trungquan liêu sang một bộ máy quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật.Song vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay, còn tồn tại những hạn chế nhất địnhchưa đáp ứng yêu cầu của quản trị đất nước trong thời đại công nghệ số và hộinhập quốc tế Vì vậy, tác giả đưa ra các yêu cầu và phương hướng đổi mới tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nước hướng đến một nhà nước kiến tạo, để

bộ máy nhà nước giữ được vai trò trụ cột của hệ thống chính trị, trở thànhcông cụ đắc lực thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là chỗ dựa cho kinh tế

- xã hội phát triển trong xu thế hội nhập và quốc tế hoá hiện nay

Tác giả Lê Minh Quân trong bài viết Nhà nước liêm chính (2017) [106]

khẳng định tất yếu khách quan cho sự tồn tại của nhà nước trước yêu cầu pháttriển xã hội, nhất là trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, dân chủhóa xã hội và hội nhập quốc tế hiện nay phải xuất phát từ yêu cầu nhà nướcliêm chính, và trước hết là chính phủ liêm chính Theo tác giả, ở cả góc độ tổchức bộ máy, con người và công việc thì nhà nước liêm chính là nhà nước biếtthực hành liêm và giữ liêm, biết chống bất liêm bằng pháp luật, bằng đạo đức,bằng lời nói và việc làm; nhận thức và thực hiện đúng đắn quyền hạn và tráchnhiệm của mình; thực hiện đầy đủ và có trách nhiệm quyền làm chủ của ngườidân Đó là mô hình nhà nước vừa thể hiện được phẩm chất đạo đức vừa thểhiện được năng lực pháp lý của bộ máy và cán bộ, công chức nhà nước Theonhư cách nói của Hồ Chí Minh, nhà nước liêm chính là nhà nước xóa bỏ đượcnhững tiêu cực như tham lam, gian giảo, lười biếng; là ngăn chặn và khắcphục được những tệ trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túi, chia rẽ và kiêu

Trang 35

ngạo; là việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thìphải hết sức tránh; là tất cả mục tiêu vì sự phát triển của đất nước, vì hạnhphúc của nhân dân.

Ngoài ra còn có một số công trình tiêu biểu: Nhận thức mới về vai trò,

chức năng của Nhà nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa (2005) [82] của tác giả Nguyễn Văn

Mạnh; Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động

của toàn cầu hóa (2008) [150] của tác giả Phạm Thái Việt; Luận án Tiến sĩ

Triết học Vai trò Nhà nước đối với việc xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc

lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay (2011) [67] của

tác giả Trần Thị Thu Hường; Luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò của Nhà nước

trong việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế

(2012) [69] của tác giả Vy Thị Hương Lan; Chức năng của nhà nước trước

tác động của xu thế toàn cầu hóa (2013) [1] của tác giả Đinh Nguyễn An…

1.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Những vấn đề đã được giải quyết trong các công trình nghiên cứu

Nhìn chung các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đổi mớichính trị ở Việt Nam cho thấy, có sự phong phú, đa dạng trong cách tiếp cậnvấn đề nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu Các tác giả đã từng bước

cụ thể hoá, làm sáng tỏ lý luận chung về đổi mới chính trị ở Việt Nam, đó làxuất phát từ đổi mới tư duy chính trị đến đổi mới hệ thống chính trị Các côngtrình đều có giá trị khoa học tham khảo lớn về mặt lý luận và thực tiễn, gópphần bổ sung thêm những quan điểm, nhận thức mới về lý luận đổi mới chínhtrị ở Việt Nam Đối với các công trình nghiên cứu về đổi mới tư duy chính trị

và đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam chothấy, góc độ nghiên cứu của các học giả mở rộng hơn, đi vào từng nội dung cụthể hơn, phản ánh tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu và có ý nghĩa

Trang 36

giá trị khoa học lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn, là nguồn tài liệu thamkhảo quý giá cho đề tài nghiên cứu của tác giả.

Từ các công trình nghiên cứu đã được tổng quan có thể nhận thấy, đổimới chính trị nói chung và đổi mới chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tếcủa Việt Nam là vấn đề nghiên cứu cấp thiết, mang tính chất thời sự, lôi cuốn

và thu hút đông đảo sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhà khoa học,các chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước Cụ thể, các công trình đã làm rõquan niệm về đổi mới chính trị, nhất quán theo hai nội dung chủ yếu là đổimới tư duy chính trị và đổi mới hệ thống chính trị

Thứ nhất, đổi mới tư duy chính trị được hiểu là đổi mới tư duy về chủnghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bao gồm việclàm sáng tỏ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, phương hướng của chủ nghĩa xã hội

và nhận thức về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Ngoài việcchỉ ra tính tất yếu của việc phải đổi mới tư duy chính trị, cũng như nhấn mạnhvai trò tiên phong của Đảng trong đổi mới tư duy lý luận, một số công trìnhcòn chỉ ra tính nguyên tắc trong đổi mới ở nước ta

Thứ hai, đổi mới hệ thống chính trị được hiểu là đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm phát huy dân chủ xã hộichủ nghĩa, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Mục tiêu đổi mới hệthống chính trị ở nước ta là hoàn thiện về tổ chức và cơ chế hoạt động để khắcphục các bất cập, yếu kém, tạo nên sự phù hợp của hệ thống chính trị đáp ứngcác yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân và phát huyquyền làm chủ của nhân dân

Thứ ba, đổi mới tư duy chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế đượchiểu là nhận định về mối quan hệ giữa đổi mới và hội nhập quốc tế; làm rõtính biện chứng giữa thời cơ với thách thức của hội nhập quốc tế trong đổimới ở nước ta; tính tất yếu của việc thay đổi cách nghĩ cách làm, xác lập quan

Trang 37

chủ nghĩa xã hội để kiến tạo mô hình phát triển đáp ứng yêu cầu của hội nhậpquốc tế.

Thứ tư, đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tếđược hiểu là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trịnhằm tranh thủ khai thác những thời cơ thuận lợi từ hội nhập quốc tế tạo độnglực phát triển đất nước, đồng thời là giải quyết các thách thức và đáp ứng cácyêu cầu đặt ra từ hội nhập quốc tế Một số nghiên cứu đi vào phân tích, đánhgiá từng vai trò, chức năng cụ thể của nhà nước trong điều kiện hội nhập quốc

tế nhằm tranh thủ các điều kiện của việc cần phải đổi mới tư duy chính trị, đổimới thực tiễn chính trị ở nước ta hiện nay trong điều kiện tác động của toàncầu hoá và hội nhập quốc tế

Những công trình khoa học được công bố ở trên đều là những sản phẩmnghiên cứu tiêu biểu, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn, là căn cứ khoa họctin cậy giúp việc hoạch định đường lối đổi mới chính trị ở nước ta ngày càngtoàn diện hơn, hoàn thiện hơn và đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp đổi mớichung của đất nước Đối với luận án của tác giả thì tổng quan những côngtrình này có giá trị tham khảo to lớn, giúp tác giả định hình và nắm bắt vấn đềnghiên cứu một cách thấu đáo hơn, chặt chẽ hơn

1.3.2 Những vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc nghiên cứu chưa thấu đáo

Lý luận về đổi mới tư duy chính trị và đổi mới hệ thống chính trị cònmang tính chất là những nhận định chung, quan điểm chung dựa trên tinh thầnquán triệt tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng về đổi mới chính trị nênchưa thao tác hoá được các khái niệm đổi mới tư duy chính trị và đổi mới hệthống chính trị một cách rõ ràng và đi sâu vào bản chất của vấn đề này Cáccông trình trên cũng chưa làm sáng tỏ thực chất của đổi mới tư duy chính trị

và đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế

Do những mục tiêu nghiên cứu cụ thể khác nhau nên các công trình cũngchưa tập trung làm rõ mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa đổi mới chính trị

Trang 38

với hội nhập quốc tế Bước đầu các công trình mới đưa ra những yếu tố thời

cơ, thuận lợi cũng như các thách thức, khó khăn từ hội nhập quốc tế đặt ra vớiyêu cầu đổi mới chính trị, song vẫn chưa làm sáng tỏ, phân tích rõ những tácđộng cụ thể và tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) của những yếu tố đó

Các công trình chưa có nhiều những phân tích đánh giá cụ thể về thànhtựu, hạn chế đạt được từ quá trình đổi mới chính trị cũng như chỉ ra nhữngvấn đề đặt ra đối với đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế củaViệt Nam hiện nay Đồng thời, số lượng những công trình nghiên cứu đề xuấtquan điểm, phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới chính trị trongđiều kiện hội nhập quốc tế còn hạn chế, chưa bao quát toàn diện

1.3.3 Những vấn đề luận án sẽ tiếp tục làm sáng tỏ

Trên thực tế, đổi mới chính trị là đề tài nghiên cứu rộng lớn được bàn

và nói tới nhiều theo các góc độ tiếp cận khác nhau như chính trị học, hànhchính học và chủ nghĩa xã hội khoa học Tuy nhiên dưới góc độ triết học thìđây là vấn đề nghiên cứu khó và còn mới mẻ, điều này thôi thúc tác giả tậptrung nghiên cứu Từ những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiluận án được các nhà khoa học đề cập ở trên đã gợi mở cho tác giả những vấn

đề nghiên cứu tiếp theo cần tiếp tục được làm sáng tỏ và giải quyết triệt đểhơn nữa trong luận án của mình

Thứ nhất, về cơ sở lý luận, luận án sẽ tiếp tục làm sáng tỏ khái niệm đổimới chính trị dưới góc độ triết học, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa đổimới chính trị và hội nhập quốc tế, đồng thời chỉ ra những nhân tố tác động vàcác nội dung cơ bản của đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tếcủa Việt Nam

Thứ hai, về thực tiễn, luận án sẽ tiếp tục phân tích, đánh giá cụ thểnhững thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong quá trình đổimới chính trị ở nước ta, cũng như luận giải nguyên nhân và chỉ ra những vấn

đề đặt ra đối với đổi mới chính trị trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt

Trang 39

Nam hiện nay Trên cơ sở đó luận án đề xuất một số phương hướng và giảipháp cơ bản có tính nguyên tắc để tiếp tục thực hiện đổi mới chính trị trongđiều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài là sự khái quát vàđánh giá của tác giả về những kết quả nghiên cứu đã được công bố theohướng đi từ cái chung đến cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể, từ nhận thức lýluận đến thực tiễn Tác giả tập trung khảo cứu những công trình khoa học tiêubiểu nhất, có nội dung gần với đề tài của luận án Nhìn chung, các công trình,

đề tài của các tác giả đều đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sảnViệt Nam về đổi mới chính trị Mỗi công trình nghiên cứu có sự đóng góp giátrị khoa học về lý luận và thực tiễn khác nhau, bởi vì các tác giả có sự khácnhau trong cách tiếp cận nội dung nghiên cứu, tuy nhiên có thể thấy, quanniệm về đổi mới chính trị được hầu hết các tác giả thống nhất chung là đổimới tư duy chính trị và đổi mới hệ thống chính trị Đây là những giá trị trithức có ý nghĩa quan trọng tạo nền tảng kế thừa cho tác giả triển khai nộidung luận án

Trang 40

Chương 2

LÝ LUẬN ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 2.1 Khái niệm đổi mới chính trị và hội nhập quốc tế

tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũtrong hình thái sự vật, hiện tượng mới” [27, tr73]

Đổi mới là sự thay đổi, biến đổi toàn bộ hoặc bộ phận, nội dung hoặc hình thức, căn bản hoặc không căn bản… của một sự vật, một hoàn cảnh nhất định do những nguyên nhân bên trong hoặc bên ngoài Trong đó, đổi mới căn bản được hiểu là sự thay đổi về chất của sự vật hay điều kiện, hoàn cảnh tồn tại của sự vật hoặc của con người Chẳng hạn, khi bước vào thời kỳ quá độ

xây dựng xã hội mới ở nước Nga sau cách mạng tháng Mười, nước Nga đã cónhững thay đổi căn bản về điều kiện kinh tế - xã hội nên V.I.Lênin yêu cầu

Ngày đăng: 17/10/2020, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w