1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ SỞ II

129 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tinh thần nghị quyết TW2, khóa VIII của Đảng và nhà nước xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực, xây dựng những lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức và phong phú về tinh thần” . Mục tiêu chiến lược này đã thể hiện rõ những yêu cầu cần thiết về sức khỏe và năng lượng thể chất của lớp người lao động mới đang thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong sự nghiệp giáo dục nói chung và công tác giáo dục thể chất cũng như thể thao trường học nói riêng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong hệ thống giáo dục quốc dân, là yếu tố quan trọng quyết định nhiệm vụ đào tạo con người phát triển toàn diện. Nghị quyết 08 Bộ Chính trị về chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam yêu cầu “ Nâng cao chất lượng , hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học. Thể dục thể thao trường học là bộ phận quan trọng của phong trào thể dục, thể thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được quan tâm đầu tư đúng mực.” Giáo dục thể chất trong nhà trường được tiến hành phù hợp với đặc điểm giải phẩu, tâm sinh lý, giới tính của các cấp, bậc học và các yếu tố khác. Giáo dục thể chất ở các trường đại học, cao đẳng với mục đích góp phần tạo nên sự phát triển hài hòa, toàn diện cho sinh viên không chỉ về trí tuệ mà cả về sức khỏe, ý chí. Chính vì thế, giáo dục thể chất cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm bồi dưỡng sức khỏe, tinh thần, trí tuệ … thành một con người mới toàn diện trong tư thế vững vàng để bước vào cuộc sống mới. Giáo dục thể chất còn là tiền đề để thông qua đó rèn luyện cho sinh viên về đạo đức, ý thức tổ chức kỹ luật, tinh thần tập thể, tác phong công nghiệp nhằm tạo ra con người mới để sẵn sàng bước vào thế kỹ của khoa học hiện đại. Trường Đại học Giao thông vận tải Cơ sở II được thành lập theo Quyết định số 139TCCB ngày 2741990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Là một bộ phận cấu thành quan trọng của Trường Đại học Giao thông vận tải (Hà Nội) trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các lĩnh vực đào tạo chính tại Trường Đại học Giao thông vận tải Cơ sở II gồm: Xây dựng công trình giao thông, Điện Điện tử, Công nghệ thông tin và truyền thông, Vận tải kinh tế và cơ khí, với hơn 40 chuyên nghành đào tạo khác nhau. Từ khi thành lập năm 1990 cho đến nay, Đại học Giao thông vận tải Cơ sở II luôn là đơn vị đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc trong phong trào thi đua hàng năm. Năm 2010 Nhà trường đã vinh dự được Nhà nước tặng huân chương lao động hạng nhất. Trải qua gần 25 năm xây dựng và phát triển, Cơ sở II Đại học Giao thông vận tải đã góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục của Nước nhà. Với sự lảnh đạo của Đảng bộ, Ban giám đốc, toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên cũng như toàn thể sinh viên, học viên tại Cơ sở II luôn tin tưởng và phấn đấu cùng nhau xây dựng Trường trở thành một trong những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hàng đầu. Bộ môn Giáo dục thể chất được thành lập ngày 10122012 theo quyết định số 2697QĐ – ĐH.GTVT chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Giám đốc Cơ sở II với 05 giảng viên. Trước 10122012 bộ môn là một bộ phân của bộ môn Cơ bản. Về thực trạng tình hình giáo dục và học tập của Trường Đại học Giao thông vận tải Cơ sở II là lực lượng giảng viên bộ môn GDTC còn khá ít, trung bình mỗi năm có khoảng 7000 sinh viên học môn Giáo dục thể chất, trong khi đó chỉ có 05 giảng viên giảng dạy, vì vậy tỉ lệ GVSV là rất thấp, gần bằng 0.0007%. Cơ sở vật chất còn hạn chế, trang thiết bị dụng cụ sân bãi còn lạc hậu. Toàn trường chỉ có một sân đa năng bằng bê tông dùng để học bóng chuyền, bóng rổ, một sân bóng đá dùng để học điền kinh, hai hố nhảy cao, 06 trụ xà kép, chưa có nhà thi đấu, nên việc tổ chức giảng dạy gặp không ít khó khăn. Hơn nữa tâm lý của sinh viên thì môn GDTC chỉ là môn điều kiện nên ít được chú trọng mà chỉ tập trung vào các môn học chính khóa chuyên nghành. Đây là điểm hạn chế trong việc phất triển giáo dục thể chất của Nhà trường, vì vậy cần lưu ý để đưa ra các môn học phù hợp nhằm rèn luyện thể chất và tạo được sự thích thú trong học tập của sinh viên. Xuất phát từ thực trạng trên việc nghiên cứu tìm giải pháp phù hợp để cải tiến nhằm từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên trong công tác GDTC là rất cần thiết. Vì vậy từ trước tới nay đã có nhiều Quyết định, nhiều Thông tư, của Thủ tướng, của các Bộ ban ngành liên quan đề cập đến vấn đề giáo dục thể chất trong Trường học như: Quyết định 931QĐBGDĐT (2441993), vv Ban hành về quy chế công tác phát triển GDTC trong nhà trường các cấp. Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên tại Quyết định số 532008QĐBGDĐT ngày 1892008. Đề cương chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ (2010). Thông tư Quy định nội dung đánh giá phát triển thể lực, thể thao số 082012TTBVHTTDL. Hiện nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất trong các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp hay các Trường phổ thông được thực hiện. Thông qua việc đánh giá thực trạng công tác GDTC để lựa chon và xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDTC và tạo được sự thích thú trong học tập của sinh viên, phù hợp với tính chất đặc điểm và điều kiện của Trường, chúng tôi mạnh dạn lựa chon nghiên cứu đề tài: “ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT CƠ SỞ II”.

Trang 1

HÀ NGỌC HUY

Tên đề tài :

“NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ SỞ II”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 3

HÀ NGỌC HUY

Tên đề tài :

“NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ SỞ II”

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 60.14.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học

TS Trịnh Toán

Trang 5

liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Hội đồng khoa học.

Tác giả

Hà Ngọc Huy

Trang 6

nghiên cứu khoa học và y học TDTT trường Đại học TDTT TP HCM đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài này.

Xin cảm ơn quý Thầy, Cô giảng dạy lớp Cao học 19, đã dành nhiều tâm huyết truyền thụ cho chúng tôi những kiến thức quý báu về công tác GDTC, làm tiền đề cho việc nghiên cứu luận văn này.

Xin cảm ơn Ban giám đốc, quý Thầy, Cô bộ môn GDTC trường Đại học GTVT – CS II đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi theo học lớp cao học 19.

Đăc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Thầy hướng dẫn:

Ts Trịnh Toán Trường Đại học TDTT TP.HCM, đã tận tình và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề hoàn thành luận văn khoa học.

Tác giả

Hà Ngọc Huy

Trang 7

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất trong trường học 51.1.1 Quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước 5

1.1.2 Những quan điểm của Bộ Giáo dục - Đào tạo với GDTC 10

1.1.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục con người toàn diện 131.1.4 GDTC là một mặt của mục tiêu giáo dục toàn diện 14

1.2 Một số khái niệm có liên quan 15

1.3 Cơ sở lý luận về nghiên cứu cơ thể người 17

1.3.1 Đặc điểm hình thái, thể lực lứa tuổi trưởng thành 17

1.3.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 18 -22 18

1.3.3 Yếu tố chức năng sinh lý 20

1.4 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực 23

1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan 28

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 30

2.1 Phương pháp nghiên cứu 30

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 30

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu 30

2.1.3 Phương pháp kiểm tra y sinh hoc 31

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 33

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: 37

2.1.6 Phương pháp toán thống kê 38

2.2 Tổ chức nghiên cứu 41

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 41

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 42

2.2.3 Địa điểm nghiên cứu: 42

Trang 8

3.1.1 Đánh giá hiện trạng đội ngũ giảng viên Bộ môn GDTC Trường Đại họcGTVT - Cơ sở II 44

3.1.2 Thực trạng chương trình GDTC cho sinh viên trường ĐH GTVT-CS II45

3.1.3 Đánh giá thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC trường Đạihọc GTVT – CS II 49

3.1.4 Thực trạng sử dụng kinh phí cho hoạt động GDTC tại Trường Đại họcGTVT – Cơ sở II hằng năm 2010-2015 51

3.1.5 Kết quả đánh giá thực trạng về công tác GDTC của giảng viên, cán bộquản lý và sinh viên trường Đại học GTVT – Cơ sở II 51

3.1.6 Thực trạng thể chất của sinh viên Trường Đại học GTVT – Cơ sở II55

3.1.7 Bàn luận về thực trạng công tác GDTC tại trường ĐH GTVT – CS II57

3.2 Chọn lựa và ứng dụng một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chấtcho sinh viên Trường ĐH GTVT – CS II 60

3.2.1 Cơ sở thực tiễn xây dựng một số giải pháp nâng cao chất lượng GDTCcho sinh viên Trường ĐH GTVT – CS II 60

3.2.2 Các yêu cầu mang tính nguyên tắc khi chọn lựa các giải pháp 623.2.3 Lựa chọn một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDTC tạiTrường ĐH GTVT – CS II 63

3.2.4 Bàn luận về một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho sinhviên của Trường ĐH GTVT – CSII.63

3.2.5 Ứng dụng thực nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượngGDTC cho sinh viên Trường ĐH GTVT – CSII 64

Trang 11

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên Bộ môn GDTC trường Đại

Đánh giá thực trạng của giảng viên về cơ sở vật chất,

trang thiết bị phục vụ giảng dạy môn GDTC trường ĐH

GTVT – CS II.

50

Bảng 3.5 Thực trạng sử dụng kinh phí dành cho GDTC, hằng năm

Bảng 3.6 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lý về thực

trạng GDTC sinh viên trường Đại học GTVT – Cơ sở II

Sau 51

Bảng 3.7 Kết quả đánh giá của sinh viên về mức độ hài lòng đối với

công tác GDTC của trường Đại học GTVT – Cơ sở II.

Sau 53

Bảng 3.8 Thực trạng thể lực nam sinh viên năm nhất trường đại học

Bảng 3.9

So sánh với thực trạng thể lực nam sinh viên 19 tuổi theo

tiêu chuẩn phân loại của Bộ Giáo dục và Đào tạo thời

điểm năm 2015.

57

Bảng

3.10

Kết quả phỏng vấn các chuyên gia, các nhà sư phạm nhằm

lựa chọn những giải pháp hiệu quả nhất nâng cao chất

lượng GDTC cho sinh viên Trường ĐH GTVT – CS II.

Sau 62

Bảng Nội dung các nhóm giải pháp được lựa chọn để nâng cao Sau

Trang 12

Mức độ tăng trưởng thể lực của sinh viên nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm 73

Bảng

3.15

Phân loai chỉ tiêu thể lực của nam sinh viên Trường Đại

học GTVT – Cơ sở II nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng theo quyết định số 53 của Bộ giáo dục và Đào tạo

lứa tuổi 19.

77

Bảng

3.16

Tỷ lệ % chỉ tiêu thể lực của nam sinh viên Trường Đại học

GTVT – Cơ sở II nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

theo quyết định số 53 của Bộ giáo dục và Đào tạo lứa tuổi 19.

Trang 13

Biểu đồ

3.1

So sánh thể chất nam sinh viên nhóm TN và nhóm ĐC

trước thực nghiệm theo từng chỉ tiêu 70 Biểu đồ

3.2

Các chỉ tiêu thể chất của nam sinh viên nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng sau giai đoạn thực nghiệm 73 Biểu đồ

3.3

Kết quả thành tích các tố chất thể lực của nhóm đối

Nhịp độ độ tăng trưởng các tố chất thể lực của hai nhóm

thực nghiệm và đối chứng trước và sau thực nghiệm 76

Biểu đồ

3.6

Phân loại chỉ tiêu thể lực theo tỷ lệ % của nam sinh viên

Trường Đại học GTVT – Cơ sở II nhóm thực nghiệm

trước thực nghiệm theo quyết định số 53 của Bộ giáo dục

và Đào tạo lứa tuổi 19.

78

Biểu đồ

3.7

Phân loại chỉ tiêu thể lực theo tỷ lệ % của nam sinh viên

Trường Đại học GTVT – Cơ sở II nhóm đối chứng trước

thực nghiệm theo quyết định số 53 của Bộ giáo dục và

Đào tạo lứa tuổi 19.

78

Biểu đồ

3.8

Phân loại chỉ tiêu thể lực theo tỷ lệ % của nam sinh viên

Trường Đại học GTVT – Cơ sở II nhóm thực nghiệm sau

thực nghiệm theo quyết định số 53 của Bộ giáo dục và

Đào tạo lứa tuổi 19.

79

Biểu đồ

3.9

Phân loại chỉ tiêu thể lực theo tỷ lệ % của nam sinh viên

Trường Đại học GTVT – Cơ sở II nhóm đối chứng sau

thực nghiệm theo quyết định số 53 của Bộ giáo dục và

Đào tạo lứa tuổi 19.

79

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo tinh thần nghị quyết TW2, khóa VIII của Đảng và nhà nước xác định:

“Giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhântài, đào tạo nhân lực, xây dựng những lớp người phát triển cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, trong sáng về đạo đức và phong phú về tinh thần” Mục tiêuchiến lược này đã thể hiện rõ những yêu cầu cần thiết về sức khỏe và năng lượngthể chất của lớp người lao động mới đang thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xãhội của đất nước

Trong sự nghiệp giáo dục nói chung và công tác giáo dục thể chất cũng như thểthao trường học nói riêng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội,đặc biệt là trong hệ thống giáo dục quốc dân, là yếu tố quan trọng quyết định nhiệm

vụ đào tạo con người phát triển toàn diện Nghị quyết 08 Bộ Chính trị về chiến lượcphát triển thể dục, thể thao Việt Nam yêu cầu “ Nâng cao chất lượng , hiệu quả giáodục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học Thể dục thể thao trường học là

bộ phận quan trọng của phong trào thể dục, thể thao, một mặt của giáo dục toàndiện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được quan tâm đầu tư đúng mực.”

Giáo dục thể chất trong nhà trường được tiến hành phù hợp với đặc điểm giảiphẩu, tâm sinh lý, giới tính của các cấp, bậc học và các yếu tố khác Giáo dục thểchất ở các trường đại học, cao đẳng với mục đích góp phần tạo nên sự phát triển hàihòa, toàn diện cho sinh viên không chỉ về trí tuệ mà cả về sức khỏe, ý chí Chính vìthế, giáo dục thể chất cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằmbồi dưỡng sức khỏe, tinh thần, trí tuệ … thành một con người mới toàn diện trong

tư thế vững vàng để bước vào cuộc sống mới Giáo dục thể chất còn là tiền đề đểthông qua đó rèn luyện cho sinh viên về đạo đức, ý thức tổ chức kỹ luật, tinh thầntập thể, tác phong công nghiệp nhằm tạo ra con người mới để sẵn sàng bước vàothế kỹ của khoa học hiện đại

Trường Đại học Giao thông vận tải Cơ sở II được thành lập theo Quyết định số139/TCCB ngày 27/4/1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Là một bộ phận cấu thành

Trang 15

quan trọng của Trường Đại học Giao thông vận tải (Hà Nội) trực thuộc Bộ Giáo dục

và Đào tạo Các lĩnh vực đào tạo chính tại Trường Đại học Giao thông vận tải Cơ sở

II gồm: Xây dựng công trình giao thông, Điện Điện tử, Công nghệ thông tin vàtruyền thông, Vận tải kinh tế và cơ khí, với hơn 40 chuyên nghành đào tạo khácnhau

Từ khi thành lập năm 1990 cho đến nay, Đại học Giao thông vận tải Cơ sở IIluôn là đơn vị đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc trong phong trào thi đua hàngnăm Năm 2010 Nhà trường đã vinh dự được Nhà nước tặng huân chương lao độnghạng nhất

Trải qua gần 25 năm xây dựng và phát triển, Cơ sở II - Đại học Giao thông vậntải đã góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục của Nước nhà Với sự lảnh đạo củaĐảng bộ, Ban giám đốc, toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên cũng như toàn thểsinh viên, học viên tại Cơ sở II luôn tin tưởng và phấn đấu cùng nhau xây dựngTrường trở thành một trong những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng caohàng đầu

Bộ môn Giáo dục thể chất được thành lập ngày 10/12/2012 theo quyết định số2697/QĐ – ĐH.GTVT chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Giám đốc Cơ sở II với 05giảng viên Trước 10/12/2012 bộ môn là một bộ phân của bộ môn Cơ bản

Về thực trạng tình hình giáo dục và học tập của Trường Đại học Giao thông vậntải Cơ sở II là lực lượng giảng viên bộ môn GDTC còn khá ít, trung bình mỗi năm

có khoảng 7000 sinh viên học môn Giáo dục thể chất, trong khi đó chỉ có 05 giảngviên giảng dạy, vì vậy tỉ lệ GV/SV là rất thấp, gần bằng 0.0007% Cơ sở vật chấtcòn hạn chế, trang thiết bị dụng cụ sân bãi còn lạc hậu Toàn trường chỉ có một sân

đa năng bằng bê tông dùng để học bóng chuyền, bóng rổ, một sân bóng đá dùng đểhọc điền kinh, hai hố nhảy cao, 06 trụ xà kép, chưa có nhà thi đấu, nên việc tổ chứcgiảng dạy gặp không ít khó khăn Hơn nữa tâm lý của sinh viên thì môn GDTC chỉ

là môn điều kiện nên ít được chú trọng mà chỉ tập trung vào các môn học chínhkhóa chuyên nghành Đây là điểm hạn chế trong việc phất triển giáo dục thể chất

Trang 16

của Nhà trường, vì vậy cần lưu ý để đưa ra các môn học phù hợp nhằm rèn luyệnthể chất và tạo được sự thích thú trong học tập của sinh viên.

Xuất phát từ thực trạng trên việc nghiên cứu tìm giải pháp phù hợp để cải tiếnnhằm từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh,sinh viên trong công tác GDTC là rất cần thiết Vì vậy từ trước tới nay đã có nhiềuQuyết định, nhiều Thông tư, của Thủ tướng, của các Bộ ban ngành liên quan đề cập

đến vấn đề giáo dục thể chất trong Trường học như: Quyết định 931/QĐ-BGDĐT (24/4/1993), v/v Ban hành về quy chế công tác phát triển GDTC trong nhà trường các cấp Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 Đề cương chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ (2010) Thông tư Quy định nội dung đánh giá phát triển thể lực, thể thao số 08/2012/TT-BVHTTDL Hiện

nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáodục thể chất trong các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp hay cácTrường phổ thông được thực hiện

Thông qua việc đánh giá thực trạng công tác GDTC để lựa chon và xây dựngcác giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDTC và tạo được sự thích thú trong học tậpcủa sinh viên, phù hợp với tính chất đặc điểm và điều kiện của Trường, chúng tôimạnh dạn lựa chon nghiên cứu đề tài:

“ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP NÂNG

CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH

VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT- CƠ SỞ II”.

Trang 17

Mục đich nghiên cứu của đề tài

Nhằm mục đích đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất của trường từ

đó xây dựng các giải pháp phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tácGDTC tại Trường Đại học GTVT- cơ sở II

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đã tiến hành giảiquyết 3 nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất của trường Đạihọc GTVT – cơ sở II

- Nhiệm vụ 2: Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tácGDTC tại trường Đại học GTVT – cơ sở II

- Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả công tác GDTC tại trường Đại học GTVT - Cơ sở II

Trang 18

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất trong trường học

1.1.1 Quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước

Theo quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước, GDTC là một trongnhững bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, mục đích chính nhằmđào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức và hoàn thiện thể chấttrong các trường Đại học, Cao Đẳng và Trung học GDTC là một mặt góp phần bồidưỡng học sinh, sinh viên có sức khỏe dồi dào, có thể chất cường tráng, dũng khíkiên cường để kế tục sự nghiệp của Đảng và nhân dân một cách đắc lực

Đảng ta đã định hướng “Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trongchính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng vàphát huy yếu tố con người; công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sứckhỏe, thể lực; giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh; làm phong phú đờisống văn hóa, tinh thần của nhân dân; nâng cao năng suất lao động xã hội và sứcchiến đấu của các lực lượng vũ trang” [29][47] Đảng ta đã khẳng định : phải xâydựng nền TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, phát triển rộng rãi phongtrào TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao và tăng cường công tác GDTC trongnhà trường các cấp với khẩu hiệu “ Khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ quốc[29][47]

Nhiệm vụ và mục tiêu của TDTT Trường học là nâng cao sức khoẻ, đảm bảo

sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh; phát triển các tố chất thể lực và kỹnăng vận động cơ bản của con người; hình thành thói quen rèn luyện thân thể, giữgìn vệ sinh và rèn luyện đạo đức ý chí cho người học Phát triển TDTT Trường học

có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Được quy định tại chương II - Luật Thể dục, Thểthao (Quốc hội khoá XI thông qua năm 2006) và quy định tại điều 7 Nghị định122/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành Luật Thể dục, Thể thao Những quy định này đã thể chế hoá quan điểm của

Trang 19

Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và TDTTTrường học nói riêng.

Cấu trúc của nền TDTT Việt Nam được chia thành 2 mảng rõ rệt: TDTT chomọi người và thể thao thành tích cao Trong đó, TDTT cho mọi người bao gồm:TDTT xã hội không phân biệt lứa tuổi, giới tính, chức vụ nghề nghiệp, địa bàn sinhsống, làm việc và giáo dục thể chất bắt buộc (dành cho học sinh, sinh viên và sỹquan, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang) Thể dục, thể thao trong nhà trườngvừa là một môn học vừa là một mặt của giáo dục toàn diện, là một bộ phận củaTDTT cho mọi người

Nó bao gồm giáo dục thể chất bắt buộc (2 tiết một tuần với học sinh phổthông; từ 90-150 tiết/năm học đối với học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng, trunghọc chuyên nghiệp và dạy nghề) và các hoạt động thể thao ngoại khoá (tự nguyện)ngoài giờ học (trong nhà trường hoặc ngoài nhà trường) Giáo dục thể chất bắt buộcđược gọi là giờ thể dục chính khoá hoặc giờ thể dục nội khoá

Trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II(khóa VIII) tháng 6/1991 có ghi rõ “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số mônthể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường Phổ thông chuyên nghiệp

và các trường Đại học [27]

Trong Chỉ thị 36/CT -TW ngày 24/3/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn

mới: “Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh

tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực; giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh; làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân; nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng

vũ trang” [11] Qua đó nêu lên vai trò của TDTT đối với việc nâng cao sức khỏecho mọi người, đổi mới chương trình đào tạo vận động viên, nhằm nâng cao thànhtích thể thao, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật thể dục thể thao, nâng cao

uy tìn TDTT nước nhà trên Trường quốc tế Theo chỉ thị này, Bộ Giáo dục và Đàotạo, tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp và chỉ đạo tổng kết công tác giáo dục

Trang 20

thể chất, đào tạo giáo viên TDTT cho Trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về

cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các Trường học, làm choviệc phát triển TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên,

từ đó phát triển và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia

Nhằm góp phần xứng đáng với những vị trí quan trọng đó, công tác TDTTphải theo đúng định hướng đường lối của Đảng, phải bám sát các yêu cầu thực tiểntrong cuộc sống, và hoạt động một cách có hiệu quả thiết thực, gắn với mục tiêu xâydựng con người, phục vụ các nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, đốingoại của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu thiết thực của các tầng lớp nhân dân

về sức khỏe, quan tâm chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ, đời sống tinh thần nâng caohơn, xây dựng lối sống lành mạnh, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội

Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là hình thành nền thểdục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhucầu văn hoá, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong cáchoạt động thể thao quốc tế, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á

Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các Trường học, làm cho việc tậpluyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ Nhiệm

vụ của giáo dục là đào tạo ra những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng

về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức

Trong chỉ thị 17/CT-TƯ ngày 23/10/2002 về phát triển TDTT đến năm 2010,Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định “Đẩy mạnh hoạt động TDTT nâng cao thểtrạng và tầm vóc của người Việt Nam Phát triển phong trào TDTT quần chúng vớimạng lưới cơ sở rộng khắp; Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ VĐV thành tích cao… Đẩymạnh hoạt động TDTT ở Trường học, tiến tới đảm bảo mỗi Trường học đều có giáoviên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nângcao chất lượng GDTC; Xem đây là một tiêu chí công nhận Trường chuẩn quốc gia Tăng đầu tư của Nhà nước cho việc phát triển TDTT ở Trường học, ở nông thôn vàmiền núi…”[10] Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực thực hiện các

Trang 21

nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại củađất nước, trước hết là góp phần nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý chí, giáo dục đạođức, nhân cách, lối sống và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; xâydựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xãhội ở từng địa phương Phấn đấu đến năm 2010 toàn quốc đạt tỉ lệ 18 - 20% dân sốtập luyện thể dục thể thao thường xuyên; 80 - 90% học sinh, sinh viên đạt tiêuchuẩn rèn luyện thân thể theo quy định; giữ vị trí là một trong ba nước đứng đầu vềthể thao ở khu vực Đông - Nam Á, một số môn có thứ hạng cao tại các giải thể thaochâu Á và thế giới Vì vậy công tác TDTT trong những năm tới phải được đẩymạnh hơn nữa để góp phần phát triển nguồn nhân lực để thực hiện thành công sựnhiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 xác định 1 trongnhững mũi đột phá chiến lược để phát triển kinh tế xã hội đất nước đến năm 2020là: “ Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tậptrung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽviệc phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ Cầntập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi Trường văn hóa lành mạnh, chú trọngxây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thểchất, lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất làtrong thế hệ trẻ Làm tốt công tác giáo dục thể chất trong Trường học Phát triểnmạnh phong trào TDTT đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một sốmôn thể thao thành tích cao mà nước ta có ưu thế; Kiên quyết chống tiêu cực trongthi đấu thể thao ” [29]

Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành NQ số 08/NQ-TW về công tác TDTT,trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC và thểthao trong nhà trường đến năm 2020: “Hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý,nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vậtchất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh

mẽ và vững chắc sựnghiệp thể dục thể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh,

Trang 22

sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các Trường học, xã, phường, thị trấn,khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện củanhân dân… Cần quan tâm đầu tư đúng mức TDTT Trường học, với vị trí là bộ phậnquan trọng của phong trào TDTT; là một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách họcsinh, sinh viên Xây dựng và thực hiện Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất

và thể thao Trường học Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nộikhoá; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mụctiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên,góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao Đổi mới chương trình vàphương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức,giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khoẻ và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có; mở rộng vànâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dụccho Trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi vàTDTT Trường học ” [29]

Giáo dục thể chất trong nhà Trường là một trong những mặt hữu cơ của quátrình giáo dục chung bao gồm: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm

mỹ, giáo dục kỹ thuật và giáo dục thể chất Đánh giá giáo dục thể chất kết hợp vớicác mặt giáo dục khác

Công tác TDTT cần coi trọng, nâng cao chất lượng giáo dục trong Trườnghọc, tổ chức và hướng dẫn, vận động đông đảo nhân dân rèn luyện hằng ngày

Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã xác định mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơbản thành một nước công nghiệp, Muốn đạt được mục tiêu này, chúng ta phảichuyển đổi cơ cấu kinh tế, xây dựng lại cơ cấu đội ngũ lao động phục vụ phát triểnkinh tế Trong thành công của sự nghiệp này, đòi hỏi người lao động phải chuẩn bịtốt về mặt thể chất Chăm lo con người về mặt thể chất là trách nhiệm của toàn xãhội, của tất cả các ngành các cấp, các đoàn thể, trong đó có Giáo dục và Đào tạo, Y

tế và Thể dục Thể thao[25] [29]

Trang 23

Giáo dục – đào tạo đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đặc nền tảng cho việc đổi mới và phát triển khoa họccông nghệ Nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống giáo dục thể chất các Trường đào tạotrình độ cao đẳng, đại học là phát triển thể lực và trang bị kiến thức, lỹ năng tự rènluyện thân thể, trang bị các năng lực tham gia các hoạt động ngoài giờ Đáp ứng nhucầu phát triển của xã hội, giáo dục và đào tạo thường xuyên phải đổi mới về chấtlượng đào tạo, mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo, phùhợp với những thay đổi kinh tế xã hội và gây dựng mối quan hệ giữa đào tạo vànguồn nhân lực và sử dụng lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Trong thời đại ngày nay thời đại của nền kinh tế tri thức, nguồn lực conngười là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế xãhội và thế hệ trẻ chỉ thực sự trở thành động lực của sự phát triển kinh tế đất nướckhi được giáo dục đúng đắn và khoa học, cũng như được chuẩn bị tốt về thể lực

Mục tiêu đào tạo trong Trường Đại học, Cao Đẳng là đào tạo đội ngũ laođộng có tay nghề cao, sức khỏe tốt, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu nguồnnhân lực có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phát triển toàn diện, giáo dục thể chất

là một trong những nội dung bắt buộc của giáo dục đào tạo

Tất cả những vấn đề trên đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác GDTC và coi đó là nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân

1.1.2 Những quan điểm của Bộ Giáo dục - Đào tạo với GDTC

GDTC trong các Trường đại học, cao đẳng có tác dụng tích cực trong việchoàn thiện các kỹ năng vận động, nhân cách, phẩm chất đạo đức và hoàn thiện thểchất cho sinh viên Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khỏe và phát triển thể lực,tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, còn có tác dụng chuẩn bị tốt vềmặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ trong tương lai Đồng thời giúp họ hiểu biết

về phương pháp khoa học để tiếp tục rèn luyện thân thể, củng cố sức khỏe, góp phần

tổ chức xây dựng phong trào TDTT trong nhà Trường Do vậy Bộ Giáo dục đào tạo

đã ban hành chương trình GDTC trong các Trường học: “Chương trình GDTC trongcác Trường nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục: Trang bị kiến thức, kỹ năng về

Trang 24

rèn luyện thể lực của sinh viên, giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, cung cấp cho sinhviên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp rèn luyện TDTT,góp phần duy trì và cung cấp sức khỏe cho sinh viên” [1] [2][3] [4].

Để công tác giáo dục thể chất trong nhà Trường trở thành một khâu quantrọng của sự nghiệp giáo dục đào tạo, cũng như xác định nhận thức đúng về vị tríGDTC trong nhà Trường các cấp, nhằm triển khai đồng bộ với các mặt giáo dục trithức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công tác giáo dục thể chất trong nhàTrường các cấp Trong đó khẳng định: “Các trường từ mầm non cho đến Đại họcphải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh, sinh viên” [1][2] [3], GDTC bao gồm nhiều hình thức và có liên quan chặt chẽ với nhau Giờ họcthể dục, tập luyện thể thao theo chương trình, giờ tự tập của học sinh, sinh viên, giữ

vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường TDTT là phương tiện quan trọng để GDTC.Chương trình thể dục và các hình thức GDTC khác được sắp xếp phù hợp với trình

độ sức khỏe, giới tính và lứa tuổi

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41

đã quy định về những quyền cơ bản của công dân Việt Nam là “Thanh niên đượcgia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triểnthể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lýtưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổquốc” [14]

Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Tổng cục TDTT cũng đã ra thông tư số04/93/GD-ĐT/TDTT ngày 17/4/1993 về việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượngGDTC học sinh, sinh viên, khẳng định đầu tư cho việc nâng cao sức khoẻ con người

là vấn đề trọng tâm của mọi học thuyết tiên tiến, là cốt lõi của mọi mô hình pháttriển các quốc gia, các chế độ chính trị và xã hội Xây dựng chiến lược phát triểncon người Việt Nam là quốc sách hàng đầu để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Muốn thế thì phải đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam: “Phát triển cao về trítuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.” Đó là

Trang 25

mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân và cũng là điều mà Bác Hồ hằng mong ước.Trong thời kỳ đất nước đổi mới hiện nay, Đảng ta tiếp tục phát triển hơn nữa tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề sức khỏe con người Đại hội Đảng lần thứ VIII(1996) đã chỉ thị rằng: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân conngười, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội” [43]

Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 qui định “Nhà nước coi trọngTDTT trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếuniên, nhi đồng GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thựchiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học” [25]

Liên Bộ Giáo dục và Ðào tạo cùng Ủy ban Thể dục Thể thao đã ra thông tưliên tịch số 34/2005/TTLT-BGD&DDT-UBTDTT ngày 29 tháng 12 năm 2005 vềviệc hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác thể dục thể thao trường họcgiai đoạn 2006 - 2010 đã chỉ rõ: TDTT trường học là bộ phận đặc biệt quan trọngtrong việc nâng sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dụcnhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước TDTT trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện

và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước [43]

Phát triển giáo dục TDTT trường học phải theo hướng đổi mới và nâng caochất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động ngoạikhóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối vớingười học

Tăng cường sự phối hợp liên ngành Giáo dục và TDTT, đồng thời đẩy mạnh

xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa, tranh thủ từ các nguồn lực xã hội để xây dựng vàphát triển TDTT trường học

Tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về TDTT trường học, góp phần nângcao vị thế của Thể thao Việt Nam trong khu vực và thế giới

Tóm lại: Từ các dẫn liệu trên, có thể khái quát những vấn đề sau:

Trang 26

Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC, thể thao trường họcđược thể hiện rõ và nhất quán trong Hiến pháp, pháp luật, chỉ thị, Nghị quyết, Quyếtđịnh, thông tư của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Bộ ngành, Đoàn thể chính trị xã hội

có liên quan Đó là quan điểm coi giá trị GDTC là một mặt quan trọng của giáo dụctoàn diện con người Việt Nam có thể lực cường tráng, có trí tuệ phát triển cao, cóđạo đức trong sáng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ Nghĩa

1.1.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục con người toàn diện.

Hồ Chí Minh được thế giới công nhận danh hiệu Anh hùng giải phóng dântộc và Danh nhân văn hóa Bác suốt đời đã hy sinh vì quốc gia dân tộc, lãnh đạo tàitình cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống

Mỹ thành công Bác đã trải qua cuộc sống bôn ba ở nhiều nơi, gắn bó với nhiều tầnglớp nhân dân, các chiến sĩ cách mạng ở khắp năm châu, tiếp cận với văn hóa thếgiới, biết cách tiếp thu những tinh hoa của nhân loại mà vẫn giữ được bản sắc dântộc Bác là hiện thân của sự đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, là một danh nhân vănhóa Dù công việc chính trị rất bận rộn nhưng Bác vẫn dành khá nhiều thời gian đểviết văn, làm thơ, làm báo đặc biệt là việc rèn luyện thân thể, khơi dậy phong tràotập luyện TDTT để nâng cao sức khỏe cho nhân dân Chính vì vậy, tháng 03 năm

1941, trong chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh, Bác đã viết “ Khuyếnkhích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống thêm khỏe mạnh.” Saukhi nước nhà vừa độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đương đầu vớimuôn vàn khó khăn, thử thách: thù trong, giặc ngoài, đói kém, giáo dục suy yếu, xãhội chưa ổn định, Bác vẫn quan tâm đến công tác TDTT Năm 1946 Bác đã ký sắclệnh thành lập Nha thể dục Trung ương thuộc Bộ Thanh niên, trên cơ sở “Xét vấn

đề thể dục rất cần thiết để tăng cường sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống ViệtNam” [5]

Ngay sau đó, ngày 27 tháng 03 năm 1946 Bác Hồ lại gửi thư kêu gọi nhândân ta giữ gìn sức khỏe Người chỉ cho nhân dân ta thấy rằng “Giữ gìn dân chủ, xâydựng nước nhà, gây dựng đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành

Trang 27

công” và Người đã chỉ rõ, muốn có sức khỏe thì “ nên luyện tập thể dục” và coi đó

là “bổn phận của mỗi người dân yêu nước.” [5]

Ngày 31 tháng 03 năm 1960 Bác Hồ tự tay viết thư gửi Hội nghị cán bộTDTT toàn Miền Bắc Trong thư Người dạy “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác

và học tập tốt, thì cần có sức khỏe Muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên luyệntập TDTT Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào TDTT cho rộng khắp.” Ðồngthời, Bác còn căn dặn “ Cán bộ TDTT phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ

và hăng hái công tác” nhằm phục vụ sức khỏe cho nhân dân Về vị trí TDTT trong

xã hội, Bác Hồ khẳng định “là một trong những công tác cách mạng khác” [5]

Cuộc sống của Bác Hồ là một tấm gương mẫu mực về lòng kiên trì rèn luyệnthân thể cho khỏe mạnh để làm cách mạng Cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, từnhững chặng đường bôn ba ở hải ngoại, cho đến những ngày sống trong lao tù củagiặc Tưởng, hay những ngày sống ở chiến khu, Bác vẫn kiên trì tập luyện thể dục đểnâng cao sức khỏe

1.1.4 GDTC là một mặt của mục tiêu giáo dục toàn diện

GDTC là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằmđào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức và hoàn thiện thể chất.Trong các trường Đại học, Cao Đẳng và Trung học chuyên nghiệp, giáo dục thểchất cho học sinh, sinh viên được coi là một mặt giáo dục, vừa là nhiệm vụ quantrọng, góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàndiện, có sức khỏe dồi dào, có thể chất cường tráng, có dũng khí kiên cường để kếtục sự nghiệp của Đảng và nhân dân một cách đắc lực Cùng với các mặt hoạt độngkhác, quá trình hoạt động GDTC giúp cho học sinh, sinh viên hoàn thiện nhân cách

và các phẩm chất khác, nhằm đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống và nghiệp vụ chuyênmôn GDTC là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe, hoàn thiệnthể chất, rèn luyện tích cực xã hội và nhân cách cho thế hệ trẻ, GDTC như phạm trùvĩnh cửu, nó ra đời từ khi xuất hiện loài người và sẽ tồn tại tiếp tục như một trongnhững điều kiện cần thiết của nền sản xuất xã hội

Trang 28

1.2 Một số khái niệm có liên quan.

- Đánh giá: Là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình vàkết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kếtquả[7] [38]

- Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về:mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự pháttriển, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với mụctiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập[7] [38]

- Thể chất

Theo NovicopA.Đ, Matveep L.P, Vũ Đức Thu và cộng sự “ Thể chất là thuậtngữ chỉ chất lượng của cơ thể con người Đó là những đặc trưng về hình thái chứcnăng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kếtiếp nhau theo quy luật sinh học Thể chất được hình thành và phát triển do bẩmsinh di truyền và những điều kiện sống tác động” [26]

Còn theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn “ Thể chất chỉ chất lượng thân thểcon người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của

cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (baogồm cả giáo dục và rèn luyện) [34] [35]

Theo nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: “Giáo dục thể chất là một bộ phậncủa TDTT GDTC còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của

Trang 29

TDTT trong xã hội, một qua trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị củaTDTT trong hệ thống giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động vàphát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người” [34] [35]

Với mục đích góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, khoa học kỹ thuật, quản lýkinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa về mọi mặt, có sức lực cường tráng, cónăng lực hoạt động chuyên môn độc lập, sáng tạo, có tư tưởng đạo đức tác phonglành mạnh, trong sáng, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,GDTC đã trở thành nội dung không thể thiếu trong chương trình đào tạo của trường

ĐH, CĐ& THCN

- Sức khỏe.

Theo tổ chức y tế Thế giới (WHO), sức khỏe được hiểu là trạng thái hài hòa

về thể chất, tinh thần và xã hội, mà không có nghĩa chỉ là không có bệnh hay thươngtật cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữđược lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả[1][12][21]

- Thể lực

Thể lực là sức lực của cơ thể, biểu hiện qua các tố chất thể lực Tố chất thểlực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người, bao gồm: nhanh,mạnh, bền, khéo léo và mềm dẻo Tố chất thể lực thường được biểu hiện trong khilàm động tác và phụ thuộc vào cấu trúc của động tác Ngoài ra, việc thể hiện các tốchất còn phụ thuộc vào trạng thái người tập và điều kiện thực hiện Các tố chất nhưsức mạnh, sức nhanh, sức bền và mềm dẻo là những yếu tố mang tính năng lượng(vì phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp năng lượng), còn khả năng phối hợp vậnđộng (khéo léo) là một yếu tố mang tính thần kinh – cơ (vì chủ yếu liên quan đến sựđiều khiển của hệ thần kinh – cơ) Hai thuật ngữ tố chất thể lực và tố chất vận độngtương đồng về nghĩa vì cùng phản ánh những nhân tố, những mặt tương đối khácnhau của thể lực con người Tuy nhiên, khi nói tố chất vận động là muốn nhấn mạnhviệc điều khiển động tác của hệ thần kinh trung ương Còn khi nói tố chất thể lực làmuốn nhấn mạnh đến đặc trưng sinh học của cơ thể[1][45]

Trang 30

1.3 Cơ sở lý luận về nghiên cứu cơ thể người

Những đặc điểm phát triển tâm lý cơ bản của sinh viên Hầu hết các nướctrên thế giới đều qui định chung là tuổi công dân là 18 trở lên Điều này được xácđịnh dựa trên sự chín mùi của cơ thể con người Có nhiều công trình nghiên cứukhoa học trên thế giới đã đưa ra kết luận rằng sự trưởng thành về sinh học đi trước

sự trưởng thành về tâm lý rất nhiều Do vậy sự trưởng thành toàn diện của conngười thường đến chậm từ 2 đến 3 năm Theo tiến sỹ Vũ Thị Nho “sự chín mùi vềmặt sinh học thể chất: nghĩa là sự hội tụ đầy đủ những điều kiện sinh học để làm

vợ làm chồng làm cha làm mẹ, cũng như làm một người lao động thực thụ tronggia đình và xã hội, có đầy đủ những quyền hạn và nghĩa vụ của một công dân, đibầu, ứng cử chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi hoạt động củamình[41] [42]

Những đặc điểm về tâm lý của thanh niên và sinh viên bị chi phối bởi nhữngđặc điểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà trong đó họsống và hoạt động Đây là một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị trực tiếp cho sựtham gia vào cuộc sống tinh thần của xã hội

1.3.1 Đặc điểm hình thái, thể lực lứa tuổi trưởng thành

Trong khoảng thời gian dài nhưng quan trọng của con người, gần 20 nămgiữa lúc sinh ra và khi trưởng thành, diễn ra quá trình phát triển phức tạp về mặthình thái tâm lý và sinh lý Sự phát triển không đơn thuần là sự tăng về độ dài và thểtrọng mà còn có ý nghĩa là sự khác biệt, thay đổi, sự tổ chức, sự trưởng thành vàthoái hóa Thiếu niên đang độ phát triển và thanh niên đang độ trưởng thành khôngphải là người lớn được thu nhỏ lại, vì các lứa tuổi này có sự khác biệt không chỉriêng trong chiều cao cơ thể mà còn trong khối lượng riêng thông qua sự chênh lệch

rõ ràng về các tỷ lệ các bộ phận riêng lẻ, thông qua hình dáng khác nhau và rõ nétnhất là qua cấu trúc cơ thể Các bộ phận riêng lẻ phát triển với các nhịp độ khácnhau; chu vi đầu lúc mới sanh chỉ bằng khoảng 62,1% lúc 17-18 tuổi trong quátrình phát triển từ ấu nhi đến trưởng thành, đầu chỉ tăng gấp đôi, thân tăng 3 lần, taytăng 4 lần, chân tăng 5 lần[8][9][48] Cơ thể con người phát triển theo hướng đi lên

Trang 31

cho đến 25 tuổi, sau đó chậm dần và suy giảm theo quy luật sinh học Từ đó cơ thểngười càng khó thích nghi với điều kiện sống và thay đổi của môi trường.

1.3.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 18 -22

Các nhà nghiên cứu khoa học chứng minh rằng tâm lý biểu hiện rất phongphú, đa dạng, là cơ chế cơ bản điều khiển hành vi vận động trong toàn bộ cuộc sốngcủa con người nói chung và hoạt động TDTT nói riêng Cùng với nhân tố khác vềthể lực, kỹ - chiến thuật, tâm lý là một bộ phận hợp thành của cái gọi là: “năng lựcthể thao”, là cơ sở đạt thành tích trong thể thao Các chức năng tâm lý phát triển tùythuộc vào đặc điểm các môn thể thao và trình độ tập luyện của người tập[13] [49]

Đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên bị chi phối bởi nhiều yếu tố như:

sự phát triển thể chất, môi trường, điều kiện sống nơi học tập và sinh hoạt trongcuộc sống hằng ngày Tầng lớp thanh niên học sinh, sinh viên là trụ cột tương laicủa xã hội Lứa tuổi 18 - 22 sau giai đoạn dậy thì, các cơ quan hệ thống trong cơ thểđang dần hoàn thiện như người trưởng thành về mặt thể chất lẫn tinh thần Các em

đã tách khỏi thời kỳ thơ ấu và chuyển sang giai đoạn trưởng thành Ở lứa tuổi nàycác em gần như là quyết định làm tất cả những gì mà bản thân cho là đúng và cómột chút liều lĩnh, táo bạo trong suy nghĩ và hành động.Tâm lý lứa tuổi này diễn racũng rất phức tạp và không đồng đều, được thể hiện như sau:

Về sự tập trung chú ý: Khả năng chú ý được coi là một trong những trí tuệ

quan trọng, một trong những phẩm chất của trí thông minh, của khả năng nhận thức

Ở lứa tuổi 18 - 22 thì sự chú ý có chủ định đã được hình thành Tính lựa chọn củachú ý phụ thuộc vào tính chất của đối tượng hoạt động, học tập và mức độ hứng thúcủa các em đối với đối tượng đó Khối lượng chú ý và khả năng chú ý di chuyểnchú ý từ thao tác này đến thao tác khác, từ hoạt động này sang hoạt động khác pháttriển cũng dần chậm hơn so với tuổi dậy thì Có sự nỗ lực ý chí cao trong chú ý sauchủ định[13] [49]

Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện sức mạnh, nhanh, bền, độ dẻo, khéoléo…Trong các môn thi đấu cần nắm bắt được sự phát triển về tri giác, để lựa chọnphương pháp giảng dạy cho phù hợp lứa tuổi và giói tính

Trang 32

Về trí nhớ: Lứa tuổi này trí nhớ đã thay đổi về chất, mang tính chất của

những quá trình được điều chỉnh có tổ chức Sử dung phương pháp ghi nhớ và nhớlại một cách logic, tiến hành thao tác so sánh, phân tích và tổng hợp những thông tinnhận được Nhưng trong lứa tuổi này các em còn sự bảo thủ và định hướng hạn chế

về nhận thức, chính vì vậy trong quá trình giảng dạy và huấn luyện phải giải thích

rõ ràng và cần đưa ra nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể và hướng các em hồi tưởng về nhậnthức, phát triển ghi nhớ chính xác kiến thức đã được thu nhận[13] [49]

Về tư duy: Các phương pháp tư duy trừu tượng và logic, có phân tích và quy

luật đã tạo điều kiện giúp các em đi sâu vào các mối quan hệ có tính quy luật trong

tự nhiên và xã hội Từ những phương pháp đó tạo điều kiện cao hơn đánh giá bảnchất sự việc một cách chính xác và chứa đựng một trình độ cao hơn về chất của cácquá trình nhận thức và học tập Các em có thể phân tích quá trình thực hiện động táccủa bản thân và của người khác[13] [49]

Trong thời kỳ dậy thì, các em đã được hình thành những phẩm chất về trí tuệ,tâm tư tình cảm, ý trí, sự nỗ lực,…và đến thời kỳ này đã có nền tảng để trở thànhngười trưởng thành Giai đoạn này tâm lý của các em cũng rất phức tạp và thườngxuyên có quyết định táo bạo, thậm chí liều lĩnh, đời sống tình cảm tâm lý rất mâuthuẫn có những thay đổi liên tục nên cần phải có sự định hướng, giáo huấn của cácbậc phụ huynh và giáo viên một cách đúng đắn, có chiều sâu Lứa tuổi này quá trìnhphát dục tương đối ổn định, sự phát triển của các cơ bắp đã cân đối, các hoạt độngchân tay đã dần trở thành khéo léo và cẩn thận hơn

Những biến đổi về chất gần như hoàn thiện như người trưởng thành nêntrong đời sống tâm lý cũng tương đối ổn định Vì thế, chúng ta có thể khơi dậy vàphát huy những yếu tố tích cực trong thể chất và tâm hồn các em, giúp các em giảiquyết những mâu thuẫn, tạo dựng và hình thành những bước phát triển tốt đẹp vềthể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức, nhân cách,…

Tóm lại: Các hoạt động nhận thức của sinh viên là hoạt động tri thức, nhậnbiết có tính khái quát cao và chọn lọc, quá trình nhận thức cảm tính chiếm cơ bảntrong sự tiếp thu lĩnh hội kiến thức Nhưng trong sự phát triển trí tuệ nhận thức lại

Trang 33

mang tính chọn lọc cao, tiếp thu một cách nhạy bén, linh động, logic,…và thường ítthỏa mãn với những gì mình biết và muốn tìm hiểu một cách sâu rộng hơn Chính vìthế, trong quá trình giảng dạy nhà giáo phải luôn tìm tòi những cái mới lạ, phongphú và hướng sinh viên tự tư duy, sáng tạo, tìm hiểu tích cực.

1.3.3 Yếu tố chức năng sinh lý

Hệ thần kinh

Hệ thần kinh trung ương là một trong những cơ quan phát triển sớm

và nhanh nhất Nhờ vậy, con người có thể nhận thức được thế giới xung quanh, họctập, lao động, tập luyện và đạt thành tích thể thao Thực tế cho thấy, ở các môn thểthao trí tuệ, các kỳ thủ có thể đạt được thành tích cao ngay khi tuổi còn rất nhỏ (Ðạikiện tướng Ðào Thiện Hải, Từ Hoàng Thông, Hoàng Thanh Trang, Nguyễn NgọcTrường Sơn,….) [16] [17] [40]

Người trưởng thành, hệ thần kinh có hơn 10 tỷ nơron Các tế bào thần kinhkhông sản sinh ra mới mà chỉ suy thoái theo thời gian, nhưng mỗi người trong đờikhông ai có thể sử dụng hết nguồn vốn trí tuệ của mình Hay nói cách khác, cónhững khả năng đặc biệt tiềm ẩn trong mỗi cá thể mà vì điều kiện, môi trường sốngđặc thù của công việc có khi đến hết cả đời vẫn chưa sử dụng đến[16] [17] [40]

Ðối với sinh viên, hệ thần kinh trung ương đã hoàn thiện về cơ chế tế bào.Hưng phấn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp thông tin cao và sâu sắc, dễthành lập phản xạ và cũng khó phai mờ, hệ thần kinh thực vật hoạt động mạnh, tìnhcảm, tâm lý, cảm xúc thể hiện rõ nét trước và sau thi đấu thể thao

Trong huấn luyện thể thao, thường dùng các chỉ tiêu tâm lý như: loại hìnhthần kinh, thời gian phản xạ, khả năng trí tuệ, khả năng xử lý thông tin, khả năngchú ý, để tuyển chọn, đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên Theo các nhàtuyển chọn thể thao Trung Quốc, chỉ số về hoạt động của hệ thần kinh có hệ số ditruyền khá cao, khoảng 84 – 90% Tuy nhiên các đặc điểm đó vẫn chịu sự chi phốicủa hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, giáo dục và tính tích cực của chủ thể, đồng thờichúng luôn có sự tác động tương hỗ nhau Quyết định chức năng thần kinh trungương là ba đặc trưng chủ yếu của quá trình thần kinh mà Paplôp đã chỉ ra: cường độ

Trang 34

hưng phấn và ức chế, tính cân bằng của quá trình hưng phấn và ức chế, tính linhhoạt (chuyển đổi giữa quá trình hưng phấn và ức chế) [16] [17] [40].

Hệ tuần hoàn

Mạch đập: Tim của Nam mỗi phút đập 60 – 80 lần, của Nữ 70 – 80 lần.

Trong tập luyện nhất là các hoạt động điền kinh như chạy tốc độ, chạy cự ly trungbình, và các bài tập thể lực, phương pháp bắt mạch dùng để kiểm tra chức năng của

hệ tim mạch, đánh giá được tình trạng cơ thể và lượng vận động

Huyết áp: Bình thường huyết áp tối đa từ 100mmHg – 130mmHg,

dưới 100mmHg là huyết áp thấp, trên 130mmHg là huyết áp cao Ðối với ngườiViệt Nam bình thường lấy mức trên 140mmHg là huyết áp cao Huyết áp tối thiểu

từ 65mmHg – 85mmHg là trung bình Chỉ số huyết áp là chỉ số tương đối ổn định.Trong quá trình huấn luyện thể thao thì chỉ số huyết áp ít thay đổi[16] [17] [40]

Hệ tim mạch là bộ phận cấu thành của hệ thống vận chuyển oxy, bao gồm:tim, động mạch, tĩnh mạch và mao mạch Ngoài chức năng vận chuyển oxy đáp ứngcho nhu cầu của tế bào, hệ tim mạch còn vận chuyển và cung cấp các dinh dưỡngnhư: hooc - mon, vi-ta-min, nguyên tố vi lượng, khoáng chất, nước,… hệ tim mạchcòn đảm bảo nhiệm vụ đào thải chất cặn bã sau quá trình chuyển hóa, trao đổi chấttại tế bào Người trưởng thành, tim nặng khoảng 270 gram, mỗi lần co bóp máu vàokhoảng 60 – 70ml Vận động viên chạy cự ly dài nhịp tim chậm, lưu lượng khoảng

100 – 120ml Lưu lượng máu phụ thuộc vào kích thước tim và trạng thái cơ thể (lưulượng máu khi nằm lớn hơn khi ngồi) Ðộ lớn của lưu lượng máu phụ thuộc vàotrình độ tập luyện TDTT Theo Farphen-Kot, lưu lượng tim của vận động viên ưu tú

có thể đạt 170 – 190ml Ở trạng thái nghỉ ngơi, một người bình thường có lưu lượngmáu qua tim khoảng 3 – 6 lít/phút, trong khi đó ở vận động viên đại lượng này íthơn do tiêu thụ oxy thấp và tiết kiệm năng lượng khoảng 10% Trong tậpluyện TDTT, lưu lượng máu/phút tỉ lệ với cường độ vận động, đại lượng này có thểlên đến 30 – 32 lít/phút, nhưng không vượt quá 37 lít/phút Lưu lượng máu qua timcủa một người bình thường sống 60 năm vào khoảng 140.000m[16] [17] [40]

Trang 35

Hệ vận động

Vận động cơ thể là sự di chuyển của một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể trongkhông gian theo thời gian do hoạt động của các cơ quan vận động Cơ thể vận độngđược là nhờ có xương, khớp làm điểm tựa, cơ bắp sản sinh ra lực tác dụng Nhờ cáchình thức vận động mà con người có thể tiến hành trao đổi chất, lao động học tập,chiến đấu và tập luyện thể dục thể thao Vì vậy, cơ quan vận động rất quan trọng đốivới cơ thể con người

Sau 17 tuổi chiều cao phát triển chậm lại, 18 – 20 tuổi thì kết thúc sự cốt hóa

bộ xương và xem như đã kết thúc sự phát triển về chiều dài Tuy nhiên, trên thực tếcon người có thể phát triển chiều cao đến tuổi 25 Ở nam, chiều cao có hệ số ditruyền là 75%, trong khi đó ở nữ là 92% Nếu tập luyện TDTT thường xuyên thìmức độ linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi nhưng yếu tố quyết định lựachọn động tác trong tập luyện TDTT là phải dựa vào khả năng giải phẩu sinh lý củacác khớp xương Ở lứa tuổi 18 – 22, cơ bắp đã phát triển tạo điều kiện thuận lợi đểphát triển sức mạnh và sức bền, cơ thể có năng lực hoạt động cao Tậpluyện TDTT có phương pháp khoa học, có hệ thống sẽ làm tăng lực co cơ, tăng sốlượng và tiết diện ngang cơ cũng như tăng độ đàn hồi của cơ Khả năng sinh họccủa cơ thể trưởng thành chín mùi thích ứng với việc tập luyện tất cả các môn thểthao đặc biệt là môn bóng với lứa tuổi đạt phong độ cao nhất từ 18 – 25, trong khicác môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, bơi lội thành tích cao nhất đạt được là

Trang 36

trẻ em, tuy nhiên nếu tính dung tích sống tương đối thì chỉ số của trẻ nhỏ cao hơnngười lớn Điều hòa hô hấp thần kinh trở nên hoàn chỉnh hơn, quá trình trao đổichất diễn ra mạnh hơn, nhưng càng lớn thì sự trao đổi chất càng giảm dần [8] [9][16] [17] [40].

Trong quá trình giảng dạy, tập luyện TDTT cho học sinh, sinh viên cần cónhững bài tập phù hợp và cách thở đúng Mặt quan trọng hơn là việc tập luyệnnhững bài tập phát triển mạnh mẽ, cân đối, toàn diện các cơ hô hấp, phát triển hoànthiện lồng ngực theo 3 chiều: trên - dưới, trước - sau, trái - phải, nhằm đáp ứng yêucầu lượng vận động

1.4 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực

Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo vàkhéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý TDTT và lý luậnphương pháp TDTT về tố chất thể lực chúng tôi đi sâu phân tích đặc điểm của từng

tố chất thể lực

Tố chất sức nhanh: Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ thể

vận động tốc độ nhanh, là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gianngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định đặctính tốc độ động tác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động [18][34] [35] [44]

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập nhau, đặc biệt làthời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Nhữnghình thức trên thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau

Các hình thức phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt độngthể thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền anh, tốc độdẫn bóng trong bóng đá Các hình thức sức nhanh đơn giản liên quan chặt chẽ vớikết quả sức nhanh phức tạp

Sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: tốc độ phản ứng,tốc độ động tác, tần số động tác Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các hình thứcsức nhanh là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Ðộ linh hoạt của

Trang 37

quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ứcchế trong các trung tâm thần kinh Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ứcchế làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao làm chođơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số độngtác Tốc độ co cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong

bó cơ Các bó cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II - A có khả năngtốc độ cao Tốc độ co cơ còn chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP (Adenozin TriPhotphat) và CP (Creatin Photphat) Ðây là nguồn năng lượng có sẵn trong cơ giúpcho quá trình co cơ được thực hiện nhanh Sức nhanh mang tính chất di truyền, phụthuộc vào các quá trình hóa học trong cơ, vào tần số động tác và quá trình tâm lý.[34][35][42]

Sức nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 tuổi đến 13 tuổi, nếu khôngđược tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nângcao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hếtsức chú ý đến đặc điểm của lứa tuổi, có như thế thì kết quả huấn luyện mới đem lạinhư mong muốn

Tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại

nó bằng cơ bắp Trong bất kỳ một hoạt động nào của con người đều có sự tham giacủa hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: khôngthay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độdài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sảnsinh ra các lực cơ học có trị số khác nhau cho nên có thể coi chế độ hoạt động của

cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh[34] [35]

Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận

có ý nghĩa trong việc phân loại sức mạnh Trị số lực sinh ra trong các động tácchậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳngtrường Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấphai lần lực phát trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần

Trang 38

theo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động nhanh tuyệt đối (tốc độ)

và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tươngquan nhau

Trên cơ sở đó, sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần(khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năngsinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh - tốc độ còn được chia nhỏ tùy theochế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung

Trong hoạt động nói chung và hoạt động TDTT nói riêng, sức mạnh luôn có

có quan hệ với các tố chất thể lực khác nhất là sức nhanh và sức bền Do đó, sứcmạnh được phân ra thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sứcmạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền Sức mạnh cũng là điều kiệnrất quan trọng để nâng cao thành tích thể thao Sinh viên từ 18 đến 25 là tuổi rấtthuận lợi cho cơ bắp phát triển sức mạnh Vì vậy, trong quá trình tập luyện, rènluyện tố chất sức mạnh cần được chú ý sao cho phù hợp nhất để phát triển sức mạnhmột cách tốt nhất

Tố chất sức bền

Sức bền là khả năng khắc phục sự mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời giandài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập luyệnđạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu,…) trong thờigian vận động kéo dài Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyếthoàn hảo các động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tậpluyện[34][35][44]

Trong sinh lý TDTT, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện cáchoạt động thể lực kéo dài từ hai ba phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng

cơ bắp lớn, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho cơ hoạt động bằng conđường ưa khí Sức bền được chia thành nhiều loại:

Sức bền chung: Biểu thị khả năng con người trong các hoạt động kéo dài có

thể từ vài chục phút đến hàng giờ, với cường độ thấp, có sự tham gia phần lớn của

hệ cơ [34][35][44]

Trang 39

Sức bền chuyên môn: Là năng lực duy trì khả năng vận động cao

trong những loại hình bài tập nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tínhchuyên biệt phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độhoàn thiện kỹ thuật[34] [35][44]

Sức bền tốc độ: Là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động

nhanh nhất trong một thời gian nhất định [34] [35][44]

Sức mạnh bền: Là khả năng duy trì hoạt động với một trọng lượng mang

vác lớn[34] [35] [44]

Nói chung, sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể lực nên có mốiquan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh Sinh viên từ

18 đến 25 khi tập luyện sức bền đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn không những bằng cơ bắp

mà còn bằng ý chí khắc phục khó khăn để vượt qua gian khổ Ở tuổi này có thuậnlợi trong nhận thức và ý thức tự giác tập luyện cao, hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việctập luyện TDTT Cho nên, giáo viên cần lưu ý việc giáo dục nhận thức cho sinhviên hiểu rõ được chức năng, tác dụng của mỗi bài tập khi tập luyện

Sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tậphàng ngày Ðối với lĩnh vực TDTT, nó là cơ sở thiết yếu để giúp cho vận động viêntrong hoạt động chuyên môn của mình để gặt hái thành tích thể thao cao, đồng thời

đó cũng là cơ sở để giúp sinh viên bền bỉ, dẻo dai trong việc học tập rèn luyệnchuyên môn nghề nhiệp của mình

Tố chất mềm dẻo

Mềm dẻo là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa củađộng tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Thông thường, độ linh hoạt của cáckhớp càng lớn thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn[34][35][44]

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chấtlượng động tác Mềm dẻo được phát triển rất sớm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng,đặc biệt là lứa tuổi 11 đến 14, trước khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh Cóthể tập mềm dẻo khi tập thể dục sáng, trong giờ khởi động Các động tác làm tăng

độ linh hoạt của các khớp có tác dụng tích cực để chuẩn bị bước vào phần trọng

Trang 40

động, đồng thời còn ngăn ngừa được chấn thương trong tập luyện Tuổitrưởng thành tập luyện mềm dẻo rất khó khăn vì xương, cơ, khớp, dây chằn và hệthần kinh đã phát triển hoàn chỉnh.

Vì vậy, khi tiến hành giáo dục tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ độngtác, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp để phòng ngừa chấn thươngcho người tập.Tuy nhiên, nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽgặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao

Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động)

Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khảnăng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động.Về bản chất,khéo léo là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việcthực hiện những động tác vận động phức tạp.Vì vậy, nó có liên quan với việc hìnhthành kỹ năng vận động[34] [35] [44]

Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động viên(cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhấtđịnh Năng lực này được xác định trước tiên là ở khả năng điều khiển động tác (xử

lý thông tin) và được hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vậnđộng có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sứcmạnh, sức nhanh và sức bền

Năng lực phối hợp vận động còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng cóchất lượng, cũng như việc hoàn thiện, củng cố và vận dụng các kỹ thuật thể thao

Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khácnhau cơ bản Kỹ xảo thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, còn nănglực phối vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau Khéo léothường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độ phát triển củacác tố chất khác như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ phát triển khéo léoliên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyệnphát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá trình thần kinh, làmcho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể

Ngày đăng: 17/10/2020, 14:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Nguyễn Hoàng Huân (2014): “Nghiên cứu thực trạng và những giải pháp ngâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Bình Định” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu thực trạng và những giải phápngâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tếBình Định
Tác giả: Nguyễn Hoàng Huân
Năm: 2014
20. Lương Anh Kiệt (2010), Nghiên cứu thực trạng và những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường cao đẳng công thương, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và những giải pháp cơ bảnnâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường cao đẳng côngthương
Tác giả: Lương Anh Kiệt
Năm: 2010
21. Lê Văn Lẫm, Vũ đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bích Huệ (2000), Thực trạng thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ XXI, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ XXI
Tác giả: Lê Văn Lẫm, Vũ đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bích Huệ
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 2000
22. Lê Văn Lẫm, Phạm Trọng Thanh (2000), Giáo dục thể chất ở một số nước trên thế giới, NXB TDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thể chất ở một số nướctrên thế giới
Tác giả: Lê Văn Lẫm, Phạm Trọng Thanh
Nhà XB: NXB TDT
Năm: 2000
23. Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành (2007), Đo lường TDTT, NXBTDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường TDTT
Tác giả: Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 2007
24. Đỗ Hoàng Long (2014): “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và xây dựng giảipháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất tại Trường Đại học Sưphạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Hoàng Long
Năm: 2014
26. NovicopA.Đ, Matveep L.P (1990), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất (Phạm Trọng Thanh – Lê Văn Lẫm dịch), tập 1 NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất(Phạm Trọng Thanh – Lê Văn Lẫm dịch)
Tác giả: NovicopA.Đ, Matveep L.P
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1990
28. Nguyễn Phúc Nguyện (2006), “Phong trào thể dục thể thao trong một số trường Đại học công lập ở TP. HCM hiện nay: Thực trạng và giải pháp quản lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong trào thể dục thể thao trong một số trườngĐại học công lập ở TP. HCM hiện nay: Thực trạng và giải pháp quản lý
Tác giả: Nguyễn Phúc Nguyện
Năm: 2006
31. Nguyễn Văn Quận (2008), “Xác định tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xác định tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực củasinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Tác giả: Nguyễn Văn Quận
Năm: 2008
34. Nguyễn Toán – Phạm Danh Tốn (2000), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán – Phạm Danh Tốn
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 2000
35. Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (1993), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 1993
36. Phan Bửu Tú (2010), Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất sinh viên Trường Đại học Đà Lạt, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất sinh viênTrường Đại học Đà Lạt
Tác giả: Phan Bửu Tú
Năm: 2010
37. Trần Thanh Tùng (2014): “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả chương trình giáo dục thể chất tại Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệuquả chương trình giáo dục thể chất tại Trường Cao đẳng Giao thông vận tảiThành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Thanh Tùng
Năm: 2014
38. Lâm Quang Thành, Nguyễn Thành Lâm (2005), Ðo lường thể thao, NXB TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ðo lường thể thao
Tác giả: Lâm Quang Thành, Nguyễn Thành Lâm
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 2005
39. Lê Thanh (2004), Giáo trình phương pháp thống kê trong TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp thống kê trong TDTT
Tác giả: Lê Thanh
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2004
40. Trịnh Hùng Thanh (2000), Đặc điểm sinh lý môn thể thao, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh lý môn thể thao
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
41. Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga (1993), Cơ sở sinh học và sự phát triển tài năng thể thao, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và sự phát triển tàinăng thể thao
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1993
42. Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga,Trịnh Trung Hiếu (1998), Sinh cơ và huấn luyện Thể dục Thể thao, NXB TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh cơ và huấnluyện Thể dục Thể thao
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga,Trịnh Trung Hiếu
Nhà XB: NXB TP HCM
Năm: 1998
44. Vũ Ðức Thu, Nguyễn Trương Tuấn (1997), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất dùng trong trường đại học, cao đẳng và THCN, NXB TDTT, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dụcthể chất dùng trong trường đại học, cao đẳng và THCN
Tác giả: Vũ Ðức Thu, Nguyễn Trương Tuấn
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1997
45. Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải(1993), về tình trạng thể lực của học sinh các trường dạy nghề, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tình trạng thể lực của học sinh cáctrường dạy nghề
Tác giả: Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w