MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI...74 CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TR
Trang 1VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LƯU NGỌC TRỊNH
HÀ NỘI - 2007
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 7
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 KHÁI NIỆM 7
1.1.2 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 7
1.1.2.1 TỪ PHÍA DOANH NGHIỆP 8
1.1.2.2 TỪ PHÍA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG 8
1.1.2.3 TỪ PHÍA CHÍNH PHỦ 9
1.1.3 VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 9
1.1.3.1 VAI TRÒ 9
1.1.3.2 MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 11
1.1.4 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA WTO 13
1.1.4.1 RÀO CẢN THUẾ QUAN (TARIFF BARRIES) 13
1.1.4.2 RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN (NON - TARIFF BARRIERS) 16
1.1.5 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 20
1.1.5.1 VÀI NÉT VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 20
1.1.5.2 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG MỖI QUỐC GIA 22
1.2 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM .25
Trang 4DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI
1.2.1.1 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC
1.2.1.2 KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN
1.2.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
2.1.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1.1.1 NHỮNG NỖ LỰC TỰ DO HOÁ ĐƠN PHƯƠNG
2.1.1.2 NHỮNG NỖ LỰC TỰ DO HOÁ SONG PHƯƠNG
2.1.1.3 TỰ DO HOÁ ĐA PHƯƠNG, THAM GIA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ KHU VỰC
2.1.1.4 TỰ DO HOÁ ĐA PHƯƠNG, THAM GIA CÁC THỂ CHẾ KINH TẾ TOÀN CẦU
2.1.2 CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1.2.1 GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC CẢI CÁCH (1986 - 1995)
2.1.2.2 GIAI ĐOẠN HAI CỦA CUỘC CẢI CÁCH (TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY)
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.2.1 RÀO CẢN THUẾ QUAN
2.3.1.1 NHỮNG CAM KẾT THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM THEO CEPT
2.3.1.2 NỘI DUNG CAM KẾT VỀ THUẾ QUAN TRONG APEC
2.3.1.3 NHỮNG CAM KẾT THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
Trang 52.3.1.4 NỘI DUNG CAM KẾT THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM TRONG WTO
53
2.3.2 HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 54
2.3.2.1 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỊNH LƯỢNG 54
2.3.2.2 CÁC BIỆN PHÁP TƯƠNG ĐƯƠNG THUẾ QUAN 59
2.3.2.3 CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT 62
2.3.2.4 CÁC BIỆN PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 66
2.3.2.5 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ THƯƠNG MẠI TẠM THỜI 67
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 69
2.3.1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ 70
2.3.2 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 70
2.3.2.1 NHỮNG HẠN CHẾ 71
2.3.2.2 NGUYÊN NHÂN 73
2.3.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI 74
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM.77 3.1 BỐI CẢNH MỚI VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 77
3.1.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ 77
3.1.2 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC 78
3.1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 79
3.2 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 82
3.2.1 CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI PHẢI NHẤT QUÁN, RÕ RÀNG, MINH BẠCH PHÙ HỢP VỚI THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NƯỚC VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ 83
Trang 63.2.2 CHỈ ÁP DỤNG CHO MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỌN LỌC, BẢO HỘCHÍNH ĐÁNG SẢN XUẤT TRONG NƯỚC, TRÁNH NHỮNG TÁC
ĐỘNG TIÊU CỰC ĐỐI VỚI XÃ HỘI 843.2.3 PHẢI TẠO ĐIỀU KIỆN VÀ SỨC ÉP NHẰM NÂNG CAO SỨC
CẠNH TRANH CỦA CÁC SẢN PHẨM, DOANH NGHIỆP VÀ CỦA CẢNỀN KINH TẾ 853.2.4 PHẢI CHÚ TRỌNG ĐẾN LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG, BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ AN SINH XÃ HỘI 86
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG CHÍNH SÁCH VỀ RÀO CẢN THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 873.3.1 NÂNG CAO NĂNG LỰC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ
DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 873.3.2 XÂY DỰNG BỔ SUNG MỘT SỐ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI MỚIPHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ 913.3.3 RÀ SOÁT VÀ ĐIỀU CHỈNH CẢI CÁCH CÁC RÀO CẢN HIỆN
HÀNH 943.3.4 TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ RÀO CẢN THƯƠNGMẠI 943.3.5 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG LUẬT PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN RÀOCẢN THƯƠNG MẠI 963.3.6 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CẢN TRONG THƯƠNG MẠIQUỐC TẾ TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾQUỐC TẾ 97
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 1056 WTO
Trang 11
-113-DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
BẢNG 2.1: CƠ CẤU THUẾ NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 49
BẢNG 2.2: DANH MỤC HÀNG HOÁ CẤM NHẬP KHẨU 55
BẢNG 2.3: DANH MỤC HÀNG HOÁ QUẢN LÝ BẰNG HẠN NGẠCH THUẾ QUAN 57
BẢNG 2.4: DANH MỤC HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU THEO GIẤY PHÉP CỦA BỘ THƯƠNG MẠI (BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ ĐỊNH 12/2006/NĐ- CP NGÀY 23/01/2006 CỦA CHÍNH PHỦ) 58
BẢNG 2.5: DANH MỤC CÁC NHÓM MẶT HÀNG NHÀ NƯỚC QUẢN
LÝ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU 60
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, mỗi quốc gia là một chủ thể kinh tế
có chủ quyền độc lập nhưng phụ thuộc nhau về nhiều mặt Nước nghèo phụthuộc nước giàu về công nghệ, về vốn; ngược lại nước giàu lại phụ thuộcnước nghèo về nguồn tài nguyên thiên nhiên, về lao động, về thị trường Vìvậy hội nhập kinh tế quốc tế đang được các quốc gia trên thế giới coi là giảipháp tất yếu để thu hẹp khoảng cách và tháo gỡ những khó khăn về tăngtrưởng kinh tế
Hội nhập kinh tế bao hàm rất nhiều nội dung và các mức độ khác nhau,nhưng tất cả đều nhằm thuận lợi hoá và tự do hoá hoạt động kinh tế của mỗiquốc gia, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế.Đẩy mạnh tự do hoá thương mại nhằm từng bước cắt giảm và loại bỏ nhữngrào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan là một trong những nội dung quantrọng hàng đầu trong quá trình đàm phán song phương và đa phương Khitham gia thương mại quốc tế ngoài việc phát huy những thế mạnh nội tại vàtận hưởng những lợi thế từ bên ngoài, các nước cũng sẽ bộc lộ những mặt yếukém, bất lợi và phải đối mặt với những khó khăn và thách thức từ bên ngoài
Do vậy, các quốc gia thường sử dụng một hệ thống các công cụ được sử dụngnhư các “rào cản thương mại” để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế,thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ sản xuất nội địa Đặc biệt, các nước công nghiệpphát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi đàm phán để mở cửa thịtrường và thúc đẩy tự do hoá thương mại, mặt khác lại đưa ra các biện pháptinh vi hơn, các rào cản phức tạp hơn nhằm tạo ra ưu thế cho họ
Việt Nam, vốn là một nước nghèo và đang phát triển, nguồn lực bêntrong tuy phong phú nhưng lại thiếu điều kiện để khai thác Trong những nămqua, nền kinh tế tuy đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, nhưngchất lượng vẫn còn rất thấp và không bền vững Năng lực cạnh tranh của toàn
bộ nền kinh tế hiện vẫn đứng ở thứ hạng thấp và bấp bênh so với nhiều nướctrên thế giới Với chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phát
Trang 13huy những thế mạnh về một môi trường chính trị - xã hội ổn định, nguồn nhânlực dồi dào, vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam đang chứng tỏ là một nền kinh tếnăng động, một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng ngày càng có sức hấp dẫnđối với toàn thế giới.
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Hội nhập kinh tế là một bộ phậntrong tổng thể đổi mới Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừađấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó,cần tỉnh táo khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của nó, tuỳtheo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể, từ đó đề ra kế hoạch và
lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển của đất nước,vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta thamgia
Khi nghiên cứu về rào cản thương mại với tư cách là một công cụ điềuchỉnh dòng chảy thương mại quốc tế thì việc vận dụng nó như thế nào để cóthể vừa bảo vệ chính đáng các ngành sản xuất nội địa non trẻ, vẫn tạo điềukiện và sức ép nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp và cảnền kinh tế, phù hợp với thông lệ quốc tế mà không gây ảnh hưởng đến chủtrương thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đây cũng là một trongnhững nội dung mang tính thời sự và hết sức cấp thiết trong tình hình hiệnnay, khi nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chứcthương mại Thế giới (WTO) - ngày 11/01/2007
Với những yêu cầu đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, việc tìm hiểu và
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề: “Vận dụng các rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” là rất cần thiết và tôi chọn
đó làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 14có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề trên, trong đó phải kể đến những công trình như :
- Đại học Ngoại thương (2001): “Bảo hộ hợp lý sản xuất và mậu dịch
nông sản trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài NCKH
cấp Bộ
- Vụ Kế hoạch thống kê - Bộ Thương mại (2004): “Cơ sở khoa học định
hướng các biện pháp phi thuế để bảo hộ sản xuất hàng hoá ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thương mại thế giới”, Đề tài NCKH cấp Bộ.
- Đinh Văn Thành: “Rào cản trong Thương mại quốc tế”, Nxb Thống kê,
Hà Nội, 2005
- Nguyễn Hữu Khải: “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách Thương
mại quốc tế”, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Xuân Nữ:” Việt Nam cần đa dạng hóa cách tính thuế cho hàng
nhập khẩu”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 3/2005, Đại học Ngoại thương.
Ngoài ra còn có nhiều công trình, bài báo khác liên quan được đăng trêncác báo, tạp chí
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn quan trọng về hệ thống rào cản thương mại của Việt Namcũng như một số chính sách liên quan đến việc làm thế nào hạn chế, tháo gỡ
và vận dụng chúng Nhưng về cơ bản, những nghiên cứu về các rào cảnthương mại của Việt Nam được xem xét trong chiến lược phát triển kinh tếchung của đất nước Do mục đích, đối tượng, phạm vi và thời điểm nghiêncứu khác nhau, đặc biệt là trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay, khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO (từ tháng11/2006) thì sự phù hợp với những quy định cũng như những ưu đãi mà tổchức này có thể dành cho Việt Nam đối với vấn đề rào cản thương mại đang làvấn đề nóng bỏng và có tính thời sự cao Vì vậy, với một đề tài nghiên cứu cótính phổ quát về hệ thống rào cản thương mại cùng với những kiến nghị trongviệc xây dựng và sử dụng hiệu quả rào cản thương mại, từ đó nâng cao hiệuquả sử dụng các nguồn lực trong nước, đồng thời dần khắc phục những
Trang 15bất cập vẫn còn tồn tại trong chính sách thương mại của Việt Nam là điều hếtsức quan trọng và cần thiết.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là nghiên cứu mối quan hệ giữa rào cản thươngmại và hội nhập kinh tế quốc tế, làm rõ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế vànhững thay đổi trong chính sách rào cản thương mại của Việt Nam Từ đó, đềxuất một số kiến nghị xây dựng và vận dụng có hiệu quả hệ thống rào cảnthương mại đối với mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu, bảo vệ chính đáng nền sảnxuất nội địa, tạo sức ép nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cảnền kinh tế Đặc biệt, trong thời gian tới Việt Nam phải thực hiện các cam kếttrong WTO Để thực hiện được mục tiêu này, tác giả đề ra nhiệm vụ nghiêncứu của đề tài là:
- Làm rõ một số khía cạnh lý luận về rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đánh giá thực trạng hệ thống chính sách rào cản thương mại của Việt Nam trong thời gian qua
- Trên cơ sở những phân tích trên, đề xuất những kiến nghị nhằm hoànthiện và vận dụng hiệu quả các chính sách rào cản thương mại trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu: Hệ thống rào cản thương mại của Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu hệ thống rào cản thương mại của Việt
Nam từ những năm đổi mới đến nay Đây được coi là mốc thời gian mà ViệtNam có bước chuyển biến về nhiều mặt, ngày càng tham gia sâu rộng vàothương trường và ngoại giao quốc tế
- Về không gian: Hệ thống rào cản thương mại của Việt Nam.
- Về nội dung: Dưới góc độ kinh tế chính trị, Luận văn nghiên cứu hệ
thống rào cản thương mại như một động thái tất yếu trong xu thế toàn cầu hoá
và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay Luận văn chỉ đưa ra
Trang 16những kiến nghị và giải pháp mang tính vĩ mô, không đi sâu vào những giảipháp nghiệp vụ, tác nghiệp, vận dụng cho một ngành hàng hay lĩnh vựcchuyên biệt.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của luận văn, trong quátrình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp: phương pháp kết hợp phântích với tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, dự báo trong quá trìnhnghiên cứu đề tài
6. Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về rào cản thương mại trong thương mại quốc tế
- Tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng rào cản thương mại của một
số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống chính sách rào cản thương mạitrong thương mại quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua, để từ đó thấyđược một số thành công, những hạn chế đang tồn tại và những vấn đề đặt ratrong thời gian tới
- Đề xuất những quan điểm định hướng và một số giải pháp cơ bản nhằmhoàn thiện hệ thống chính sách rào cản thương mại theo hướng nâng cao hiệuquả sử dụng rào cản trong thương mại quốc tế, từ đó thúc đẩy và nâng cao sứccạnh tranh của các sản phẩm các ngành, và cả nền kinh tế Việt Nam
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ cái viết tắt và bảng biểu, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế
về sử dụng hệ thống rào cản thương mại Chương 2: Chính sách rào cản thương mại của Việt Nam trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 17Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về rào cản thương mại
1.1.1 Khái niệm
Rào cản thương mại quốc tế xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, với cácbiện pháp rất đa dạng và tinh vi Có biện pháp tại biên giới, có biện pháp đằngsau biên giới; có biện pháp thuế quan và phi thuế quan; có biện pháp môitrường và vệ sinh dịch tễ; có biện pháp tự vệ đặc biệt và biện pháp tự vệ mangtính tạm thời; có biện pháp chung và biện pháp mang tính chuyên ngành; cónhững biện pháp đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; có những biện phápđầu tư liên quan đến thương mại
Thuật ngữ rào cản thương mại (Barriers to trade) được đề cập chínhthức trong một hiệp định của WTO, đó là Hiệp định về các hàng rào kỹ thuậtđối với thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade) Trong Hiệpđịnh này, khái niệm rào cản không được định danh một cách chính thống, mà
được thừa nhận như một thoả thuận rằng: “không một nước nào có thể bị
ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hoá xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động
và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của hiệp định này” Do đó, theo
cách hiểu chung nhất thì rào cản thương mại là bất kỳ biện pháp hay hànhđộng nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành rào cản thương mại
Rào cản thương mại sẽ đem lại lợi ích cho một nhóm người nhất địnhnào đó, tuy rằng có thể gây thiệt hại cho một nhóm người khác và thậm chí
Trang 19gây thiệt hại về tổng thể cho một quốc gia Chính vì sự liên quan tới lợi íchcủa từng nhóm người khác nhau như vậy nên sự hình thành các loại rào cảncũng liên quan mật thiết với từng nhóm người này cũng như khả năng tácđộng của họ tới chính sách của Nhà nước Xét trên khía cạnh này, ta thấynguồn gốc hình thành các loại rào cản trong thương mại quốc tế có thể xuấtphát từ một trong 3 chủ thể sau:
1.1.2.1 Từ phía Doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp của bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nàocũng muốn được Nhà nước bảo hộ, để hạn chế được sự cạnh tranh của nướcngoài, củng cố vị trí của mình trên thị trường và có khả năng thu được lợinhuận cao hơn Xuất phát từ lợi ích đó, các doanh nghiệp sẽ tập hợp nhaudưới danh nghĩa Hiệp hội ngành nghề để tiến hành vận động hành lang đối vớiChính phủ, nhằm tác động Chính phủ đưa ra các chính sách rào cản thươngmại có lợi cho mình Các tác động từ phía doanh nghiệp hết sức mạnh mẽ và
có tổ chức, với rất nhiều hình thức khác nhau Trong nhiều trường hợp, vớikhả năng tài chính của mình, các doanh nghiệp có khả năng tác động rất lớntới Nhà nước, thông qua các biện pháp tiêu cực Hoặc nếu không họ sẽ vinvào những lý do có vẻ như rất chính đáng như: ngành công nghiệp non trẻ cầnphải được bảo hộ, ngành sản xuất có liên quan đến việc làm của nhiều ngườilao động, ngành sản phẩm có liên quan đến an ninh quốc gia Dưới tác độngcủa các doanh nghiệp, Chính phủ có thể sẽ phải đưa ra các rào cản thuế quanhoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước
1.1.2.2 Từ phía người lao động và người tiêu dùng
Một trong những lý do lớn dẫn tới việc hình thành các rào cản là để bảo
vệ người lao động Trước hết là để bảo vệ cho người lao động trong ngànhđược bảo hộ Người lao động có thể thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranhhoặc đòi hỏi Chính phủ hạn chế sản phẩm, doanh nghiệp và kể cả công nghệ
có năng suất cao thâm nhập vào thị trường nội địa của họ Đây chính là những
lý do mà Chính phủ phải dựng lên rào cản với tên gọi là trách nhiệm xã hội.Với người tiêu dùng cũng vậy, họ cũng có những tác động rất lớn đến việchình thành các rào cản trong thương mại quốc tế, với lý do là để bảo vệ sứckhoẻ con người, bảo vệ động thực vật hoặc là bảo vệ môi trường người ta có
Trang 20thể đưa ra các tiêu chuẩn hay quy định kỹ thuật rất cao tới mức cản trở thươngmại, hoặc có thể đưa ra các biện pháp cấm nhập khẩu ngay cả khi nguy cơchưa được phân tích và xác định một cách khoa học Nhìn chung, dưới tácđộng của dân chúng, Chính phủ của các nước sẽ phải sử dụng các biện phápkhác nhau để đáp ứng nguyện vọng của họ Trong nhiều trường hợp, các biệnpháp được áp dụng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở thương mại quốc tế.
1.1.2.3 Từ phía Chính phủ
Xuất phát từ những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội củaquốc gia và vận động của các nhóm khác nhau, Chính phủ sẽ phải cân nhắcđến lợi ích của từng nhóm cũng như tổng thể để quyết định xem có nên thựcthi một rào cản nào đó hay không Quá trình này không phải dễ dàng vì việctính toán lợi ích và những thiệt hại một cách tổng thể là rất khó khăn đặc biệt
là phải cân nhắc giữa cái trước mắt và cái lâu dài, cũng như phản ứng của cácđối tác thương mại và các quốc gia có liên quan Với bất kỳ chính sách ràocản nào, có thể có lợi cho doanh nghiệp và người lao động trong ngành đượcbảo hộ, nhưng lại gây hại cho các ngành khác và cho người tiêu dùng nóichung Tuy nhiên, Chính phủ vẫn phải ra các quyết định dựa trên sự điều hoàlợi ích một cách hợp lý Ngoài ra, trong nhiều trường hợp luôn có sự cấu kếtgiữa doanh nghiệp và Nhà nước vì lợi ích của hai phía có sự liên hệ chặt chẽvới nhau, tăng mức độ bảo hộ bằng thuế quan thì thu ngân sách của Nhà nước
sẽ tăng lên trong ngắn hạn Bên cạnh đó còn là sự xoa dịu của Chính phủ vớidân chúng bởi các lý do như là đảm bảo về an ninh xã hội, hoặc là để bảo vệcác giá trị văn hoá, đạo đức Do vậy, dù muốn hay không Chính phủ cũngvẫn phải chấp nhận hi sinh một số lợi ích để đạt được những mục tiêu quantrọng hơn trong từng giai đoạn phát triển của quốc gia từ việc tạo nên một hệthống rào cản trong quan hệ thương mại quốc tế
1.1.3 Vai trò và mục đích sử dụng rào cản thương mại
1.1.3.1 Vai trò
Rào cản thương mại thường được thể hiện trong các chính sách thươngmại hoặc cơ chế quản lý trong tổng thể hệ thống pháp luật của một quốc gia.Rào cản có vai trò chủ yếu trong việc tác động vào các dòng chảy thương mại
Trang 21quốc tế để điều chỉnh dòng chảy này theo hướng có lợi nhất, đáp ứng các mụctiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia.
Trong thương mại quốc tế, rào cản bao gồm nhiều loại khác nhau vàmỗi loại lại giữ vai trò nhất định Chẳng hạn, để bảo hộ sản xuất trong nướcngười ta có thể sử dụng các biện pháp thuế quan vì thuế quan có ưu điểm là rõràng, minh bạch, dễ dự đoán và tạo nguồn thu chắc chắn cho Chính phủ Tuynhiên, thuế quan lại có nhược điểm là không tạo ra được sự bảo hộ nhanhchóng, mà phải nhờ đến những biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu,hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu có khả năng hạn chế nhập khẩu một cáchnhanh chóng hơn Mặc khác, một biện pháp phi thuế có thể còn phục vụ chonhiều mục tiêu khác nhau Tuy vậy, các biện pháp phi thuế quan cũng cónhược điểm là dễ làm sai lệch các tín hiệu thị trường dẫn tới phân bổ nguồnlực không đúng, còn các biện pháp phi thuế quan lại khó lượng hoá và khó dựđoán, không mang lại nguồn thu cho Chính phủ mà khi thực hiện còn phátsinh thêm các khoản chi phí quản lý
Do các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đều có những ưu điểm vànhược điểm nhất định nên chúng thường được sử dụng đồng thời hay kết hợplẫn nhau Mặc dù thuật ngữ “rào cản” trong thương mại quốc tế không đượcđịnh danh một cách chính thức trong các điều ước quốc tế, nhưng lại được cácNhà nước hoặc các Chính phủ vận dụng để ban hành thành pháp luật của quốcgia Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng không có quy định chínhthức dưới tên gọi rào cản hoặc một hệ thống luật pháp riêng có liên quan đếnrào cản mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, thuộc các ngànhnghề, lĩnh vực khác nhau Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại,hầu hết các nước đều cam kết từng bước dỡ bỏ các rào cản thương mại quốc tế
để thúc đẩy tự do hoá thương mại, nhưng thực tế việc dỡ bỏ lại diễn ra rấtchậm, thậm chí, một số rào cản mới còn được tạo dựng thêm một cách hết sứctinh vi và vẫn rất phổ biến Như vậy, do đặc điểm và trình độ phát triển củacác quốc gia còn hết sức khác nhau, nên sẽ không thể bác bỏ ngay được việc
sử dụng các rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, việc sửdụng rào cản như thế nào và ở mức độ nào trong bối cảnh toàn cầu hoá và hộinhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay là một bài toán khó
Trang 22đối với tất cả các quốc gia Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam lạicàng cần một lời giải tốt nhất, toàn diện nhất, đem lại nhiều lợi ích cho đấtnước mà vẫn đảm bảo tuân thủ “luật chơi” mà WTO đã quy định.
1.1.3.2 Mục đích sử dụng rào cản thương mại
Như vậy, khi xem xét về khía cạnh lợi ích, thì sự hình thành các loại ràocản trong thương mại quốc tế xuất phát từ ba chủ thể chính: Từ phía cácdoanh nghiệp, từ phía Chính phủ, từ phía người lao động và người tiêu dùng.Tuy nhiên, Chính phủ còn sử dụng công cụ này xuất phát từ nhiều động cơ vànhằm tới nhiều mục đích khác nhau, thậm chí còn tạo nên sự phân biệt đối xửgiữa các nước khác nhau Cụ thể:
Thứ nhất: Vì mục đích chính trị
Trong thực tiễn, một số quốc gia sử dụng các biện pháp kinh tế nhằmđạt được các mục tiêu chính trị, điển hình nhất hiện nay là Mỹ và một số nướcTây Âu Họ có thể cấm vận toàn diện, hoặc cấm vận từng phần đối với hoạtđộng thương mại quốc tế của một số nước khác, ngược lại họ cũng có thểdành các ưu đãi đặc biệt cho một quốc gia nào đó vì mục đích chính trị.Nguyên tắc dành sự ưu đãi cho các nước đang phát triển và các nước kém pháttriển cũng được các quốc gia áp dụng rất khác nhau và thường là không phảitất cả các nước thuộc đối tượng trên đều được ưu đãi như nhau Sự ưu đãikhông công bằng đó chính là rào cản đối với các nước không được ưu đãi
Thứ hai: Nhằm bảo vệ người tiêu dùng và người lao động
Để ổn định tình hình xã hội, đặc biệt là nhằm đạt được mục tiêu giảm tỷ
lệ thất nghiệp và tạo việc làm cho lao động trong nước, Chính phủ có thể sửdụng các biện pháp khác nhau để hạn chế nhập khẩu, thậm chí cả hạn chếnhập khẩu lao động để bảo vệ việc làm cho người lao động trong nước
Kinh tế càng phát triển thì người tiêu dùng càng đòi hỏi cao hơn về chấtlượng hàng hoá và dịch vụ, người tiêu dùng sẽ quan tâm nhiều hơn đến cácvấn đề sức khoẻ Công nghiệp hoá và toàn cầu hoá làm cho lương thực, thựcphẩm có thể được đưa đến mọi nơi trên thế giới Các căn bệnh truyền nhiễm
có thể từ đó mà lây lan ra toàn cầu Bởi vậy, Chính phủ cần có các biện phápnhằm tác động tới các sản phẩm nhập khẩu thông qua các quy định về tiêu
Trang 23chuẩn chất lượng sản phẩm, nhãn hiệu, bao bì đóng gói Với các nước côngnghiệp phát triển, những quy định trên thường là quá mức cần thiết Nhiều sảnphẩm nhập khẩu, chưa đủ bằng chứng khoa học về tác hại của chúng đối vớingười tiêu dùng nhưng vẫn có thể bị cấm.
Thứ ba: Nhằm khuyến khích các lợi ích của quốc gia
- Do yêu cầu của chiến lược phát triển các ngành sản xuất nội địa, cóthể dành ưu tiên hơn cho các nhà sản xuất trong nước Vì vậy, Chính phủ ởmỗi quốc gia thường đưa ra các biện pháp nhằm cản trở tạm thời đối vớidoanh nghiệp nước ngoài Ở hầu hết các nước phát triển, lĩnh vực sản xuấtnông nghiệp thường được bảo hộ cao nhất bởi tầm quan trọng của an ninhlương thực, thực phẩm an toàn và việc làm trong ngành nông nghiệp Việc sửdụng trợ cấp và hạn chế nhập khẩu hàng nông sản nước ngoài là các biện phápthường được áp dụng
- Chính phủ các nước muốn tạo dựng và khai thác các ngành sản xuấttrong nước mà lợi thế cạnh tranh quốc gia có thể thu được, thì chính sáchthương mại của Chính phủ sẽ phải trợ giúp các công ty của họ trong nhữngngành nhất định để giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường Các biệnpháp trợ cấp xuất khẩu sẽ được áp dụng Ngược lại, Chính phủ các nước nhậpkhẩu lại phải sử dụng các biện pháp để hạn chế nhập khẩu, thậm chí cả cácbiện pháp trả đũa
- Chính sách thương mại có thể được xây dựng với các mục tiêu nhằmtạo dựng thị trường và các đối tác thương mại có tính chất chiến lược Cáckhoản ưu đãi có thể dành cho một nước nào đó nhưng lại trở thành rào cản đốivới nước khác bất chấp cả các nguyên tắc trong khuôn khổ WTO
- Vì các lợi của ích quốc gia liên quan đến việc duy trì văn hoá và giữgìn bản sắc dân tộc, qua đó các sản phẩm văn hoá là rất quan trọng Sự pháttriển của công nghệ viễn thông toàn cầu đe doạ bản sắc văn hoá dân tộc, buộccác Chính phủ hạn chế nội dung nước ngoài và sở hữu nước ngoài trong lĩnhvực này
Thứ tư: Nhằm đáp lại các hành động thương mại không bình đẳng
Hầu hết mọi người đều cho rằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với một
Trang 24quốc gia cho phép tự do thương mại nếu các quốc gia khác bảo vệ một cáchtích cực các ngành công nghiệp của chính họ Các Chính phủ thường đe doạđóng các cảng đối với tàu thuyền của quốc gia khác hoặc áp mức thuế rất caođối với các hàng hoá của những quốc gia này nếu họ có bằng chứng thể hiệncác hoạt động thương mại đó là không bình đẳng Nói cách khác, nếu mộtChính phủ cho rằng một quốc gia khác “đang chơi không bình đẳng”, họ sẽ đedoạ trả đũa trừ khi đạt được những thoả thuận nhất định Những biện pháp nàythường được gọi là các biện pháp phòng vệ hoặc trả đũa.
Thứ năm: Nhằm bảo vệ an ninh và môi trường quốc gia
Vấn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp cấmnhập khẩu đối với một số mặt hàng hoá liên quan như vũ khí, chất nổ, máymóc thiết bị chuyên dùng cho việc in tiền, các thiết bị thu phát các tín hiệu vệtinh, và một số ngành sản xuất khác cũng cần phải sử dụng các biện phápkiểm soát rất nghiêm ngặt
Ngày nay, cùng với vấn đề phát triển thương mại, các quốc gia đều rấtquan tâm đến mục tiêu bảo vệ môi trường, tuy rằng mức độ quan tâm và cácbiện pháp cũng có sự khác nhau Chính vì vậy mà các quy định về môi trườngcũng có sự khác nhau và đã trở thành rào cản trong thương mại quốc tế
1.1.4 Một số quy định về rào cản thương mại của WTO
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) là tổchức quốc tế tiến bộ mang lại những quyền lợi to lớn cho các nước thành viên
WTO được thành lập ngày 15/4/1994 tại Ma rốc, chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 01/01/1995 trên cơ sở kế thừa Tổ chức hiệp định chung về thuếquan và thương mại (GATT) WTO có chức năng giám sát và giải quyết cáctranh chấp thương mại giữa các nước thành viên dựa trên các quy tắc thươngmại, đồng thời có quyền ban hành các biện pháp trừng phạt đối với các thànhviên không tuân theo luật lệ
Sau đây là một số quy định chung về rào cản thương mại của WTO,trên cơ sở đó cung cấp những thông tin trung thực và quan trọng cho việchoạch định chính sách của các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế
1.1.4.1 Rào cản thuế quan (Tariff Barries)
Trang 25Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm phát triển và bảo hộ sảnxuất trong nước, sau đó là góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và hướngdẫn tiêu dùng trong nước Đối với mỗi mặt hàng tuỳ theo mức thuế suất màlượng hoá mức độ bảo hộ Với mục tiêu thúc đẩy quá trình tự do hoá thươngmại, thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn kêu gọi các nước cắt giảm thuếquan Nhưng do xuất phát điểm về mặt kinh tế giữa các thành viên của WTO
là khác nhau nên Tổ chức này vẫn thừa nhận và cho phép sử dụng thuế quan
để điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước với nhau bởi tính rõ ràng,minh bạch, dễ dự đoán của nó Tuy nhiên, các nước phải cam kết ràng buộcvới một mức thuế trần nhất định và phải có lịch trình cắt giảm
Các quy định của WTO không đề cập một cách cụ thể rằng các nướcphải sử dụng loại thuế nào, cho nên trong thực tiễn thương mại quốc tế cónhiều loại thuế và mức thuế khác nhau được sử dụng Dưới đây là một số loạithuế phổ biến:
Thuế phần trăm: Được tính là theo tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch của
hàng hoá nhập khẩu Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất
Thuế phi phần trăm: Bao gồm: Thuế tuyệt đối (thuế xác định bằng một
khoản cố định trên một đơn vị hàng nhập khẩu) và thuế tổng hợp (là sự kếthợp giữa thuế phần trăm và thuế tuyệt đối)
Thuế quan đặc thù: Bao gồm nhiều loại như: Hạn ngạch thuế quan, thuế
đối kháng, thuế chống bán phá giá, thuế thời vụ và thuế bổ sung
+ Hạn ngạch thuế quan: Là một biện pháp quản lý nhập khẩu với haimức thuế suất áp dụng Hàng hoá trong hạn ngạch thuế quan thì được áp mứcthuế suất thấp còn hàng hoá ngoài hạn ngạch thuế quan thì phải chịu mức thuếsuất cao hơn Biện pháp này chỉ được sử dụng đối với các sản phẩm nôngnghiệp (quy định tại Phụ lục I, Hiệp định Nông nghiệp) Theo Hiệp định nôngnghiệp, các thành viên không được áp dụng các biện pháp phi thuế quan đốivới nông sản
+ Thuế đối kháng: Hay còn gọi là thuế chống trợ cấp xuất khẩu Đây làmột khoản thuế đặc biệt đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sảnxuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp
Trang 26+ Thuế chống bán phá giá: Là loại thuế quan đặc biệt được áp dụng đểngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nộiđịa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh.
+ Thuế thời vụ: Là loại thuế với mức thuế suất khác nhau cho cùng mộtloại sản phẩm Thông thường được áp dụng cho mặt hàng nông sản, khi vàothời vụ thu hoạch trong nước thì áp dụng mức thuế suất cao nhằm bảo hộ sảnxuất trong nước, khi hết thời vụ thì trở lại mức thuế bình thường
+ Thuế bổ sung: Là một loại thuế được đặt ra để thực hiện biện pháp tự
vệ trong trường hợp khẩn cấp Các Chính phủ có thể áp dụng thuế bổ xungcao hơn mức thuế thông thường nếu như khối lượng hàng nhập khẩu của sảnphẩm đó tăng lên quá cao gây ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc có nguy cơ làmmất đi một ngành sản xuất nào đó trong nước
Ngoài ra, trong Biểu thuế xuất, nhập khẩu của các nước thường cónhiều loại thuế cụ thể khác nhau cho cùng một loại sản phẩm do mức độ “ưuđãi” đối với các nước là khác nhau quyết định Nếu hàng hoá của một nướcnào đó phải chịu thuế suất kém ưu đãi hơn so với nước khác thì chính điều đó
sẽ trở thành rào cản thuế quan Hiện có một số loại thuế cụ thể được áp dụngtrong thương mại quốc tế như sau:
+ Thuế phi tối huệ quốc (Non - MFN): Đây là mức thuế cao nhất màcác nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO vàchưa ký kết hiệp định thương mại song phương với nhau Thuế này có thểnằm trong khoảng từ 20 - 110%
+ Thuế tối huệ quốc (MFN): Là loại thuế mà các nước thành viên WTO
áp dụng cho những nước thành viên khác hoặc theo các Hiệp định songphương về ưu đãi thuế quan Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp hơn nhiều
so với thuế suất thông thường
+ Thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP): là loại thuế ưu đãi cho một số hànghoá nhập khẩu từ các nước đang phát triển được các nước công nghiệp pháttriển cho hưởng GSP Mức thuế này thấp hơn mức thuế tối huệ quốc
+ Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do: Đây là loại thuế
có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng
Trang 27Hiện tại có rất nhiều khu vực tự do đã được hình thành và trong các Hiệp địnhnày thuế suất là rất thấp hoặc bằng không (tức là ưu đãi về thuế rất cao).
+ Các loại thuế quan ưu đãi khác: Đây là những ưu đãi thuế quan đặcbiệt, được áp dụng trong các trường hợp các nước ký kết các hiệp định chuyênngành với nhau như: Hiệp định thương mại mua bán máy bay dân dụng; hiệpđịnh thương mại các sản phẩm dược, ô tô,
1.1.4.2 Rào cản phi thuế quan (Non - Tariff Barriers)
a. Các biện pháp hạn chế định lƣợng (Quantitative Restrictions): Là
những quy định của các quốc gia về số lượng hoặc giá trị hàng hoá được xuất đi hoặc nhập về từ một thị trường nào đó Đây là nhóm biện pháp mang tính đặc thù chủ quan nhất tác động đến thương mại quốc tế, do vậy nhóm rào cản này đượcWTO quy định khá chặt chẽ Theo quy định thì ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại chi phí khác, các thành viên không được tạo ra hay duy trì những biện pháp như hạn ngạch, giấp phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số lượng nhậpkhẩu từ các thành viên khác hoặc hạn chế số lượng xuất khẩu tới các thành viênkhác Trong nhóm này gồm một số biện pháp cơ bản sau đây:
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu: Đây là biện pháp mang tính bảo hộ cao, gây
ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế Do đó, nói chung WTO khôngcho phép các nước thành viên được sử dụng biện pháp này Tuy nhiên, dotrình độ phát triển giữa các nước thành viên không đồng đều nên các quốc giavẫn tiến hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở không phânbiệt đối xử, trong một số trường hợp đặc biệt như cần thiết để đảm bảo anninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, con người, động thực vật, tài sản quốcgia được quy định cụ thể tại Điều XXI của Hiệp định chung về thuế quannăm 1994, (GATT/1994)
Hạn ngạch (Quota): Đây là biện pháp hạn chế về số lượng hoặc giá trị
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu từ một thị trường nào đó trong một thời gian
nhất định Điều XI - GATT/1994 quy định các nước không được sử dụng biệnpháp này, vì nó làm ảnh hưởng nhiều tới thương mại quốc tế Biện pháp nàyđược quy định nghiêm ngặt hơn thuế quan Tuy nhiên, tại Điều XVIII -GATT/1994, WTO vẫn cho phép được áp dụng hạn ngạch trong những trườnghợp đặc biệt:
Trang 28+ Nhằm hạn chế tạm thời, ngăn ngừa, khắc phục sự khan hiếm trầm trọng về lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác;
+ Nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán củanước mình, khi sự thâm hụt nghiêm trọng về dự trữ ngoại tệ, hoặc có số dự trữquá ít, cần thiết phải nâng mức dự trữ lên một mức hợp lý;
+ Các nước đang phát triển có thể áp dụng hạn chế số lượng trongchương trình trợ giúp cuả Chính phủ về đẩy mạnh phát triển kinh tế, hoặc hạnchế để bảo vệ cho một số ngành công nghiệp;
+ Ngoài ra còn được áp dụng trong các trường hợp như: Bảo vệ đạo đức
xã hội, bảo vệ sức khoẻ con người, bảo vệ động thực vật quý hiếm, xuất nhậpkhẩu vàng bạc, tài sản quốc gia liên quan đến văn hoá nghệ thuật, lịch sử,khảo cổ, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Khi sử dụng hạn ngạch, WTO yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện các điều kiện kèm theo như việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng trong nước, cam kết không làm ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên khác, đồng thời phải dần dần nới lỏng biện pháp này khi kinh tế đã khôi phục, sau đó dỡ bỏ hoàn toàn nhằm thực hiện nguyên tắc chung của WTO Do tính pháp lý không cao và thời gian thông thường chỉ một năm trở lại, nên khi tiến hành áp dụng hạn ngạch, các quốcgia phải thông báo thời gian cụ thể và các thay đổi nếu có
Giấy phép nhập khẩu (Import Licences): Các thủ tục cấp giấy phép
nhập khẩu không minh bạch hoặc chậm trễ có thể ảnh hưởng tiêu cực đếndòng chảy thương mại, vì vậy Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP)của WTO đã đặt ra những yêu cầu:
+ Chế độ cấp và quản lý giấy phép không được gây phiền toái;
+ Nội dung giấy phép và thủ tục cấp cần phải minh bạch, rõ ràng và có thể dự đoán trước (tính khả đóan);
+ Bảo vệ những nhà nhập khẩu và nhà cung cấp nước ngoài khỏi bị chậm trễ không cần thiết do những quyết định độc đoán;
+ Các thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bópméo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó Các quy tắc đốivới thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập và được quản lý
Trang 29theo một cách thức công bằng và hợp lý;
Hiệp định ILP quy định các nước thành viên phải công bố công khai tất
cả những quy định về thủ tục cấp phép nhập khẩu, để các nhà nhập khẩu, xuấtkhẩu và Chính Phủ của họ có thể hiểu biết một cách đầy đủ nhất Quy địnhnày nhằm làm minh bạch tất cả các tiêu chí khi tham gia cấp hạn ngạch, đảmbảo tự do cạnh tranh
Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu, IPL còn đưa ra nhữngquy định cụ thể như: đơn xin không bị từ chối vì những lỗi nhỏ của chứng từ
mà không làm thay đổi nội dung dữ kiện cơ bản trong đó, những thủ tục kể cảthủ tục đổi lại giấy phép càng đơn giản càng tốt, hàng nhập khẩu sẽ không bị
từ chối do những biến cố nhỏ như sai sót về giá trị, số lượng, hay trọng lượng.Những quy định đó nhằm hạn chế bớt những khó khăn, phiền toái đối vớinhững doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Điều này rất hay xảy ra ởcác nước chậm và đang phát triển
b Các biện pháp tương đương thuế quan ( Para - Tariff Measures)
Các biện pháp tương đương thuế quan là các biện pháp làm tăng giáhàng nhập khẩu theo cách tương tự như thuế quan Cách quản lý này có thể cónhững tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới giá của hàng xuất, nhập khẩu nhằmnhững mục tiêu đựơc xác định như là: Để duy trì mức giá của hàng sản xuấttrong nước khi giá của hàng nhập khẩu thấp hơn giá nội địa của hàng hoácùng loại ở một mức nhất định, hoặc nhằm mục đích ấn định giá trong nướccủa một mặt hàng nào đó khi giá cả trên thị trường trong và ngoài nước cónhững biến động bất lợi, từ đó có thể triệt tiêu được những tác động tiêu cựcgây ra bởi hoạt động ngoại thương bất bình đẳng Với mỗi biện pháp nàyWTO cũng đưa ra những quy định cụ thể:
Phương pháp xác định trị giá hải quan (Custom Valuation): Tại Điều 7,
Hiệp định về trị giá hải quan đã nêu rõ: “Trị giá hải quan là trị giá của hànghoá xuất nhập khẩu được xác định theo mục đích quản lý hải quan, là mộttrong những căn cứ cơ bản để tính thuế hải quan và các thuế khác” Tại hiệpđịnh này WTO cho phép một số cách xác định trị giá hải quan là: Xác định trịgiá giao dịch, trị giá khấu trừ, trị giá tính toán, đồng thời quy định thêm cảphương pháp dự phòng (Fall - back method) như là một biện pháp mở rộng
Trang 30bằng việc kết hợp các phương pháp một cách phù hợp, nhằm tránh việc địnhgiá hải quan một cách tuỳ tiện sẽ bóp méo hoạt động kinh doanh xuất nhậpkhẩu hàng hoá Như vậy, hiệp định này được ký kết giữa các nước thành viênnhằm mục đích bảo đảm giá trị hàng hoá nhập khẩu được xác định một cáchkhách quan và công bằng, phát huy tác động tích cực tới các ràng buộc thuế
đã đạt được trong các vòng đàm phán GATT/WTO
Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp: Trên thương trường thường
có nhiều doanh nghiệp tham gia vào quá trình lưu thông, phân phối, có nguồngốc sở hữu từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau, có thể là công ty nhà nước,
tư nhân, cổ phần, hoặc có vốn đầu tư nước ngoài Trong số các doanhnghiệp này, doanh nghiệp nhà nước thường được hưởng nhiều ưu đãi hơn, dovậy gây nên sự cạnh tranh không bình đẳng Do đó, tại Điều XVII-GATT/1994, quy định: “Các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu,được Nhà nước ban cho những đặc quyền nhất định (doanh nghiệp thươngmại nhà nước) có thể gây ra những cản trở lớn tới thương mại quốc tế”
Các thành viên WTO phải cam kết các hoạt động xuất nhập khẩu củacác doanh nghiệp thương mại nhà nước phù hợp với các nguyên tắc chung vềđối xử không phân biệt với các doanh nghiệp tư nhân và phải tiến hành cáchoạt động mua bán hàng hoá chỉ dựa trên tiêu chí thương mại Đồng thời phảidành cho các doanh nghiệp của các thành viên khác những cơ hội thích hợptham gia cạnh tranh trong việc mua bán hàng hoá phù hợp với thông lệ kinhdoanh chung Các thành viên có nghĩa vụ thông báo cho WTO về các doanhnghiệp thương mại nhà nước của họ
Các biện pháp kỹ thuật (Technical Measures): WTO yêu cầu các quyđịnh về tiêu chuẩn, kỹ thuật cũng như những thủ tục xác định sự phù hợp với
các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn này không được tạo ra các trở ngại không
cần thiết đối với thương mại quốc tế, phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệtđối xử và đãi ngộ quốc gia, phải minh bạch và tiến tới sự hài hoà Nhưng cácthành viên có thể đưa ra các biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường, sức khoẻcon người, động thực vật, ngăn ngừa các hành động xấu mà nước đó cho làthích hợp, với điều kiện là các biện pháp đó không được áp dụng theo cách thứctạo ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện, hay hạn chế vô lý đối với thương mại
Trang 31quốc tế.
WTO yêu cầu các thành viên tích cực soạn thảo các tiêu chuẩn và thamgia vào Tổ chức tiêu chuẩn đo lường quốc tế như ISO (International StandardOrganization) Trong trường hợp các quốc gia không có các tiêu chuẩn quốc tếhoặc không thể áp dụng các tiêu chuẩn này vì lý do gây phương hại tới lợi íchquốc gia, thì các quốc gia phải sớm công bố trên báo chí hoặc sẵn sàng cungcấp thông tin chi tiết giúp các nước khác biết các tiêu chuẩn mà nước mình ápdụng Mặt khác phải gửi thông báo cho ban thư ký WTO biết về hệ thống tiêuchuẩn và phải giải trình mục đích mà nước mình áp dụng
Đối với thủ tục đánh giá sự phù hợp với các tiêu chuẩn và quy định kỹthuật, Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) yêu cầu cácnước thành viên phải tuân thủ các nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xửquốc gia (National Treatment - NT) về thủ tục đánh giá sự phù hợp đối với cácsản phẩm sản xuất tại lãnh thổ nước khác Về phương pháp kiểm tra và trình
tự quản lý sản phẩm không quá phức tạp hay chậm hơn với các sản phẩmcùng loại của nước mình và của nước khác Các điều kiện ưu đãi, mức phíkiểm nghiệm sản phẩm giữa các nước là phải tương đương nhau, không gâykhó khăn về địa điểm, thông tin và biện pháp tiến hành thủ tục đánh giá sựphù hợp, thậm chí phải giữ bí mật tài liệu kiểm nghiệm sản phẩm nhập khẩunhư giữ bí mật tài liệu kiểm nghiệm của sản phẩm trong nước
1.1.5 Sự ảnh hưởng của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc sử dụng rào cản thương mại
1.1.5.1 Vài nét về hội nhập kinh tế quốc tế
* Định nghĩa
Hội nhập kinh tế quốc tế (International Economic Integration) là quátrình trong đó hai hay nhiều chính phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nênkhuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữacác nước Quá trình này được sử dụng với ý nghĩa là quá trình gắn kết nềnkinh tế và thị trường của một quốc gia với nền kinh tế và thị trường khu vực
và thế giới thông qua các biện pháp tự do hoá và mở cửa thị trường trên cáccấp độ đơn phương, song phương, và đa phương
Trang 32Hội nhập kinh tế quốc tế bao hàm nhiều nội dung rộng hơn và cao hơn
tự do hoá thương mại, là sự phối hợp giữa hai hay nhiều Nhà nước độc lập, cóchủ quyền Bởi vậy, nó thường chịu sự tác động và điều tiết bởi các chính sáchcủa các chính phủ thành viên Nền kinh tế các nước thành viên không giốngnhau cả về thể chế lẫn cơ cấu kinh tế - xã hội, cho nên quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế bổ sung và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triểnmột cách thuận lợi hơn
Hội nhập kinh tế luôn là một hành động tự giác và tích cực của cácthành viên nhằm phối hợp và điều chỉnh các chương trình phát triển kinh tếvới những thoả thuận có đi có lại của các nước thành viên Nó là bước quá độtrong quá trình vận động của nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hoá
* Các cấp độ hội nhập
Khi nghiên cứu về cấp độ hay là mức độ của hội nhập kinh tế quốc tế,cho đến nay, có thể phân chia làm năm cấp độ từ thấp đến cao như sau:
- Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area - FTA): Khu vực mậu dịch
tự do là giai đoạn thấp nhất của tiến trình hội nhập kinh tế Giai đoạn này, cácnền kinh tế thành viên tiến hành giảm và loại bỏ dần các hàng rào thuế quan,các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế trong thương mại nội khối Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện thuế quan đối với các nước ngoại khối Ví
dụ, một số các FTA như là: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khuvực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu(EFTA)
- Liên minh thuế quan (Customs Union): Liên minh thuế quan là giai
đoạn tiếp theo trong tiến trình hội nhập, tham gia vào liên minh thuế quan, cácthành viên ngoài việc hoàn tất việc loại bỏ thuế quan và các hạn chế về sốlượng trong thương mại nội khối, còn phải cùng nhau thực hiện một chínhsách thuế quan chung đối với các nước ngoại khối Ví dụ như: Liên minh thuếquan Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), Liên minh thuế quan Trung Phi(UDEAC)
- Thị trường chung (Common Market): Thị trường chung là liên minh
thuế quan cộng thêm với việc bãi bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển các
Trang 33yếu tố sản xuất khác như vốn và lao động Như vậy, trong một thị trườngchung không những hàng hoá, dịch vụ mà hầu hết các nguồn lực khác đềuđược tự do lưu chuyển giữa các thành viên Ví dụ: Cộng đồng kinh tế Châu
Âu trước đây, Thị trường chung Trung Mỹ, Thị trường chung các nước vùngCaribê
- Liên minh kinh tế (Economic Union): Liên minh kinh tế là mô hình
hội nhập ở giai đoạn cao dựa trên cơ sở mô hình thị trường chung cộng thêmviệc phối hợp các chính sách kinh tế giữa các nước thành viên như là: ấn địnhmột tỷ giá hối đoái cố định trong một thời gian dài giữa các nước trong liênminh với nhau, lập ra một cơ quan duy nhất có trách nhiệm chung Ví dụ như:Liên minh Châu Âu (EU)
- Liên minh kinh tế toàn diện (Comprehensive Economic Union): Liên
minh kinh tế toàn diện là quá trình cuối cùng của quá trình hội nhập Cácthành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh vực kinh tế: Cùng nhau xâydựng một chính sách phát triển kinh tế chung cho toàn liên minh; xây dựngmột chính sách đối ngoại chung; hình thành một đồng tiền chung thay thế chocác đồng tiền riêng của từng quốc gia thành viên, quy định chính sách lưuthông tiền tệ thống nhất cho toàn liên minh; xây dựng một ngân hàng trungương chung thay thế cho các ngân hàng trung ương của các nước thành viên,xây dựng một chính sách quan hệ tài chính, đối ngoại chung của liên minh vớicác nước ngoài liên minh và với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế Nhưvậy, ở giai đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực trên được chuyển giaocho một cơ chế cộng đồng Hiện nay, trên thế giới mới chỉ có một Liên minhChâu Âu (EU) đang tiến hành xây dựng một liên minh kinh tế toàn diện nhưvậy
1.1.5.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế trong sự phát triển kinh tế
và việc sử dụng rào cản thương mại trong mỗi quốc gia
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi khách quan Nó
không chỉ có vai trò tích cực mà còn có cả tác động tiêu cực đối với sự phát triểncủa nền kinh tế thế giới nói chung và các quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng Nóicách khác, đối với mỗi quốc gia hội nhập kinh tế vừa tạo ra những cơ hội để pháttriển, đồng thời vừa đặt ra những khó khăn và thách thức cần phải vượt
Trang 34* Hội nhập tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia
Thứ nhất, tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của mỗi quốc gia
nhờ mở rộng các thị trường ngoài nước, và làm cho mỗi nước có khả năngtiếp cận các nguồn hàng , dịch vụ đa dạng, phong phú với giá cạnh tranh củacác nước khác nhau trên thế giới, đặc biệt là máy móc, trang thiết bị kỹ thuậtcao cấp và các yếu tố đầu vào Điều đó có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế sẽthúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Do vậy, góp phần nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần của dân chúng
Thứ hai, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài bao gồm cả
vốn vay, ODA, và FDI cũng như các công nghệ cao nhờ việc cải thiện môitrường đầu tư, kinh doanh như một hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện thuận lợi chocác nhà đầu tư ở mỗi nước đầu tư ra nước ngoài
Thứ ba, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư của mỗi nước
theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, giúp khai thác tối đa lợi thế so sánh củamỗi nước, thúc đẩy giao lưu và trao đổi khoa học, kinh nghiệm quản lý, từ đónâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp của mỗi quốc gia.Đây là cơ sở cho việc thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương và đa phươngphát triển lâu dài và vững chắc
Thứ tư, thúc đẩy quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, chính
trị, xã hội ở mỗi quốc gia Do đó, tạo ra khả năng thuận lợi cho việc xích lạigần nhau về trình độ phát triển, cơ cấu tổ chức, hệ thống luật pháp, năng lựcquản lý Từ đó góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa cácnước, cải thiện khả năng bảo đảm an ninh quốc phòng ở mỗi quốc gia
Thứ năm, trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ và các mâu thuẫn thương
mại có xu hướng ngày càng gia tăng và trở nên gay gắt, hội nhập kinh tế khuvực và song phương đang dỡ bỏ dần các rào cản về thuế quan, phi thuế quangiữa các thành viên, tạo nên khuôn khổ kinh tế và pháp lý phù hợp với tiếntrình tự do hoá đa phương, góp phần phát triển hệ thống thương mại đaphương cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Trang 35* Hội nhập kinh tế đặt ra những thách thức trong phát triển kinh tế
và việc sử dụng rào cản thương mại ở mỗi quốc gia
Thứ nhất, mở cửa đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt giữa hàng hoá
và doanh nghiệp của mỗi quốc gia Điều đó dẫn đến nguy cơ phá sản trongnhững ngành kinh tế và doanh ngiệp làm ăn kém hiệu quả, khả năng cạnhtranh thấp Từ đó có thể gây xáo trộn về công ăn việc làm của nhiều người laođộng, dễ dẫn đến bất ổn định về chính trị và xã hội
Thứ hai, dỡ bỏ hàng rào thuế quan có nghĩa là quốc gia sẽ mất đi một
nguồn thu ngân sách, nhất là đối với các nước đang phát triển mà thuế quan làmột bộ phận quan trọng của ngân sách Nhà nước
Thứ ba, việc tiến hành cải cách và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trước áp
lực hội nhập đòi hỏi phải có một nguồn tài lực và vật lực rất lớn mà không dễ
gì một nước, nhất là những nước đang và kém phát triển , có thể đáp ứngđược
Thứ tư, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, có sự khác biệt về trình
độ giữa các thành viên, nên dễ tạo ra nguy cơ khiến cho các nền kinh tế đangphát triển phải phụ thuộc nhiều vào một số trung tâm kinh tế chủ chốt về thịtrường, công nghệ, vốn Và hậu quả là làm giảm khả năng độc lập của cácquốc gia này trong việc hoạch định chính sách đối với nhiều vấn đề kinh tế vàchính trị mang tính quốc gia và quốc tế, gây ra nhiều khó khăn và phức tạptrong việc bảo đảm an ninh
Thứ năm, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các giá trị đạo đức,
văn hoá truyền thống dễ bị xói mòn trước những cám dỗ từ bên ngoài đưa vào,
do đó tạo điều kiện dễ dàng hơn cho sự lan toả của một số hành động xấu, mangtính độc hại như khủng bố, mại dâm, bệnh dịch, tội phạm xuyên quốc gia
Thứ sáu, trong phạm vi toàn cầu, hội nhập kinh tế khu vực và song
phương có thể dẫn tới mâu thuẫn giữa các khối kinh tế - mậu dịch với nhau,giữa các nước trong khối và ngoài khối, và do vậy, rất dễ dẫn đến tình trạngthị trường thế giới bị chia cắt và ngăn cản quá trình tự do hoá đa phương, làmchậm lại tiến trình toàn cầu hoá
Trang 36Hội nhập kinh tế quốc tế không những tạo điều kiện thuận lợi cho cácquốc gia phát huy thế mạnh và tận hưởng những lợi thế từ thị trường thế giới,
mà đồng thời còn bộc lộ ngay những mặt yếu kém và bất lợi của mình Trongbối cảnh đó, các nước đều duy trì các rào cản thương mại nhằm bảo vệ sảnxuất nội địa hoặc để thực hiện các mục tiêu theo hướng có lợi nhất cho quốcgia mình Mức độ cần thiết và những lý do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sảnxuất nội địa của từng quốc gia cũng khác nhau, đối tượng bảo hộ cũng khácnhau, từ đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về rào cản thương mại một cách toàndiện là một nhiệm vụ cần thiết và chính đáng, đặc biệt là đối với các nướcđang phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam hiện nay
1.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc sử dụng rào cản thương mại và bài học đối với Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc sử dụng rào cản thương mại
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về dân số, đứng thứ 2 về tiềm lựcquân sự, đứng thứ 6 về GDP, tương đương với khoảng 10% GDP của Mỹ Nếutính GDP trên cơ sở sức mua thực tế thì GDP của Trung Quốc sẽ đứng thứ hai,sau Mỹ, và tương đương với 50% GDP của Mỹ Một đặc điểm hết sức nổi bậtcủa nền kinh tế Trung Quốc là tăng trưởng với tốc độ liên tục cao nhất thế giới(đạt từ 7 - 10%)
Từ năm 1979, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa rabên ngoài theo phương châm thử nghiệm trước và áp dụng rộng rãi sau Quátrình mở cửa được thực hiện theo cách thức từ điểm thành đường, từ đườngthành hình Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thương mại ở Trung Quốctuân thủ theo một lộ trình sau:
+ Giai đoạn 1: Từ năm 1979 đến năm 1985, phát triển thương mại theo định hướng thay thế nhập khẩu
+ Giai đoạn 2: Từ năm 1986 đến năm 1992, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Giai đoạn 3: Từ năm 1992 đến năm 2000, thực hiện định hướng xuất
Trang 37khẩu bằng các kế hoạch đặc biệt cho từng ngành, áp dụng cộng nghệ tiên tiến
để nâng cao tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu sử dụng công nghệ cao
+ Giai đoạn 4: Từ năm 2001 đến nay, thực hiện phát triển nền kinh tế
mở theo yêu cầu và cam kết khi gia nhập WTO
Với lộ trình được xác định, Trung Quốc đã xây dựng và sử dụng hàngloạt các chính sách và biện pháp khác nhau và được nhiều chuyên gia đánh giá
là các rào cản gồm nhiều lớp nhằm hạn chế sự thâm nhập tự do của hàng hoánước ngoài vào thị trường trong nước Điển hình là các loại rào cản sau:
a Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
Trước khi tiến hành chính sách mở cửa (trước năm 1979), Chính phủkiểm soát tất cả các hoạt động ngoại thương Đầu những năm 1980, chỉ có cáccông ty được chỉ định mới có quyền tiến hành các hoạt động ngoại thương Từgiữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990, mặc dù quyền tham giathương mại quốc tế được phân theo cấp độ, nhưng Chính phủ vẫn thực hiện hệthống kiểm tra và phê chuẩn nghiêm ngặt Đến cuối năm 1997, Chính phủ chophép các đơn vị trong các đặc khu kinh tế thực hiện thí điểm đăng ký kinhdoanh xuất nhập khẩu Từ ngày 01/01/1999, Trung Quốc cho phép các công tylớn thực hiện theo hệ thống đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu Đồng thời,Trung Quốc cho phép các viện nghiên cứu khoa học của Nhà nước, của tậpthể và của các công ty công nghệ cao, công nghệ mới được đăng ký kinhdoanh xuất nhập khẩu Đến 11/12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và quyềnkinh doanh xuất nhập khẩu đã được mở rộng hơn Tuy nhiên, trong quy chế vềxuất nhập khẩu mới được ban hành sau đó, Trung Quốc vẫn quy định một sốnhóm mặt hàng do doanh nghiệp nhà nước được chỉ định thực hiện và một sốmặt hàng xuất khẩu do doanh nghiệp được chỉ định làm đầu mối
b Rào cản thuế quan
Từ khi bắt đầu mở cửa, thuế quan của Trung Quốc chủ yếu dựa trên cácnguyên tắc sau:
Đối với các loại động thực vật, phân bón, quặng thương phẩm, thuốc,các dụng cụ tinh xảo, dụng cụ máy móc thiết yếu và thực phẩm cần thiết choxây dựng và đời sống nhân dân và không được sản xuất ở Trung Quốc hoặcTrung Quốc cung cấp được ít thì thuế nhập khẩu thấp hoặc bằng không
Trang 38Thuế nhập khẩu các nguyên liệu thô sẽ thấp hơn thuế nhập khẩu các sảnphẩm thành phẩm hoặc bán thành phẩm Đối với các nguyên liệu liệu thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên và không thể tăng năng suất nhanh thì thậm chíthuế suất còn thấp hơn.
Nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, thuế suất áp dụng đốivới thiết bị, dụng cụ, và linh kiện máy móc sẽ thấp hơn so với thuế suất ápdụng đối với máy móc hoàn chỉnh Mức thuế nhập khẩu đối với những sảnphẩm có thể sản xuất trong nước và hàng hoá xa xỉ phẩm sẽ tương đối caohơn Mức thuế nhập khẩu đối với những sản phẩm có thể sản xuất được trongnước và vẫn cần được bảo hộ sẽ cao hơn nhiều
Nhằm khuyến khích xuất khẩu, hầu hết các hàng hoá xuất khẩu đượcmiễn thuế xuất khẩu Về mức thuế quan trung bình thì mức thuế quan danhnghĩa tiếp tục giảm xuống trong suốt hai thập kỷ qua, thuế quan danh nghĩađầu những năm 90 là 42,5% đến năm 2001 đã giảm xuống còn 15,2%
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc tiếp tục cải cách hệ thống thuếquan và các biện pháp quản lý:
Thứ nhất, Trung Quốc từng bước giảm mức thuế quan theo các cam kết,
mức thuế quan của Trung Quốc sẽ được giảm theo mức trung bình của cácnước đang phát triển và mức thuế nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp sẽ là10% hoặc trong khoảng đó
Thứ hai, Trung Quốc đã có sự chuẩn bị về luật pháp để thực hiện đầy
đủ các quy tắc về định giá hải quan và cũng đã tập trung nghiên cứu các biệnpháp tiến hành cụ thể
Thứ ba, Trung Quốc đã công bố biểu thuế xuất nhập khẩu mới bao gồm
4 mức: tối huệ quốc, thuế khu vực hợp tác, thuế ưu đãi đặc biệt và thuế suất phổ thông
c Hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu
Biện pháp phi thuế quan ngày càng giảm dần và trở nên chuẩn tắc ởTrung Quốc Từ năm 1992 - 2002, số mặt hàng thuộc diện phải xin phép xuấtnhập khẩu và hàng hoá thuộc hạn ngạch nhập khẩu đã được giảm đến hơn mộtnửa Chính phủ Trung Quốc vẫn đang tiếp tục áp dụng cơ chế phân phối theonguyên tắc thị trường trong các quy định về hạn ngạch nhập khẩu
Trang 39Từ năm 1993, Trung Quốc đã cải tổ hệ thống quản lý nhập khẩu theocác thông lệ quốc tế và kể từ đó hạn ngạch nhập khẩu chỉ áp dụng cho các loạihàng hoá có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu ngành công nghiệp và nhậpkhẩu Với tư cách là một biện pháp hành chính chủ yếu, biện pháp phi thuếquan có thể bảo vệ ngành công nghiệp trong nước ở mức độ nào đó và là hiệnthân của chính sách công nghiệp quốc gia và kế hoạch phát triển kinh doanh.
Kể từ đó, biện pháp phi thuế quan đã giảm theo từng năm
d Định giá hải quan
Về định giá hải quan, nếu cơ quan hải quan định giá tuỳ ý thì trật tựthương mại sẽ bị phá vỡ Nguyên tắc cơ bản của việc định giá hải quan ởTrung Quốc là ưu tiên áp dụng giá giao dịch thực tế ghi trên hợp đồng nhậpkhẩu và tiến hành điều chỉnh trên cơ sở giá giao dịch thực tế này, sau đó giágiao dịch sẽ được áp dụng để tính thuế Nếu cơ quan hải quan không thể xácđịnh được giá giao dịch thực tế thì có thể áp dụng giá thay thế Ngoài ra, cơquan hải quan có thể khẳng định giá theo hợp đồng bằng việc sử dụng giá xâydựng hoặc tái đầu tư Đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩmđược các doanh nghiệp nhập khẩu thì cơ quan hải quan vẫn có thể tiếp tụckhảo sát và kiểm tra giá sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu
e Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến hoạt động thương mại,Trung Quốc đang bãi bỏ và dừng áp dụng biện pháp áp đặt đối với thươngmại Năm 2001, Quốc vụ viện đã quyết định sửa đổi Luật doanh nghiệp đầu tưnước ngoài Trong luật này, hầu hết các biện pháp hạn chế đầu tư liên quanđến thương mại đã được xoá bỏ Trong quy định hướng dẫn đầu tư nước ngoài
và danh mục đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp mới được banhành và sửa đổi, danh mục lĩnh vực khuyến khích được mở rộng và danh mụckhông khuyến khích bị thu hẹp Những quy định trên mở rộng ra các lĩnh vựcnhư ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh, ngoại thương, du lịch, giao thông vậntải, kế toán, kiểm toán, luật và các lĩnh vực dịch vụ khác, đồng thời, hạn chế
tỷ lệ góp vốn của người nước ngoài trong một số lĩnh vực cũng được nới lỏnghơn Năm 2002, Trung Quốc đã thu hút đầu tư nước ngoài ở mức cao, gần 50
tỷ USD, lần đầu tiên trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế
Trang 40giới Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2001, tổng vốn đầu tư nước ngoài đãthực hiện là 400 tỷ USD Cùng với việc Trung Quốc mở cửa thương mại dịch
vụ thì một số lĩnh vực dịch vụ khác như hoạt động thương mại, ngoại thương,viễn thông, tài chính, bảo hiểm cũng là những điểm nóng thu hút đầu tư nướcngoài Các công ty đa quốc gia lớn cũng quan tâm đầu tư vào Trung Quốc.Hiện đã có hơn 400 trong số 500 công ty được đánh giá là hàng đầu trên thếgiới đầu tư vào Trung Quốc và gần 400 trung tâm nghiên cứu và triển khaicũng đã được thiết lập tại Trung Quốc
f Chính sách ngoại hối
Kiểm soát ngoại hối và chính sách tỷ giá cũng là một trong những ràocản trong thương mại quốc tế của Trung Quốc Trước năm 1978, các giao dịchngoại hối gần như bị hạn chế bởi chính quyền Trung ương Trong đó, Chínhphủ thâu tóm toàn bộ nguồn ngoại hối và độc quyền quyết định việc phânchia Còn mọi doanh nghiệp và cá nhân không được phép tích trữ hay trao đổingoại hối một cách tự do
Từ năm 1979, chính quyền đã quyết định cho phép doanh nghiệp đượcphép giữ lại một phần ngoại tệ thu được từ xuất khẩu Trên cơ sở đó, cácdoanh nghiệp đã có khoản thu bằng ngoại tệ và được sử dụng khoản ngoại tệnày theo nhu cầu Năm 1986, Trung Quốc quyết định cải tổ hơn nữa thông quaviệc cho phép các doanh nghiệp giữ lại các khoản ngoại tệ chưa dùng đếnhoặc trao đổi với các doanh nghiệp khác có nhu cầu về ngoại tệ Chính sáchgiữ lại ngoại tệ được coi là thành công trong việc thúc đẩy xuất khẩu nhưng
nó cũng gây ra một số khó khăn liên quan đến nhập khẩu hàng hoá Năm
1994, Trung Quốc bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi đồng tiền trong tài khoảnvãng lai và đã hoàn thành quá trình này trong vòng hai năm tiếp theo Vớibước cải tổ này, Trung Quốc không chỉ thoát khỏi những rắc rối của chínhsách giữ lại ngoại tệ, giải quyết được vấn đề hệ thống hai tỷ giá mà còn đượccác tổ chức quốc tế đánh giá tốt về việc tiếp tục dỡ bỏ các hàng rào phi thuếquan
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc có sự thay đổi từ những năm 1980 vàđầu những năm 1990, đồng nhân dân tệ (NDT) được gắn với đồng đô la Hoa
Kỳ (USD) Do lạm phát diễn ra liên tục và khả năng cạnh tranh quốc tế suy