Lĩnhvực tài chính ngân hàng cũng xuất hiện nhiều vụ mua bán và sáp nhập lớn nhưthương vụ sáp nhập giữa 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn, ngân hàngLiên Việt và Công ty Dịch vụ ti
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP 1
1.1 Một số vấn đề cơ bản về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm và bản chất của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 6
1.1.2 Các chủ thể tham gia M&A 11
1.2 Phân loại hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 13
1.3 Tác động của M&A 15
1.3.1 Tác động tích cực 15
1.3.2 Tác động tiêu cực 18
1.4 Quy trình thực hiện hoạt động M&A 21
1.5 Phương thức thanh toán trong hoạt động M&A 29
1.5.1 Các phương thức thanh toán trong hoạt động M&A 29
1.5.2 Lựa chọn hình thức thanh toán trong hoạt động M&A 30
1.6 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 31
1.6.1 Hoạt động M&A trên thế giới 31
1.6.2 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới 35
1.6.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam 37
Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP 3 NGÂN HÀNG ĐỆ NHẤT – TÍN NGHĨA – SÀI GÒN 40
2.1 Tổng quan về hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng ở Việt Nam 40
2.1.1 Quan điểm của Nhà nước về hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng 40
2.1.2 Tổng quan về hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng ở Việt Nam 41
Trang 22.1.3 Đặc điểm của hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 533
2.2 Trường hợp sáp nhập 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn 56
2.2.1 Khái quát tình hình 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn trước khi sáp nhập 56
2.2.2 Phân tích SWOT 3 ngân hàng khi tiến hành sáp nhập 59
2.2.3 Quá trình sáp nhập 3 ngân hàng 655
2.2.4 Những kết quả đạt được của ngân hàng sau hợp nhất 677
2.2.5 Những vấn đề đặt ra trong thương vụ sáp nhập 3 ngân hàng TMCP Sài Gòn – Tín Nghĩa – Đệ Nhất 75
Kết luận chương 2 833
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG M&A TẠI NGÂN HÀNG VIỆT NAM 844
3.1 Dự báo xu hướng của hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng thời gian tới844 3.1.1 Tình hình kinh tế vĩ mô 844
3.1.2 Xu hướng hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng 866
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam qua bài học kinh nghiệm từ trường hợp sáp nhập 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn 889
3.2.1 Về phía Nhà nước 889
3.2.2 Về phía ngân hàng TMCP Sài Gòn sau sáp nhập 944
3.2.3 Đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 97
3.3 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 1011
Kết luận chương 3 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
2 1.2 Quá trình diễn ra một thương vụ M&A (Sáp nhập và 21
mua lại)
3 2.1 Số lượng và giá trị giao dịch của hoạt động M&A tại 42
Việt Nam từ năm 2005 đến quý I - 2012
4 2.2 10 thương vụ M&A tiêu biểu năm 2011 tại Việt 46
NamMột số thương vụ M&A giữa ngân hàng nông thôn
5 2.3 và ngân hàng lớn ở đô thị tại Việt Nam giai đoạn 49
1999-2004
6 2.4 Các thương vụ M&A giữa công ty tài chính Việt 50
Nam và nhà đầu tư nước ngoài
7 2.5 Một số thưong vụ mua bán giữa các công ty tài 52
chính trong nước từ năm 2005-2011
8 2.6 Một số chỉ tiêu tài sản và nguồn vốn của các bên 58
tham gia hợp nhất (Tính đến 30/9/2011)
9 2.7 Một số chỉ tiêu hoạt động cùa ngân hàng SCB sau 68
hợp nhất
10 2.8 Một số chỉ tiêu tín dụng so với các NHTMCP có quy 81
mô tương đương
Trang 6Tỷ trọng M&A liên quan đến doanh nghiệp Việt
6 2.3 nam và Doanh nghiệp nước ngoài, xét về số lượng 44
và giá trị thương vụ
7 2.4 Tỷ lệ M&A liên quan đến doanh nghiệp nội địa 45
8 2.5 Tỷ lệ các ngành nghề tham gia hoạt động M&A ở
45Việt Nam năm 2011
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì thị trường tàichính nói chung, ngân hàng nói riêng ở Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ vàdần khẳng định được vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước.Với sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng trong những năm vừa qua cho thấy đượcsức hút mạnh mẽ từ lĩnh vực hoạt động tài chính giàu tiềm năng này
Tuy nhiên, thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam vẫn bị đánh giá là yếukém hơn so với các nước trong khu vực, đặc biệt là trong giai đoạn vừa qua, cácNgân hàng Thương mại của Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn
và thử thách Trong khi cả nền kinh tế đang phải chịu những ảnh hưởng từ cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu chưa có dấu hiệu kết thúc thì ngân hàng là ngànhphải gánh chịu những tác động đầu tiên Khủng hoảng kinh tế dẫn đến tình trạngnền kinh tế trì trệ, xuất hiện hiện tượng lạm phát cao và để kiềm chế tình trạng lạmphát, biện pháp được ngân hàng Nhà nước áp dụng là thắt chặt tín dụng Điều nàytrực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.Trong khi đó, do việc thực hiện lộ trình tự do hóa tài chính ngày càng tới gần khiếnngân hàng thương mại Việt Nam cũng chịu không ít áp lực từ cạnh tranh với cácngân hàng nước ngoài Ngoài ra, dưới áp lực tăng vốn điều lệ theo lộ trình quy địnhtại Nghị định 141/2006NĐ-CP đang ngày một gia tăng, đó là một thách thức khôngnhỏ đối với các ngân hàng có quy mô vốn khiêm tốn Đứng trước tình hình đó, cácngân hàng thương mại Việt Nam muốn tồn tại và cạnh tranh được với các tổ chứctài chính nước ngoài thì một trong những phương pháp được đưa ra lựa chọn là sápnhập và mua lại các ngân hàng nhỏ để tạo thành các ngân hàng lớn hơn hoạt độnghiệu quả và tăng năng lực cạnh tranh Hoạt động mua bán, sáp nhập trong lĩnh vựctài chính ngân hàng được đánh giá là khuynh hướng và là một nhân tố quan trọngtrong việc hoàn thiện hệ thống ngân hàng Việt Nam Trước xu hướng hội nhập vànhững thách thức của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì việc mua bán và sápnhập ngân hàng làm ăn yếu kém và không hiệu quả là một tất yếu
Trang 8Hoạt động M&A hiện nay ở Việt Nam đã bước đầu phát triển cả về số lượng
và giá trị, tuy quy mô vẫn còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực và thế giới.Năm 2011 quy mô thị trường M&A đã tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2010, vớihơn 60 vụ mua bán sáp nhập có quy mô lớn, tổng giá trị đạt trên 4 tỷ đô la Mỹ Lĩnhvực tài chính ngân hàng cũng xuất hiện nhiều vụ mua bán và sáp nhập lớn nhưthương vụ sáp nhập giữa 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn, ngân hàngLiên Việt và Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện, Ngân hàng Mizuho (Nhật Bản)mua 15% cổ phần ngân hàng Ngoại thương Việt Nam…
Tuy nhiên hiện nay hoạt động M&A ở Việt Nam chưa có những quy định rõràng, hiện tại M&A trong lĩnh vực ngân hàng đang được đề cập trong 6 bộ luật khácnhau : Luật doanh nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật chứng khoán, Luật Đầu tư, Luậtcác tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước và nhiều văn bản khác
Với hành lang pháp lý chưa đầy đủ cộng thêm các hiểu biết về M&A còn hạnchế nên các ngân hàng thương mại Việt Nam còn lúng túng và bị động trước xuhướng phát triển tất yếu của hoạt động M&A, dẫn đến những thất bại trong cácthương vụ M&A hoặc bị thâu tóm bởi các đối thủ trên thị trường Để hiểu rõ hơntình hình M&A ở các ngân hàng thương mại, những khó khăn mà các ngân hànggặp phải trong quá trình M&A, xu hướng phát triển của nó để lành mạnh hóa thịtrường tài chính Việt Nam và trên cơ sở của thương vụ sáp nhập thành công giữa 3
ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn, tác đã lựa chọn đề tài «Thực trạng M&A trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam hiện nay- trường hợp 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn».
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về hoạt động M&A trong lĩnh vựcngân hàng không nhiều, phần lớn là các nghiên cứu nhỏ, chỉ đánh giá các khía cạnh riêng
lẻ của hoạt động này
Về các sách chuyên khảo và bài báo có liên quan đến hoạt động M&A, hiện tại
có một số công trình tiêu biểu như: «Xu hướng sáp nhập và mua lại trong khu vựcChâu Á Thái Bình Dương» đăng trên tạp chí Tài chính – tiền tệ số 19 ra ngày
Trang 91/10/2007 của tác giả Đặng Thành; «Xu hướng sáp nhập, hợp nhất của các NHTMViệt Nam» của tác giả Trần Thanh Long đăng trên tạp chí khoa học và đào tạoNgân hàng tháng 4/2007 ; «Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng các tập đoàn tàichính – ngân hàng tại Việt Nam» của PGS.TS Lê Hoàng Nga đăng trên tạp chí Thịtrường Tài chính tiền tệ số 5 ngày 1/3/2008; «Giải pháp đối với các ngân hàngthương mại Việt Nam góp phần thúc đẩy hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng»của TS Nguyễn Thị Loan đăng trên tạp chí ngân hàng số ra ngày 24/12/2010; «Mấuchốt của hậu M&A là sự chuẩn bị tiền sáp nhập» của tác giả Thanh Vũ đăng trên tạpchí Đầu tư số ra ngày 9/6/2011; «M&A ngân hàng: mua lại các năng lực cần thiết»của tác giả Nguyễn Tùng Giang đăng trên tạp chí Kinh tế Việt Nam số ra ngày4/4/2012.
Ngoài ra còn có các buổi hội thảo bàn về vấn đề M&A ngân hàng như: « Hộithảo Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam”
tổ chức tại Hà Nội ngày 21/12/2011; tọa đàm “Sáp nhập và mua lại trong lĩnh vựcngân hàng: Xu thế, thách thức và giải pháp” ngày 1/3/2012 tại Hà Nội; và từ năm
2009 Diễn đàn M&A được tổ chức hàng năm do báo Đầu tư và Công ty AVMVietnam phối hợp tổ chức, với sự bảo trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Các tài liệu trên bước đầu đưa ra được nét cơ bản về hoạt động M&A ở ViệtNam Tuy nhiên những tài liệu này mới chỉ đề cập tới những mặt riêng lẻ xungquanh vấn đề M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, còn bức tranhtoàn cảnh, những bài học kinh nghiệm từ những trường hợp cụ thể đã tiến hànhM&A thành công và xu hướng M&A trong lĩnh vực ngân hàng trong bối cảnh hiệnnay chưa được nghiên cứu toàn diện, ngoài ra nhiều nội dung nghiên cứu không cònphù hợp với thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu, đánh giá về sáp nhập và mualại (M&A) trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay; từ đó gợi ý một số giải pháp đối vớicác cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà Nước và các ngân hàng thành viên tham giavào việc mua bán, sáp nhập nhằm tận dụng được lợi ích của M&A để các ngân hàng
Trang 10thành viên có thể tham gia vào sân chơi «sáp nhập, hợp nhất và mua lại» một cáchvững vàng, tự tin, đạt được nhiều kết quả tốt trong lĩnh vực này trước thời kỳ hộinhập, góp phần lành mạnh hóa lĩnh vực ngân hàng, giúp thị trường tài chính ViệtNam ngày càng phát triển hơn.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là đánh giá về hoạt động M&A ngân hànghiện nay, trong đó đi sâu phân tích thương vụ sáp nhập 3 ngân hàng Đệ Nhất – TínNghĩa – Sài Gòn tìm ra những tồn tại trong hoạt động mua bán và sáp nhập lĩnh vựcngân hàng, từ đó đưa ra một số gợi ý giải pháp đối với các cơ quan quản lý, Ngânhàng Nhà Nước và các ngân hàng thương mại nhằm phát triển M&A ở Việt Namtrong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A)của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu về hoạt động mua bán và sápnhập các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây,trong đó phân tích trường hợp cụ thể thương vụ sáp nhập giữa 3 ngân hàng Đệ Nhất– Tín Nghĩa – Sài Gòn trong năm 2011 vừa qua
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được nghiên cứu dựa trên phương pháp hệ thống, tổng hợp,thống kê, phân tích, so sánh, dự báo kết hợp với nền tảng kiến thức kinh tế học, tàichính – ngân hàng để hệ thống hóa lý luận, nêu lên những nội dung cơ bản vềmua bán và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng, cùng với dự báo xu hướng và giảipháp cho vấn đề này
6 Những đóng góp mới của luận văn
Tuy còn nhiều hạn chế nhưng đề tài cũng có những điểm mới sau:
Tổng kết lại tình hình hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay
Trang 11Qua phân tích thương vụ sáp nhập giữa 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa –Sài Gòn để rút ra những tồn tại trong hoạt động M&A tại Việt Nam.
Đưa ra những nhận định về xu hướng M&A ngân hàng trong xu thế hội nhập
và định hướng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của ngân hàng Nhà nước hiện nay.Trên cơ sở phân tích trường hợp điển hình, đề tài gợi ý một số giải pháp giúpphát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Namtrong thời gian tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mởi đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về mua bán và sáp nhập doanh nghiệpChương 2: Thực trạng về hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng ở Việt Nam – Trường hợp 3 ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển hoạt động M&A tạingân hàng Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MUA BÁN VÀ SÁP
NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề cơ bản về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và bản chất của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp là thuật ngữ thường được nhắc tới trongthời gian gần đây ở Việt Nam Thuật ngữ này được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh
“Mergers & Acquisitions” (viết tắt là M&A), thể hiện hoạt động hai hay nhiều
doanh nghiệp kết hợp lại với nhau nhằm đạt được những mục tiêu xác định trongchiến lược kinh doanh của mình
Mua lại (Acquisitions): là hình thức kết hợp mà một công ty mua lại một
phần hoặc toàn bộ cổ phần của công ty kia Mục đích của hoạt động này nhằmhướng đến việc thâu tóm thị trường, mạng lưới phân phối hoặc tận dụng mạng lướiphân phối để đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ mới Các đối tượng thườngđược chú ý đến trong trường hợp này là những công ty đang hoạt động kinh doanh
có hiệu quả, có thị phần ổn định Tuy vậy, đôi khi hoạt động mua lại cũng gắn liềnvới việc mua bán nợ và các đối tượng được nhắm tới là các công ty đang trong tìnhtrạng chuẩn bị giải thể, phá sản, không có khả năng duy trì hoạt động kinh doanh
của mình Hoạt động này cũng có thể được gọi bằng cái tên khác là tái cấu trúc
công ty
Hình thức M&A vừa đề cập thường do một công ty lớn mua lại một công tynhỏ hơn Nhưng đôi khi vẫn có trường hợp một công ty nhỏ giành quyền quản lý vàđiều khiển một công ty lớn hơn hoặc một công ty có tiếng lâu đời hơn và giữ lạidanh tiếng đó cho công ty lớn Đây được gọi là nắm quyền kiểm soát ngược(reverse takeover)
Sáp nhập (Mergers): là hình thức kết hợp mà một hay nhiều công ty cùng
loại (gọi là công ty bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi íchhợp pháp của mình sang một công ty khác (gọi là công ty sáp nhập) Bên bị sáp
Trang 13nhập (còn gọi là công ty mục tiêu - target company) sẽ chấm dứt sự tồn tại sau khisáp nhập Khi đó, thông thường thương hiệu của công ty mục tiêu sẽ mất đi, chuyểntên cùng công ty tiếp nhận.
Hợp nhất (Consolidation): là hình thức hai hay một số công ty (gọi là công
ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất)bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mìnhsang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.Hợp nhất doanh nghiệp là một dạng đặc biệt của sáp nhập Doanh nghiệp A
và doanh nghiệp B hợp nhất để hình thành doanh nghiệp C, nghĩa là sau hợp nhất,tên doanh nghiệp A hay doanh nghiệp B sẽ không còn nữa, mà chỉ còn tồn tại doanhnghiệp C
Bảng 1.1: So sánh giữa sáp nhập và liên doanh
Sáp nhập
Không hình thành doanh Hợp nhất hình thành
Sau khi sáp nhập, B chấm Sau khi hợp nhất, A và B C được hình thành trên cơdứt sự tồn tại A” bao gồm chấm dứt sự tồn tại và sở liên doanh của A với B
A ban đầu và bộ phận sáp hình thành nên C A và B vẫn tồn tại
nhập từ B
Sáp nhập cần được phân biệt với liên doanh Liên doanh giữa các doanh nghiệp
là việc hai hay nhiều doanh nghiệp cùng góp một phần tài sản, quyền lợi và nghĩa vụhợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới Nghĩa là nếu doanh nghiệp A
và doanh nghiệp B liên doanh với nhau hình thành một doanh nghiệp C thì sau khi liêndoanh có thể vẫn có sự tồn tại của cả ba doanh nghiệp A, B và C
Tại Việt Nam, khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp được quy địnhtại Luật doanh nghiệp 2005 như sau:
Trang 14Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là
công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công tyhợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp phápsang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất
(Điều 152)
Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là
công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công tynhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợppháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nhập (Điều 153)
Khái niệm hai công ty cùng loại trong hai điều luật trên được hiểu là các công
ty cùng loại hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Như vậy điều kiện tiênquyết để có một vụ sáp nhập hay hợp nhất là hai doanh nghiệp phải cùng loại hình
và có sự chấm dứt hoạt động của cả một hoặc tất cả các bên tham gia
Trong Luật doanh nghiệp không đề cập đến mua lại doanh nghiệp Trong khi
đó, điều 17, Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 03/12/2004, định nghĩa mua lại là “việc một
doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.
Cũng tại điều 17 Luật cạnh tranh, sáp nhập doanh nghiệp là “việc một hoặc một số
doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” Còn hợp nhất doanh nghiệp là "việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”.
Đối với ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cũng ra thông tư số04/2010/TT-NHNN ngày 11 tháng 02 năm 2010 quy định việc sáp nhập, hợp nhất,mua lại tổ chức tín dụng Cụ thể:
Trang 15Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng
(sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụngkhác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tàisản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồngthời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập;
Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau
đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới(sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sựtồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất;
Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ
chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại) Sau khi mua lại, tổ chức tíndụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại
Như vậy, các hành vi tập trung kinh tế này thể hiện những nội dung đã trìnhbày trên đây của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và ngànhngân hàng nói riêng, bao gồm sự chuyển giao quyền sở hữu gắn liền với thay đổi về
cơ chế kiểm soát và tổ chức quản trị doanh nghiệp
Sự khác nhau giữa mua lại và sáp nhập:
Mặc dù mua lại và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữquốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua lại và sáp nhập vẫn có sựkhác biệt về bản chất
Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặt mình vào vị tríchủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua lại Dưới khía cạnh pháp lý, công
ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu củabên mua không bị ảnh hưởng
Theo nghĩa đen thì sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy
mô, đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ
Trang 16Loại hình này thường được gọi là “sáp nhập ngang bằng” Cổ phiếu của cả hai công
ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành
Tuy nhiên trong thực tế hình thức sáp nhập ngang bằng không diễn ra thườngxuyên do nhiều lý do Một trong những lý do chính là việc truyền tải thông tin racông chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập.Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽcho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng hoạt động này là sáp nhậpngang bằng cho dù về bản chất là hoạt động mua lại Như vậy một thương vụ mualại cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vìlợi ích cho cả hai công ty Nhưng nếu thương vụ đó diễn ra trong sự chống đối, thùnghịch và công ty bị mua không muốn thương vụ diễn ra thì nó sẽ được gọi là một
vụ mua lại Một thương vụ được coi là mua lại hay sáp nhập hoàn toàn phụ thuộcvào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay bị ép buộc thâu tómnhau Mặt khác, nó còn là cách truyền tải thông tin ra bên ngoài cũng như sự nhìnnhận của ban giám đốc, nhân viên và cổ đông công ty
Bản chất của hoạt động M&A:
Về bản chất, M&A là quá trình thanh lọc và khẳng định uy tín của các doanhnghiệp trong cuộc chiến cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường Hoạt độngmua bán và sáp nhập doanh nghiệp có thể được tiếp cận ở các góc độ khác nhau
Xét về tính chất và mức độ tác động của M&A đến sở hữu và kiểm soát doanh
nghiệp, theo Frankel (2005), M&A là giao dịch lớn, hay còn gọi là giao dịch chiếnlược, làm thay đổi bản chất, đường lối hay sự kiểm soát một doanh nghiệp
Xét ở góc độ tổ chức quản trị, hoạt động M&A dẫn tới các quyết định về sự
tồn tại của doanh nghiệp là đối tượng bị mua bán do sự thay đổi về sở hữu và kiểmsoát Quyết định về sự tồn tại của doanh nghiệp bị bán hoàn toàn phụ thuộc vào tỷ lệ
sở hữu doanh nghiệp bị bán và ý đồ chiến lược của bên mua Trong trường hợp cácnhà quản lý hoặc các nhà đầu tư bên ngoài mua lại doanh nghiệp thì doanh nghiệp
bị bán sẽ vẫn tồn tại nhưng với một cơ cấu sở hữu và cơ chế kiểm soát hoàn toànmới Tuy nhiên, sáp nhập doanh nghiệp có thể được thực hiện không thông qua
Trang 17mua bán khi các chủ sở hữu của hai doanh nghiệp đồng thuận về việc hợp nhất haidoanh nghiệp Đây là trường hợp sáp nhập tự nguyện không thông qua thôn tínhquyền sở hữu doanh nghiệp.
Xét ở góc độ tổ chức sản xuất trong nền kinh tế, M&A thể hiện xu hướng tập
trung các nguồn lực của nền kinh tế Hiện tượng này đã được Karl Marx đề cập đếntrong khái niệm "tập trung tư bản" Cạnh tranh và tín dụng là những đòn bẩy mạnhnhất thúc đẩy tập trung tư bản Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện haysáp nhập của các tư bản cá biệt Như vậy, có thể nói sáp nhập là một hình thức thểhiện của tập trung tư bản
Tóm lại, M&A có thể được hiểu là xu hướng tập trung tư bản và xuất hiện mộtcách tất yếu trong nền kinh tế thị trường do tác động của cạnh tranh, hội nhập khuvực và quốc tế Đó là các giao dịch chiến lược làm thay đổi cơ cấu sở hữu doanhnghiệp và do đó dẫn tới sự thay đổi quyền kiểm soát, điều hành doanh nghiệp Tuynhiên, sáp nhập cũng có thể thực hiện bằng cách hợp nhất các doanh nghiệp trên cơ
sở các chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thuận về sự hợp nhất
1.1.2 Các chủ thể tham gia M&A
Cũng giống như bất kỳ giao dịch thị trường nào khác, các giao dịch M&Acũng bao gồm hai nhóm chủ thể chính tham gia là bên bán và bên mua Tuy nhiên,
do đây là các giao dịch về quyền sở hữu doanh nghiệp và có thể tác động đến nhiềunhóm chủ thể khác nhau trong và ngoài doanh nghiệp nên bên cạnh bên mua và bênbán còn có những cá nhân, tổ chức khác nhau liên quan đến hoạt động M&A
Bên mua
Bên mua trong hoạt động M&A thường là tổ chức hoặc một số cá nhân có khảnăng về tài chính Bên mua kỳ vọng rằng việc mua lại và sự cộng hưởng có thể cóđược từ hoạt động kinh doanh hiện tại đối với hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp bị mua lại; sự cộng hưởng này giúp bên mua đạt được lợi ích nhiều hơn sovới khi doanh nghiệp của bên mua và doanh nghiệp bị mua lại hoạt động độc lập.Nhưng bên mua sẽ để doanh nghiệp bị mua lại tiếp tục tồn tại độc lập và quan tâmnhiều hơn đến việc tái cấu trúc doanh nghiệp bị mua lại Việc tái cấu trúc là để cải
Trang 18thiện, gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bị mua lại và sau đó bên muatài chính bán doanh nghiệp đã mua lại với mức giá cao hơn đáng kể so với chi phí
bỏ ra để mua lại và tái cấu trúc doanh nghiệp bị mua lại
Bên bán
Bên bán là bên chuyển giao quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp Bên bán
có thể bán một phần hoặc bán toàn bộ doanh nghiệp Trong trường hợp bán mộtphần, doanh nghiệp của bên bán vẫn tồn tại là một thực thể và tiếp tục hoạt động.Việc bán một phần như vậy là cơ chế tài trợ vốn được bên bán áp dụng để tăng tínhthanh khoản hoặc tăng cường quan hệ giữa doanh nghiệp với bên mua Với bên bán,người đầu tư sáng lập đồng thời là chủ sở hữu thường điều hành công ty trong thờigian dài, sở hữu phần vốn đáng kể Chính vì vậy, họ có tiếng nói đáng kể trong cácgiao dịch M&A Các quyết định của họ có thể thúc đẩy bởi những động cơ khá đadạng, bao gồm cả các động cơ về mặt tài chính (tối đa hóa giá trị tài sản) và phi tàichính (cảm xúc, lòng tự tôn…)
Các nhóm có liên quan
Các nhóm liên quan là các nhóm trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động đến hoạtđộng M&A, hoặc bị tác động bởi giao dịch M&A xuất phát từ việc thay đổi cơ chếkiểm soát, điều hành hoạt động và từ đó tác động đến mối quan hệ giữa doanhnghiệp với các nhóm đó Các nhóm liên quan bên trong bao gồm những người làmviệc trong doanh nghiệp như hội đồng quản trị, ban quản lý điều hành, những ngườiquản lý chuyên môn và bộ phận phát triển các giao dịch chiến lược Các nhóm liênquan bên ngoài có thể kể đến là các khách hàng, các nhà cung cấp, các cơ quanquản lý nhà nước, phương tiện truyền thông đại chúng… Đặc biệt phải kể đến độingũ các nhà tư vấn, ngân hàng đầu tư, kiểm toán viên… trực tiếp hỗ trợ bên mua vàbên bán trong giao dịch M&A
Tóm lại, giao dịch M&A được thực hiện với sự tham gia đồng thời của bênbán và bên mua và có liên quan tới nhiều nhóm khác nhau, cả bên trong và bênngoài doanh nghiệp Chính vì vậy, giao dịch M&A không chỉ là quá trình chuyển
Trang 19nhượng quyền sở hữu doanh nghiệp đơn thuần giữa bên mua và bên bán mà cònchịu tác động từ nhiều phía khác nhau.
1.2 Phân loại hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Hoạt động M&A có thể được phân loại dựa trên những căn cứ khác nhau tùytheo cách tiếp cận khác nhau
Căn cứ vào chủ thể tham gia mua bán chia thành 2 loại là M&A bên trong
và bên ngoài.
Doanh nghiệp cũng có thể bị mua lại bởi chính các nhà lãnh đạo doanhnghiệp Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể không sở hữu hoặc chỉ sở hữu mộtphần vốn của doanh nghiệp Họ có thể là những người nắm giữ thông tin về tiềmnăng phát triển của doanh nghiệp, các cơ hội thị trường có thể có đối với doanhnghiệp… và có tham vọng chi phối hoạt động của doanh nghiệp Việc mua lại nhưvậy sẽ giúp các nhà lãnh đạo có thêm quyền sở hữu để kiểm soát và chi phối hoạtđộng của doanh nghiệp Đứng sau việc mua lại của các nhà lãnh đạo doanh nghiệpthường là các ngân hàng, tổ chức tài chính cùng với những ràng buộc đối với cácnhà lãnh đạo nhận tài trợ của họ Các nhà đầu tư bên ngoài cũng có thể tìm cáchmua lại doanh nghiệp để nắm quyền kiểm soát và chi phối hoạt động của doanhnghiệp theo ý đồ của mình Khi doanh nghiệp được mua lại bởi các nhà lãnh đạodoanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư bên ngoài, doanh nghiệp sẽ vẫn tiếp tục hoạtđộng nhưng với một cơ cấu sở hữu mới và tất nhiên, cơ chế kiểm soát và điều hànhhoạt động của doanh nghiệp cũng bị thay đổi
Căn cứ vào mối liên kết giữa các bên liên quan, hoạt động M&A có thể phân loại thành 3 nhóm.
M&A theo chiều ngang: là sự kết hợp giữa hai doanh nghiệp kinh doanh và
cùng cạnh tranh trực tiếp về một dòng sản phẩm, dịch vụ trong cùng một thị trường.Kết quả của giao dịch theo hình thức này sẽ mang lại cho bên sáp nhập nhiều lợi íchnhư cơ hội mở rộng thị trường, tăng cường hiệu quả hệ thống phân phối, giảm bớtđối thủ cạnh tranh, tận dụng nguồn lực con người, công nghệ Hình thức M&A
Trang 20theo chiều ngang tập trung năng lực sản xuất của các doanh nghiệp khác nhau vàomột doanh nghiệp và do đó mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp đi sáp nhập.
M&A theo chiều dọc là giao dịch M&A giữa các doanh nghiệp hoạt động tại
các khâu khác nhau trong cùng một lĩnh vực dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặcphía sau của doanh nghiệp sáp nhập trên một chuỗi giá trị đó Đó là khi doanhnghiệp tìm cách kiểm soát các nguồn cung cấp đầu vào hoặc các kênh phân phốiđầu ra thông qua việc mua lại, sáp nhập để nhận được phần giá trị gia tăng nhiềuhơn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nằm dưới sự kiểm soát, chi phối củamình Hình thức sáp nhập này được chia thành hai nhóm nhỏ: (i) Sáp nhập tiến(forward): trường hợp này xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp kháchhàng của mình; (ii) Sáp nhập lùi (backward): trường hợp này xảy ra khi một doanhnghiệp mua lại nhà cung cấp của mình Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho doanhnghiệp tiến hành hợp nhất lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hànghoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu racủa đối thủ cạnh tranh
M&A kết hợp: là giao dịch M&A diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động ở
các lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề không liên quan với nhau Các công ty nàykhông phải là đối thủ của nhau, và họ cũng không có mối liên hệ mua bán nào Lợiích của hoạt động M&A loại này là giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, tiết kiệm chiphí gia nhập thị trường và lợi nhuận gia tăng nhờ có nhiều sản phẩm, dịch vụ
Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp bán hay bị sáp nhập chia thành M&A từng phần và toàn phần.
M&A từng phần xảy ra khi đối tượng của hoạt động M&A là một phầndoanh nghiệp của bên bán Hình thức này không làm thay đổi sự tồn tại về mặt pháp
lý của bên bán và bên mua
M&A toàn phần xảy ra khi đối tượng của hoạt động M&A là toàn bộ doanhnghiệp của bên bán Trong trường hợp này, bên mua sẽ nhận chuyển giao toàn bộquyền sở hữu đối với doanh nghiệp được mua lại và định đoạt sự tồn tại về mặtpháp lý đối với doanh nghiệp này
Trang 21Ngoài ra, giao dịch M&A có thể nhằm mục đích thực hiện chiến lược kinhdoanh của các bên tham gia giao dịch Khi bên bán muốn rút lui khỏi một lĩnh vựchoạt động kinh doanh nào đó để tập trung nguồn lực cho các hoạt động kinh doanhtrọng tâm hoặc vì hoạt động kinh doanh đó không đạt hiệu quả như kỳ vọng banđầu, bên bán có thể chào bán bộ phận kinh doanh đó cho những nhà đầu tư muốnthâm nhập vào lĩnh vực kinh doanh này một cách ngắn nhất thông qua mua lại Tuynhiên, giao dịch M&A có thể được thực hiện nhằm mục đích tài chính Bên bán cóthể cải thiện thực trạng tài chính của mình thông qua việc bán bớt một số bộ phậnkinh doanh nhằm cải thiện khả năng thanh toán Bên mua cũng có thể mua lại, táicấu trúc hoạt động kinh doanh đã mua lại và sau đó bán bộ phận kinh doanh đónhằm mục đích thu lợi nhuận.
Việc tham gia giao dịch M&A có thể xuất phát từ mong muốn của cả hai bênmang tính chất tự nguyện và cả hai bên đều nhìn nhận giao dịch M&A mang lại lợiích cho mình Tuy nhiên, giao dịch M&A có thể mang tính thù địch khi bên muatìm cách thâu tóm một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp của bên bán
Tóm lại, giao dịch M&A có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau vàđiều đó cho thấy hoạt động M&A không đơn giản chỉ là sự chuyển giao quyền sởhữu và kiểm soát điều hành doanh nghiệp
1.3 Tác động của M&A
1.3.1 Tác động tích cực
a Đối với doanh nghiệp thực hiện M&A
Lợi ích của M&A có thể được xem xét từ góc độ của bên bán và bên mua Nóichung, các bên sẽ cân nhắc khi tham gia vào hoạt động M&A nếu họ thấy rằng hoạtđộng đó sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng năng lực hoạt động hơn so với trước đó vàlượng giá trị mang lại từ việc M&A là lớn hơn Giao dịch M&A sẽ chỉ được lựachọn khi lợi ích mang lại từ sáp nhập lớn hơn các chi phí giao dịch Cụ thể nhữnglợi ích đó là:
Trang 22Tăng hiệu quả vận hành: Hoạt động M&A chủ yếu để tăng hiệu quả vận
hành của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động M&A sẽ cónhiều biện pháp để giảm hoặc hạn chế các bộ phận giống nhau hoặc các chức năngchồng chéo nhau, kém hiệu quả Việc giảm thiểu vị trí công việc, tinh giảm nhân sựcũng đồng thời với việc đòi hỏi tăng năng suất lao động Thêm vào đó, thông quaviệc hoạt động M&A, doanh nghiệp mới có thể tận dụng công nghệ, thị phần, cácmối quan hệ khách hàng của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh
Tận dụng đƣợc lợi thế nhờ quy mô: Hai hay nhiều doanh nghiệp M&A với
nhau sẽ tạo nên quy mô lớn hơn về vốn, con người, hệ thống phân phối… Mộtdoanh nghiệp lớn lúc nào cũng có ưu thế hơn khi giao dịch với các đối tác, kể cảmua văn phòng phẩm hay một hệ thống công nghệ thông tin phức tạp thì công tylớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ Mặt khác, quy mô lớncũng giúp giảm thiểu chi phí vì khi quy mô lớn hơn dẫn đến chi phí trung bình đơn
vị sản phẩm đầu ra nhỏ hơn
Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ: Các công ty cũng tiến hành mua lại các
công ty khác có các sản phẩm, dịch vụ bổ sung nhằm mục đích đa dạng hoá các sảnphẩm và dịch vụ của mình Bằng cách tăng thêm các lựa chọn đối với hàng hoá vàdịch vụ mà công ty cung cấp cho các khách hàng tiêu dùng hiện tại, các nhà quản trị
có thể tạo ra nhiều doanh thu hơn cho công ty của mình
Tận dụng đƣợc hệ thống khách hàng: Mỗi doanh nghiệp sẽ tạo ra đặc thù
kinh doanh riêng, đối tượng khách hàng mục tiêu riêng Sau quá trình hoạt độngcũng xây dựng được một hệ thống khách hàng riêng của mình Doanh nghiệp sauM&A sẽ được kế thừa hệ thống khách hàng của hai doanh nghiệp trước M&A, từ
đó khách hàng sẽ được cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ mà trước đây doanhnghiệp không có, làm gia tăng sự gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp đồngthời làm tăng nguồn thu nhập cho doanh nghiệp
Thu hút nhân sự giỏi: nói chung sáp nhập doanh nghiệp thường có khuynh
hướng giảm việc làm Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián
Trang 23tiếp, ví dụ các công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing… Việc giảmthiểu vị trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động Đây cũng
là dịp tốt để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả, chọn lọcđược đội ngũ nhân sự mới tiềm năng và đầy năng lực, có thể thực hiện các chiếnlược kinh doanh mới, những lĩnh vực, sản phẩm dịch vụ mà trước đây do thiếu nhân
sự giỏi nên không thực hiện được Từ đó tạo nên sức mạnh riêng có của doanhnghiệp sau M&A, hiệu quả hoạt động tăng trưởng rõ nét, gia tăng khả năng theođuổi mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
Trang bị công nghệ mới: Để duy trì cạnh tranh, các công ty luôn cần vị trí
đỉnh cao của phát triển kỹ thuật và công nghệ Việc mua lại thường giúp công ty cóđược con đường ngắn hơn để tiếp cận với những công nghệ hoặc sản phẩm mới.Thông qua việc M&A, công ty mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợithế cạnh tranh Ngoài ra nguồn vốn dồi dào cũng là một trong những điều kiệnthuận lợi để doanh nghiệp sau M&A có khả năng trang bị những công nghệ hiện đạiphục vụ cho công việc kinh doanh của mình
Thâm nhập thị trường: Muốn thâm nhập vào một thị trường mới và sản xuất một dòng sản phẩm mới mà doanh nghiệp không hoàn toàn nắm bắt được
phương pháp sản xuất sản phẩm, cách nhanh nhất là sáp nhập với một doanh nghiệpđang hoạt động trên thị trường có dòng sản phẩm đó Như thế có thể rút ngắn quátrình phát triển tuần tự và giảm rủi ro Mặt khác, nếu thành lập doanh nghiệp mới cóthể làm tăng số lượng nhà cung ứng tăng cạnh tranh, thậm chí gây ra “chiến tranh vềgiá” khiến lợi nhuận doanh nghiệp giảm Mặt khác, sáp nhập cũng giúp doanhnghiệp nhận sáp nhập tận dụng chất xám, kỹ thuật của doanh nghiệp kia Doanhnghiệp mua sẽ sử dụng các kỹ năng quản lý chuyên nghiệp và kinh nghiệm củamình để phát huy thế mạnh kỹ thuật sản xuất sản phẩm Đối với cả hai bên, việc sápnhập thành một sẽ có lợi hơn là đứng riêng lẻ
Mở rộng thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu
của mua bán và sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu vàthu nhập Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối.Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt cộng
Trang 24đồng đầu tư: công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn dễ dàng hơnmột công ty nhỏ.
b Đối với nền kinh tế:
Bên cạnh những lợi ích mà M&A mang lại cho hai bên đối tác thì nền kinh tếcũng được hưởng lợi từ hoạt động này, cụ thể:
Hoạt động M&A sẽ góp phần thực hiện phương châm đa dạng hóa đối tác đầu
tư và hình thức đầu tư Hoạt động M&A góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấukinh tế theo yêu cầu phát triển của đất nước, đồng thời tạo điều kiện giải quyết việclàm cho người lao động khi doanh nghiệp mục tiêu đang trên bờ vực phá sản và giữvững hệ thống thị trường tài chính quốc gia Nhà nước và Chính phủ sẽ yên tâm hơn
và không mất nhiều nguồn lực để khắc phục những hậu quả từ việc phá sản doanhnghiệp, nhất là các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính – ngân hàng Bên cạnh đóhoạt động M&A còn giúp tăng năng lực hoạt động và sức mạnh cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế
1.3.2 Tác động tiêu cực
a Đối với doanh nghiệp thực hiện M&A
Trên thực tế không dễ dàng để đạt được sự cộng hưởng khi hai công ty sápnhập Đương nhiên khi hai công ty sáp nhập dễ nhìn thấy khả năng đạt được lợi thếquy mô nhưng đôi khi nó lại có hiệu ứng ngược lại Nguyên nhân có thể do hai bênkhông tìm hiểu và đàm phán kỹ trong quá trình M&A dẫn đến những hậu quả khôngmong muốn hậu mua bán và sáp nhập như:
Doanh nghiệp thành viên có thể mất thương hiệu sau M&A: đặc biệt là
các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, thương hiệu là một tài sản vô cùng quýgiá, nó tạo nên một phần rất lớn giá trị trong tổng giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên,vấn đề này lại thường bị bỏ qua khi định giá giá trị doanh nghiệp Công ty đề nghịmua lại thường cân nhắc kỹ lưỡng các tài sản hữu hình (nhà xưởng, trang thiết bị…)
và các dạng thức cụ thể của tài sản vô hình (quyền hợp đồng, bằng sáng chế) củacông ty mục tiêu Tuy nhiên, những tài sản vô hình dựa trên mối quan hệ thường bịxem nhẹ như khách hàng và thiện chí của nhân viên – những mối quan hệ quan
Trang 25trọng mà ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi hình ảnh thương hiệu Sau khi M&A,dưới tác động của sự pha trộn văn hóa giữa hai doanh nghiệp, những mối quan hệnhạy cảm trên dễ bị ảnh hưởng và kết quả là thương hiệu của doanh nghiệp thànhviên có thể bị mất.
Quyền lợi của các cổ đông thiểu số bị ảnh hưởng: Trong quá trình M&A,
các quyền và ý kiến của cổ đông thiểu số có thể bị bỏ qua bởi số phiếu của họkhông đủ để phủ quyết trong Đại hội đồng cổ đông Nếu họ không đồng ý với việcM&A, họ có thể bán cổ phiếu của mình đi nhưng trong trường hợp này họ cũng sẽ
bị thiệt do giá cổ phiếu vào thời điểm thương vụ M&A sắp hoàn tất sẽ thấp hơn sovới thời điểm mới có thông tin của vụ M&A Nếu họ tiếp tục nắm giữ thì tỷ lệquyền biểu quyết của họ trên tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết sẽ nhỏ hơn trướcbởi vì sau khi M&A, vốn điều lệ của doanh nghiệp sẽ tăng lên do đó tổng số quyềnbiểu quyết sẽ lớn hơn trước Những cổ đông này càng ít có cơ hội hơn trong việc thểhiện ý kiến của mình trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
Xung đột mâu thuẫn của các cổ đông lớn: Sau khi M&A doanh nghiệp sẽ
hoạt động với vốn cổ phần lớn hơn, những cổ đông lớn của doanh nghiệp M&A cóthể sẽ mất quyền kiểm soát doanh nghiệp như trước do tỷ lệ biểu quyết trên tổng số
cổ phần có quyền biểu quyết bị giảm so với trước Ý kiến của họ trong Đại hội đồng
cổ đông không còn như trước nữa Vì thế các cổ đông lớn sẽ tìm cách liên kết vớinhau để tạo nên thế lực của mình lớn hơn nhằm kiểm soát doanh nghiệp sau M&A.Các cổ đông lớn đến từ những doanh nghiệp khác nhau, họ chưa cùng hợp tác vớinhau nên sự bất đồng quan điểm rất dễ xảy ra do lợi ích bị đụng chạm Nhiều khi họ
có thể đi ngược lại lợi ích của số đông các cổ đông nhằm mang lại lợi ích cho bảnthân mình Trong thực tế, sự mâu thuẫn và bất đồng quan điểm trong điều hànhdoanh nghiệp M&A đã dẫn đến kết quả một số cổ đông lớn phải lựa chọn từ bỏdoanh nghiệp hoặc bị loại bỏ khỏi doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp bị pha trộn: Văn hóa doanh nghiệp là một thực thể
trừu tượng và vô hình, thể hiện những đặc trưng riêng có của mỗi doanh nghiệp, thểhiện những đặc điểm khác biệt so với những doanh nghiệp khác như môi trườnglàm việc của doanh nghiệp, cách đối xử giữa lãnh đạo với nhân viên và giữa các
Trang 26nhân viên với nhau, hành vi ứng xử của nhân viên với khách hàng… Do vậy, vănhóa doanh nghiệp cũng là một trong những điểm tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp Văn hóa doanh nghiệp được tạo nên qua thời gian, được hình thành dựa trênnhững giá trị cốt lõi của doanh nghiệp Khi sáp nhập hai hay nhiều doanh nghiệp lạivới nhau, những nét đặc trưng của doanh nghiệp được tập hợp lại trong một điềukiện mới, bị pha trộn với nhau Sẽ là không đơn giản để đội ngũ nhân viên và kháchhàng có thể nhanh chóng quen với những nét văn hóa doanh nghiệp đã bị pha trộnnày Trong nhiều trường hợp vì không hòa nhập được văn hóa doanh nghiệp hậuM&A mà nhiều thương vụ M&A trên thế giới đã bị thất bại.
Do đó việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành nhữngthương vụ M&A rất quan trọng Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ
ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giádoanh nghiệp
b Đối với nền kinh tế:
Đó là những hậu quả của M&A đối với doanh nghiệp thành viên tham gia,còn đối với nền kinh tế, M&A có thể mang lại những kết quả tiêu cực như sau:
- Nếu như không có sự quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan quản lý thị trường thìđộc quyền là một hậu quả không thể tránh khỏi Về lý thuyết, một doanh nghiệp hoặcmột nhóm doanh nghiệp nắm từ 25% thị phần trở lên đã có thể có những hành
vi mang tính độc quyền đối với toàn thị trường như: tăng giá, áp dụng các loại phí dịch vụ quá cao…
- Một số doanh nghiệp lợi dụng việc mua bán và sáp nhập để trốn thuế, sauthời gian được miễn giảm thuế, họ sẽ tuyên bố giải thể và sáp nhập vào doanh nghiệpkhác
- Sau khi sáp nhập, doanh nghiệp mới có thể sẽ tái cấu trúc lại bộ phận nhân
sự của họ, tinh gọn bộ máy làm cho nhiều người lao động bị mất việc, gây ảnh hưởngđến đời sống của công nhân và mang lại khó khăn cho nền kinh tế
- Đối với các thương vụ M&A thất bại đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng, nếu kết quả xấu nhất của nó là doanh nghiệp bị phá sản thì sẽ ảnh hưởng
Trang 27dây chuyền đến hệ thống tài chính ngân hàng trong nước và gây ra những hậu quảtiêu cực cho nền kinh tế.
1.4 Quy trình thực hiện hoạt động M&A
M&A có một quy trình khá phức tạp với nhiều giai đoạn khác nhau Hiện nayvẫn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về số giai đoạn bao nhiêu là hợp lý Tuynhiên, ở đây chúng ta sẽ chia một thương vụ M&A ra thành bốn giai đoạn:
Bảng 1.2: Quá trình diễn ra một thương vụ M&A (Sáp nhập và mua lại)
(Galpin, 1999)
Chiến lược tổng Phân tích công ty
2 công ty
Tiếp cận công ty
mục tiêu
Giai đoạn đầu tiên và thứ hai đề cập tới khoảng thời gian trước khi M&A xảy
ra Thương lượng về giá cả và ký kết hợp đồng sẽ ở giai đoạn thứ ba Và giai đoạncuối cùng, nghiên cứu về những vấn đề hậu M&A, lúc này hợp đồng đã hoàn tất và
sự sát nhập giữa hai công ty diễn ra
a Giai đoạn 1:
Chiến lược tổng quan: Mua bán và sát nhập là một thương vụ kinh tế với rủi
ro cao Trước khi quyết định thực hiện M&A, một công ty cần phải xem xét chiếnlược tổng quan, những mục tiêu cụ thể của công ty trong một tầm nhìn dài hạn –điều này sẽ giúp quản lý các nguồn lực và hoạt động của công ty một cách đồng bộ
và hiệu quả và điều phối các công ty có nhiều dòng kinh doanh khác nhau
Trang 28Về phía doanh nghiệp đang có kế hoạch đi mua lại, hoặc sáp nhập với mộtdoanh nghiệp khác: Sau khi lên kế hoạch và xây dựng chiến lược mua hoặc sápnhập, ban quản trị sẽ lên kế hoạch, lập nhóm phụ trách các công việc của M&A.Nhiệm vụ của nhóm phụ trách này bao gồm: (i) Xác định nguồn lực hiện tại củadoanh nghiệp bao gồm năng lực tài chính, năng lực quản trị…; (ii) Xác định nguồnvốn tài trợ cho hoạt động M&A: phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn hay huy độngvốn vay; (iii) Xác định loại giá trị gia tăng từ mua bán, sáp nhập: Giá trị kiểm soát,giá trị cộng hưởng.
Đối với doanh nghiệp có kế hoạch bán toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp,trong giai đoạn này, nhóm công tác chịu trách nhiệm về hoạt động M&A sẽ xâydựng kế hoạch để thực hiện công việc bao gồm chiến lược bán, quy trình bán, thờigian thực hiện bán Việc chuẩn bị tài liệu chào bán cũng được thực hiện trong giaiđoạn này Tài liệu chào bán bao gồm các nội dung bản tóm tắt về doanh nghiệp; sảnphẩm, dịch vụ của doanh nghiệp; đội ngũ quản lý doanh nghiệp; thông tin tài chính.Ngoài ra, giai đoạn này, nhóm cũng tiến hành phân tích, định giá giá trị công ty vàđưa ra danh sách đối tượng khách hàng tiềm năng
Thu thập thông tin:
Trên cơ sở chiến lược đã được xác định rõ ràng, các tiêu chuẩn về doanhnghiệp mục tiêu sẽ được xây dựng làm cơ sở cho việc lựa chọn Nhóm thực hiện cáccông việc M&A sẽ tiến hành tìm kiếm các doanh nghiệp mục tiêu Các công việc
cần thực hiện trong bước này bao gồm: (i) Nhận diện các doanh nghiệp mục tiêu
tiềm năng Việc nhận diện được thực hiện thông qua các tiêu chí như ngành nghề
hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu, doanh số, thị phần, công nghệ, mạng lướiphân phối, vị trí địa lý của doanh nghiệp mục tiêu Từ đó đưa ra một danh sách các
doanh nghiệp mục tiêu tiềm năng; và (ii) Đánh giá các doanh nghiệp mục tiêu tiềm
năng và rút gọn danh sách các doanh nghiệp mục tiêu tiềm năng.
Tiếp cận công ty mục tiêu:
Đối với doanh nghiệp mua trong giai đoạn này, từ danh sách rút gọn, nhómthực hiện M&A của doanh nghiệp sẽ chọn lựa ra công ty mục tiêu và tiếp cận thu
Trang 29thập thêm thông tin, số liệu về doanh nghiệp mục tiêu, trên cơ sở đó tiến hành thựchiện định giá sơ bộ và gửi bản chào mua tới bên bán Sau khi xác định được doanhnghiệp mục tiêu và gửi bản chào mua, doanh nghiệp đi mua sẽ thực hiện đàm phán
và thỏa thuận một số vấn đề sơ bộ với nhau Các thỏa thuận này liên quan đếnphương thức hành xử của các bên trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán, tuynhiên cũng có một số sẽ trở thành thỏa thuận mua bán cuối cùng Hầu hết các thỏathuận này không mang tính ràng buộc Các thỏa thuận phổ biến nhất trong giai đoạnnày là là thỏa thuận bí mật về thông tin thương vụ M&A giữa bên mua và bên bán
và thỏa thuận nguyên tắc về những vấn đề đã thống nhất và dự kiến sẽ thực hiện.Đối với doanh nghiệp bán trong giai đoạn này sẽ tiến hành thực hiện chiến dịchmarketing cho doanh nghiệp chuẩn bị bán thông qua tổ chức các buổi hội thảo, giớithiệu về tiềm năng của doanh nghiệp cho các nhà đầu tư tiềm năng, đồng thời phân phátbản chào bán, cùng bên mua tiềm năng sắp xếp các cuộc gặp ban đầu Trên cơ sở đó,nhóm công tác sẽ tiến hành lựa chọn các bên mua tiềm năng khi các doanh nghiệp nàynăng đưa ra các bản chào mua cũng như cách thức thực hiện giao dịch
Cách tiếp cận ban đầu góp phần tạo ra ấn tượng cho lần đàm phán tiếp theo.Đây là một trong những giai đoạn khó khăn Lúc đầu sẽ có những phản ứng rất khácnhau từ phía các công ty, thân thiện hay ngược lại, trước khi đi đến đàm phán cuốicùng
b Giai đoạn 2: Phân tích công ty – due diligence:
Lúc này sẽ diễn ra những phân tích, nghiên cứu đầy đủ về công ty mục tiêu
“Due diligence” – Thẩm định chi tiết sẽ tập trung vào những rủi ro của công ty mụctiêu và những điều này sẽ có ích trên bàn đàm phán Đây là giai đoạn đặc biệt quantrọng đối với người mua, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của thương vụM&A Khi tiến hành cần xem xét kỹ doanh nghiệp mục tiêu trên tất cả các phươngdiện, đó là:
- Những vấn đề tài chính: Trong bước này cần xem xét các báo cáo tài chính
và các bản khai thuế của doanh nghiệp trong vòng 3-5 năm, để đánh giá được tình trạng tài chính hiện tại và xu hướng trong tương lai Những số liệu này phải được
Trang 30kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập có uy tín Đánh giá tình hình tài chínhdoanh nghiệp mục tiêu trên nhiều khía cạnh, chỉ tiêu như: mức độ lành mạnh; sựphù hợp giữa các báo cáo tài chính và các bản khai thuế; tỷ suất vận hành và bánhàng của doanh nghiệp trong tương quan với mức trung bình của ngành kinh doanhđó;… Các số liệu này cho phép định giá giá trị thực của doanh nghiệp mục tiêu.
Định giá doanh nghiệp là bước cơ bản để xác định một mức giá giao dịch để
đàm phán giữa bên mua và bên bán Trong quá trình thực hiện một hoạt động M&A, cảbên mua và bên bán đều mong muốn đưa ra mức giá có lợi nhất cho mình Do đó, việcđiều tra khảo sát kỹ lưỡng về doanh nghiệp mục tiêu để có những đánh giá chính xác vềdoanh nghiệp cũng như giá trị tăng thêm khi thâu tóm, sáp nhập, từ đó xác định mứcgiá giao dịch của 2 bên là một trong những công đoạn quan trọng nhất, quyết định sựthành công của một hoạt động M&A Nhiệm vụ của người làm công tác định giá trongmột hoạt động M&A bao gồm: (i) định giá doanh nghiệp mục tiêu nguyên trạng; (ii)định giá những những giá trị gia tăng có được từ sự thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệpnhư giá trị cộng hưởng, giá trị của kiểm soát; (iii) xác định các chi phí liên quan đếnthương vụ mua bán, sáp nhập: Chi phí này bao gồm các chi phí liên quan đến thực hiệnthương vụ M&A như chi phí thuê tư vấn, chi phí kiểm toán; (iv) xác định mức giá trảcho mỗi cổ phần của cổ đông doanh nghiệp bán
Một số nguyên tắc cơ bản khi tiến hành định giá doanh nghiệp:
Mỗi người mua tiềm năng sẽ định giá doanh nghiệp theo một cách khác nhau
Một mức giá duy nhất sẽ loại trừ một số người mua tiềm năng và không được đảm bảo chắc chắn sẽ là mức giá tối đa thu được
Hình thức đấu giá được cho là cách tốt nhất để có được giá bán tối đa
Không có cách định giá nào là tối ưu, nó chỉ phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp cụ thể với từng mục đích cụ thế của người mua – người bán
Để có thể đưa ra được một mức giá công bằng và được hai bên chấp nhận,người ta đưa ra nhiều phương pháp để định giá các doanh nghiệp, cả định giá tài sảnhữu hình và định giá tài sản vô hình, trong đó có các phương pháp định giá tiêu
Trang 31biểu: Phương pháp định giá dựa vào lợi nhuận tương lai (Hay Phương pháp dòngtiền chiết khấu), Phương pháp định giá dựa trên cơ sở thị trường (có 3 phương phápnhỏ được sử dụng hiện nay, gồm: (i) Phương pháp giá trị tài sản thực (Net AssetValue Method); (ii) Phương pháp chi phí thay thế; (iii) Phương pháp lợi nhuậnthặng dư), Phương pháp so sánh các chỉ tiêu tài chính cơ bản với các công ty tươngtự… Mỗi phương pháp định giá doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm đặcthù Không có phương pháp nào là tối ưu, việc lựa chọn kết hợp các phương phápphụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, mục đích của người mua – người bán, trình
độ và kinh nghiệm của chuyên gia thẩm định… mục đích cuối cùng là để người bán
và người mua xác định gần chính xác nhất giá trị thực tế của doanh nghiệp, hạn chếrủi ro cố hữu của từng phương pháp định giá, và sau đó dựa trên mức giá sơ bộ này
để tiến hành những vòng đàm phán tiếp theo
- Quy trình hoạt động: Quy trình vận hành sản phẩm và dịch vụ của doanh
nghiệp cho biết doanh nghiệp kiếm lời như thế nào Việc hiểu rõ quy trình hoạt động là điềuthen chốt để xác định xem liệu doanh nghiệp mục tiêu có thể sáp nhập với doanh nghiệp bênmua hay không và việc hợp nhất này cần được tiến hành như thế nào Công việc thẩm địnhchi tiết đối với quy trình hoạt động thường đòi hỏi bên mua phải trực tiếp xác minh Nhânviên thẩm định phải trực tiếp xuống các nhà máy, trung tâm dịch vụ, các cơ sở khác củadoanh nghiệp mua để xem xét quy trình hoạt động để giúp cho bên mua có cái nhìn cơ bản,tốt hơn về bên bán và hoạt động của nó
- Đội ngũ nhân viên: Xác định tầm quan trọng của đội ngũ nhân viên đối với
sự thành công của doanh nghiệp, bao gồm: xem xét thói quen làm việc của nhân
viên; xác định nhóm nhân viên then chốt và thời gian làm việc của các nhân viênnày; khả năng tiếp tục ở lại làm việc cho công ty sau khi có sự thay đổi chủ sở hữu;hình thức khuyến khích cần thiết để giữ nhân viên chủ chốt; khả năng dễ dàng thaythế nhân viên chủ chốt; mối quan hệ của nhân viên chủ chốt với các khách hàngkhách hàng của công ty…
- Khách hàng: Đây là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp mục tiêu.
Phải bảo đảm là các khách hàng cũng bền vững như những tài sản hữu hình khác củadoanh nghiệp Đánh giá khách hàng trên một số khía cạch chủ yếu sau: mối
Trang 32quan hệ với người chủ hiện thời của doanh nghiệp, lịch sử khách hàng quan hệ vớidoanh nghiệp và mức độ đóng góp của mỗi khách hàng vào lợi nhuận của doanhnghiệp; đánh giá khả năng khách hàng sẽ ra đi hay ở lại khi doanh nghiệp chuyểnsang chủ sở hữu mới; chính sách của doanh nghiệp đối với việc giải quyết các khiếunại, trả lại hàng đã mua, tranh chấp…, mối quan hệ của Người chủ cũ của doanhnghiệp đối với cộng đồng hay ngành kinh doanh….
- Các đối thủ cạnh tranh: Xem xét khía cạnh này để xác định năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp mục tiêu trong ngành kinh doanh Cần trả lời được một sốvấn đề cơ bản: Các đối thủ cạnh tranh là ai và chiến thuật của họ là gì? Trong kinhdoanh có thường xảy ra các cuộc chiến về giá cả không? Gần đây môi trường cạnhtranh đã thay đổi như thế nào? Có đối thủ cạnh tranh nào đã phải bỏ cuộc không?
Lý do tại sao?
- Hình ảnh công ty: Cách thức mà một công ty được công chúng biết đến có
thể là một tài sản đáng kể hoặc một khoản nợ phải trả mà không thể đánh giá được trongbản quyết toán Có rất nhiều yếu tố vô hình cần xem xét khi đánh giá một công ty: cáchthức phục vụ khách hàng, cách thức nhân viên công ty trả lời điện thoại và mức độ hỗ trợcộng đồng hay ngành kinh doanh đó…
- Những vấn đề pháp lý: Khía cạnh pháp lý trong hoạt động M&A này là cơ
sở xác định tình trạng và các rủi ro pháp lý khi đưa ra quyết định mua doanh
nghiệp, bao gồm hai nội dung chính: (1) thẩm định pháp lý đối với thương vụ M&A
và (2) các quy trình, thủ tục và hồ sơ pháp lý để thực hiện thương vụ đó Thẩm định
pháp lý (legal due diligence) thường xoay quanh 4 vấn đề: Một là, các yếu tố liên
quan đến tư cách pháp lý và năng lực của doanh nghiệp mục tiêu Doanh nghiệp
bán phải được hình thành, quản lý và sở hữu một cách hợp pháp và có một đời sốngpháp lý lành mạnh (không là đối tượng của các thủ tục giải thể, phá sản…) Cácquyền và nghĩa vụ pháp lý mà doanh nghiệp mục tiêu đã xác lập là phù hợp với
pháp luật Hai là, các yếu tố liên quan đến tình trạng pháp lý của thương vụ M&A.
Doanh nghiệp nhận sáp nhập, thâu tóm cần hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ pháp lý,chế độ pháp lý đối với các loại tài sản, hợp đồng lao động, hồ sơ đất đai, xây dựng,
đầu tư, hồ sơ dự án… của doanh nghiệp mục tiêu Ba là, các yếu tố liên quan đến
Trang 33tính hợp pháp, hợp lệ của việc thực hiện thương vụ M&A Doanh nghiệp mua cần
đảm bảo rằng, thương vụ M&A đó là được phép và hình thức thực hiện M&A là
phù hợp với pháp luật Bốn là, các yếu tố pháp lý liên quan đến thủ tục tiến hành
giao dịch M&A và những ràng buộc, hạn chế của pháp luật (nếu có).Sau khi thẩm
định kỹ các yếu tố pháp lý, doanh nghiệp mua phải quan tâm đến quy trình, thủ tục
và hồ sơ pháp lý để thực hiện giao dịch M&A theo đúng chuẩn mực và quy định củapháp luật Việc nắm rõ quy trình, thủ tục và hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý là điềukiện quan trọng để các giao dịch M&A diễn ra suôn sẻ và cũng là điều kiện đểthương vụ M&A được công nhận tính hợp pháp và hợp lệ
c Bước 3: Đàm phán những thỏa thuận cuối cùng và ký hợp đồng
Trong giai đoạn này, cả hai bên sẽ tiến hành rà soát lại tất cả các yếu tố liênquan đến hợp đồng như tính pháp lý, phương thức thanh toán…, đồng thời đàmphán lại những điều khoản còn vướng mắc trong hợp đồng để thống nhất giữa bênbán và bên mua Sau đó, hoàn chỉnh lại và ký kết hợp đồng Cả bên mua và bên bán
sẽ tham gia ký kết hợp đồng mua bán Nội dung của hợp đồng này quy định đầy đủcác điều khoản cơ bản liên quan đến giao dịch M&A, như vấn đề tài chính, cơ cấucủa giao dịch, lợi ích, sự ràng buộc riêng biệt của doanh nghiệp, các vấn đề sau khigiao dịch M&A, vấn đề hoàn tất thủ tục pháp lý Nếu hợp đồng mua bán giữa haibên không chặt chẽ sẽ phát sinh những mâu thuẫn nội tại ngay bên trong khi quátrình M&A kết thúc
Hậu M&A và quá trình hợp nhất 2 công ty
Sau khi hoàn tất hoạt động M&A, các doanh nghiệp cần chú ý về (i) chiếnlược kinh doanh, (ii) cấu trúc lại tổ chức cho phù hợp với chiến lược kinh doanh,(iii) văn hóa doanh nghiệp, và (iv) một số yếu tố khác để đảm bảo cho doanh nghiệpmới được vận hành ổn định
Các vấn đề trước và sau khi M&A phải xuyên suốt và trở thành một chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần xem lại chiến lược kinh doanh để thấy thế mạnh của mình ở đâu; doanh nghiệp cần tái xác định tầm nhìn,
sứ mệnh và chiến lược kinh doanh; đánh giá lại tính khả thi của chiến lược kinh
Trang 34doanh dựa trên các yếu tố: tình hình vĩ mô, sự phát triển của ngành, các yếu tố thịtrường Bên cạnh đó, giai đoạn hòa nhập bước đầu sau khi kết thúc thương vụ mualại, sáp nhập, doanh nghiệp cần xem xét lại chiến lược và kế hoạch kinh doanh đểđiều chỉnh cho phù hợp.
Vấn đề cấu trúc tổ chức và nhân sự cũng là vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý
khi tiến hành M&A Doanh nghiệp cần chú trọng vào sự cải tiến và hoàn thiện của
tổ chức nhằm đáp ứng cao nhất yêu cầu phát triển kinh doanh, hướng tới sự bềnvững Ngoài ra, vấn đề nhân sự giữ lại hậu sáp nhập phải được đưa vào hợp đồngmua bán Đây là cam kết đối với nhân sự cao cấp trong công ty để họ yên tâm làmviệc sau M&A Hiện nay, các công ty ở nhiều nước trên thế giới đang bị lệ thuộc rấtnhiều vào nhân tài Hơn bao giờ hết, cuộc đua thu hút và giữ nhân tài giữa các công
ty đang diễn ra ngày càng khắc nghiệt Trong cuộc cạnh tranh đó, những công tymất nhân tài sẽ có nguy cơ bị mất cả thị phần, lợi nhuận, khách hàng trung thành.Thử thách lớn nhất mà các công ty thường phải đương đầu trong cuộc đua này làxây dựng cho được chiến lược thu hút và giữ nhân tài đúng đắn Một số công tykhông xác định đúng tầm quan trọng của nhà lãnh đạo như một nhân tố có tínhquyết định đối với việc thu hút và giữ nhân tài Một điều khá rõ ràng trên thực tế làcác nhân tài thường bị thu hút đến những công ty lớn và ở lại làm việc lâu dài nếunhững công ty này có những công việc thú vị và một ông sếp tuyệt vời
Thích nghi văn hóa doanh nghiệp sau M&A cần được quan tâm đúng mức,
đây là yếu tố tác động đến năng lực tổ chức và thực hiện kế hoạch Điều này đòi hỏikhi thực hiện giao dịch M&A, doanh nghiệp cần giới thiệu với đối tác, đặc biệt làcác đối tác nước ngoài, về giá trị Để tránh các xung đột về văn hóa, doanh nghiệpcần có bảng mô tả công việc rõ ràng ứng với từng vị trí Trong bảng mô tả côngviệc, cần quy định rõ theo thứ tự ưu tiên các yêu cầu bắt buộc phải có, cần có và nên
có đối với ứng viên Những yêu cầu này không chỉ bao gồm năng lực chuyên môn
mà quan trọng hơn còn là hành vi, thái độ sống, quan niệm, động lực của ứngviên Làm được bước này, doanh nghiệp sẽ chọn lọc được nhân viên phù hợp ngay
từ khâu tuyển dụng, thu hút đúng người, tránh tình trạng nhân viên vào thử việc sauvài tháng lại thấy không phù hợp phải nhảy việc
Trang 35Ngoài ra, cần rà soát và theo dõi các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu trong quátrình phát triển hậu M&A như sản lượng, doanh số, thị phần, hệ thống phân phối,thương hiệu, chi phí, lợi nhuận.
1.5 Phương thức thanh toán trong hoạt động M&A
1.5.1 Các phương thức thanh toán trong hoạt động M&A
Lựa chọn phương thức thanh toán rất quan trọng trong các hoạt động M &A.Trong đó, các hình thức thanh toán phổbiến là bằng tiền mặt , hoán đổi cổphiếuhoặc kết hợp cả 2
Thanh toán bằng tiền mặt là hình thức chủ yếu trong các giao dịch M &A tại
ViêṭNam trong những năm qua Bởi lẽ, bên thâu tóm đa phần là các quỹ đầu tư tài chính mua môṭphần công ty mục tiêu , hoặc các công ty trong nước và nước ngoài
có sẵn hoặc có khả năng huy đông ̣ nguồn tiền mặt đểmua môṭphần hoặc mua toàn
bô ̣công ty mục tiêu Trong khi đó, bên bán muốn tìm đối t ác chiến lược hoặc thoáivốn thông qua bán môṭphần hoặc toàn bô ̣doanh nghiêp ̣ dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt Hình thức trên giúp giao dịch M &A có thể nhanh chóng được hoàn tất, đặc biệt là giao dịch có cấu trúc đơn giản
Hoán đổi cổphi ếu, hoặc kết hợp giữa tiền mặt và cổphiếu là phương thức giao
dịch được ưa chuộng tại các quốc gia phát triển Hình thức hoán đổi cổphiếu được
áp dụng trong các giao dịch M &A mà các bên muốn được chia sẻ lợi ích và rủi ro của viêc ̣ hợp nhất, hoặc trong trường hợp 2 doanh nghiêp ̣ hợp nhất có quy mô tươngđương
Tại ViêṭNam, giao dịch M&A thông qua hoán đổi cổphiếu chỉ mới xuất hiêṇtrong hơn 1 năm trở lại đây Chẳng hạn, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 phát hành một
số cổ phiếu để đổi 100% lượng cổ phiếu đang lưu hành của Công ty Xi măng HàTiên 2 theo tỉ lệ 1:1 Hay Công ty Cổ phần Mirae Fiber (KMF) sáp nhập vào Công
ty Cổ phần Mirae (KMR) theo hình thức KMR mua lại 100% vốn của KMF thôngqua việc phát hành thêm cổ phiếu với tỉ lệ chuyển đổi 1:1,35 Tuy nhiên, các công
ty trong 2 giao dịch trên đều là có cùng cổ đông chi phối , nên việc chuyển đổi cổ
Trang 36phiếu cũng dễ dàng Nếu không có yếu tốthuâṇ lợi này , giao dịch M &A tại Viêṭ Nam vâñ chủ yếu bằng tiền mặt
Vềmặt kỹ thuâṭ, việc phát hành thêm cổphiếu đểchuyển đổi cũng như thực hiêṇ các quy định pháp lý tại ViêṭNam không phải là khó Tuy nhiên, trên thực tế, việc hoán đổi cổ phiếu lại không dễ dàng vì nhiều lý do
Thứ nhất, là viêc ̣ xác định tỉ lê ̣hoán đổi cổphiếu dựa trên giá trị doanh nghiêp ̣
của mỗi bên trong giao dịch Không dê ̃đểchấp nhâṇ giá của môṭdoanh nghiêp ̣ khác
và không đơn giản đểthuyết phục đối tác vềgiá của doanh nghiêp ̣ mình đưa ra Thứ
hai, là sự khác biêṭvềchiến lược, quan điểm kinh doanh và văn hóa khi cả 2 bên
cùng trở thành cổđông của công ty hợp nhất Thứ ba, là xuất phát từ hạn chế trong
văn hóa hợp tác cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro khi hoán đổi cổphiếu
Chính khả năng thấp trong viêc ̣ tháo gỡ các khó khăn khi hoán đổi cổphiếu đãlàm hạn chếsố lượng giao dịch M &A thành công tại ViêṭNam Tuy nhiên , khinguồn vốn không cho phép thực hiêṇ các giao dịch M &A bằng tiền mặt và đứngtrước sức ép cạnh tranh trong và ngoài nước cùng với quá trình hợp nhất và phá sảntrong môṭsốngành, hình thức hoán đổi cổphiếu sẽ là lựa chọn khả thi tại ViêṭNamtrong thời gian tới Tiến hành M &A là môṭquyết định rủi ro , đặc biêṭđối với bênthâu tóm Khi thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt , trong trường hợp mua toàn bô ̣công ty, bên bị thâu tóm không còn là cổđông của công ty sau M&A; còn bên thâutóm sẽ hưởng toàn bô ̣lợi ích cũng như rủ i ro trong quá trình M&A Trong khi đó , với hình thức hoán đổi cổphiếu , cổđông của bên bị thâu tó m trở thành cổđông của công ty sau M&A Như vậy , mọi lợi ích cũng như rủi ro sẽ được chia sẻ giữa cổ đông của 2 công ty
1.5.2 Lựa chọn hình thức thanh toán trong hoạt động M&A
Viêc ̣ lựa chọn hình thức thanh toán bị ảnh hưởng bởi kết quả phân tích vềviêc ̣ định giá công ty mục tiêu và khả năng tạo ra giá trị kỳ vọng cho cổđông của công tyhợp nhất Trong trường hợp công ty mục tiêu được xem là đang được định giá cao hơn so với mức giá hợp lý hoặc bên thâu tóm nghi ngờ vềkhả năng thành công của công ty hợp nhất thì bên thâu tóm có xu hướng muốn thực hiện chuyển đổi cổ
Trang 37phiếu đểchia sẻ rủi ro với bên bị thâu tóm Trong trường hợp ngược lại , bên thâutóm sẽ muốn thanh toán cho bên bị thâu tóm bằng tiền mặt Hơn nữa, viêc ̣ có sẵnnguồn tiền đểthực hiêṇ M &A là rất khó, đặc biệt trong bối cảnh huy động vốnkhông dễ.
Ngoài chia sẻ rủi ro , bảo đảm cấu trúc tài chính tối ưu cũng là lý do doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn hình thức thanh toán Nếu chọn thanh toán bằng tiền mặt , liêụ bên thâu tóm có thể huy đông ̣ được môṭlượng v ốn lớn cho thương vụ M &A Sau khi huy động được nguồn vốn này , rủi ro mới cũng phát sinh Bởi lẽ, với tỉ lê ̣ vốn vay trên vốn sở hữu lớn hơn , liêụ công ty hợp nhất còn có thểhuy đông ̣ vốn cho các dự án tiếp theo Đối với các công ty không có nguồ n tiền mặt, viêc ̣ vay vốn để tài trợ cho giao dịch M &A không những làm giảm khả năng huy đông ̣ vốn mà còn gia tăng nguy cơ phá sản hoặc phải cấu trúc lại công ty
1.6 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và kinh
nghiệm cho Việt Nam
1.6.1 Hoạt động M&A trên thế giới:
Hoạt động M&A trên thế giới đã và đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là ở cácnước đang phát triển Một giao dịch thành công có thể đem lại những thay đổi tíchcực và dài hạn cho doanh nghiệp tham gia Tuy nhiên, trên thực tế số thương vụM&A thất bại trên thị trường cũng không ít (Theo số liệu thống kê của Coopers &Lybrand năm 1996 có tới 66% các thương vụ M&A là thất bại, thống kê của ArthurAndersen năm 2000 là 63%, thống kế của KPMG năm 2001 là 31%)
Tại Việt Nam, hoạt động M&A được manh nha hình thành từ sau khủng hoảngtài chính châu Á năm 1997 nên còn khá non trẻ và sơ khai Vì vậy, để có thể tìm ranhững giải pháp cho hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam trước làn sóng M&Amạnh mẽ hiện nay trên thị trường, chúng ta cần tìm hiểu và học hỏi nhiều kinhnghiệm của các thị trường M&A chuyên nghiệp trên thế giới
Hoạt động M&A trên thế giới trải qua với những thăng trầm cùng với sự pháttriển của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của thị trường tài chính thế giới, với 6chu kỳ đỉnh cao tương ứng cho 6 làn sóng hoạt động M&A:
Trang 38Giai đoạn 1895 – 1904: Giai đoạn sáp nhập cho mục đích độc quyền Hoạt
động M&A thời kỳ này diễn ra chủ yếu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh cùng mộtdòng sản phẩm, cùng thị trường với mục đích tạo nên sự độc quyền trong ngành.Vào thời kỳ này, hoạt động M&A chủ yếu diễn ra ở các ngành sản xuất công nghiệp
cơ bản, dầu hỏa, viễn thông
Giai đoạn 1916 – 1929: Giai đoạn sáp nhập với mục đich độc quyền nhóm
bán Làn sóng hoạt động M&A xuất hiện sau kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2 và
mở đầu cho sự phát triển của ngành công nghệ truyền thông Hoạt động M&A tronggiai đoạn này có xu hướng kết hợp giữa các doanh nghiệp nằm trên cùng một chuỗigiá trị, giúp họ kiểm soát tốt các kênh phân phối Điều này làm cho việc mở rộngmạng lưới kinh doanh được phát triển thông qua hệ thống công nghệ truyền thông.Các cuộc sáp nhập chủ yếu xảy ra ở các lĩnh vực mỏ, dầu lửa, thực phẩm, hóa học,ngân hàng, ô tô
Giai đoạn 1965 – 1970: Giai đoạn sáp nhập tổ hợp (sáp nhập tập đoàn) Đây
là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới góp mặt với sự xuất hiện phổ biến của các tậpđoàn, công ty đa quốc gia Nhiều công ty Mỹ bắt đầu đầu tư ra nước ngoài do cácchính sách khuyến khích về thuế, giảm bớt các rào cản thương mại, giảm chi phívận chuyển Làn sóng hoạt động M&A chấm dứt vào đầu những năm 1970 khi chỉ
số chứng khoán Dow Jones giảm, đồng thời là cuộc khủng hoảng năng lượng thếgiới nổ ra
Giai đoạn 1980 – 1990: Giai đoạn sử dụng đòn bẩy tài chính để thực hiện
M&A đặc biệt là M&A xuyên quốc gia Đây là thời kỳ mà hình thức thâu tóm diễn
ra khá mạnh mẽ Bất kỳ công ty nào nếu không phát huy hết khả năng của mình đều
có nguy cơ bị thâu tóm Vào những năm 1980, các cuộc thâu tóm trên thế giới diễn
ra chậm lại và chấm dứt khi thị trường trái phiếu sụp đổ, các Ngân hàng thương mại
ở Mỹ gặp khó khăn với các khoản nợ, tính thanh khoản về vốn thấp
Giai đoạn 1992 – 2001: Giai đoạn cấu trúc lại chiến lược Là sự kết hợp của
các ngành công nghiệp và toàn cầu hóa Hoạt động M&A diễn ra thành lập các tập
Trang 39đoàn tài chính lớn mạnh trên thế giới như Citicorp/Travelers, ChaseManhattan/J.P.Morgan.
Giai đoạn 2003- 2008: Làn sóng hoạt động M&A phát triển trên phạm vi trên
toàn thế giới hay còn gọi là làn sóng toàn cầu hóa Trong giai đoạn này các công tytập trung vào sự phù hợp nhiều hơn là về mặt chiến lược của giao dịch cũng nhưchú ý nhiều hơn vào các vấn đề hòa nhập hậu sáp nhập
Hình 1.1: Các làn sóng M&A trong lịch sử
Nhìn vào 6 chu kỳ này, chúng ta nhận thấy hầu hết các chu kỳ hoạt độngM&A đều rơi vào những giai đoạn kinh tế phát triển, nhất là giai đoạn thị trườngchứng khoán tăng trưởng mạnh, phát triển càng mạnh thì dẫn đến làn sóng hoạtđộng M&A càng cao
Theo thống kê sơ bộ của hãng thông tin tài chính Thomson Financial thì năm
2006 và 2007 là những năm có nhiều kỷ lục mới về giá trị giao dịch trên thị trườngM&A toàn cầu Năm 2007 tổng giá trị các vụ M&A đạt 4.191 tỷ USD, tăng 24% sovới mức 3.371 tỷ USD vào năm 2006 Các chuyên gia kinh tế đánh giá 2007 là nămbùng nổ của thị trường M&A do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, tậptrung ở những nước có nền kinh tế phát triển, đứng đầu là Châu Âu và Mỹ Những
vụ mua lại, sáp nhập trong năm này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như ngânhàng, tài chính, công nghiệp dầu khí, công nghệ thông tin, công nghệ ô tô Trong
Trang 40đó, thương vụ lớn có thể được kể đến là tập đoàn Royal Bank for Scotland, Fortis vàSantander mua lại ABN-AMRO Holding NV với giá 98 tỉ USD đã làm cho hoạtđộng M&A xuyên quốc gia đạt mức kỷ lục với số lượng các vụ M&A vào năm
2007 đạt 10.145 trường hợp Thị trường Châu Âu, và Mỹ vẫn là thị trường luôn diễn
ra các hoạt động M&A sôi nổi nhất thế giới
Hình 1.2: Số lượng và giá trị các thương vụ M&A trên thế giới từ 1995 – 2011
(Nguồn: Thomson Financial)
Cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thanhkhoản trên các thị trường tiền tệ và thị trường nợ tại nhiều quốc gia phát triển đãlàm cho các hoạt động M&A bắt đầu suy giảm trong năm 2008 Do đó trong hainăm 2008 và 2009, hoạt động M&A trên thế giới giảm sút cả về số lượng và giá trịgiao dịch, giá trị giao dịch M&A trên thế giới giảm xuống còn 2.531 tỷ USD năm
2008 và giảm xuống còn 1.757 tỷ USD năm 2009 (giảm 40% và 31% so với nămtrước) Năm 2010 và năm 2011, hoạt động M&A có tăng trưởng nhẹ nhưng không
có bước đột phá so với 2009 (chỉ đạt mức 2.117 tỷ USD năm 2010 và 2.149 tỷ USDnăm 2011) Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động mạnh, gây ảnhhưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, thì thông thường tiếp theo sau là sự phát