cứu nào thực sự đi sâu vào vấn đề hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - LB Nga, có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu đã được công bố như:Tác giả Nguyễn Công Khang và Nguyễn Quốc Minh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN CẢNH TOÀN
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:Ban giám hiệu, các Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên đã tham gia giảng dạy,hướng dẫn luận văn lớp Cao học K18 - Kinh tế đối ngoại, đã tạo điều kiệnthuận lợi cho tác giả được học tập nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu
đề tài;
Toàn thể bạn bè và đồng nghiệp, đã quan tâm và động viên tác giả.Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy hướng dẫn TS NguyễnCảnh Toàn, đã dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ để chỉ dẫn giúp đỡ tácgiả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do điều kiện về thời gian cũng như hạn chế về trình độ của bản thân,thêm vào đó vấn đề nghiên cứu còn mới mẻ nên đề tài không tránh khỏinhững thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của các thầy, Hộiđồng chấm đề cương luận văn tốt nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn./
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Trần Khánh Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn………
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt i
Danh mục các bảng số liệu ii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác kinh tế về năng lượng trong bối cảnh toàn cầu hóa 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Hợp tác kinh tế quốc tế và nhu cầu hợp tác năng lượng trong bối cảnh toàn cầu hóa 7
1.1.2 Các hình thức hợp tác năng lượng 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Tổng quan về lĩnh vực năng lượng của Việt Nam 12
1.2.2 Vị thế, tiềm năng của Liên bang Nga trong lĩnh vực năng lượng 20
1.2.3 Sự cần thiết phải tăng cường hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga … 29
1.3 Kinh nghiệm hợp tác kinh tế vềnăng lương ̣ của Việt Nam với một số nước … 31
Chương 2: Thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga … 35
2.1 Khái quát về quan hệ chính trị và kinh tế song phương 35
2.2 Hợp tác năng lượng trong các lĩnh vực chủ chốt……….41
2.2.1 Hợp tác trong lĩnh vực thủy điện và nhiệt điện 41
2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực dầu khí……….…49
2.2.3 Hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân 56 Chương 3: Những đánh giá, triển vọng và một số giải pháp thúc đẩy quan
Trang 5ii
Trang 63.1 Đánh giá về thực trạng hợp tác hai nước trong lĩnh vực năng lượng… 67
3.2 Triển vọng hợp tác song phương 81
3.1.1 Vị trí và tầm quan trọng trong hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - Liên bang Nga 81
3.1.2 Một số dự báo về triển vọng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - Liên bang Nga 82
3.3 Giải pháp thúc đẩy hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga …84 3.3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - Liên bang Nga 84
3.3.2 Các kiến nghị mang tính giải pháp 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Cộng đồng các quốc gia độc lập
Trang 8i
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Các nhà máy thuỷ điện lớn (>100MW)
Kim ngạch và phần trăm tăng trưởng
2 Bảng 2.1 thương mại Việt Nam - LB Nga và giá 37
trị xuất nhập, khẩu của Việt Nam
Nội dung và kết quả đàm phán về Hiệpđịnh xây dựng NMĐHN Ninh Thuận 1
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của loài người, năng lượng luôn đóng một vaitrò quan trọng Từ xa xưa con người đã biết khai thác các nguồn tài nguyênnăng lượng để phục vụ các hoạt động sản xuất, đi lại, xây dựng và đời sốnghàng ngày Ngày nay, năng lượng đang trở thành là vấn đề cấp thiết, toàn cầukhi mà các nguồn tài nguyên năng lượng trên thế giới bị con người khai thácđang dần trở nên cạn kiệt trong khi nhu cầu ngày càng tăng cao Chúng ta cóthể thấy rất rõ các vấn đề khủng hoảng năng lượng thường có tác động rất lớntới các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội của các nước trên thế giới Do vậynhiều nước đã đưa vấn đề năng lượng thành quốc sách, đặt thành vấn đề ―anninh năng lượng‖ đối với sự phát triển của quốc gia trong đó có Việt Nam
Việt Nam có nguồn tài nguyên năng lượng đa dạng đầy đủ các chủngloại như than, dầu khí, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo Trongnhững năm vừa qua, Việt Nam đã tiến hành khai thác tích cực các nguồn tàinguyên sẵn có và quan tâm phát triển ngành năng lượng nhưng đến nay về cơbản ta vẫn chưa thể tự cung ứng năng lượng, bên cạnh việc xuất khẩu than vàdầu thô, ta vẫn phải nhập khẩu các nguồn năng lượng từ bên ngoài Theonghiên cứu của Phó viện trưởng, Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên vàmôi trường, Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh [48], từ năm 2025 đếnnăm 2030 khả năng thiếu hụt năng lượng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế
là không tránh khỏi, đòi hỏi ngay từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đápứng tổng cầu năng lượng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội lâu dài,góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Một trong nhữnggiải pháp quan trọng trong vấn đề năng lượng của Việt Nam hiện nay đó làtăng cường hợp tác năng lượng với LB Nga Bởi Nga là một cường quốc năng
Trang 12lượng, hàng đầu thế giới Việt Nam có thể tận dụng được nguồn vốn lớn vàcông nghệ tiên tiến của Nga để thúc đẩy phát triển ngành năng lượng quốcgia Hơn nữa tăng cường hợp tác năng lượng với Nga, không chỉ làm sâu đậmthêm quan hệ chính trị hai nước mà việc tham gia khai thác của Nga trongkhu vực thềm lục địa tại Biển Đông đã gián tiếp khẳng định chủ quyền biểnđảo của Việt Nam tại biển này.
Trong thời gian qua, lĩnh vực hợp tác năng lượng luôn được chính phủViệt Nam, LB Nga thường xuyên quan tâm, ủng hộ và đã có một số nhữngthành tựu đáng kể, tuy nhiên mức độ hợp tác hai bên hiện nay chưa xứng vớitiềm năng
Những thực tế trên đã đặt ra nhiều câu hỏi: tại sao hợp tác năng lượngvới Nga là hiệu quả và phù hợp với lợi ích và định hướng phát triển của hainước? Những mặt hạn chế và thành công trong hợp tác năng lượng với Nga?định hướng phát triển hợp tác năng lượng với Nga trong tương lai?
Chính vì ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc hợp tác năng lượngvới LB Nga, việc nhìn nhận lại quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam - LBNga cũng như xem xét triển vọng của nó trong tương lai, tìm ra các phươnghướng biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác năng lượng giữa hai nước ngày càngsâu rộng và có hiệu quả hơn đáp ứng được nguyện vọng và lợi ích của hainước là hết sức thiết thực Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài: ―Thực trạng
và triển vọng trong hợp tác năng lượng giữa Việt Nam với LB Nga‖
2 Tình hình nghiên cứu
Hợp tác giữa Việt Nam - LB Nga là vấn đề được nhiều người quan tâm
và bỏ nhiều công sức nghiên cứu, tuy nhiên tới nay chưa có một đề tài nghiên
Trang 13cứu nào thực sự đi sâu vào vấn đề hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - LB Nga, có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu đã được công bố như:
Tác giả Nguyễn Công Khang và Nguyễn Quốc Minh (2010) trongnghiên cứu về ―Triển vọng quan hệ hợp tác Việt - Nga về lĩnh vực dầu khítrong khuôn khổ Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro‖ đã đề cập khá sâu sắc
về vấn đề hợp tác năng lượng Việt Nam và LB Nga trong lĩnh vực dầu khítuy nhiên nghiên cứu lại bị gói gọn trong hợp tác hai nước trong lĩnh vực dầukhí và chỉ trong khuôn khổ xí nghiệp Vietsopetro
Bên cạnh đó còn có bài viết như: Nhìn lại 10 năm chính sách đối ngoạicủa LB Nga và quan hệ Việt Nam - LB Nga những năm đầu thế kỷ XXI của tiến
sỹ Nguyễn An Hà (2010); ―Thử phân tích chiến lược mới của Nga đối vớiASEAN và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam sau Thông điệp Liên bangngày 12/11/2009 của Tổng thống D.Medvedev‖ của tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn;bài ―Quan hệ Việt - Nga: Một mô hình của quan hệ truyền thống và đối tácchiến lược‖ của tác giả Lê Quỳnh Nga (2010); bài Quan hệ đối tác chiến lượcViệt - Nga của tác giả Đinh Công Tuấn (2010); Sách ―Quan hệ kinh tế ViệtNam - LB Nga, hiện trạng và triển vọng‖ của tác giả Bùi Huy Khoát, Nhà xuấtbản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995; Sách ―Quan hệ Việt - Nga trong bối cảnhquốc tế mới‖ của tác giả Võ Đại Lược - Lê Bộ Lĩnh, Nhà xuất bản Thế giới(2005) Bài ―Quan hệ kinh tế Việt Nam - LB Nga (2001 - 2010)‖ của NguyễnSinh Cúc Ngoài ra còn có nhiều bài viết có liên quan được đăng trên các báo,tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, mạngInternet, các báo Dân trí, báo Nhân dân, báo Tuổi trẻ Dù phong phú về số lượng
và chủng loại song các công trình trên trên chỉ đưa ra một cách khái quát về tìnhhình hợp tác năng lượng giữa hai nước như là một phần trong cả một bức tranhtổng thể quan hệ hợp tác Việt Nam - LB Nga
Trang 14hoặc đi sâu vào một trong những lĩnh vực hợp tác năng lượng nào đó giữa hainước, chứ chưa có bài nào đánh giá một cách tổng thể và đầy đủ về thực trạng
và triển vọng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - LB Nga
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - LB Nga.Trên cơ sở đó đánh giá, dự báo triển vọng hợp tác năng lượng giữa hai nước
và đưa ra một số giải pháp mang tính chất tham khảo nhằm thúc đẩy mối quan
hệ hợp tác này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng và triển vọng hợp tác năng lượng Việt Nam - LB Nga
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga
- Phạm vi nghiên cứu: Do mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu,luận văn định hướng nghiên cứu vào thực trạng và triển vọng trong hợp tác
năng lượng giữa Việt Nam - LB Nga theo các lĩnh vực hợp tác như: thủy điện,nhiệt điện, dầu khí, điện hạt nhân từ năm 2001 đến năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,đồng thời kết hợp so sánh, phân tích đánh giá, tổng hợp, thống kê cùng với sửdụng các nguồn tài liệu thu thập được trong sách báo, các tạp chí, trên cơ sở
Trang 15thế giới quan và phương pháp luận Macxit, chúng tôi sử dụng phương phápnghiên cứu lịch sử và phương pháp logic kết hợp với việc phân tích, tổng hợp,
hệ thống lại các vấn đề để có thể đưa ra bức tranh khái quát về đề tài nghiêncứu, góp phần làm cho bài viết thêm mạch lạc và đầy đủ
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trong bối cảnh hiện tại khi mà trữ lượng tài nguyên dầu mỏ, than đátrên thế giới đang ngày trở nên cạn kiệt, năng lượng đã và sẽ là vấn đề cấpthiết và nỏng bỏng đối với các nước, đặc biệt là đối với những nước đang trên
đà phát triển như Việt Nam
Hợp tác năng lượng Việt Nam - LB Nga đã có truyền thống từ thờiLiên Xô và ngày càng phát triển cho đến ngày nay, không chỉ giúp ta đáp ứngđược yêu cầu đảm bảo an ninh năng lượng, tận dụng được những công nghệmới hiện đại của Nga trong lĩnh vực này mà còn củng cố, tăng cường đảm bảo
an ninh quốc gia của Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp biển đảo giữa ta vàTrung Quốc chở nên ngày càng diễn biến phức tạp
Tuy vậy hiện nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu và đầy đủtoàn cảnh về thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga Dovậy, đề tài nghiên cứu về ―Thực trạng và triển hợp tác năng lượng Việt Nam
- LB Nga‖ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Luận văn đã tập hợp, lựa chọn và xử lý một khối lượng tư liệu lớn, rờirạc để dựng thành một bức tranh tổng thể về thực trạng và triển vọng tronghợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga Trên cơ sở những khó khăn,hạn chế trong quá trình hợp tác giữa hai nước, tác giả đã đưa ra những kiếnnghị, giải pháp có thể khắc phục và thúc đẩy hợp tác năng lượng giữa ViệtNam - LB Nga
Trang 167 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, bảng chữ các viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác kinh tế về năng lượng trong bối cảnh toàn cầu hóa
Chương 2 Thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga
Chương 3 Những đánh giá, triển vọng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam -
LB Nga
Trang 17Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác kinh tế
về năng lượng trong bối cảnh toàn cầu hóa 1.1 Cơ sở lý luận.
1.1.1 Hợp tác kinh tế quốc tế và nhu cầu hợp tác năng lượng trong bối cảnh hiện nay
Quan hệ kinh quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại củacác quốc gia hay nói cách khác đó là tổng thể các mối quan hệ vật chất và tàichính, các mối quan hệ kinh tế, khoa học và công nghệ giữa các quốc gia
Liên kết kinh tế quốc tế Nhà Nước là những liên kết kinh tế được hìnhthành trên cơ sở các hiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều chính phủ nhằmlập ra các liên minh kinh tế khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng kinh tế đối ngoại phát triển
Một cách tổng thể, hợp tác kinh tế quốc tế là một hình thức trong đódiễn ra quá trình xã hội hoá có tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuấtgiữa các chủ thể kinh tế quốc tế Đó là sự thành lập một tổ hợp kinh tế quốc tếcủa một nhóm thành viên nhằm tăng cường phối hợp và điều chỉnh lợi íchgiữa các bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa cácbên và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về chiều rộng và chiềusâu Liên kết, hợp tác kinh tế quốc tế được xem là mối quan hệ kinh tế vượt rakhỏi lãnh thổ của một quốc gia, được hình thành dựa vào sự thỏa thuận haibên hoặc nhiều bên, ở tầm vĩ mô hoặc vi mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động kinh tế và thương mại phát triển Quá trình liên kết kinh tế quốc tếđưa tới việc hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn với các mốiquan hệ kinh tế quốc tế phức tạp và đa dạng Các bên tham gia liên kết
Trang 18kinh tế quốc tế có thể là các quốc gia hoặc các tổ chức, doanh nghiệp thuộccác nước khác nhau.
Toàn cầu hóa là xu thế khách quan của nhân loại mà không một quốcgia nào có thể đứng ngoài Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trêntất cả các lĩnh vực của cuộc sống và lĩnh vực năng lượng cũng không nằmngoài quy luật này Thật vậy, sự ràng buộc giữa các quốc gia về năng lượngngày càng trở nên rõ ràng hơn khi mà hiện này mọi biến động (tăng, giảm giásản phẩm hay sản lượng hàng năm, hay tình hình chính trị ) trên thị trườngnăng lượng đều tác động tới các nền kinh tế lớn nhỏ trên thế giới, không chỉtới các nước nhập khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mà còn tớicác nước xuất khẩu như Nga, Iran Chính vì vậy nhu cầu hợp tác trên thếgiới để đảm bảo sự thống nhất giữa các quốc gia về chính sách trong lĩnh vựcnày nhằm tạo sự ổn định thị trường năng lượng thế giới là nhu cầu tất yếu,không thể thiếu trong thời đại hiện nay Một số tổ chức quốc tế được lập rađang điều hành và chi phối các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng như: Tổchức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC); IEA (Cơ quan Năng lượng Quốctế); Hội đồng Năng lượng thế giới (WEC)
Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay nhu cầu về năng lượng của xã hộingày càng tăng trong khi các nguồn năng lượng tự nhiên sẵn có đang dần cạnkiệt; việc nghiên cứu, tìm kiếm các nguồn năng lượng mới vẫn còn nhiều khókhăn, hạn chế đòi hỏi sự đầu tư tích cực về vốn, lao động, công nghệ của xãhội; việc tranh giành các nguồn năng lượng trên thế giới ngày càng nghiêmtrọng, đe dọa tới an ninh, hòa bình quốc tế đã cho thấy năng lượng đang trởthành vấn đề có tính chất toàn cầu, nóng bỏng mà không quốc gia đơn lẻ nào -ngay cả đối với những nước được cho là cường quốc năng lượng thế giới, cóthể tự giải quyết được nó đòi hỏi sự liên kết, phối hợp giữa các nước, khu
Trang 19vực, thế giới.
Chính vì những lý do trên mà xu hướng hợp tác kinh tế quốc về nănglượng trở thành là xu hướng tất yếu hiện nay Hợp tác giúp các nước có thểđảm bảo được nguồn cung năng lượng để phát triển, phát huy hết lợi thế sosánh và tận dụng được các nguồn lực bên ngoài để đầu tư, thúc đẩy nội lựcbên trong; giảm chi phí khai thác và đầu tư công nghệ, nâng cao hiệu quả khaithác và sản xuất Ngoài ra, hợp tác giữa các nước trên thế giới về năng lượngcũng tạo ra những cơ chế giúp đảm bảo sự ổn định, thống nhất trên thị trườngnăng lượng cũng như việc hoạch định các chính sách năng lượng hợp lý từ đógóp phần giảm nguy cơ xung đột, mâu thuẫn toàn cầu; tạo động lực hợp táckhoa học kỹ thuật, tìm kiếm các tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế
1.1.2 Các hình thức hợp tác năng lƣợng.
Theo lý thuyết thì có 6 hình thức kinh tế đối ngoại là hình thức hợp táctrong lĩnh vực sản xuất; hình thức hợp tác khoa học kỹ thuật; ngoại thươnghay thương mại quốc tế; hình thức đầu tư quốc tế; hình thức tín dụng quốc tế;hình thức thu ngoại tệ và du lịch quốc tế Hợp tác kinh tế trong lĩnh vực nănglượng về cơ bản cũng gói gọn trong 6 hình thức trên
- Hình thức hợp tác trong lĩnh vực sản xuất: Là hình thức hợp tác tronglĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung, chuyên môn hoá
và hợp tác hoá sản xuất quốc tế các sản phẩm năng lượng
Nhận gia công các bộ phận, máy móc thiết bị năng lượng là một hìnhthức hợp tác hiệu quả, tận dụng được nguồn lao động, tạo nhiều việc làm vàtận dụng công suất máy móc hiện có Muốn mở rộng việc nhận gia công chonước ngoài phải nắm bắt tốt những nhu cầu sản xuất hàng hóa của thế giới
Trang 20Về mặt pháp lý, xí nghiệp chung thường được tổ chức dưới hình thứccông ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn góp của cácthành viên Các xí nghiệp này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngànhnghề kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu vàtrở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho Nhà nước tiếtkiệm ngoại tệ Do phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến hợp tác quốc tếtrên cơ sở chuyên môn hoá, có thể là chuyên môn hoá giữa những ngành khácnhau hay chuyên môn hoá trong cùng một ngành Hình thức này làm cho cơcấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết, phụ thuộc lẫn nhau.
- Hình thức hợp tác khoa học kỹ thuật: Hình thức này được thực hiệndưới nhiều hình thức khác nhau như phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợptác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân, chuyển giao công nghệ
Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, phương tiện vật chất kỹ thuậtcòn thiếu, đội ngũ cán bộ mỏng, vốn đầu tư nghiên cứu ít thì việc hợp táckhoa học kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng, giúp các nước này nhanh chóngrút ngắn khoảng cách lạc hậu về khoa học kỹ thuật với các nước phát triển
- Hình thức ngoại thương hay thương mại quốc tế trong lĩnh vực nănglượng là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ (các sản phẩm, thiết bị năng lượng như dầu
mỏ, ga, than đá, các thiết bị trong các công trình năng lượng; dịch vụ thẩm định,thiết kế, xây dựng ) giữa các quốc gia
Ngoại thương có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt làđối với những quốc gia đang phát triển nhằm góp phần làm tăng của cải và sứcmạnh tổng hợp của mỗi nước Nó là một động lực của sự tăng trưởng kinh tếquốc dân, nâng cao trình độ công nghệ và ngành nghề trong nước, ―điều tiếtthừa, thiếu‖ của mỗi quốc gia, tạo điều kiện giao dịch việc làm cho người lao
Trang 21động trong nước.
- Hình thức đầu tư quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều bên cóquốc tịch khác nhau cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tưtrong lĩnh vực năng lượng nhằm đưa lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia
Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư Mộtmặt làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý, tạoviệc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thịtrường hiện đại trên thế giới Mặt khác, đối với các nước kém phát triển, nó sẽlàm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp trong xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên,
ô nhiễm môi trường, tăng tính phụ thuộc vào bên ngoài Có hai hình thức đầu
tư quốc tế:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụngquản lý vốn của bên đầu tư thông nhất với nhau, tức là bên có vốn đầu tư trựctiếp tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu tráchnhiệm về kết quả và rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận Đầu tư trực tiếpđược thực hiện dưới các hình thức như hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợpđồng, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, xí nghiệp liên doanh
Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà quyền sử hữu tách rời quyền sửdụng vốn đầu tư, tức là bên có vốn đầu tư không trực tiếp tham gia vào việc tổchức, điều hành dự án mà thu lợi dưới dạng lợi tức cho vay hoặc lợi tức cổphần Trong các hình thức đầu tư gián tiếp thì vốn viện trợ phát triển chínhthức (ODA) là bộ phận quan trọng nhất bao gồm các khoản hỗ trợ không hoànlại và các khoản tín dụng ưu đãi khác
- Hình thức cho vay tín dụng: Đây là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước,
Trang 22các tổ chức kinh tế, xã hội, các cá nhân trong nước với các chính phủ, các tổchức chính phủ và phi chính phủ, các cá nhân ngoài nước Tín dụng có thểdưới nhiều hình thức như vay nợ bằng tiền tệ, vàng, công nghệ, hàng hóa hoặcthông qua hình thức đầu tư trực tiếp Vốn tín dụng được dùng để mở rộng sảnxuất, xây dựng kết cấu hạ tầng - những công trình năng lượng.
- Hình thức thu ngoại tệ khác: Hình thức này chủ yếu là xuất khẩu laođộng ra nước ngoài và tại chỗ, đáp ứng nhu cầu lao động trong lĩnh vực nănglượng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về lĩnh vực năng lƣợng của Việt Nam
Ngành năng lượng Việt Nam đã có đóng góp đáng kể cho phát triểnkinh tế, tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của đất nước Việt Nam cónguồn năng lượng đa dạng như: Dầu khí, than, thủy điện, năng lượng sinhkhối, năng lượng mặt trời, gió…nhưng không thật dồi dào
Than là nguồn dự trữ năng lượng sơ cấp lớn nhất Việt Nam Theo Tậpđoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trữ lượng thanViệt Nam rất lớn: Quảng Ninh khoảng 10,5 tỷ tấn trong đó đã tìm kiếm thăm
dò 3,5 tỉ tấn, chủ yếu là than antraxit Đồng bằng sông Hồng dự báo tổng trữlượng 210 tỉ tấn than Ábitum, các mỏ than ở các tỉnh khác khoảng 400 triệutấn và riêng than bùn phân bố hầu hết ở 3 miền khoảng 7 tỉ m3, chủ yếu tậptrung ở miền Nam Việt Nam Ngành than được điều khiển bởi Vinacomin.Vinaomin nắm giữ 51% ở hầu hết các công ty than nên các hoạt động xuấtkhẩu hay bán cho một số khách hàng, khối lượng cũng như giá cả của cáccông ty này bị phụ thuộc vào đơn vị chủ quản Vinacomin
Trang 23Hình 1.1 Sản lƣợng và xuất khẩu than Việt Nam từ năm 2003-2009
(Nguồn: Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam 2011)
Từ hình 1.2 trên cho thấy lượng than sản suất ra trong các năm trở lạiđây khá đều không có nhiều sự đột biến, nhưng lượng than xuất khẩu gầnbằng 50% lượng sản xuất được là một thực trạng đáng lo ngại cho ngành thanViệt Nam Trung Quốc vẫn là đối tác nhập khẩu than lớn nhất, chiếm đến81% tổng khối lượng than và 70% tổng giá trị than xuất khẩu của Việt Nam
Những năm gần đây, sản lượng tiêu thụ than của Việt Nam tăng119.89% Đặc biệt, nhu cầu tiêu thụ than của Việt Nam được dự đoán tăngtrong những năm tiếp theo, do trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã phêduyệt quy hoạch xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện tại các địa phương Từnhững năm 90, Việt Nam chủ yếu sản xuất than để xuất khẩu, tuy nhiên doyếu kém trong công tác quản lý, đầu tư, tạo nhiều kẽ hở, việc xuất khẩu thantràn lan nên đến năm 2011, Việt Nam từ một nước xuất khẩu than, với sảnlượng hàng năm trong những nước hàng đầu của châu Á, thành một nước phảinhập khẩu than Hiện nay ta đã hạn chế xuất
Trang 24khẩu, số lượng than trong nước tập trung đáp ứng nhu cầu than trong nước.
Thủy điện: Tiềm năng thủy điện của hệ thống sông ngòi Việt Nam rấtphong phú, phân bố tương đối đều trên lãnh thổ với đầy đủ các dạng nhà máy
và quy mô công suất Việt Nam có hơn 3.000 km bờ biển, bình quân cứ 23
km lại có 1 cửa sông và khoảng 2.360 sông suối chiều dài trên 10 km, trong
đó hệ thống sông chính có tiềm năng thủy điện đáng kể Tổng tiềm năng thuỷđiện Việt Nam dự tính khoảng 14.000 đến 17.000 MW, trong đó có khoảng3.000 MW đã được phát triển và khoảng 800 MW đang được xây dựng Côngsuất của thủy điện hiện nay chiếm khoảng 55% của tổng công suất lắp đặttoàn hệ thống liên kết, khoảng 5.300 MW Các nghiên cứu từ trước tới nay đãxác định được tiềm năng lý thuyết của các sông ngòi Việt Nam vào khoảng
300 tỷ kWh và được phân theo các vùng như sau: Miền Bắc(181 tỷ kWh);Miền Trung (89 tỷ kWh); Miền Nam (30 tỷ kWh) Thủy điện là một nguồnnăng lượng có thể khai thác được với trình độ kỹ thuật của ta và có hiệu quả
về phương diện kinh tế trong tình hình hiện nay
Bảng 1.2: Các nhà máy thuỷ điện lớn ( >100MW) của Việt Nam
Trang 254 Đa Nhim 160 Lâm Đồng
Trang 2616 Đồng Nai 3 240 Lâm Đồng
C Chuẩn bị
D Qui hoạch
(Nguồn: Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam năm 2010)
Dầu khí: Việt Nam được xếp thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ
31 trên thế giới về sản lượng dầu thô và khí đốt, có mức đóng góp khoảng
Trang 2720% - 25% GDP hàng năm của Việt Nam Tuy nhiên, ngành dầu mỏ của ViệtNam chỉ mới đi vào khai thác và chế biến nên vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhucầu sử dụng trong nước Hiện nay, nước ta chủ yếu vẫn là khai thác để xuấtkhẩu dầu thô, nhập khẩu dầu tinh phục vụ cho nhu cầu nội địa Một số nhàmáy lọc dầu đã đi vào hoạt động như nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máylọc dầu Nghi Sơn … nhưng mới chỉ cung cấp được khoảng 30% nhu cầu nộiđịa Sản lượng dầu khí Việt Nam từ năm 2001 - 2005 có sự tăng trưởng khácao và đều Tuy nhiên, giai đoạn 2006 - 2008, sản lượng sụt giảm do diễnbiến ở các mỏ phức tạp, thời tiết xấu, sản lượng khai thác không đạt mức dựkiến khi thăm dò…
Giai đoạn từ 2009 đến nay, công tác khai thác đã có những bước tiếntriển tốt PVN liên tiếp hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra PVN đã kýđược 87 hợp đồng dầu khí với các công ty dầu khí của Mỹ, Nhật, Nga, Anh,Malaysia, Singapore, Canada, Úc… và được phân bổ bố theo các bể như: bểSông Hồng, bể Phú Khánh, bể Tư Chính - Vũng Mây, bể Nam Côn Sơn, bểCửu Long, và bể Ma Lay - Thổ Chu Ngoài ra, PVN đã triển khai thành cônghoạt động tìm kiếm, thăm dò khai thác ở nước ngoài PVN tham gia đầu tưvào 13 dự án thăm dò khai thác dầu khí ở các nước Cuba, Indonesia, Iran,Tuynidi, Myanmar, Lào, Campuchia, Công gô, và ở Madagasca Bên cạnh
đó, còn có các dự án phát triển khai thác ở các nước Nga, Venezuela,Algeria, và Malaysia
Theo PVN trữ lượng dầu của Việt Nam ước đạt 4,1 - 4,9 tỷ tấn, theo
BP Anh là khoảng 4,4 tỷ thùng vào cuối năm 2009 Mặc dù các con số về trữlượng chỉ mang tính chất tương đối nhưng cũng cho thấy trữ lượng dầu khíViệt Nam vẫn còn nhiều và là cơ sở để ngành tiếp tục phát triển lâu dài.Ngành dầu khí cũng đóng góp nhiều ngoại tệ nhất cho quốc gia Xuất khẩudầu thô trong những 2004 - 2008, luôn đứng đầu trong các mặt hàng
Trang 28xuất khẩu của nước ta với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, đóng góp trungbình khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, xu hướng xuấtkhẩu dầu thô đang có chiều hướng giảm dần và tỷ trọng này đã giảm xuốngmức 11% năm 2009 và 6,9% năm 2010, đứng sau các sản phẩm như dệt may(15.6%), giày dép (7.1%) và thủy sản (6.9%) Năm 2011, ngành đã vươn lêndành lại vị trí thứ 2 với mức đóng góp 7,6%, chỉ sau ngành dệt may Trong 6tháng đầu năm 2013, nhờ hoạt động của ba giếng dầu khí mới, cụ thể là Hải
Sư Trắng, Hải Sư Đen và Thỏ Trắng, khối lượng dầu thô xuất khẩu tăng1,3% so với năm 2012 và đạt 4.29 triệu tấn Tuy nhiên về mặt giá trị lại giảm4,3% so với năm ngoái, tương đương 3,68 tỷ đôla, do giá dầu thô xuất khẩugiảm xuống mức 78 đôla/tấn, cùng với xu hướng đi xuống của giá dầu thếgiới từ đầu tháng ba đến cuối tháng sáu Ngành dầu khí Việt Nam hiện nayvẫn đặt khai thác xuất khẩu là chủ lực nên phụ thuộc khá nhiều vào giá dầuthế giới Trong tương lai, ngành vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọngtrong việc phát triển kinh tế đất nước
Năng lượng hạt nhân: Xác định đây sẽ là nguồn năng lượng chính củaViệt Nam trong tương lai, ta đã khẩn trương triển khai thăm dò uranium, pháthiện được 11 mỏ, điểm quặng phóng xạ phát hiện trên toàn quốc trong đó chủyếu tập trung tại Quảng Nam (7 mỏ) Song song với dự án triển khai thăm dòuranium, ta đã ký kết với Nga và Nhật Bản tiến hành xây dựng NMĐHN NinhThuận là tên gọi chung của chuỗi hai NMĐHN I và II đang trong dự án xâydựng tại tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam với tổng công suất trên 4.000 MW Theoquy hoạch phát triển điện lực quốc gia, NMĐHN I và II sẽ được khởi côngvào tháng 12 năm 2014 và hoàn thành vào năm 2022, phát điện vào cuối năm
2020 Dự án được tiến hành theo kiến nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũngtrên cơ sở ước tính về nhu cầu điện năng đến 2020
Trang 29và đã được Quốc hội Việt Nam thông qua Về nguồn kinh phí, Nga đồng ýcho Việt Nam vay 10,5 tỷ đôla, Nhật Bản cũng đồng ý cho vay nguồn vốnODA làm điện hạt nhân Tổng mức đầu tư dự toán khoảng 200.000 tỷ đồngtại thời điểm cuối năm 2008 Theo các chuyên gia, Việt Nam thiếu cán bộtrong lĩnh vực công nghệ điện hạt nhân trầm trọng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ký hợp đồng đào tạo nhân lực với Tập đoàn Nhà nước và điện hạt nhân củaNga Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh và yêu cầu cơ quan chuyên ngànhnhanh chóng hoàn thiện các văn bản pháp quy, đào tạo nguồn nhân lực chonhà máy điện nguyên tử đầu tiên khu vực Đông Nam Á Nga bắt đầu đào tạonhóm sinh viên Việt Nam đầu tiên tại trường đào tạo thuộc Rosatom với dựđịnh tăng dần số lượng trong tương lai Ba trung tâm đào tạo cho sinh viênđang được xây dựng, dự kiến hoàn thành và hoạt động trước khi vận hànhđiện hạt nhân 2 năm Bên cạnh đó, trong năm 2010, Nhật Bản cũng đã đào tạocho Việt Nam 50 - 60 lượt cán bộ trong lĩnh vực điện hạt nhân và sẽ tiếp tụcgiúp đào tạo nhân lực để bảo đảm an toàn vận hành điện hạt nhân Đại diệnban quản lý dự án cho biết theo kế hoạch đến năm 2020 sẽ có khoảng 200 kỹ
sư được đào tạo, huấn luyện về điện hạt nhân cho hai nhà máy
Năng lượng tái tạo: Việt Nam có tiềm năng rất lớn về nguồn nănglượng tái tạo phân bổ rộng khắp trên toàn quốc Sinh khối từ các sản phẩmhay chất thải nông nghiệp có sản lượng tương đương 10 triệu tấn dầu/năm.Tiềm năng khí sinh học xấp xỉ 10 tỉ m3/năm có thể thu được từ rác, phânđộng vật và chất thải nông nghiệp Tiềm năng kỹ thuật của thuỷ điện nhỏ(<30MW) hơn 4,000MW Nguồn năng lượng mặt trời phong phú với bức xạnắng trung bình là 5kWh/m2/ngày phân bổ trên khắp đất nước Vị trí địa lýcủa Việt Nam với hơn 3,400km đường bờ biển cũng giúp Việt Nam có tiềmnăng rất lớn về năng lượng gió với tiềm năng ước tính khoảng 500-1000
Trang 30kWh/m2 /năm Những nguồn năng lượng thay thế này có thể được sử dụnggiúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh Mặc dùViệt Nam đã triển khai sớm và thành công một số dự án nhưng việc ứng dụngnăng lượng tái tạo tại Việt Nam vẫn hạn chế chưa khai thác hết tiềm năng sẵncó.
Theo nghiên cứu của Phó viện trưởng, Viện Chiến lược Chính sách tàinguyên và môi trường, Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh, Việt Namđang trong giai đoạn phát triển kinh tế cao, nhu cầu năng lượng phục vụ sảnxuất và đời sống ngày một tăng trong khi khả năng sản xuất cung ứng nănglượng còn hạn chế Từ năm 2025 đến năm 2030 khả năng thiếu hụt nănglượng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế là không tránh khỏi, đòi hỏi ngay
từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đáp ứng tổng cầu năng lượng phục vụnhu cầu phát triển kinh tế, xã hội lâu dài, góp phần đảm bảo an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội
Để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Việt Nam đã đưa ra chiếnlược phát triển năng lượng đến năm 2020 theo đó ưu tiên phát triển đồng bộcác nguồn năng lượng trong đó nhấn mạnh phát triển thủy điện và khuyếnkhích sử dụng nguồn năng lượng mới, tái tạo; khai thác và sử dụng tiết kiệmcác nguồn năng lượng trong nước; giảm bớt phụ thuộc vào các sản phẩm dầu
mỏ nhập khẩu; xuất nhập khẩu than hợp lý; liên kết hệ thống năng lượngtrong khu vực; mở rộng kho dự trữ xăng dầu; kết hợp an ninh năng lượng vớibảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia
1.2.2 Vị thế, tiềm năng của LB Nga trong lĩnh vực năng lƣợng
Mặc dù dân số chỉ chiếm 3% trên thế giới nhưng Nga có nguồn nănglượng lớn nhất thế giới, chiếm tới 13% tổng trữ lượng dầu mỏ và 34% trữlượng khí đốt thế giới đã được phát hiện, đồng thời cũng là một trong những
Trang 31nước hàng đầu trên thế giới về doanh thu trong lĩnh vực năng lượng Nga hiệnđang tích cực tham gia vào thương mại thế giới và hợp tác quốc tế trong lĩnhvực này.
Trong những năm gần đây, Nga đang dẫn đầu về sản xuất dầu thôchiếm 12% thương mại dầu mỏ thế giới Hơn 4/5 lượng dầu của Nga đượcxuất khẩu sang châu Âu - điểm đến chính cho xuất khẩu dầu của Nga Thịphần của Nga trong thị trường này là khoảng 30% Sản lượng khai thác khíđốt hàng năm của Nga chiếm 25% tổng sản lượng thế giới, thống trị cả trongcác thị trường khí đốt châu Âu và thị trường của các nước thuộc SNG Trong
đó khối lượng khí đốt tiêu thụ của Châu Âu (bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ) chiếmkhoảng 30% trong tổng số khí đốt xuất khẩu ra nước ngoài của Nga Ngoài ra,Nga đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hành lang chung chuyểncung cấp khí đốt từ khu vực Trung Á đến châu Âu và SNG
Nga đứng thứ hai thế giới về dự trữ than lớn nhất (19% trữ lượng thếgiới), xếp thứ 5 toàn thế giới về sản lượng khai thác hàng năm (5% sản lượngthế giới) và cung cấp khoảng 12% than cho thị trường thế giới
Trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, Nga chiếm 5% thị phần thịtrường thế giới, trong đó chiếm 15% thị trường thế giới xây dựng lò phản ứnghạt nhân; 45% các chương trình làm giàu uranium thế giới; 15% chuyển đổi,tái sử dụng nhiên liệu hạt nhân và cung cấp 8% uranium tự nhiên toàn cầu
Hiện tại, năng lượng là một trong những lĩnh vực có hoạt động sản xuất
ổn định nhất ở Nga; có tác động tích cực đến hiện trạng và triển vọng pháttriển nền kinh tế Nga Số nhân lực làm việc trong lĩnh vực này chỉ chiếm 3 -4% của toàn bộ nền kinh tế, nhưng mang lại 25% GDP, 30% sản phẩm côngnghiệp, 54% cho ngân sách Liên bang Đối với Nga, ngành năng lượng khôngđơn thuần là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi
Trang 32nhuận, nó còn là một trong các trụ cột cho sự ổn định và tăng cường sứcmạnh của nước này Với tư cách là nhà cung cấp năng lượng hàng đầu thếgiới, Moscow đã thiết kế hệ thống an ninh năng lượng như một nhân tố cótầm quan trọng hàng đầu đối với an ninh quốc gia, sử dụng con bài xuất khẩunăng lượng vừa làm công cụ cho chính sách đối ngoại để khống chế các nướctrong khối SNG và tăng cường ảnh hưởng của mình tại châu Âu.
Tuy nhiên, trong ngành năng lượng cũng còn tồn tại một số vấn đềchưa được giải quyết, bao gồm:
- Phụ thuộc quá nhiều vào lĩnh vực dầu khí, hậu quả là thu nhập của ngành năng lượng bị lệ thuộc vào cục diện của thị trường dầu khí thế giới;
- Tỷ trọng của ngành năng lượng Nga trong nền kinh tế quá lớn (gấp 3
-4 lần so với của các nước phát triển khác);
- Thiết bị, công nghệ cũ chiếm tỷ lệ cao, mức hao mòn vốn cố định rấtcao: trung bình của toàn ngành là 50%, riêng của lĩnh vực dầu khí là 80% Đây làyếu tố tiềm tàng, có thể gây nên "thảm hoạ công nghệ" Chính vì vậy Nga tích cựcnhập khẩu máy móc, thiết bị thuộc nhóm công nghệ cao Bình quân 1 năm kimngạch nhập khẩu của Nga là 48,7%, khoảng 200 tỷ đôla
Trong đó, nguyên liệu chiếm 75%, máy móc thiết bị 10%, dịch vụ 10%
- Sự mất cân đối trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng giữa các vùnglãnh thổ: Miền Tây Sibiri khai thác 90% khối lượng khí thiên nhiên, 60% dầu mỏ,chế biến thành các sản phẩm dầu thực hiện ở khu vực Sông Vônga (tới 60%), trongkhi tiêu thụ các sản phẩm dầu và khí lại chủ yếu tập trung các khu vực phía Tây,Bắc và Đông của nước Nga;
- Hoạt động của ngành năng lượng còn gây ảnh hưởng nặng cho môi trường, cho dù mức độ đã được cải thiện đáng kể so với trước năm 1990
Trang 33Để tiếp tục duy trì thế mạnh và quyền lực của mình trong lĩnh vực này,Nga đã đưa ra "Chiến lược năng lượng của Nga đến năm 2020" [111] Xuyênsuốt của chiến lược này là "hình thành cán cân nhiên liệu - năng lượng hợp lý,cân đối cho nước Nga" Trên cơ sở các thông số kinh tế vĩ mô đã dự báo,ngành năng lượng tiến hành xác định khối lượng cần thiết và cơ cấu tiêu thụnăng lượng, mức xuất khẩu, đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế như đã dự báođến năm 2020.
Về hoạt động kinh tế đối ngoại trong lĩnh vực năng lượng, nước Nga sẽthực hiện theo các định hướng sau:
- Tăng xuất khẩu nhiên liệu;
- Vận tải quá cảnh nguồn năng lượng;
- Nghiên cứu áp dụng, khai thác nguồn năng lượng trên lãnh thổ của các nước khác;
- Củng cố, cải thiện vị thế của Nga ở các thị trường nước ngoài, hoànhập vào khu vực năng lượng của nước bản địa, tham gia phát triển cơ sở hạ tầngnăng lượng của các nước;
- Thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất, vận chuyển và chế biến nguồn năng lượng ở Nga
Một trong những mục tiêu chiến lược để củng cố vị thế và vai trò củaNga trên thế giới là tăng cường vị trí của Nga trên thị trường dầu mỏ và khíthiên nhiên trên thế giới Để đảm bảo an ninh kinh tế và an ninh năng lượng,Nga sẽ thực hiện đa dạng hoá thị trường xuất khẩu năng lượng (với các nướcBắc Mỹ, Tây Âu và Đông Bắc Á) Mỹ vẫn là thị trường lớn và lâu dài củaNga Tuy nhiên, trong tương lai, thị trường lớn nhất và quan trọng, mà Ngatính tới là khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Nam á Những đối tác lớn
Trang 34nhất sẽ là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ Đây là những thịtrường tiềm năng lớn tiêu thụ khí thiên nhiên, dầu mỏ, điện, công nghệ vànhiên liệu hạt nhân của Nga.
Khái quát về tình hình hợp tác năng lượng của Nga với các nước trên thế giới
Hợp tác năng lượng của Nga trên thế giới không chỉ đơn thuần là hợptác song phương giữa các quốc gia mà mang tầm vĩ mô, đa phương, giữa Ngavới các tổ chức, khu vực, với các cường quốc năng lượng hàng đầu trên thếgiới
Nga – Liên minh châu Âu (EU)
Hợp tác năng lượng giữa Nga và châu Âu đã bắt đầu từ thời Liên Xô cũtrước đây và kéo dài tới hiện nay, gần 40 năm chiều dài lịch sử
Trong những năm 1960 - 1970, Liên xô đã hợp tác cùng với các nướcTây Âu thành lập một hệ thống đường ống dẫn dầu rộng lớn nối liền các mỏcủa Nga tại khu vực Sibiri với các nhà máy điện của các nước Tây Âu màngười ta thường gọi là ―Hợp đồn thế kỷ‖ Vào những năm 1970, trong bốicảnh cuộc chiến tranh lạnh lên tới đỉnh điểm, mặc dù Nga vấp phải sự phảnứng gay gắt nhưng một hợp đồng cung ứng dầu mỏ thế kỷ giữa hai bên đãđược ký kết Sự kiện trên đã đánh dấu những cơ sở hợp tác lâu dài của hai bêntrong lĩnh vực năng lượng Quyết định đúng đắn đó đã góp phần làm dịu đi sựđối đầu trong Chiến tranh Lạnh, bởi cả hai bên đều tính và thỏa thuận lợi íchcủa chính mình và đối tác
Cho đến đầu những năm 90, Nga cùng với các nước trong Hội đồngTương trợ kinh tế Comecon (Bulgaria, Hungary, Ba Lan, Romania, Liên Xô
và Tiệp Khắc), tham gia phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng, trong đó tậptrung đáp ứng người tiêu dùng châu Âu Trên cơ sở đó Comecon đã triển khai
Trang 35thực hiện 02 dự án đường ống chính (Druzhba-1 và 2), hệ thống lưới điệnđồng nhất "Mir"; hợp tác xây dựng các NMĐHN tại các nước trong khốiComecon.
Trong giai đoạn tiếp theo (trước những năm 2000), hợp tác năng lượnggiữa Nga - châu Âu tiếp tục được mở rộng với những thay đổi trong bản đồđịa lý chính trị của châu Âu, Nga và sự nổi lên của các quốc gia mới Một loạtcác sự kiện diễn ra trong thời kỳ này: Ký kết Thỏa ước Madrid về việc thànhlập Liên minh châu Âu (EU), kết nạp các thành viên mới; ở Nga bắt đầu cảicách kinh tế: tự do hóa thị trường dầu mỏ và than đá Hai bên đã bắt đầu vớicác dự án xây dựng đường ống dẫn lớn nối liền bán đảo Yamal, Tây BắcSiberi, Nga tới châu Âu và Blue Stream Các công ty nước ngoài (bao gồm cảchâu Âu) có thể tiếp cận, đầu tư khai thác các mỏ dầu và khí đốt của Nga,theo thỏa thuận phân chia sản phẩm Tất cả điều này đã mở đường cho giaiđoạn hợp tác năng lượng mới của EU - Nga
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của sự hợp tác giữa Nga và
EU là đối thoại năng lượng Quá trình trao đổi, đối thoại giữa hai bên là mộtthành phần quan trọng làm tăng cường tính hệ ổn định, mức độ tin cậy vàminh bạch các mối quan hệ giữa hai bên trong lĩnh vực năng lượng, bao gồm
cả việc trao đổi thông tin về chính sách năng lượng của các bên, sự phát triểncủa pháp luật và khuôn khổ pháp lý Tại cuộc họp của Thường trực Hội đồngHợp tác Năng lượng Nga - EU, tổ chức ngày 01/12/2011 tại Moscow, hai bên
đã ký kết đối thoại năng lượng Nga - EU Hiện nay, các dự án hợp tác chunggiữa hai bên gồm: hệ thống đường ống khí đối ―dòng chảy Phương Bắc‖ và
―dòng chảy Phương Nam‖; các hoạt động hợp tác chung trong lĩnh vực nănglượng giữa Nga và các nước trong khu vực Baltic
Trang 36Nga - Trung Quốc
Sau khi Liên xô sụp đổ, quan hệ Nga - Trung bắt đầu chuyển sang mộtgiai đoạn mới Ngày 16/7/2001, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và Tổngthống Nga Vladimir Putin ký kết tại Moscow Hiệp định Hữu nghị và Hợp tácgiữa hai nước đến năm 2021, là cơ sở vững chắc cho mối quan hệ hợp tác giữaNga - Trung Quốc không chỉ trong chính trị mà còn trong kinh tế Trung Quốcvới nền tốc độ phát triển kinh tế vũ bão hiện nay, cơn khát năng lượng để đảmbảo cho nền kinh tế lớn là không thể tránh khỏi Trong khi, Nga với nguồn tàinguyên dồi dào là một cường quốc năng lượng đang muốn đa dạng thị trườngxuất khẩu tài nguyên và cần nguồn vốn lớn để tiến hành cải tổ lại nền kinh tế.Những năm gần đây, Trung Quốc và Nga đã đạt được những tiến bộ lớn tronglĩnh vực hợp tác năng lượng song phương, không chỉ về chiều rộng mà còn cảchiều sâu, đáp ứng được nhu cầu của mỗi nước
Cũng như đối với EU, hàng năm Nga và Trung Quốc cũng tiến hành cơchế đối thoại về năng lượng nhằm thúc đẩu, mở rộng cũng như tăng cườngtính hệ ổn định, mức độ tin cậy và minh bạch các mối quan hệ giữa hai bêntrong lĩnh vực năng lượng
Hợp tác với Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC)
Bắt đầu từ năm 1998, Nga là quan sát viên trong OPEC Trong thờigian này, các bên đã đạt được kinh nghiệm tích cực trong quan hệ đối tác.Nga đã thiết lập một cơ chế trao đổi, phối hợp với OPEC thông qua diễn đànĐối thoại năng lượng Nga - OPEC Tại diễn đàn đã diễn ra các cuộc họpthường xuyên giữa các lãnh đạo của Nga với các lãnh đạo của OPEC nhằmthúc đẩy sự ổn định dài hạn của thị trường dầu mỏ trong lợi ích của tất cả cácnước tham gia trên các nguyên tắc tăng cường an ninh năng lượng toàn cầu vàkhông nhằm chống lại bất kỳ quốc gia thứ ba và các tổ chức khác Nga và
Trang 37OPEC vừa là đối thủ cạnh tranh mà vừa là đối tác của nhau OPEC mongmuốn nước này gia nhập tổ chức tuy nhiên Nga là một trong những nước lớn,
có uy tín và tiếng nói trên thị trường năng lượng toàn cầu, Nga không muốnmất đi tính độc lập và phải chịu sự rằng buộc bởi các quy tắc của OPEC
Hiện tại hợp tác năng lượng giữa Nga và các nước trong OPEC chủ yếutrong lĩnh vực dầu khí và năng lượng hạt nhân
Trong lĩnh vực dầu khí: Nguồn dầu khí từ các nước trong OPEC tạiTrung Đông và châu Phi (Iran, Iraq, Kuwait, Quatar, Lybia, Algeria…) khôngchỉ cung cấp cho Nga nguồn cung dồi dào mà thông còn qua hệ thống đườngống ―Dòng chảy phương Bắc‖ và ―Dòng chảy phương Nam‖ Nga là nướcchung chuyển dầu khí từ các nước trên tới các thị trường khác: châu Âu
, SNG… Tại khu vực Nam Mỹ, Venezuela là đối tác quan trọng không chỉtrong lĩnh vực dầu khí nói riêng, kinh tế nói chung mà còn mang ý nghĩa chính trịchiến lược, khi Nga đang tăng cường tiến vào khu vực luôn được cho là ―sân sau‖của Mỹ
Năng lượng hạt nhân: Với ưu thế về công nghệ và giá cả trên thị trườnghạt nhân thế giới, Nga đã ký kết nhiều hợp đồng xây dựng, chuyển giao côngnghệ các NMĐHN, cũng như các hạng mục xây dựng cơ sở hạ tầng kháctrong lĩnh vực này với nhiều nước trong OPEC Các nước trong OPEC hợptác với Nga gồm: Iran, Venezuela, Algeria, Lybia, Nigeria, Kuwait
Diễn đàn các nước xuất khẩu ga (GECF)
Ngày 23 tháng 12 năm 2008 ở Moscow, các bộ trưởng năng lượng củacác quốc gia thành viên đã thông qua Hiến chương của GECF và ký kết thỏathuận liên chính phủ thành lập GECF với 11 thành viên (Algeria, Bolivia, AiCập, Iran, Qatar, Libya, Nigeria, Nga, Trinidad và Tobago và Guinea) và 3quan sát viên (Kazakhstan, Hà Lan, Na Uy) Là một trong những thành viên
Trang 38sáng lập diễn đàn, Nga mong muốn thông qua diễn đàn này để cùng với cácquốc gia hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu ga đối thoại, phối hợp, điều tiếtsản lượng và giá cả khí gaz trên thị trường thế giới GECF là một cơ chế đượccác nước thành viên tích cực hoàn thiện Tháng 11/2011 đã diễn ra Hội nghịthượng đỉnh đầu tiên của GECF tại Doha (Qatar), các bên đã đưa ra tuyên bốchung khẳng định tiếp tục đảm bảo việc cung cấp khí đốt trên thị trường khíđốt thế giới và cố gắng đạt được giá khí đốt công bằng, phù hợp Đồng thờikêu gọi các nước tạo điều kiện thuận lợi đảm bảo quá trình vận chuyển quácảnh khí đốt qua các quốc gia thành viên.
Tổ chức hợp tác kinh tế Biển Đen (BSEC)
Tổ chức các nước BSEC với 12 thành viên gồm Bungary, Gruzia,Romania, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Anbania, Armenia, Azerbaijan, Hy Lạp,Moldova và Serbia; cùng 13 nước quan sát viên trong đó có Mỹ, Pháp, Đức Với gần 20 triệu km2 diện tích, dân số 350 triệu người, nhưng BSEC là khuvực có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt lớn thứ hai thế giới, chỉ sau vùng Vịnh.BSEC hiện có tổng doanh thu ngoại thương khoảng 300 tỷ đôla/năm Ngatham gia tích cực vào tổ chức khu vực này, mong muốn hiện thực hóa các dự
án kinh tế lớn, đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực đặc biệt trong lĩnh vựcnăng lượng Đây là một khu vực chiến lược trong lĩnh vực dầu khí của Nga.Các dự án chính của Nga trong khu vực này: dự án dẫn khí đốt ―Dòng chảyphương Nam‖ của Nga dài gần 900km qua đáy Biển Đen ở độ sâu hơn 2km,chạy từ trạm nén khí Bêrêgôvaia (Nga) đến bờ biển của Bungary, có công suấtvận chuyển 30 tỷ m3 khí /năm, sẽ vận chuyển khí đốt của Nga từ Trung
Á và Kazakhstan tới thị trường châu Âu, đập tan hi vọng thoát khỏi sự phụthuộc vào khí đốt Nga của châu Âu - dự án Nabuco; Đường ống khí đốt ―Dòngchảy phương Bắc‖ đưa khí đốt của Nga tới châu Âu qua Biển Đen Đường ống dựkiến sẽ cung cấp khí đốt cho 6 quốc gia - gồm Bulgaria,
Trang 39Serbia, Hungary, Slovenia, Áo và Italia trong giai đoạn 1 và 4 nước khác Croatia, Macedonia, Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ - ở giai đoạn 2 Việc thi công dự
-án sẽ bắt đầu năm 2012, và khí đốt sẽ bắt đầu chảy từ năm 2015
Ngoài các tổ chức quốc tế trên, hiện nay Nga đang tích cực tham giavào các hoạt động khác trong lĩnh vực năng lượng trên thế giới như:
(1) Tích cực đàm phán gia nhập thành viên IEA; (2) Hội đồng dầu khí thếgiới: đây là một diễn đàn để các nước trên thế giới có thể thảo luận về các vấn đềliên quan đến ngành công nghiệp dầu Tổ chức này có 61 thành viên gồm các nướctiêu thụ và cung cấp dầu mỏ chính trên thế giới trong đó có Nga Tháng 10/2010,trong buổi bỏ phiếu kín giữa các thành viên tại Bắc Kinh (Trung Quốc) đã chọnNga làm nước tổ chức Đại hội Hội đồng dầu khí thế giới vào năm 2014; (3) Diễnđàn Năng lượng quốc tế: là một diễn đàn đối thoại năng lượng toàn cầu giữa nhữngngười tiêu dùng với những nhà sản xuất với hơn 90 nước và các tổ chức tham giatrong đó có OPEC và Cơ quan Năng lượng Quốc tế Các hoạt động chính của Ngatrong diễn đàn nhằm mở rộng và phát triển mối quan hệ chiến lược với nhữngnước tiêu dùng và sản xuất năng lượng lớn đặc biệt là các nước Vùng Vịnh; phốihợp điều phối hoạt động thị trường năng lượng toàn cầu
1.2.3 Sự cần thiết phải tăng cường hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga
Từ năm 1990, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu năng lượng, chủ yếu là than
đá và dầu thô Tuy nhiên tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam tăng nhanh(12%/năm) hơn cả mức tăng GDP (khoảng 7,3%/năm từ 1998-2008), là kếtquả của quá trình công nghiệp hóa, điện khí hóa nông thôn và phát triển giaothông mạnh mẽ Sự kết hợp của cường độ năng lượng tăng, cùng với sự tăngtrưởng kinh tế dẫn tới mức tăng trưởng khổng lồ về sử dụng năng lượng
Trang 40trong vòng 10 năm qua: sử dụng than tăng 15,7%/năm, tiêu thụ điện tăng15,1%, và sử dụng sản phẩm dầu tăng 8,7%/năm Nhu cầu năng lượng ViệtNam dự báo sẽ tăng gấp 3 lần trong vòng 10 năm tới (12% mỗi năm) trongkhi cung cấp năng lượng nội địa sẽ không thể duy trì tăng được Việt Namđược dự báo sẽ trở thành nước nhập khẩu điện vào năm 2015 và từ năm 2025đến năm 2030 khả năng thiếu năng lượng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế
là không tránh khỏi, đòi hỏi ngay từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đápứng tổng nhu cầu năng lượng sớm
Các dạng năng lượng hoá thạch như than, dầu khí của Việt Nam vẫncòn trữ lượng lớn, nhưng cũng sắp cạn kiệt, đặc biệt trước sức ép của quátrình toàn cầu hoá, các nguồn năng lượng này càng trở nên khủng hoảng.Không những vậy, đây là những nguồn năng lượng tạo ra các loại khí thải gây
ô nhiễm môi trường và trong một tương lai gần sẽ không còn là lựa chọn chochiến lược phát triển năng lượng của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Vìvậy hướng phát triển hiện nay được chuyển sang các nguồn năng lượng sạch, cókhả năng tái tạo như: thuỷ điện, điện nguyên tử, điện mặt trời, năng lượng gió Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn năng lượng này đòi hỏi công nghệ cao, vốnđầu tư ban đầu lớn trong khi điều kiện thực tiễn của Việt
Nam hiện nay, nơi mà nền kinh tế đang trong quá trình phát triển và khả năngứng dụng khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế
Để đảm bảo nguồn cung năng lượng trong tương lai phục vụ công cuộcxây dựng và phát triển đất nước việc tăng cường hợp tác năng lượng với Nga
là một trong những giải pháp tối ưu, mang tính thiết thực cao bởi:
- Nga là một cường quốc năng lượng, hàng đầu thế giới, Việt Nam cóthể tận dụng được nguồn vốn lớn và công nghệ tiên tiến của Nga để thúc đẩy pháttriển ngành năng lượng quốc gia