1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận cao học môn xây dựng đảng về chính trị- giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác lý luận hiện nay

31 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 137,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦULý luận là căn cứ khoa học nhằm lý giải những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước vận động không ngừng trong một thế giới toàn cầu hóa, biến đổi nhanh chóng khó lường, nhiều vấn đề mới phát sinh, đòi hỏi phải được lý giải, chỉ ra thực chất, xu hướng vận động, thái độ ứng xử và giải pháp giải quyết. Thực tiễn muôn màu, nhiều chiều, luôn vận động và biến đổi, trong khi lý luận thường không bao hàm hết tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, do vậy, lý luận cần liên tục được bổ sung, hoàn thiện. Nếu hệ thống lý luận bất biến, xơ cứng, không được bổ sung, hoàn thiện sẽ không thể lý giải được những vấn đề thực tiễn phát sinh, không làm tròn sứ mệnh dẫn đường của mình.Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác Lênin, sự tiếp nối những giá trị truyền thống của dân tộc trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam. Trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây, do nắm vững, vận dụng sáng tạo và luôn bổ sung, phát triển lý luận cách mạng, Đảng ta đã đề ra chiến lược và sách lược đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta giành những thắng lợi to lớn, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho dân tộc. Tuy nhiên, có những thời kỳ lịch sử, do hạn chế về nhận thức lý luận, chúng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng của đất nước, làm cho sự nghiệp cách mạng gặp không ít khó khăn. Do chậm đổi mới về lý luận, nhất là những hạn chế về công tác nghiên cứu, phát triển lý luận, có thời kỳ chúng ta đã có những nhận thức chưa phù hợp về những vấn đề căn bản của CNXH và con đường đi lên CNXH. Một số chủ trương nóng vội hoặc vận dụng máy móc những nguyên lý lý luận, mô hình có sẵn làm chậm tiến trình phát triển của đất nước, thậm chí có những thời điểm đất nước rơi vào tình thế khủng hoảng trầm trọng. Sớm nhận ra nguyên nhân và hậu quả sự lạc hậu về mặt lý luận, Đảng ta đã khởi xướng quá trình đổi mới tư duy với dấu mốc là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986). Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn một phần tư thế kỷ thực hiện đường lối đổi mới vừa qua là lôgích tất yếu và gắn bó hữu cơ với việc kiên quyết gạt bỏ lối tư duy rập khuôn, máy móc để vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những thành tựu đạt được qua hơn 25 năm qua khẳng định vai trò, tầm quan trọng của lý luận. Công tác lý luận và đổi mới tư duy lý luận vừa là tiền đề, vừa là nền tảng khoa học không thể bác bỏ trong công cuộc đổi mới. Ngày nay, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế được nâng lên tầm cao mới, tạo tiền đề để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Giai đoạn phát triển tiếp theo của nước ta được đặt trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những biến đổi sâu sắc: hòa bình, hợp tác vẫn là xu hướng chủ đạo nhưng những bất ổn chính trị, những xung đột sắc tộc, tôn giáo, đấu tranh vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, tranh chấp tiếp tục diễn ra; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước; hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công đặt ra những thách thức đối với các nước tư bản phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có dấu hiệu hồi phục nhưng chưa rõ ràng; tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế... tất cả các yếu tố đó đặt Việt Nam trước những thử thách to lớn, đồng thời cũng mang lại những cơ hội, những thuận lợi để nước ta vươn tới tầm cao mới nếu có những chiến lược, chính sách phù hợp nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức. Trong bối cảnh đó, công tác lý luận và nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, chưa theo kịp với những diễn biến đa chiều, phức tạp, nhanh chóng của tình hình trong nước và quốc tế. Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ nguyên nhân trực tiếp của những yếu kém trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X là “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu”. Như vậy, đổi mới công tác lý luận, nghiên cứu, phát triển lý luận là đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn phát triển của đất nước. Để lý luận trở thành cơ sở khoa học, cung cấp các luận cứ khoa học cho các quyết định chính trị, hoạch định chiến lược, chính sách, đồng thời là tiếng nói tư vấn, phản biện cho quá trình này thì công tác lý luận cần thường xuyên đổi mới, phát triển, phát hiện, lý giải và tìm lời giải đáp cho những vấn đề đặt ra từ thực tiễn.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lý luận là căn cứ khoa học nhằm lý giải những vấn đề phát sinh từ thực tiễn Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước vận động không ngừng

trong một thế giới toàn cầu hóa, biến đổi nhanh chóng khó lường, nhiều vấn

đề mới phát sinh, đòi hỏi phải được lý giải, chỉ ra thực chất, xu hướng vậnđộng, thái độ ứng xử và giải pháp giải quyết Thực tiễn muôn màu, nhiềuchiều, luôn vận động và biến đổi, trong khi lý luận thường không bao hàmhết tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, do vậy, lý luận cần liên tục được bổsung, hoàn thiện Nếu hệ thống lý luận bất biến, xơ cứng, không được bổsung, hoàn thiện sẽ không thể lý giải được những vấn đề thực tiễn phát sinh,không làm tròn sứ mệnh dẫn đường của mình

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rènluyện, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam chotoàn bộ hoạt động thực tiễn Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng, pháttriển chủ nghĩa Mác - Lênin, sự tiếp nối những giá trị truyền thống của dântộc trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng ViệtNam

Trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây, do nắm vững, vậndụng sáng tạo và luôn bổ sung, phát triển lý luận cách mạng, Đảng ta đã đề

ra chiến lược và sách lược đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta giành nhữngthắng lợi to lớn, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho dân tộc Tuy nhiên,

có những thời kỳ lịch sử, do hạn chế về nhận thức lý luận, chúng ta đã đề ramột số chủ trương, chính sách chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng của đấtnước, làm cho sự nghiệp cách mạng gặp không ít khó khăn

Do chậm đổi mới về lý luận, nhất là những hạn chế về công tácnghiên cứu, phát triển lý luận, có thời kỳ chúng ta đã có những nhận thứcchưa phù hợp về những vấn đề căn bản của CNXH và con đường đi lên

Trang 2

CNXH Một số chủ trương nóng vội hoặc vận dụng máy móc những nguyên

lý lý luận, mô hình có sẵn làm chậm tiến trình phát triển của đất nước, thậmchí có những thời điểm đất nước rơi vào tình thế khủng hoảng trầm trọng.Sớm nhận ra nguyên nhân và hậu quả sự lạc hậu về mặt lý luận, Đảng ta đãkhởi xướng quá trình đổi mới tư duy với dấu mốc là Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VI (1986) Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn, có ý nghĩalịch sử sau hơn một phần tư thế kỷ thực hiện đường lối đổi mới vừa qua làlôgích tất yếu và gắn bó hữu cơ với việc kiên quyết gạt bỏ lối tư duy rậpkhuôn, máy móc để vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của Việt Nam

Những thành tựu đạt được qua hơn 25 năm qua khẳng định vai trò,tầm quan trọng của lý luận Công tác lý luận và đổi mới tư duy lý luận vừa

là tiền đề, vừa là nền tảng khoa học không thể bác bỏ trong công cuộc đổimới Ngày nay, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn đẩymạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế được nâng lên tầm caomới, tạo tiền đề để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại Giai đoạn phát triển tiếp theo của nước ta đượcđặt trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những biến đổi sâu sắc: hòabình, hợp tác vẫn là xu hướng chủ đạo nhưng những bất ổn chính trị, nhữngxung đột sắc tộc, tôn giáo, đấu tranh vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ,tranh chấp tiếp tục diễn ra; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tếtri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sựphát triển của nhiều nước; hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủnghoảng nợ công đặt ra những thách thức đối với các nước tư bản phát triển;phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có dấu hiệu hồi phục nhưng chưa

rõ ràng; tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi tái cơ cấutổng thể nền kinh tế tất cả các yếu tố đó đặt Việt Nam trước những thử

Trang 3

thách to lớn, đồng thời cũng mang lại những cơ hội, những thuận lợi để nước

ta vươn tới tầm cao mới nếu có những chiến lược, chính sách phù hợp nhằmtận dụng cơ hội, vượt qua thách thức Trong bối cảnh đó, công tác lý luận vànghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, chưa theo kịp với nhữngdiễn biến đa chiều, phức tạp, nhanh chóng của tình hình trong nước và quốc

tế Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ nguyên nhân trực tiếp của những yếu kémtrong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X là “Công tác nghiên cứu lýluận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu”

Như vậy, đổi mới công tác lý luận, nghiên cứu, phát triển lý luận làđòi hỏi cấp bách từ thực tiễn phát triển của đất nước Để lý luận trở thành cơ

sở khoa học, cung cấp các luận cứ khoa học cho các quyết định chính trị,hoạch định chiến lược, chính sách, đồng thời là tiếng nói tư vấn, phản biệncho quá trình này thì công tác lý luận cần thường xuyên đổi mới, phát triển,phát hiện, lý giải và tìm lời giải đáp cho những vấn đề đặt ra từ thực tiễn

Trang 4

NỘI DUNG

I Thực trạng về thành tựu và những hạn chế công tác lý luận

Để làm tròn sứ mệnh lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của mình ngang tầm với những đòi hỏi trước tình hình mới, Đảng

ta cần tự đổi mới và tự chỉnh đốn, trước hết phải nâng cao trình độ trí

tuệ, tính tiền phong về lý luận, bởi “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(1).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh; vấn đềquan trọng trước hết là phải tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao trí tuệ củaĐảng lên một bước phát triển mới Hơn lúc nào hết, muốn lãnh đạo côngcuộc đổi mới đi đến thắng lợi, Đảng ta phải nâng cao trình độ hiểu biết vànăng lực tổ chức thực tiễn, từ việc phát hiện và nắm vững quy luật vận độngcủa đời sống xã hội ta, của bản thân Đảng, cho đến hiểu biết về thế giới, vềthời đại

Đảng làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình

độ lý luận, nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng tổng kết kinh nghiệmthực tiễn sinh động Phát triển công tác lý luận của Đảng bằng cách tổng kếtthực tiễn, tổng kết những cái mới đang hằng ngày, hằng giờ nảy sinh trongđời sống đất nước và cả thế giới, tiếp thụ những thành quả trí tuệ của loàingười, đó là phương hướng cơ bản để làm giàu trí tuệ của Đảng, để hoànchỉnh và phát triển đường lối của Đảng

-Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, đặc biệt từ Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đến nay, đã có những tiến bộ rất đáng

kể trên lĩnh vực công tác lý luận Đó là những bước tiến theo hướng đổi mới

tư duy lý luận về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, khắc

Trang 5

phục chủ nghĩa giáo điều, bệnh chủ quan duy ý chí, gắn bó lý luận với thựctiễn đất nước, đặc điểm dân tộc và với những đặc điểm của thế giới tronggiai đoạn hiện nay.

Chuyển động đầu tiên trong đổi mới tư duy lý luận được đánh dấubằng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (1979), một nghị quyếtđược mọi người nhớ rõ và thường nhắc đến với cái tên nôm na mà đúng thựcchất: “nghị quyết làm cho sản xuất bung ra” Nghị quyết Đại hội V của Đảng(3-1982) ghi thêm một bước tiến mới về tư duy lý luận, nhất là trên vấn đề

cơ cấu kinh tế, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Với Đại hội VI củaĐảng (12-1986) thì bước ngoặt căn bản đã được thực hiện Đại hội VI đi vàolịch sử là “Đại hội đổi mới” - đổi mới toàn diện đời sống và hoạt động xã hộivới bước đi thích hợp, lấy đổi mới tư duy lý luận làm tiền đề, trước hết là đổimới tư duy kinh tế

Đi nhanh vào cuộc sống, tư duy mới của Đại hội VI chẳng nhữngđược thực tiễn chứng minh hoàn toàn đúng, mà còn được cụ thể hoá, pháttriển, làm sâu sắc và nâng cao thêm bằng những kinh nghiệm mới, trên cơ sở

đó hình thành những đường nét lớn xác định con đường quá độ lên CNXH ở

nước ta và điều này được phản ánh tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vàChiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2000 được thông qua tại Đại hội VII của

Đảng Trong nỗ lực trí tuệ chung của toàn Đảng, có phần đóng góp xứngđáng của đội ngũ cán bộ lý luận và khoa học xã hội

Được cổ vũ và chỉ đạo bởi tư duy mới của Đảng, nhiều cán bộ lý luận

và khoa học xã hội hăng hái thâm nhập cuộc sống, đi vào những vấn đề nhậnthức và thực tiễn gai góc, tham gia tích cực quá trình đổi mới tư duy, luậnchứng khoa học cho đường lối đổi mới, kết hợp ngày càng chặt chẽ với các

cơ quan chỉ đạo thực tiễn trong việc chuẩn bị và đề ra các chính sách Đời

Trang 6

sống tư tưởng - lý luận ở nước ta hơn hai thập kỷ qua rõ ràng có bước khởisắc Các luận văn khoa học, các bài báo, các công trình nghiên cứu lý luậnxuất hiện ngày càng nhiều Các hội thảo khoa học được mở ra liên tục đãnâng cao bầu không khí dân chủ, tự do tìm tòi, sáng tạo, thảo luận, tranhluận trong khoa học Trên các diễn đàn và ấn phẩm khoa học xuất hiện nhiều

ý kiến phong phú, đa dạng, thể hiện những cố gắng tìm tòi, đổi mới tư duy

và phương pháp tiếp cận các vấn đề lý luận và thực tiễn, khắc phục và loại

bỏ dần chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh viện, bệnh hời hợt và lối suynghĩ giản đơn, một chiều

Tuy nhiên, những tiến bộ trên còn hết sức khiêm tốn Hiện trạng lýluận còn bề bộn, ngổn ngang Còn nhiều câu hỏi đặt ra đòi hỏi câu trả lời.Những gì đạt được còn rất ít so với những gì cần phải đạt Lý luận chưa rakhỏi tình trạng lạc hậu, chậm trễ so với thực tiễn

Điều dễ thấy là số lượng tạp chí lý luận, số công trình nghiên cứu của

cá nhân và các tập thể khoa học không ít lắm, song rất ít công trình có trọnglượng khoa học lớn, gây được tiếng vang Rất ít công trình dài hơi, nghiêncứu mỗi vấn đề thật đến nơi đến chốn Điều đó nói lên trình độ khoa học củachúng ta còn hạn chế, các nhà khoa học có tầm cỡ rất ít, tiềm lực lý luận củachúng ta nói chung còn mỏng Mỏng đến nỗi có vấn đề khi người này nói thìngười khác hầu như không thể nói gì hơn; có trường hợp cần đấu tranh, phêphán thì chỉ được mấy bài là “hết vốn” Trên nhiều vấn đề, sự phê phán cái

cũ đã quá đủ song những đề xuất và kiến giải mới lại quá ít Có tình hìnhtrước đây anh em thường trách Đảng không sử dụng đội ngũ cán bộ lý luậnvào quá trình chuẩn bị các chính sách; nhưng gần đây đơn đặt hàng xã hộiđược Đảng và các cơ quan thực tiễn gửi tới các cơ quan khoa học và các nhàkhoa học không ít, song rất tiếc, sự đáp ứng của chúng ta xem ra khá chật

Trang 7

vật Đó là một bằng chứng về sự bất cập của đội ngũ lý luận, không thể nóikhác.

Về tổng kết thực tiễn, chúng ta mới làm được quá ít Chưa có sự quantâm đúng mức từ phía các cấp uỷ đảng và lãnh đạo các ngành thực tiễn cũngnhư từ phía các cơ quan lý luận Những việc có làm thì trình độ phân tích,tổng hợp và khái quát chưa cao, chưa đạt mức có thể từ tổng kết đưa ra đượcnhững dự báo cần thiết về các quá trình phát triển và đề xuất các giải phápxác đáng

Về đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận, nhiều cơ quan khoa học

và tập thể khoa học chưa đặt đúng tầm quan trọng của vấn đề, còn ngại đấutranh, dung hoà, tránh né Cũng đã tiến hành được vài đợt đấu tranh rất đánghoan nghênh, song ở một số bài cần nâng cao hơn chất lượng và tính thuyếtphục Điều quan trọng nữa là cần tiến hành đấu tranh thường xuyên và với

sự tham gia đông đảo hơn của đội ngũ cán bộ lý luận Ở đây rất cần khôngchỉ trí tuệ mà cả dũng khí và niềm tin sắt đá

Đánh giá thực trạng công tác lý luận không thể không đề cập đội ngũcán bộ Đội ngũ cán bộ lý luận của ta nói chung có phẩm chất chính trị tốt,trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân Mấy nămnay, đội ngũ này được bổ sung khá nhiều bằng những lực lượng trẻ, đượcđào tạo khá hệ thống Tuy nhiên, tình trạng vẫn là đông nhưng không mạnh

Đó là do trong đào tạo có nhiều nhược điểm, từ khâu tuyển sinh đến nộidung chương trình, chất lượng giảng dạy; do những khuyết điểm trong cácchính sách, chế độ sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ, tạo những điều kiện cầnthiết cho nghiên cứu khoa học, cho sự phát triển tài năng Sự thiếu hoài bãolớn, thiếu say sưa và thiếu nỗ lực trí tuệ ở không ít cán bộ lý luận cũng làmột nguyên nhân quan trọng Hệ thống tổ chức nghiên cứu và quản lý côngtác nghiên cứu vừa phân tán, vừa trùng lặp, thiếu sự phân công và phối hợp;

Trang 8

chưa chú ý xây dựng các ngành khoa học trọng điểm và đội ngũ cán bộ đầuđàn; thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất Kinh phí đầu tư cho khoa học xãhội và nghiên cứu lý luận còn ít.

I Những nhiệm vụ và hướng nghiên cứu lý luận chủ yếu

Nhiệm vụ công tác lý luận là phục vụ việc tiếp tục đổi mới tư duy, xâydựng luận cứ khoa học về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam,

về các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; bồi dưỡng thế giớiquan khoa học và nhân sinh quan cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhândân, đặc biệt là lớp trẻ; tăng cường trận địa tư tưởng XHCN, củng cố niềmtin vào lý tưởng, phê phán những quan điểm lệch lạc, đấu tranh chống nhữngtrào lưu tư tưởng - lý luận sai trái và thù địch, góp phần bảo vệ sự nghiệpcách mạng của Đảng và của nhân dân, bảo vệ Tổ quốc và CNXH; phát triểnđội ngũ cán bộ lý luận với phẩm chất chính trị và trình độ khoa học cao đủsức đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, đồng thời chuẩn bị tiềm lực

lý luận cho bước phát triển sau này của đất nước

Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, cần đặc biệt nhấn mạnh:tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đi sâu tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận

một cách sáng tạo, trước hết là tổng kết có lý luận những kinh nghiệm cơ bản trong công cuộc đổi mới nhằm làm sáng tỏ hơn nữa căn cứ khoa học và

thực tiễn của việc xây dựng mô hình về con đường đi lên CNXH ở Việt Namdưới ánh sáng Cương lĩnh mới (bổ sung và phát triển) và Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội được thông qua tại Đại hội XI của Đảng

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, công tác lý luận trong giai đoạnhiện nay cần tập trung vào những hướng nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Khẳng định và làm rõ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, làm rõ những vấn đề cần nhận thức lại, những vấn đề cần tiếp tục bổsung, điều chỉnh và phát triển trên cơ sở tổng kết và khái quát những kinh

Trang 9

-nghiệm thực tiễn mới và những thành tựu của khoa học hiện đại Nghiên cứumột cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ ChíMinh, đồng thời chú trọng nghiên cứu những tinh hoa trí tuệ của dân tộc.Đối với những học thuyết khác về xã hội (ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin) cầnđược nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng, có phê phán Kiênquyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều cũng như chống chủ nghĩa xét lại,chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc.

- Nghiên cứu những kinh nghiệm lịch sử hơn 70 năm của CNXH hiệnthực, những bài học rút ra từ những cuộc cải tổ và sụp đổ chế độ XHCN ởLiên Xô và các nước Đông Âu Chú trọng nghiên cứu những vấn đề về thờiđại, về CNTB hiện đại, về toàn cầu hóa và những biến đổi trong các quan hệquốc tế, về trật tự thế giới mới, dự báo xu hướng phát triển của phong tràocánh tả, cộng sản và công nhân thế giới và khu vực trong những thập kỷ tới

- Tiếp tục đi sâu nghiên cứu, phát triển và hoàn chỉnh hệ thống nhữngluận cứ khoa học của sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta Pháthiện những xu hướng, tính quy luật, các mâu thuẫn và động lực, hình thức

và bước đi của con đường phát triển ấy Làm rõ bản chất và những đặc trưngcủa mô hình CNXH ở Việt Nam Trên những cơ sở đó, công tác lý luận góp

phần làm sáng tỏ nền tảng và cơ sở khoa học của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 do Đại hội XI của

Đảng đề ra

- Trong các chương trình nghiên cứu phải đặc biệt quan tâm nhữngvấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, về kinh tế thị trườngnhiều thành phần định hướng XHCN; về cơ cấu kinh tế đa sở hữu và vai tròchủ đạo của kinh tế nhà nước; về kinh tế tập thể; về vai trò kinh tế tư nhân

và định hướng XHCN trong khu vực này, v.v.; về cơ chế quản lý kết hợp kế

Trang 10

hoạch và thị trường; những vấn đề về chống lạm phát, về tài chính, tiền tệ,tín dụng, giá cả; về chế độ sở hữu và chế độ phân phối trong thời kỳ quá độ;

về quan hệ giữa sở hữu với sử dụng tư liệu sản xuất và tổ chức quản lý sảnxuất; về mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; về cơ cấu xã hội và chính sách

xã hội; về giai cấp và đấu tranh giữa “hai con đường” trong thời kỳ quá độ

- Nghiên cứu làm rõ những quan điểm về đổi mới hệ thống chính trị;

cụ thể hóa các hình thức quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước với cácđoàn thể nhân dân; xây dựng nền dân chủ XHCN, trong đó trung tâm là vấn

đề xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo Nhà nước, xây dựng chínhquyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng nền pháp chế và sự quản lý xã hộibằng pháp luật

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, nhữngvấn đề về phát huy nhân tố con người, về đạo đức, lối sống, tư tưởng, nghệthuật, tôn giáo, dân tộc trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trườngnhiều thành phần và mở rộng giao lưu quốc tế Xây dựng cơ sở lý luận choviệc hình thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc vàcon người Việt Nam trong thời đại mới

- Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội

ta, nâng cao giác ngộ lý tưởng và niềm tin cho đảng viên, đoàn viên thanhniên và nhân dân

- Tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêucầu của sự nghiệp xây dựng CNXH và không ngừng đổi mới Khắc phục chủnghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, bảo thủ, đồng thời chống chủnghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc và chủ nghĩa xét lại

Trang 11

- Nghiên cứu lý luận phục vụ công tác quốc phòng, an ninh nhằm bảo

vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnhthổ; tăng cường ổn định chính trị, đánh thắng âm mưu và thủ đoạn “diễnbiến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động

III Phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận

Có ba phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận, ở đây đề cập mấynội dung chủ yếu nhất:

1.Quán triệt bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện cho được sự thống nhất giữa tính khoa học với tính đảng, giữa khoa học với chính trị trong hoạt động lý luận.

Một thời gian dài chúng ta dường như đồng nhất chính trị với lý luận.Trong cách mạng dân tộc dân chủ, sự đồng nhất này cố nhiên cũng khôngđúng, nhưng dù sao lúc ấy có lý do khách quan nhất định cho sự đồng nhấttrên mức độ nào đó mà không gây tổn hại cho cả lý luận, cả chính trị Vấn

đề ở chỗ: đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc khicách mạng chưa có chính quyền tự nó có thể dựa trực tiếp vào những nguyêntắc lý luận cách mạng; ngược lại, từ những nguyên tắc lý luận cách mạng cóthể trực tiếp giải quyết những vấn đề chính trị thực tiễn Chẳng hạn, lý luận

về tình thế cách mạng, về bạo lực cách mạng, về khởi nghĩa giành chínhquyền, v.v được trực tiếp rút ra từ thực tiễn chính trị và có thể được ứngdụng trực tiếp vào chính trị thực tiễn Ta biết rằng, tuyệt đại bộ phận các vănphẩm của Lênin khó mà nói đó là văn kiện chính trị hay là tác phẩm lý luận

Đương nhiên, những cuốn như Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, v.v thì khỏi tranh cãi và tính lý luận của

những tác phẩm ấy đã quá hiển nhiên

Sang cách mạng XHCN, giữa lý luận khoa học với chính trị xây dựngCNXH vẫn có mối liên hệ bản chất, nhưng không phải bao giờ và trên bất cứ

Trang 12

vấn đề gì cũng trực tiếp và dễ thấy như trước Trong đấu tranh cách mạngkhi chưa có chính quyền, cố nhiên sự vật và các quá trình cũng không hềđơn giản, nhưng dù sao chung quy lại vẫn chỉ là sự đối đầu giữa hai dòng lýluận cách mạng và phản cách mạng Còn công cuộc xây dựng CNXH thì cực

kỳ phức tạp, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội Đốitượng nhận thức và tác động ở đây là những hệ cấu trúc, những quá trình cực

kỳ đa dạng và phức tạp, nhiều tầng nấc, là những quan hệ chằng chịt, muônhình, muôn vẻ Do đó, ở đây đòi hỏi phải tính đến không biết bao nhiêu lànhân tố có liên hệ; không biết bao nhiêu vòng khâu và cấp độ khác nhau củaquá trình phân tích, tổng hợp mới đem lại được căn cứ khoa học cho mộtquyết định chính trị Trong những điều kiện như vậy mà đồng nhất chính trịvới lý luận khoa học thì thật tai hại - tai hại cho cả khoa học, cả chính trị

Thế mà thói quen thời cách mạng dân tộc dân chủ còn trì kéo chúng tamột thời gian sau năm 1975 Hậu quả như thế nào thì mọi người đã rõ.Nhưng, thật là không đúng nếu từ cực nọ lại nhảy qua cực kia Do đó, vấn đềđáng được bàn bạc cặn kẽ để đi tới nắm vững phương châm “kết hợp thốngnhất tính khoa học với tính đảng, giữa khoa học với chính trị”

Trước hết, cần nhất trí rằng cái lý luận, công tác lý luận mà chúng tađang bàn ở đây, là lý luận cách mạng, lý luận về CNXH và con đường đi lênCNXH ở nước ta Lý luận ấy là sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điềukiện cụ thể của Việt Nam mà chủ nghĩa Mác - Lênin thì mang đặc tính bảnchất bên trong là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng

Lênin viết: “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người

xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kếthợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học

xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫunhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong

Trang 13

bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà

là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăngkhít Thật thế, nhiệm vụ của lý luận, mục đích của khoa học được nêu thẳng

ra ở đây là giúp đỡ giai cấp những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh kinh

tế đang thực sự diễn ra”(2)

Như vậy, trong lý luận cách mạng mácxít không có sự đối lập giữakhoa học với chính trị, giữa khoa học với tính đảng; không có và tuyệt đốikhông có sự hy sinh cái này cho cái kia, trái lại có sự đòi hỏi lẫn nhau, làmtiền đề tồn tại cho nhau, thống nhất nội tại, khăng khít giữa hai cái tạo thànhđặc tính bản chất vừa cách mạng vừa khoa học của lý luận Ở đây khoa họccàng được tiến hành một cách dũng cảm, vô tư và khách quan thì càng phùhợp với lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân Vì vậy, sẽ là chínhtrị sai lầm, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân khichính trị bất chấp khoa học Mặt khác, ở đây, cái quan điểm đòi “giải phóngkhoa học khỏi chính trị” hoàn toàn không có cơ sở Đơn giản là vì khoa họcnày là khoa học đấu tranh cách mạng Lý luận này làm sao tách rời chính trịđược? Cho nên, là người mácxít nếu đòi hỏi “phi chính trị hoá khoa họcmácxít” thì khác nào họ tự phủ định mình khỏi tư cách người mácxít Thựctiễn cách mạng và quá trình hoạt động lý luận đều chứng minh rằng khi lýluận tách rời chính trị, nó sẽ không còn là khoa học chân chính

Đảng cần đến lý luận khoa học làm cơ sở cho đường lối chính trị,cũng như lý luận chỉ thực sự khoa học với định hướng chính trị đúng đắncủa Đảng Cả hai đòi hỏi đó đều có tầm quan trọng như nhau, đặc biệt trong

giai đoạn phức tạp hiện nay Và hai đòi hỏi đó là thống nhất - nó là biểu hiện

quan trọng nhất của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn

2.Gắn chặt lý luận với thực tiễn, giữa yêu cầu trước mắt với nhiệm vụ lâu dài, giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng.

Trang 14

Ai nấy đều biết, thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắc căn bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin và phương châm căn bản định hướng cho côngtác lý luận Thiết nghĩ, khỏi phải nói gì thêm về tầm quan trọng của phươngchâm này Vấn đề là hiểu và vận dụng nó như thế nào trong tình hình hiệnnay dưới ánh sáng những bài học kinh nghiệm đã tích luỹ được.

Hiện nay, một tình hình làm day dứt mọi người là giữa lý luận vớithực tiễn còn khoảng cách Khoảng cách này trước Đại hội VI của Đảng cònlớn hơn Lúc đó, rõ ràng lý luận một đường mà cuộc sống đi một nẻo Cuộcsống thực tế “ngoan cố và bướng bỉnh” cho đến cuối những năm 70 đã côngkhai cất lên tiếng nói của mình Đã đến lúc nó không chịu được nữa nhữngkhuôn mẫu lý luận được áp đặt một cách duy ý chí Cuộc sống “ập vào”phòng họp Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (1979), đặt thẳng lên bàn chươngtrình nghị sự vấn đề số một là “những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách” Sựkiện này là một bài học thấm thía về sự cần thiết phải thống nhất lý luận vớithực tiễn

Sau đó, Khoán 100 mà ý nghĩa giải phóng lớn lao của nó được giới

khoa học lập tức nắm bắt và soi rọi bằng ánh sáng lý luận với một niềmhứng khởi chưa từng thấy Đặc biệt, chúng ta hãy nhớ lại bầu không khí xãhội - chính trị nặng nề trước Đại hội VI và ngay cả khi dự thảo lần đầu cácvăn kiện đưa xuống Đại hội vòng I các cấp song chưa làm ai thoả mãn.Nhưng sau đó, chỉ với “ba quan điểm lớn về kinh tế” đánh dấu bước ngoặtđổi mới tư duy, đã đủ làm thay đổi hẳn bầu không khí, mọi người phấn chấnhẳn lên, một luồng sinh khí mới tràn ngập từ trong Đảng đến ngoài nhândân, từ dưới lên trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc và sau Đại hội.Niềm tin bước đầu được lấy lại Tuy vậy, niềm tin chưa phải đã vững chắc

mà còn ngập ngừng, khi lên khi xuống; đến Đại hội VII được củng cố thêm,nhưng cho đến nay vẫn chưa thể khẳng định lý tưởng và con đường XHCN

Trang 15

đã thật sự chinh phục hoàn toàn khối óc và trái tim mọi tầng lớp xã

hội Một trong những nguyên nhân gốc rễ chính là giữa lý luận với thực tiễn vẫn còn khoảng cách, tuy khoảng cách này đã được thu hẹp rất nhiều so với

trước Đại hội VI, trước Đổi mới

Có thể nói toàn bộ nhiệm vụ đang đặt ra trước chúng ta hiện naychung quy lại là phấn đấu san bằng hay thu hẹp tối đa khoảng cách đó Điềunày đòi hỏi lý luận phải gắn chặt hơn nữa với thực tiễn, còn thực tiễn phảiđược soi sáng và định hướng đúng đắn bằng lý luận khoa học; phải khắcphục chủ nghĩa bảo thủ, giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm

Trong công tác lý luận cần từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinh viện,thuần tuý tư biện, chỉ biết giải thích khái niệm bằng khái niệm, chứng minh

lý luận bằng lý luận, tức là hoàn toàn quanh quẩn trong vương quốc trừutượng thuần tuý, như thế thì không sao đạt tới chân lý Cần chống lối tư duybắt chước, sao chép, rập khuôn, thoát ly thực tế, bất chấp những đặc điểm,truyền thống và điều kiện lịch sử - cụ thể của đất nước, của dân tộc Khôngphải không có cơ sở khi gần đây có nhiều tiếng nói phê phán “chủ nghĩagiáo điều mới” là một khuynh hướng nhân danh đổi mới, chống bảo thủ,chống giáo điều, nhưng về thực chất nó không đưa ra được điều gì mới màchẳng qua chỉ lặp lại nguyên xi hay gần như nguyên xi những gì có sẵntrong kho lý thuyết, thậm chí cả về ngôn từ của phương Tây hoặc của nướcnày, nước khác du nhập từ bên ngoài Chống chủ nghĩa xét lại lúc này rấtcần thiết, nếu không hơn thì không kém cần thiết so với chống chủ nghĩagiáo điều cả cũ lẫn mới

Rất sai, nếu hiểu đơn giản giáo điều là do đọc quá nhiều sách Thật rabệnh giáo điều có nguồn gốc không chỉ ở chỗ thoát ly thực tế, thực tiễn, màcòn do đọc quá ít, do đọc không đến nơi đến chốn (trước hết là sách kinhđiển Mác - Lênin), hoặc tuy có đọc, thậm chí đọc không ít, nhưng không

Ngày đăng: 17/10/2020, 13:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w