Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả và phát triển bền vững,Bảo Việt Việt Nam cần phải xây dựng và củng cố công tác tổ chức và quản lý hệ thống các kênh phân phối sản phẩm của doa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ HỮU AN
Quản trị kênh phân phối sản phẩm
của Bảo Việt Việt Nam
luËn v¨n th¹c sÜ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Hµ néi - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ HỮU AN
Quản trị kênh phân phối sản phẩm
của Bảo Việt Việt Nam
Mã số
luËn v¨n th¹c sÜ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Tuấn
Hµ néi - 2007
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp Doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đưa
ra thị trường những sản phẩm gì với giá bao nhiêu mà còn đưa ra thị trườngnhư thế nào? Đây chính là chức năng phân phối của Marketing Chức năngnày được thực hiện thông qua mạng lưới kênh phân phối sản phẩm của doanhnghiệp Tổ chức và quản lý hoạt động phân phối sản phẩm là một chức năngquản trị quan trọng trong doanh nghiệp Nội dung cốt lõi của hoạt động phânphối sản phẩm là tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối của doanhnghiệp trên thị trường Kênh phân phối là con đường đi của hàng hoá từ nhàsản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, là một hệ thống các mối liên hệ giữacác tổ chức liên quan với nhau trong quá trình mua - bán hàng hoá Quản trịkênh phân phối thực chất là tổ chức và quản lý các quan hệ giữa các đơn vịkinh doanh trong quá trình lưu thông, phân phối sản phẩm trên thị trường
Trong điều kiện môi trường cạnh tranh, việc tạo ra lợi thế cạnh tranhphân biệt giữa các doanh nghiệp là rất cần thiết, quyết định nhiều đến sự thànhcông và phát triển của doanh nghiệp Việc phát triển một hệ thống kênh phânphối sản phẩm tốt là cách tốt nhất tạo ra lợi thế phân biệt giữa các doanhnghiệp bởi vì: Với khoa học công nghệ phát triển hiện đại và nhanh chóng nhưhiện nay thì việc tạo ra tính ưu việt, khác biệt hóa về sản phẩm so với đối thủcạnh tranh là rất khó khăn Các chiến lược cắt giảm giá không những nhanhchóng và dễ dàng bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh mà còn dẫn đến sựgiảm sút hoặc bị mất khả năng có lợi nhuận Các chiến lược quảng cáo, xúctiến thường chỉ có kết quả trong ngắn hạn và dễ dàng mất tác dụng trong dàihạn Xây dựng và phát triển hệ thống mạng lưới phân phối sản phẩm tốt giúpdoanh nghiệp cung cấp sản phẩm dễ dàng đến người tiêu dùng, nhờ đó
1
Trang 4tăng uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường, theo đó doanh thu vàlợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên.
Ở Việt Nam, ngành bảo hiểm ra đời và phát triển chưa lâu, hệ thốngkênh phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp còn nghèo nàn, chưa đượcchú trọng đầu tư, hỗ trợ và có biện pháp quản trị đúng mực, nên hoạt động cònkém hiệu quả, ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệpbảo hiểm Bảo Việt Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, là doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lâu đời và lớn nhất thị trường bảo hiểm ViệtNam cả về quy mô và phạm vi hoạt động Tuy nhiên, doanh nghiệp đang phảichịu sự canh tranh quyết liệt từ các doanh nghiệp bảo hiểm khác, đặc biệt làcác doanh nghiệp cổ phần, các doanh nghiệp độc quyền ngành, các doanhnghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, kinhnghiệm và trình độ công nghệ quản lý tốt
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả và phát triển bền vững,Bảo Việt Việt Nam cần phải xây dựng và củng cố công tác tổ chức và quản lý
hệ thống các kênh phân phối sản phẩm của doanh nghiệp, coi đó là một công
cụ quan trọng giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh và đạt được mục
tiêu của mình Xuất phát từ thực tiễn đó, người viết lựa chọn đề tài "Quản trị
kênh phân phối sản phẩm của Bảo Việt Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về kênh phân phối tại Việt Nam là một lĩnh vực khá mới,đặc biệt là kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm Các tài liệu nghiên cứu vềkênh phân phối sản phẩm gồm có:
- Giáo trình “Quản trị kênh phân phối” do TS.Trương Đình Trường Đại học Kinh tế quốc dân biên soạn và xuất bản năm 2004 Trong
Chiến-giáo trình này, tác giả đã trình bày những kiến thức cơ bản về tổ chức và quản lý hệ thống phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp Những nội dung
về cấu trúc kênh, thiết kế kênh phân phối, quản lý và thúc đẩy các thành viên
Trang 5kênh và đánh giá hoạt động của các thành viên kênh được tác giả trình bày
cô đọng, dễ hiểu gắn với thực tiễn Việt Nam và đó là những nội dung cơ bản
mà tác giả vẫn dụng vào nghiên cứu công tác quản trị kênh phân phối của BVVN.
- Luận văn "Hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm phi nhân
thọ tại Bảo Việt" của Thạc sỹ Vũ Văn Chỉnh – Phó phòng BH Phi hàng hải,
Tổng Công ty Bảo Hiểm Việt Nam, năm 2003 Công trình này đã nghiên cứu
và đánh giá thực trạng các kênh phân phối sản phẩm phi nhân thọ của Bảo Việt, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các kênh phân phối.
- Luận văn "Hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm của Bảo hiểm
Nhân thọ Việt Nam" của Thạc sỹ Bùi Thu Hương - Bảo hiểm nhân thọ Việt
Nam, năm 2007 Công trình đã nghiên cứu và khái quát được những vấn đề lý
luận liên quan đến hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, vai trò của nó đối với việc tăng doanh thu và hiệu quả kinh doanh Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng của hệ thống kênh phân phối của Tổng Công
ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam (BVNT) bao gồm cả kết quả và những hạn chế, Tác giả đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của BVNT.
-Tham luận “Bảo Việt đi đầu trong việc xây dựng và phát triển hệ
thống phân phối sản phẩm thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam” đăng trên tạp chí Bảo hiểm Bảo Việt năm 2005 của tác giả Phan
Kim Bằng – Trưởng phòng quản lý đại lý, BVVN Công trình này đã trình
bày những định hướng xây dựng và phát triển hệ thống kênh phân phối sản phẩm của Bảo Việt góp phần nâng cao uy tín và tạo lợi thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện hoạt động marketing-mix của Công ty
bảo hiểm Đà Nẵng” của tác giả Lê Kim Thái – Phó Giám Công ty BH Đà
Nẵng, năm 2003 Luận văn này, tác giả đã nêu được những thuận lợi và khó
khăn, những cơ hội và thách thức đối với Công ty bảo hiểm (phi nhân thọ) Đà
3
Trang 6Nẵng, từ đó đưa ra một số giải pháp sử dụng công cụ marketing mix nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài giáo trình Quản trị kênh phân phối của Tiến sỹ Trương Đình Chiến
đề trình bày chi tiết về công tác quản trị kênh phân phối của các doanh nghiệp,còn lại các nghiên cứu khác trên đây chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, phântích, đánh giá và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống các kênh phânphối sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm Do đó, vẫn cần phải có nhữngnghiên cứu sâu, nhận thức một cách toàn diện và có những đánh giá cụ thể,chi tiết về công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ,
để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị kênh phânphối của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và Bảo Việt Việt Nam đãđược chọn để nghiên cứu và đánh giá trên những tiêu chí cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ
- Tìm hiểu những nhân tố tác động đến công tác tổ chức và quản trị các kênh phân phối
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm của Bảo Việt Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị kênh phânphối của Bảo Việt Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Đối tượng nghiên cứu là công tác quản trị kênh phân phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
+ Phạm vi nghiên cứu là công tác quản trị hệ thống kênh phân phối sản phẩm của Bảo Việt Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Trang 7Để thực hiện các mục tiêu nói trên, Luận văn sử dụng kết hợp một sốphương pháp nghiên cứu khác nhau đó là phương pháp tổng hợp, thống kế,phân tích, so sánh kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử và các phương pháp điều tra, phỏng vấn, nghiên cứu tình huống
6 Dự kiến đóng góp của Luận văn:
Việc nghiên cứu, hệ thống các vấn đề lý thuyết về quản trị kênh phânphối sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, kết hợp vớinghiên cứu tình huống một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đặc thù, từ đóxây dựng hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị kênh phânphối sản phẩm không chỉ có ý nghĩa đối với Bảo Việt Việt Nam mà còn có ýnghĩa đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khác của Việt Nam, có
ý nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách bảo hiểm, các nhà nghiên cứu
và độc giả quan tâm
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luân chung về bảo hiểm và quản trị kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm của Bảo Việt Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm của Bảo Việt Việt Nam.
5
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN TRỊ KÊNH
PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO HIỂM 1.1 Lý luận chung về bảo hiểm:
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm Tuy nhiên,nhìn một cách khái quát có thể hiểu bảo hiểm là một phương thức xử lý rủi rotrong cuộc sống mà nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro được thực hiệnthông qua hoạt động kinh doanh của các tổ chức bảo hiểm Về mặt bản chất,bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp Trong đó người tham gia bảo hiểmchấp nhận đóng góp phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm để đổi lấynhững cam kết về khoản bồi thường khi xảy ra sự kiện theo những quy địnhtrong hợp đồng bảo hiểm
Nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm chính là sự tồn tại của rủi
ro trong cuộc sống Thực tế cuộc sống của con người luôn tồn tại rủi ro nhưmột tất yếu khách quan Đó là thiên tai, dịch bệnh và tai nạn Mặc dù ngày naykhi mà khoa học kỹ thuật đã đạt được những thành tựu quan trọng để chế ngựthiên nhiên và hạn chế rủi ro song chính con người lại gây ra nhiều rủi ro mới,với tính chất và mức độ ngày càng trầm trọng hơn Nói một cách khác rủi ro làngười bạn đồng hành đáng lo ngại trong cuộc sống mà dù muốn hay khôngcon người cũng phải chấp nhận nó
Để xử lý rủi ro con người có nhiều cách khác nhau, về cơ bản có haiphương diện khác nhau của cùng một vấn đề là: các biện pháp đề phòng, nétránh rủi ro để giảm thiểu tổn thất và các biện pháp nhằm khắc phục hậu quả
do rủi ro mang lại
Trang 9Các biện pháp phòng tránh rủi ro bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu
và coi đó là những yêu cầu cấp bách như: đắp đê phòng lụt, trồng cây gâyrừng, dự báo thời tiết, tiêm phòng cho người và gia súc, các biện pháp phòngcháy… Các biện pháp nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro rất phong phú và đadạng Có hai phương thức khắc phục rủi ro cơ bản nhất:
- Phương thức chấp nhận rủi ro
Chấp nhận rủi ro là cách mà con người tự mình gánh vác và khắc phụchậu quả rủi ro Họ không trông cậy vào các hoạt động mang tính xã hội mà tựmình đề ra các giải pháp và trang trải những tổn thất Đây là cách đối phómang tính thụ động, đơn lẻ và thiếu tính cộng đồng, chỉ tồn tại ở thời kỳ đầucủa sự phát triển xã hội Hình thức chấp nhận rủi ro, tự gánh chịu rủi ro truyềnthống là: tiết kiệm và dự trữ, lập các quỹ dự phòng hoặc cho vay
- Phương thức chuyển giao rủi ro
Chuyển giao rủi ro là cách thức con người san sẻ rủi ro cho đối tượngkhác cùng gánh chịu Về bản chất, đó là cách sử dụng sức mạnh của tập thểhoặc cộng đồng trong việc khắc phục hậu quả do rủi ro mang đến cho conngười Trong lịch sử của trao đổi và buôn bán thương mại, người ta thườnggiải quyết vấn đề này theo hai cách phổ biến
+ Hình thức tương hỗ: Đây là hình thức cùng góp vốn kinh doanh củanhiều thành viên Với sức mạnh của tập thể, khả năng huy động vốn và tiềmlực kinh doanh sẽ gia tăng, đồng thời việc giải quyết các rủi ro tổn thất cũng
sẽ giảm hơn Lợi ích của hợp tác trong kinh doanh được phát huy có hiệu quả,song cách thức tổ chức thực hiện lại có nhiều điều bất cập, vì vậy phải có mộthình thức mới để giải quyết mục tiêu xử lý hiệu quả việc chuyển giao rủi ro.+ Hình thức chuyển giao rủi ro: chuyển giao rủi ro về thực chất là việchình thành một quỹ chung của cộng đồng những người có cùng rủi ro tương
tự Mục đích cơ bản của quỹ này là xử lý các rủi ro khi thành viên của cộngđồng gặp biến cố và sự kiện cần được bảo hiểm Quỹ được tạo lập, quản lý và
sử dụng bởi các doanh nghiệp bảo hiểm
7
Trang 10Như vậy là với sự ra đời của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm,khi xảy ra rủi ro với một thành viên thì hậu quả của nó sẽ được phân tán, được
số đông các thành viên còn lại của cộng đồng cùng gánh chịu Đó chính làcách xử lý và khắc phục rủi ro tốt nhất trong xã hội văn minh, thể hiện đượctính xã hội hoá cao về sức mạnh của con người nhắm chống chọi và chinhphục tự nhiên
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm
Như trên đã trình bày, sự ra đời và phát triển của loại hình bảo hiểmthương mại không chỉ giải quyết, khắc phục những rủi ro, tổn thất trong cuộcsống của cá nhân mỗi con người mà còn có ý nghĩa kinh tế xã hội đặc biệtquan trọng Trong nền kinh tế thị trường, khi mà mọi cá nhân và tổ chức kinhdoanh phải tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, không còn cơ chế baocấp thì bảo hiểm đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Có thể đánh giá sự cầnthiết và vai trò của bảo hiểm thương mại trên một số phương diện sau đây:
- Bảo hiểm là phương thức chuyển giao rủi ro hiệu quả nhất:
Trên thực tế có nhiều cách chuyển giao rủi ro, song chuyển giao rủi roqua hình thức tham gia bảo hiểm là cách thức công bằng, hợp lý và hiệu quảnhất Điều quan trọng ở đây là đã huy động được sức mạnh của cộng đồng đểgiải quyết vấn đề tổn thất của cá nhân Mặt khác, các thành viên tham gia bảohiểm đều hoàn toàn tự nguyện Khi tổn thất và rủi ro xảy ra đều được tínhtoán, bồi thường về phương diện tài chính để giúp họ vượt qua khó khăn Sựchia sẻ tổn thất qua các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ nâng cao được ý thức cộngđồng và trách nhiệm xã hội của các thành viên
- Bảo hiểm góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng của con người, tăng cường an toàn xã hội.
Trong bảo hiểm thương mại, các doanh nghiệp bảo hiểm như một đại diện chung của cộng đồng, có trách nhiệm thu gom vốn của mọi thành viên và
Trang 11thực hiện cả hai quá trình: đề phòng rủi ro và khắc phục rủi ro Khi bồithường, chi tiền trả bảo hiểm cho các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm,các doanh nghiệp bảo hiểm đã giúp họ khắc phục được khó khăn về mặt tàichính, bảo toàn được vốn liếng và tài sản kinh doanh Mặt khác, trong quátrình triển khai các hoạt động kỹ thuật nghiệp vụ của mình, các doanh nghiệpbảo hiểm thường rất coi trọng các giải pháp phòng tránh cần thiết, bảo đảm sự
an toàn cho đối tượng bảo hiểm Thông qua công việc đánh giá rủi ro trướckhi nhận bảo hiểm, giám định tổn thất trước khi bồi thường các doanh nghiệpbảo hiểm nhằm bảo vệ tài sản, tính mạng con người, an toàn xã hội và nângcao chất lượng cuộc sống
- Bảo hiểm thúc đẩy hoạt động tiết kiệm, tập trung vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đất nước.
Do đặc điểm kinh doanh của bảo hiểm là thu phí trước, chi trả bồithường sau nên đã tập trung được một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi lớn Cácdoanh nghiệp bảo hiểm với tư cách là một trung gian tài chính có thể tham giavào thị trường vốn để đầu tư, cung cấp các dịch vụ tài chính, đẩy mạnh sựphát triển của kinh tế thị trường
- Đảm bảo sự quan tâm về tinh thần cho người tham gia bảo hiểm.
Khi tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể yên tâm về tình hình tàichính khi gặp rủi ro và tổn thất xảy ra Các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ giúp họvượt qua những trở ngại trong cuộc sống Mặt khác, với các giải pháp nhằm
đề phòng và giảm thiểu rủi ro cho khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm đãthực sự tạo niềm tin và sự yên tâm cho khách hàng trong cuộc sống và hoạtđộng kinh doanh
1.1.3 Sản phẩm bảo hiểm
1.1.3.1 Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm
Là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt, sản phẩm bảo hiểm có những đặcđiểm sau đây:
9
Trang 12+ Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình
Sản phẩm bảo hiểm (SPBH) trước hết là sự đảm bảo về mặt vật chấttrước rủi ro cho khách hàng và kèm theo là các dịch vụ hỗ trợ liên quan Vàothời điểm bán, SPBH được các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cho kháchhàng là lời hứa, lời cam kết bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có sự kiệnbảo hiểm Đó là sản phẩm vô hình mà người bán không chỉ ra được màu sắc,kích thước hay hình dạng của nó và người mua cũng không cảm nhận đượcbằng các giác quan của mình như cầm nắm, sờ, mó, ngửi hoặc nếm thử Người mua buộc phải tin vào lời của người bán – nhà bảo hiểm
Vì vậy, sự lôi cuốn của sản phẩm bảo hiểm phụ thuộc rất lớn trước hếtvào các dịch vụ về sản phẩm và uy tín của công ty bảo hiểm Chính vì lẽ đó,các công ty bảo hiểm cần hết sức coi trọng việc xây dựng và củng cố uy tíntrong kinh doanh Cần phải tạo lập một hình ảnh và danh tiếng tốt đẹp trongtâm trí người tiêu dùng Ở đây, cần nhấn mạnh tới các hoạt động Marketingchủ yếu như: tăng cường công tác quảng cáo và truyền thông, hoàn thiện cácdịch vụ chăm sóc khách hàng, phát triển hệ thống kênh phân phối, coi trọngviệc xây dựng mối quan hệ công chúng, tích cực đầu tư phòng ngừa và nétránh rủi ro
* Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”.
Đối với các sản phẩm vật chất, thông thường quá trình mua và quá trìnhtiêu dùng có khoảng cách thời gian không lớn lắm Trong ngành kinh doanhdịch vụ, thường thì quá trình mua và quá trình tiêu dùng dịch vụ đi liền vớinhau Tuy nhiên, đối với sản phẩm bảo hiểm vấn đề lại hoàn toàn khác
Đối với sản phẩm bảo hiểm, người mua bảo hiểm chỉ có thể được nhậntiền bồi thường khi có rủi ro xảy ra Điều đó có nghĩa là, những lợi ích tức thìcủa sản phẩm từ thời điểm mua đến thời điểm được hưởng lợi ích của sảnphầm thường rất dài Có những sản phẩm, thời gian này kéo dài hàng chụcnăm Đó chính là “tính xê dịch” về hiệu quả của sản phẩm bảo hiểm Đặcđiểm này làm cho khả năng hấp dẫn và tính thuyết phục của sản phẩm bảo
Trang 13hiểm thường không cao Vì vậy, trong hoạt động Marketing các công ty bảohiểm cần phải chú ý tới các giải pháp nhằm tăng tính hấp dẫn tức thì của sảnphẩm thông qua khâu thiết kế sản phẩm.
* Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có chu trình sản phẩm kinh doanh ngược
Trong sản xuất kinh doanh, thông thường các doanh nghiệp phải đầu tưchi phí để thực hiện việc sản xuất sản phẩm, sau đó họ bán sản phẩm và dùngdoanh thu để trang trải các chi phí cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩmcủa mình Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm lại nhận phí bảo hiểm của ngườitham gia bảo hiểm đóng góp trước, rồi sau đó mới thực hiện nghĩa vụ chi trảcủa mình khi xảy ra sự cố (rủi ro) bảo hiểm Đó là biểu hiện của chu trình sảnxuất kinh doanh ngược
Đặc điểm này trước hết làm cho khả năng hấp dẫn của sản phẩm bảohiểm là thấp Khách hàng là người bỏ tiền ra trước để mong muốn tìm kiếm sựchia sẻ và che chở của các nhà bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra Xét
về mặt tâm lý, khi tham gia bảo hiểm, khách hàng đã nhận được ngay lợi íchtức thì của sản phẩm, song nếu xét về phương diện tài chính, họ phải chi trảtrước để có thể thu về sau Vì vậy, trong hoạt động Marketing bảo hiểm, các
nỗ lực và giải pháp nhằm tăng cường khả năng hấp dẫn cho sản phẩm là đặcbiệt quan trọng
Mặt khác, đặc điểm này còn làm cho việc tính toán hiệu quả của kinhdoanh bảo hiểm gặp nhiều khó khăn Khi bán sản phẩm, các công ty bảo hiểmkhông thể tính ngay được hiệu quả của sản phẩm mà phải xem xét trong mộtkhoảng thời gian Tính đặc thù này đòi hỏi khi xây dựng chiến lược kinhdoanh bảo hiểm cần có cách nhìn toàn diện và lâu dài, cần phải tính toán vàcân nhắc một cách kỹ lưỡng khi quyết định tung sản phẩm mới vào thị trường,cần kế hoạch hoá quá trình đổi mới sản phẩm cho hiệu quả nhất
11
Trang 14Sản phẩm bảo hiểm xét trên phương diện các thuộc tính lợi ích cơ bảnđối với khách hàng là một sản phẩm dễ bị bắt chước Điều đó, một mặt là dosản phẩm không có những yếu tố thuộc về bí quyết độc quyền, mặt khác, cáchợp đồng bảo hiểm của một công ty bảo hiểm không phải là đối tượng bảo hộbản quyền, ngoại trừ tên gọi và biểu tượng của công ty.
Ngoài những đặc tính trên sản phẩm bảo hiểm còn có đặc tính chungcủa sản phẩm dịch vụ như:
+ Tính không đồng nhất:
Do tính vô hình nên sản phẩm dịch vụ không thể đo lường và quy chuẩnđược Trước hết do hoạt động cung ứng Các nhân viên cung cấp dịch vụkhông thể tạo ra được các dịch vụ như nhau trong các thời gian làm việc khácnhau Hơn nữa dịch vụ thường được hoạch định xung quanh một đòi hỏi dịbiệt của một khách hàng cá biệt Người tiêu dùng là người quyết định chấtlượng dịch vụ theo sự cảm nhận của họ, sự cảm nhận này cũng không giốngnhau ở những thời điểm khác nhau, những khách hàng khác nhau cũng có cảmnhận khác nhau Do vậy dịch vụ không chỉ chịu ảnh hưởng của người cungcấp mà phụ thuộc vào người tiêu dùng, thời gian và địa điểm thực hiện dịch
vụ đó
+ Tính không tách rời
Việc sản suất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Quátrình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu dùng dịch vụ Người tiêu dùng cũngtham gia vào hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ cho chính mình Sự tácđộng qua lại giữa người cung ứng và khách hàng trong quá trình cung ứng làmột tính chất đặc biệt của Marketing dịch vụ
Trang 15bớt thời gian và đây là một khó khăn cho các nhà quản trị Marketing khi nhucầu có sự thay đổi đột biến.
+ Không có chuyển quyền sở hữu
Trong dịch vụ, việc chấp nhận và sử dụng một sản phẩm dịch vụ không
có nghĩa rằng khách hàng chiếm được sở hữu nó bởi vì nó là vô hình, kháchhàng chỉ trả tiền đối với việc sử dụng, chấp nhận và thuê mướn đối với dịchvụ
Tóm lại sản phẩm dịch vụ có những đặc trưng khác biệt với sản phẩmhiện hữu, điều này đòi hỏi hoạt động phân phối phải có những giải pháp thíchhợp làm cho cái vô hình trở nên hữu hình, khắc phục sự mất cân đối giữa cung
và cầu trong những khoảng thời gian khác nhau và tìm cách tiêu chuẩn hoáchất lượng để khắc phục tính không ổn định của dịch vụ:
Vô hình
Không chuyển quyền sở hữu
Sơ đồ 1.1 Mô tả đặc tính của sản phẩm dịch vụ
Từ những đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm cho thấy: Các kênh phânphối trung gian có vai trò rất quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch vụ bảohiểm trong việc nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm, cung cấpthông tin giúp khách hàng biết và hiểu về bảo hiểm cũng như về sản phẩm bảohiểm để khách hàng ra quyết định tham gia mua bảo hiểm Vì vậy, cần sử
13
Trang 16dụng các kênh phân phối trung gian để đưa sản phẩm từ nhà cung cấp đếnngười mua sản phẩm.
1.1.3.2 Phân loại sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là lĩnh vực bảo hiểm có phạm vi rất rộng Nóbao gồm tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
và bảo hiểm con người Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại bảo hiểmphi nhân thọ Thông thường người ta sử dụng các tiêu thức sau đây để phânloại bảo hiểm phi nhân thọ
Theo tiêu thức phân loại truyền thống, bảo hiểm phi nhân thọ được chiathành bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm phi hàng hải
Theo đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ được chia thành bảohiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người
Bảo hiểm tài sản là loại bảo hiểm bao gồm tất cả các nghiệp vụ bảo
hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản (chủ yếu là tài sản hữu hình)
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là
phần trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm Trách nhiệm dân sự là mộtdạng trách nhiệm pháp lý bao gồm cả trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ dân
sự lẫn trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chỉbảo hiểm cho dạng trách nhiệm thứ hai - trách nhiệm bồi thường thiệt hại chongười thứ ba thì phát sinh trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm theohợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự tương ứng
Bảo hiểm con người có đối tượng bảo hiểm là con người Bằng một
hoặc nhiều hợp đồng bảo hiểm thích hợp, người được bảo hiểm được bảo vệkhi xảy ra rủi ro như bệnh tật, tai nạn Khi xảy ra những rủi ro này, tuỳ thuộcvào thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm sẽ phải trả chongười thụ hưởng bảo hiểm một khoản tiền nhất định Khoản tiền này có ýnghĩa giúp bản thân người được bảo hiểm hoặc người thân của họ có thể khắcphục được rủi ro, ổn định cuộc sống
Theo đặc tính kỹ thuật và pháp lý, bảo hiểm phi nhân thọ được chiathành nhiều nghiệp vụ bảo hiểm Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng cho một
Trang 17loại đối tượng bảo hiểm riêng Các đối tượng bảo hiểm có công dụng, đặc tính
kỹ thuật, môi trường hoạt động, đặc điểm rủi ro, giống nhau được xếp vàomột nghiệp vụ bảo hiểm Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm được vận hành theo mộtquy tắc, quy trình bảo hiểm riêng biệt Có thể kể ra một số loại bảo hiểm phinhân thọ như sau:
Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản:
- BH hàng hoá xuất nhập khẩu
- BH hàng hoá vận chuyển trong nước
- BH thân tàu biển
- BH thân tàu sông, tàu cá
- BH thiệt hại vật chất xe cơ giới
- BH thân máy bay
Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự
- BH trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
- BH trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển, tàu sông, tàu cá
- BH trách nhiệm dân sự của chủ hãng hàng không
- BH trách nhiệm dân sự của chủ đầu tư, chủ thầu
- BH trách nhiệm dân sự nghề nghiệp
- BH trách nhiệm sản phẩm
Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm con người
- BH tai nạn con người
- BH tai nạn hành khách
- BH tai nạn học sinh
- BH tai nạn khách du lịch
15
Trang 18- BH tai nạn lái phụ xe, tai nạn thuyền viên.
- BH tai nạn con người theo chỗ người trên xe cơ giới
- Bảo hiểm sức khỏe
- BH kết hợp tai nạn - bệnh tật - phẫu thuật
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm
1.1.4.1 Qui luật số đông
Qui luật số đông là nguyên tắc cơ bản của kinh doanh bảo hiểm Theoqui luật này các doanh nghiệp bảo hiểm phải dựa vào số liệu thống kê dài hạn
và xác suất xảy ra những rủi ro, tai nạn để xác định khả năng xuất hiện cũngnhư mức độ thiệt hại của các biến cố Đó là cơ sở xác định mức phí bảo hiểmcho phù hợp với thực tế Nói cách khác, kinh doanh bảo hiểm là thu phí bảohiểm của “số đông” nhiều người để bồi thường hay chi trả cho từng cá nhânkhi có rủi ro, tổn thất xảy ra
Qui luật “số đông” chính là cơ sở khoa học quan trọng của kinh doanhbảo hiểm Qui luật này giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm xác định xác suấtrủi ro nhận bảo hiểm, tính phí và quản lý các quỹ dự phòng chi trả Mặt khác,cũng là điều kiện để đạt được tác dụng phân tán rủi ro ở đây, phải có một sốlượng lớn các rủi ro và tổn thất tương tự nhau để đánh giá, phân tích và tìm raquy luật Đồng thời các rủi ro tổn thất phải xảy ra ngẫu nhiên và độc lập lẫnnhau
Nếu không đảm bảo được qui luật “số đông” trong kinh doanh bảo hiểmthì rủi ro sẽ xảy ra với chính các doanh nghiệp bảo hiểm Đây cũng là cơ sởtiền đề cho các hoạt động Marketing trong kinh doanh bảo hiểm Bảo hiểm vàquỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của số đông người tham gia bảohiểm, được sử dụng chi trả và bồi thường cho số ít những người tham giakhông may bị tổn thất, rủi ro Vì vậy, nếu không nắm vững được qui luật này,
sự phá sản của các doanh nghiệp bảo hiểm là điều khó tránh khỏi
1.1.4.2 Chỉ bảo hiểm những rủi ro không cố ý
Trang 19Rủi ro và tổn thất là cơ sở hình thành nên hoạt động bảo hiểm nóichung và bảo hiểm thương mại nói riêng Tuy nhiên, chỉ có những rủi ro vàtổn thất ngẫu nhiên, khách quan và không cố ý của đối tượng bảo hiểm mớiđược bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm không thể nhận bảo hiểm những
gì chắc chắc sẽ xảy ra rủi ro, tổn thất Đây là một nguyên tắc nhằm đảm bảo
sự khách quan và công bằng giữa những người tham gia bảo hiểm
Với nguyên tắc này đòi hỏi việc đánh giá rủi ro trước khi nhận bảohiểm và giám định đối tượng được bảo hiểm khi có sự cố xảy ra là một khâurất quan trọng trong kỹ thuật nghiệp vụ bảo hiểm Điều đó, còn giúp cho cácdoanh nghiệp bảo hiểm tránh được tình trạng mất khả năng bồi thường xảy ra
1.1.4.3 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Hợp đồng bảo hiểm là căn cứ pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữangười tham gia bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm Hợp đồng phản ánh
rõ quyền lợi và trách nhiệm của cả hai bên Khi tham gia bảo hiểm, kháchhàng có nghĩa vụ cung cấp những thông tin chính xác và trung thực theo yêucầu của mỗi loại hình bảo hiểm cụ thể Sự khai báo trung thực này không chỉgiúp các nhà bảo hiểm đánh giá đối tượng bảo hiểm có đủ điều kiện được bảohiểm hay không, mà còn giúp cho công tác nghiên cứu điều tra tiết kiệm vàhiệu quả Các thông tin về đối tượng được bảo hiểm cần phải thông báo đầy
đủ trước khi hợp đồng được ký kết
Các doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần phải thực hiện nghiêm chỉnhnhững cam kết của mình với khách hàng theo hợp đồng đã ký kết và thườngxuyên cung cấp cho khách hàng tình trạng hợp đồng, những thay đổi và điềuchỉnh liên quan đến điều khoản của hợp đồng Ở đây cũng cần phải nhấnmạnh rằng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảo hiểm về tính mạng, tài sản,điều đó không có nghĩa là khách hàng có thể trút hết mọi trách nhiệm lên vaicác doanh nghiệp bảo hiểm Khi khách hàng cố tình không khai báo đầy đủcác thông tin quan trọng liên quan đến tình trạng của đối tượng bảo hiểm, vi
17
Trang 20phạm nguyên tắc này thì hợp đồng bảo hiểm sẽ được xem xét huỷ bỏ từngphần hoặc toàn bộ.
1.1.4.4 Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán:
- Nguyên tắc bồi thường
Bồi thường là phương thức mà các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiệnnghĩa vụ khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ tình trạng tài chính ban đầu chongười được bảo hiểm, tuỳ theo mức độ tham gia của họ Theo nguyên tắc này,các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện việc chi trả, bồi thường khi phát sinhcác thiệt hại rủi ro được bảo hiểm Số tiền chi trả cho người được bảo hiểmkhông vượt quá giá trị tổn thất về mặt tài chính mà họ gánh chịu
- Nguyên tắc khoán:
Nguyên tắc này áp dụng đối với bảo hiểm con người nói chung và bảohiểm nhân thọ nói riêng Theo nguyên tắc này, người được bảo hiểm được ấnđịnh “khoán” một khoản tiền nhất định họ sẽ hưởng ngay từ khi ký kết hợpđồng Khác với bảo hiểm tài sản, trong bảo hiểm con người khoản tiền khoán
mà một người nhận được có thể lớn hơn số tiền bảo hiểm của một hợp đồng,nếu khách hàng có khả năng tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm hoặc có mộtbên thứ ba có trách nhiệm chi trả
1.2 Lý luận chung về quản trị kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của kênh phân phối
Trong marketing, phân phối được hiểu là quá trình tổ chức kinh tế kỹthuật nhằm đảm bảo cho việc đưa sản phẩm từ các công ty đến khách hàng đạthiệu quả cao nhất Kênh phân phối có thể được xem như những tập hợp các tổchức phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụhiện có để sử dụng hay tiêu dùng
Đối với sản phẩm bảo hiểm, kênh phân phối có thể được coi là conđường đi của sản phẩm bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm đến khách hàng
Trang 21Để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường và tăng cườngkhả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp bảo hiểm ngoài việc thiết kế ra nhữngsản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao nhất của thị trường,xác lập một chiến lược phí (giá cả) phù hợp và có hoạt động kích thích tiêuthụ, còn phải tổ chức quá trình vận động và di chuyển của sản phẩm một cáchhợp lý.
Tổ chức phân phối sản phẩm hợp lý không chỉ đảm bảo cho quá trìnhtiêu thụ sản phẩm diễn ra suôn sẻ, mà còn đảm bảo sự an toàn trong kinhdoanh cho các doanh nghiệp bảo hiểm, tăng cường khả năng liên kết và hợptác kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Những mục tiêu cơ bản của tổ chức kênh phân phối mà các doanh nghiệpbảo hiểm phải đạt được bao gồm:
- Khối lượng sản phẩm cần tiêu thụ (doanh thu phí bảo hiểm)
- Chi phí kinh doanh của công ty và hoa hồng dành cho các trung gian phân phối
- Số lượng và chất lượng của hệ thống đại lý, môi giới bảo hiểm
- Lợi nhuận cần đạt được cho công ty và lợi nhuận cần san sẻ cho các trung gian phân phối
- Uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp
Những mục tiêu trên đây được thiết kế và điều chỉnh cho phù hợp vớimỗi thời kỳ của hoạt động kinh doanh, với đặc điểm cụ thể của thị trường vàkhả năng tài chính và tổ chức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp bảohiểm Vì vậy, khi xây dựng chiến lược phân phối sản phẩm của mình, cácdoanh nghiệp bảo hiểm cần dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá chính xácnhững năng lực và điều kiện cụ thể của mình, phân tích và dự đoán các nhân
tố của thị trường có ảnh hưởng đến việc thiết lập và điều hành hệ thống kênhphân phối
19
Trang 22Trong kênh phân phối sản phảm bảo hiểm có ba yếu tố chủ yếu là:doanh nghiệp bảo hiểm, các trung gian phân phối và khách hàng.
1.2.2 Chức năng của kênh phân phối:
Hệ thống kênh Marketing (phân phối) là cầu nối giữa doanh nghiệp vớingười tiêu dùng, có nghĩa là phân phối dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mongmuốn của khách hàng Cung cấp hàng hoá cho họ đúng thời gian, đúng địađiểm và ở mức giá họ có thể trả Đây không phải là công việc dễ dàng, đặcbiệt trong ngành dịch vụ bảo hiểm - sản phẩm vô hình và thị trường đangtrong giai đoạn phát triển ở Việt Nam
Cách thức tổ chức các quá trình phân phối tiêu thụ sản phẩm để giảiquyết các mâu thuẫn cố hữu của nền kinh tế về không gian, thời gian và quyền
sở hữu giữa doanh nghiệp và khách hàng là trung tâm của lý thuyết kênh phânphối nói chung và kênh phân phối trong kinh doanh bảo hiểm nói riêng Hệthống kênh phân phối cũng như tất cả các thành viên kênh phải thực hiện cácchức năng chủ yếu sau:
- Chức năng nghiên cứu thị trường: Liên quan đến việc thu thập thông tincần thiết về các khách hàng tiềm năng và hiện có, các đối thủ cạnh tranh vànhững thành viên cùng những lực lương khác nhau trong môi trườngmarketing để lập chiến lược phân phối
- Xúc tiến khuyếch trương cho những sản phẩm bảo hiểm họ bán: Soạnthảo và truyền bá những thông tin về sản phẩm, về hình ảnh và phương thứckinh doanh của công ty đến với khách hàng nhằm kích thích khách hàng tiêuthụ sản phẩm
- Chức năng thương lượng: Chức năng thương lượng để thoả thuận phânchia trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong kênh Thoả thuận vớinhau về giá cả và các điều kiện phân phối khác
- Chức năng tài trợ: Cơ chế tài chính trợ giúp cho các thành viên trong kênh thanh quyết toán
Trang 23- Chức năng chia sẻ rủi ro: Chức năng chia sẻ rủi ro giải quyết sự không chắc chắn trong quá trình phân phối sản phẩm trên thị trường.
- Chức năng thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ
với người mua tiềm năng
- Chức năng hoàn thiện hàng hoá: Làm cho sản phẩm đáp ứng đượcnhững yêu cầu của người mua, nghĩa là thực hiện một phần công việc củadoanh nghiệp
Các chức năng của kênh Marketing phải được thực hiện có hiệu quả nếukhông hoạt động của cả hệ thống tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bịtrục trặc, doanh số bán hàng sẽ giảm Tất cả các chức năng đều có ba tính chấtchung: chúng tận dụng hết những nguồn tài nguyên khan hiếm, nhờ chuyênmôn hoá chúng thường có thể được thực hiện tốt hơn; và chúng có thể đượcchuyển giao giữa các thành viên trong kênh Vấn đề đặt ra là phân chia hợp lýcác chức năng của kênh cho các thành viên Nguyên tắc để phân chia các chứcnăng là phải chuyên môn hoá và phân công lao động Nếu doanh nghiệp bảohiểm thực hiện các chức năng này thì chi phí sẽ tăng và giá sẽ cao hơn Khimột số chức năng được chuyển cho người trung gian thì chi phí hoạt động củangười trung gian sẽ tăng lên Vấn đề ai thực hiện các công việc của kênh sẽlàm cho năng suất và hiệu quả cao hơn Đây chính là nhân tố cơ bản quyếtđịnh đến các hình thức tổ chức và quản lý kênh thích hợp của mỗi doanhnghiệp bảo hiểm
1.2.3 Cấu trúc kênh phân phối
Kênh phân phối có cấu trúc như các hệ thống mạng lưới, bao gồmdoanh nghiệp và các cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau Kênh phân phối
là một hệ thống các thành tố liên quan với nhau và phụ thuộc vào nhau trongquá trình tạo ra kết quả là sản phẩm được người tiêu dùng mua và sử dụng.Cấu trúc kênh như là một nhóm các thành viên của kênh mà tập hợp các côngviệc phân phối được phân chia cho họ Các cấu trúc kênh khác nhau có cách
21
Trang 24phân chia các công việc phân phối cho các thành viên kênh khác nhau Có ba yếu tố cơ bản phản ánh cấu trúc của một kênh phân phối:
- Chiều dài của kênh được xác định bởi số cấp độ trung gian có mặttrong kênh Khi cấp độ trung gian tăng lên, kênh được xem như tăng lên vềchiều dài
- Bề rộng của kênh biểu hiện số lượng trung gian ở mỗi cấp độ củakênh Số lượng thành viên kênh ở mỗi cấp độ trung gian trong kênh có thểbiến thiên từ một đến vô số
- Các loại trung gian ở mỗi cấp độ của kênh Ở một cấp độ trung giantrong kênh có thể có nhiều loại trung gian thương mại cùng tham gia phânphối sản phẩm
1.2.4 Các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm
Trong kinh doanh bảo hiểm, để tiêu thụ sản phẩm của mình, các doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thường sử dụng hai loại kênh phân phối đó là:kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp:
1.2.4.1 Kênh phân phối trực tiếp:
Kênh phân phối trực tiếp là loại kênh phân phối không có mặt của cáctrung gian phân phối Nói cách khác, đó là phương thức bán hàng trực tiếp củacác doanh nghiệp bảo hiểm Hiện nay, phương thức bán hàng trực tiếp cũngđược sử dụng rất đa dạng và phong phú như: bán tại văn phòng công ty, bántại các văn phòng đại diện, bán qua bưu điện, bán qua mạng vi tính
Phương thức bán hàng trực tiếp là phương thức bán hàng đầu tiên củacác doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khi mới được thành lập Ở nước ta,trong thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp với sự hoạt động độc quyền củadoanh nghiệp bảo hiểm duy nhất là Bảo Việt (nay là Bảo Việt Việt Nam) thìphương thức này đã tỏ ra rất hiệu quả đối với một số loại hình bảo hiểm bắtbuộc và chủ yếu là được bán trực tiếp tại văn phòng của các doanh nghiệp bảohiểm thành viên của Bảo Việt
Trang 25Trong giai đoạn hiện nay, kênh phân phối trực tiếp cũng được sử dụngrất đa dạng và phong phú Tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay đều cốgắng mở rộng mạng lưới tiêu thụ, mở thêm nhiều chi nhánh, văn phòng đạidiện để bán hàng trực tiếp được tốt hơn Việc bán sản phẩm bảo hiểm khôngnhững được thực hiện thông qua mạng lưới các công ty, các phòng đại diện
mà còn được thực hiện qua bưu điện và mạng vi tính nhằm phục vụ nhanhnhất, thuận tiện nhất cho mọi khách hàng có nhu cầu bảo hiểm
Kênh phân phối trực tiếp đảm bảo duy trì mối quan hệ trực tiếp mậtthiết giữa doanh nghiệp bảo hiểm với thị trường và khách hàng Điều đó giúpcho các doanh nghiệp bảo hiểm có các thông tin về khách hàng một cách sátthực và nhạy bén Mặt khác, xét về mặt tâm lý, khách hàng tỏ ra yên tâm vàtin tưởng hơn khi giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp bảo hiểm
Kênh phân phối sản phẩm trực tiếp còn tạo điều kiện để giới thiệu sảnphẩm với những khách hàng mà kênh phân phối gián tiếp không phù hợp hoặckhông thể thực hiện được
Việc bán sản phẩm qua kênh phân phối trực tiếp còn có tác dụng là giúpcho các doanh nghiệp bảo hiểm giám sát được chi phí trong khai thác và tiêuthụ sản phẩm của mình, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Vìcông việc khai thác, cấp đơn và tiếp nhận thông tin của khách hàng trực tiếp
do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nên những yêu cầu của khách hàng
sẽ được tiếp cận một cách nhanh nhất góp phần làm giảm chi phí trung gianđồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm xem xét đưa ra nhữngđiều kiện hay thiết kế sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng Mặtkhác, việc các nhân viên bảo hiểm có trình độ nghiệp vụ cao, tiếp xúc trực tiếpvới khách hàng sẽ làm cho khách hàng mau chóng thoả mãn được yêu cầu củamình, góp phần tạo ra cơ hội tốt nhất để giành thế chủ động trong thị trườngcạnh tranh Các yêu cầu của khách hàng được thoả mãn tối đa cũng có nghĩa
là hợp đồng bảo hiểm sẽ được ký kết và công ty không bị mất thời cơ
Tuy vậy, khi thị trường bảo hiểm phát triển thì việc sử dụng kênh phânphối trực tiếp sẽ dẫn đến những bất lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm phi
23
Trang 26nhân thọ đó là: Việc tăng số lượng nhân viên và văn phòng đại diện của cácdoanh nghiệp bảo hiểm dẫn đến tăng chi phí đồng thời làm giảm hiệu quả kinhdoanh Mặt khác, việc bán hàng qua kênh phân phối trực tiếp sẽ không hấpdẫn, đặc biệt khi số lượng khách hàng lớn và doanh nghiệp cần bán các sảnphẩm bảo hiểm có giá trị nhỏ trong khu vực dân cư như các sản phẩm bảohiểm xe cơ giới, bảo hiểm con người, bảo hiểm nhà tư nhân, thì kênh phânphối trực tiếp không đáp ứng được do phải cần một số lượng nhân viên bảohiểm rất lớn để quảng bá, tiếp xúc trực tiếp khách hàng để bán sản phẩm Do
đó, để đạt được mục tiêu mở rộng và phát triển thị trường một cách hiệu quả,bên cạnh việc sử dụng kênh phân phối trực tiếp, các doanh nghiệp bảo hiểmcần phải sử dụng các kênh phân phối gián tiếp
1.2.4.2 Kênh phân phối gián tiếp:
Kênh phân phối gián tiếp là loại kênh tồn tại các trung gian phân phối,các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua hệ thống trung gian để tiêu thụ sảnphẩm bảo hiểm Kênh phân phối gián tiếp đảm bảo sự phân phối các sản phẩmbảo hiểm rộng rãi trên thị trường, thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm mạnh
mẽ hơn Trong nền kinh tế thị trường, cách bán hàng qua kênh gián tiếp sẽ trởnên hấp dẫn hơn do sự linh hoạt và tiện lợi của nó đối với khách hàng Thôngqua sự hoạt động tích cực của các trung gian, các DNBH không chỉ làm tốthơn các dịch vụ chăm sóc khách hàng mà còn thực hiện được mục tiêu pháttriển, mở rộng thị trường của mình
Kênh phân phối gián tiếp sản phẩm bảo hiểm chủ yếu gồm hai nhómsau:
* Đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là những người được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền
để tiến hành giới thiệu và chào bán các sản phẩm bảo hiểm, trên cơ sở hợpđồng đại lý đã ký kết Đối với khách hàng, đại lý là người đại diện cho doanhnghiệp bảo hiểm Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý là mắt xích, một
bộ phận cấu thành rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Đôi khi đại lý là một ngân hàng, một tổ chức hoặc một cơ quan hoạt
Trang 27động như người cung cấp dịch vụ bảo hiểm vì sự thuận tiện và như là mộtdịch vụ bổ trợ cho khách hàng của họ Trong các trường hợp khác một đại lý
là một cá nhân, đại diện cho công ty bảo hiểm phục vụ một nhóm khách hàng,trên cơ sở hoạt động chuyên trách hoặc bán chuyên trách Các đại lý bảo hiểmđược doanh nghiệp trả hoa hồng Hoa hồng này có thể bao gồm một phần cốđịnh và phần gắn theo doanh thu hoặc gắn hoàn toàn theo doanh thu bán được.Công việc chủ yếu của đại lý bảo hiểm gồm:
- Giới thiệu, chào bán sản phẩm bảo hiểm: Đại lý có thể thay mặt doanhnghiệp bảo hiểm mang các sản phẩm bảo hiểm đi giới thiệu và chào bán chokhách hàng có nhu cầu mua bảo hiểm
- Thu xếp việc ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa khách hàng với doanh nghiệp bảo hiểm
- Thu phí, cấp biên lai và các thông tin về loại hình bảo hiểm cho khách
Đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp là những đối tượng khi giao kết hợp
đồng đại lý bảo hiểm cam kết sử dụng toàn bộ thời gian để tiến hành các côngviệc đã giao kết theo hợp đồng và coi hoạt động đại lý bảo hiểm là nghề chính
và thu nhập chính của bản thân Những đại lý này được đào tạo một cách cóbài bản để có thể bán được một số sản phẩm bảo hiểm phức tạp và được quản
lý một cách chặt chẽ Đây là lực lượng bán hàng mới được thành lập tại thịtrường bảo hiểm Việt Nam nhưng có khả năng và triển vọng lớn trong tươnglai Khi thị trường bảo hiểm phát triển và trong điều kiện hội nhập thì chỉ cóthông qua mạng lưới đại lý chuyên nghiệp, các doanh nghiệp bảo hiểm mới có
Trang 2825
Trang 29điều kiện mở rộng thị trường và đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm bảo hiểm,đồng thời đây cũng là mạng lưới khai thác bảo hiểm được đánh giá là có hiệuquả cao nhất đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc tăng trưởng và tiếtkiệm chi phí kinh doanh.
Đại lý bảo hiểm bán chuyên nghiệp là những đối tượng khi giao kết hợp
đồng đại lý bảo hiểm cam kết sử dụng một phần thời gian để tiến hành cáccông việc đã giao kết theo hợp đồng, coi hoạt động đại lý bảo hiểm là nghềphụ làm tăng thêm thu nhập của bản thân Thuộc lực lượng đại lý bán chuyênnghiệp là những người nằm ở các cơ sở sản xuất kinh doanh, các đơn vị kháchhàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm Họ hoạt động đại lý không mang tính ngànhnghề chuyên nghiệp mà nặng về tính dịch vụ Do vậy, khả năng tinh thôngnghiệp vụ không cao nên trong các dịch vụ bảo hiểm lớn thường phải có cáccán bộ bảo hiểm tham gia Do đó, chi phí khai thác nghiệp vụ cao và tổ chức
bộ máy của các doanh nghiệp bảo hiểm không giảm
Đại lý tổ chức là các tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp theo
quy định của pháp luật và ký hợp đồng đại lý bảo hiểm
* Môi giới bảo hiểm:
Điều 89 mục 2 Luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định rõ: "Doanhnghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảohiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác củapháp luật liên quan”
Trong nền kinh tế thị trường sự xuất hiện của các tổ chức môi giới bảohiểm là một tất yếu khách quan Do nhu cầu của cả người bán bảo hiểm vàngười mua bảo hiểm Chức năng cơ bản của môi giới bảo hiểm là cung cấpthông tin, thực hiện vai trò cầu nối giữa cung và cầu sản phẩm bảo hiểm Vớivai trò của mình người môi giới bảo hiểm đảm bảo cho quá trình lưu thông vàtiêu thụ sản phẩm bảo hiểm trở nên suôn sẻ hơn, đáp ứng nhu cầu của cả công
ty và khách hàng bảo hiểm
26
Trang 30Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp môi giớibảo hiểm được thực hiện những công việc sau:
- Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm
- Tư vấn cho bên mua bảo hiểm (khách hàng) trong việc đánh giá rủi ro,lựa chọn loại hình bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản, biểu phí bảohiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
- Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm
-Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện hợpđồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là một đơn vị kinh doanh được hưởnghoa hồng môi giới bảo hiểm Họ phải thực hiện nghĩa vụ môi giới trung thực,không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợppháp của bên mua bảo hiểm và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bênmua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra Trong hoạt động bảohiểm, môi giới bảo hiểm là người đại diện cho khách hàng không phải làngười đại diện cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhưng lại thu môi giới phí từdoanh nghiệp bảo hiểm Môi giới giúp cho DNBH và khách hàng gặp nhau do
đó hoạt động môi giới phát triển mạnh sẽ giúp DNBH tăng được doanh thubảo hiểm Tuy nhiên, khi cạnh tranh càng mạnh thì môi giới bảo hiểm càngđặt ra nhiều yêu cầu, đòi hỏi bất lợi đối với DNBH đòi hỏi DNBH cần phảithận trọng cân nhắc trước mỗi quyết định để đảm bảo hiệu quả kinh doanh
1.2.5 Tổ chức (thiết kế) kênh phân phối
1.2.5.1 Khái niệm tổ chức kênh phân phối
Tổ chức (thiết kế) các kênh phân phối của doanh nghiệp trên thị trường
là một công việc quan trọng và phức tạp liên quan đến phân chia một cách tíchcực các công việc phân phối, nhằm tạo ra một cấu trúc kênh tối ưu Đối vớilĩnh vực bảo hiểm, kênh phân phối đã hình thành và phát triển qua nhiều
Trang 31năm Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển của thị trường, kênh phân phối sảnphẩm hiện tại của các doanh nghiệp bảo hiểm còn có những tồn tại, hạn chếnhất định đòi hỏi cần được cải tiến, tổ chức lại.
Tổ chức hay thiết kế kênh phân phối có thể hiểu là tất cả các hoạt độngliên quan đến việc phát triển những kênh phân phối mới ở những nơi trước đó
nó chưa tồn tại hoặc để cải tiến các kênh hiện tại Tổ chức kênh là tập hợpnhững quyết định nhằm xác định cấu trúc các bộ phận cấu thành hệ thốngkênh bao gồm các thành viên, các tổ chức bổ trợ và quan hệ làm việc giữa các
bộ phận trong hệ thống
1.2.5.2 Quy trình tổ chức kênh phân phối
* Nhận dạng khi nào doanh nghiệp phải thiết kế kênh
Trước hết, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải xác định khi nào cần làmquyết định thiết kế kênh Điều này rất quan trọng, đặc biệt khi doanh nghiệpbảo hiểm cần cải tạo các kênh hiện có chứ không phải tổ chức một kênh hoàntoàn mới Một số trường hợp cần thiết phải quyết định thiết kế kênh là:
- Phát triển sản phẩm mới hoặc dòng sản phẩm mới Nếu các kênh hiện
có cho các sản phẩm khác là không thích hợp với sản phẩm hoặc dòng sảnphẩm mới, kênh mới cần được xây dựng hoặc các kênh hiện tại cần được sửađổi, cải tiến cho phù hợp
- Đưa các sản phẩm hiện tại vào thị trường mục tiêu
- Có sự thay đổi cơ bản trong một số biến số của marketing mix
- Thiết lập công ty, chi nhánh mới tại các khu vực thị trường mới hoặchiện tại
- Xảy ra những sự thay đổi môi trường chủ yếu, có thể ở môi trường kinh tế, xã hội, pháp luật, môi trường kỹ thuật, cạnh tranh
- Thay đổi khả năng sẵn sàng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của cáctrung gian phân phối cụ thể
28
Trang 32- Xảy ra xung đột giữa các thành viên kênh
- Việc xem xét và đánh giá thường xuyên hoạt động của kênh trong thời
kỳ trước có thể dẫn đến cần thay đổi các kênh hiện có hoặc cần thiết lập kênhmới
* Xác định và phối hợp các mục tiêu phân phối
Doanh nghiệp bảo hiểm phải xác định các mục tiêu phân phối mà hệthống kênh cần đạt được Những mục tiêu có thể là mức dịch vụ khách hàng,yêu cầu hoạt động của các trung gian Các mục tiêu này phải được xác lậptrong quan hệ với các mục tiêu và chiến lược của các biến số marketing hỗnhợp khác và với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Cácmục tiêu cần được xác định rõ ràng và định lượng Các mục tiêu phân phốicủa doanh nghiệp là không cố định, chúng cần thiết phải thay đổi theo yêu cầucủa thị trường mục tiêu và môi trường marketing
Để xác định các mục tiêu phân phối trong sự phối hợp tốt với các mụctiêu và chiến lược khác của doanh nghiệp, người quản lý kênh phải thực hiện
3 công việc sau:
- Phối hợp các mục tiêu phân phối với các mục tiêu và chiến lược trongcác biến số marketing mix khác và với các mục tiêu và chiến lược có liênquan của công ty
- Xác định các mục tiêu phân phối rõ ràng, dứt khoát Mục tiêu phânphối là những tuyên bố cơ bản mô tả phần mà hoạt động phân phối đóng góp
để đạt được các mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp
- Kiểm tra các mục tiêu phân phối để xác định chúng có phù hợp vớicác mục tiêu và chiến lược marketing và chiến lược tổng thể của doanh nghiệpkhông Để làm được điều này, phải kiểm tra quan hệ qua lại và sự phân cấpcác mục tiêu và chiến lược trong doanh nghiệp Kiểm tra sự thích hợp có tầmquan trọng đặc biệt khi xác định mục tiêu phân phối bởi vì các mục tiêu phân
Trang 33phối có thể có ảnh hưởng dài hạn đến doanh nghiệp, đặc biệt nếu mục tiêuphân phối là trọng tâm của các mục tiêu và chiến lược bậc cao hơn.
* Phân loại các công việc phân phối
Sau khi các mục tiêu phân phối đã được xác lập và phối hợp, ngườiquản lý kênh phải xác định các công việc phân phối cần thực hiện để đạt đượccác mục tiêu này Do đó, người quản lý kênh phải phân loại chính xác bảnchất của những công việc mà hệ thống kênh phân phối của doanh nghiệp phảithực hiện Đối với doanh nghiệp bảo hiểm công việc phân phối gồm:
- Thu thập thông tin về tình hình thị trường mục tiêu Đảm bảo thôngtin hai chiều giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với thị trường, kháchhàng
- Truyền tin về sản phẩm đến thị trường mục tiêu
- Giới thiệu, chào bán sản phẩm bảo hiểm
- Thu xếp việc ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm
- Thu phí bảo hiểm, cấp biên lai và các giấy tờ khác
- Quản lý hợp đồng bảo hiểm
- Dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ sau bán hàng
- Giải quyết bồi thường cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm
- Cạnh tranh với các sản phẩm khác…
* Phân tích các biến số ảnh hưởng đến cấu trúc kênh
Doanh nghiệp phải phân tích toàn diện về thị trường và môi trườngmarketing để xác định những yếu tố tác động chủ yếu đến hoạt động của kênhphân phối Đây sẽ là những căn cứ để lựa chọn thị trường mục tiêu, xác địnhcấu trúc kênh, lựa chọn mức độ liên kết giữa các thành viên trong kênh, lựachọn được các thành viên kênh cụ thể Phân tích các yếu tố tác động ảnhhưởng đến cấu trúc kênh càng đầy đủ, chính xác bao nhiêu càng giúp doanh
30
Trang 34nghiệp có cơ sở căn cứ thực tiễn để lựa chọn và tổ chức được một hệ thống kênh tối ưu Những căn cứ chủ yếu bao gồm:
- Đặc điểm của khách hàng bảo hiểm ở những vùng thị trường khácnhau: số lượng, cơ cấu khách hàng, thu nhập và khả năng thanh toán, nhu cầu
về sản phẩm bảo hiểm, đặc điểm và thói quen mua sản phẩm, khả năng tiếpcận, tâm lý tiêu dùng đối với sản phẩm bảo hiểm
Định hướng theo khách hàng là nguyên tắc cơ bản của quản trịmarketing nói chung và quản trị kênh phân phối nói riêng Trong quản trị kênhphân phối, đặc điểm của khách hàng, thị trường mục tiêu là yếu tố cơ bản nhấtđịnh hướng cho thiết kế cấu trúc và kiểu quan hệ trong kênh phân phối Cấutrúc kênh phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đem đến cho ngườimua các lợi ích mà họ mong muốn Nhưng lợi ích cơ bản người tiêu dùngmong muốn nhận được từ kênh phân phối là thông tin về sản phẩm, sự đadạng hoá và lợi ích của sản phẩm, giải quyết bồi thường cho khách hàng (chấtlương sản phâm), và dịch vụ khách hàng khác kèm theo
- Đặc điểm của sản phẩm bao gồm: tính vô hình, quy trình sản xuất ngược, dịch vụ sau bán hàng, quy trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm
- Phân tích hệ thống phân phối hiện có trên thị trường và xu hướng pháttriển của chúng: Phân tích việc sử dụng các kênh phân phối hiện có trên thịtrường; phân tích hệ thống phân phối của các đối thủ cạnh tranh: tổ chức bánhàng, sử dụng kênh phân phối, đội ngũ trung gian phân phối, cơ chế khuyếnkhích các trung gian phân phối; phân tích chi phí và hiệu quả của hệ thốngkênh phân phối hiện có; phân tích hệ thống thông tin trong hệ thống của công
ty và của đối thủ cạnh tranh; phân tích và dự đoán xu thế vận động và pháttriển của hệ thống phân phối trên thị trường
- Phân tích các đặc điểm về cạnh tranh, như mức độ cạnh tranh theo khu vực địa lý và đối với từng loại sản phẩm
- Các đặc điểm của doanh nghiệp gồm: quy mô, sức mạnh về tài chính,kinh nghiệm quản lý, giá bán sản phẩm, kênh truyền thống và những mục tiêu
Trang 35và chiến lược kinh doanh Đặc điểm doanh nghiệp là căn cứ quan trọng khi tổchức kênh phân phối của doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ quyết định đến khả năng của doanh nghiệp tìm được các thành viên kênhthích hợp Nguồn lực của doanh nghiệp sẽ quyết định nó có thể thực hiện cácchức năng phân phối nào và phải nhường cho các thành viên khác những chứcnăng nào
- Các đặc điểm của môi trường: những điều kiện kinh tế, xã hội, luật pháp và những hạn chế về trình độ quản lý, công nghệ
* Xác định cấu trúc kênh
Khi xác định cấu trúc kênh các doanh nghiệp phải xác định biến số chủ yếu: chiều dài, chiều rộng và loại trung gian của kênh
ADoanh nghiệp
Đại lý, môi giới
(Trung gian phân phối)
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc các kênh phân phối của doanh nghiệp bảo hiểm
Sơ đồ trên biểu diễn hai kênh phân phối phổ biến cho sản phẩm bảohiểm với số cấp độ trung gian trong mỗi kênh phân phối khác nhau Tuỳ theoquy mô doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường, doanh nghiệp bảo hiểm lựachọn kênh theo chiều dài thích hợp
Kênh A là kênh phân phối trực tiếp Các doanh nghiệp bảo hiểm sửdụng lao động của chính mình trực tiếp bán sản phẩm cho người tiêu dùngcuối cùng Đây là kênh truyền thống mà các doanh nghiệp bảo hiểm đã vàđang sử dụng
32
Trang 36Kênh B là kênh phân phối một cấp, sản phẩm từ doanh nghiệp bảo hiểmqua các đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và đến người tiêu dùng cuối cùng.Kênh này được hình thành khi doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa các loạihình sản phẩm, mở rộng phạm vi hoạt động, mong muốn thu đối tượng kháchhàng một cách rộng rãi và phân tán Đây là kênh mang tính chiến lược và hiệuquả trong tương lai của các doanh nghiệp bảo hiểm
Mỗi kiểu kênh theo chiều dài tức là số cấp độ trung gian có mặt trongkênh khác nhau thường thích hợp với một số loại sản phẩm nhất định Trongnhiều trường hợp doanh nghiệp sử dụng đồng thời hai kênh trên cho cùng mộtloại sản phẩm, tới cùng nhóm khách hàng mục tiêu Phân phối song song nhưvậy thường được sử dụng để đạt được mức bao phủ của thị trường nhanhchóng Tuy nhiên nó cũng nảy sinh những xung đột trong hệ thống kênh
- Xác định chiều rộng của kênh
Để đạt được sự bao phủ thị trường, tiếp cận và khai thác thị trường tốtnhất, doanh nghiệp phải quyết định số lượng các trung gian phân phối ở mỗicấp độ phân phối trong kênh Các phương pháp phân phối khác nhau sẽ giúpdoanh nghiệp đạt tới các mục tiêu này Doanh nghiệp có thể nghiên cứu vậndụng một trong ba phương thức là phân phối rộng rãi, phân phối chọn lọc vàphân phối đặc quyền
- Xác định các loại trung gian tham gia vào kênh
Ở mỗi cấp độ trung gian của kênh phân phối thường có nhiều loại trunggian khác nhau hoạt động Mỗi trung gian có điểm mạnh, điểm yếu, quy mô,phương thức kinh doanh khác nhau, vì vậy, họ thường thích hợp với việc kinhdoanh một số sản phẩm và thực hiện một số công việc phân phối nhất định.Ngược lại, mỗi loại sản phẩm cũng chỉ thích hợp với một số trung gian nhấtđịnh Các loại trung gian trên thị trường cũng luôn biến đổi Do vậy, doanhnghiệp phải phân tích các trung gian hiện có trên thị trường để có thể sử dụngnhững loại trung gian thích hợp trong hệ thống kênh phân phối để thoả mãnnhu cầu của khách hàng
Trang 37* Chọn cấu trúc kênh tốt nhất
Kênh phân phối tối ưu phải đạt được một số yêu cầu về mục tiêu phânphối của doanh nghiệp như: yêu cầu bao phủ thị trường của hệ thống kênh;yêu cầu về mức độ điều khiển kênh; yêu cầu về tổng chi phí thấp nhất và yêucầu về tính linh hoạt của kênh Về lý thuyết, doanh nghiệp bảo hiểm có thểchọn một cấu trúc kênh tối ưu Cấu trúc kênh này đáp ứng mong muốn thựchiện các công việc phân phối hiệu quả ở mức chi phí thấp nhất có thể Tuynhiên, trên thực tế là không thể chọn một cấu trúc kênh hợp lý cho các dòngsản phẩm khác nhau, giai đoạn kinh doanh và mục tiêu khác nhau
Nhiều doanh nghiệp bán sản phẩm của họ đồng thời qua nhiều kênhphân phối khác nhau để tiếp cận thị trường mục tiêu Trong trường hợp nhưvậy, doanh nghiệp phải xem xét mức độ thống nhất trong chính sáchmarketing áp dụng cho các kênh Sử dụng nhiều kênh phân phối, doanhnghiệp có thể sáng tạo nhiều con đường tới thị trường, thoả mãn nhu cầu củakhách hàng và tăng doanh thu bán hàng Tuy nhiên, phân phối song song cũng
có thể là nguyên nhân gây nên xung đột trong kênh và có thể bị pháp luật hạnchế
Thông thường cấu trúc kênh phân phối của doanh nghiệp bảo hiểm hiênnay trên thị trường là:
Doanh nghiÖp b¶o hiÓm
§¹i lý b¶o hiÓm
Kh¸ch hµng
Sơ đồ 1.3 Cấu trúc kênh phân phối tối ưu của các doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 3834
Trang 391.2.6 Nội dung cơ bản của Quản trị kênh phân phối:
Sau khi kênh phân phối đã được thiết kế hay doanh nghiệp đã chọn mộtphương án kênh vấn đề quan trọng là phải quản lý, điều hành hoạt động củachúng Việc quản lý kênh tập trung vào các hoạt động lựa chọn kênh, khuyếncác thành viên kênh, đánh giá hoạt động của các thành viên kênh và giải quyếtmâu thuẫn của các kênh
1.2.6.1 Tuyển chọn các thành viên kênh
Giống như việc lựa chọn nhân sự cho doanh nghiệp, trong quá trình tổchức hoạt động của kênh, doanh nghiệp phải lựa chọn và thu hút những trunggian cụ thể tham gia vào kênh phân phối của mình Tuyển chọn thành viênkênh có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của kênh Do vậy, việc lựachọn thành viên kênh là một việc rất quan trọng, phải được xem xét kỹ lưỡng,đưa ra các tiêu chuẩn và phương pháp lựa chọn để có thể tuyển chọn chínhxác các thành viên kênh
Việc tuyển chọn thành viên kênh là công việc cuối cùng của việc thiết
kế kênh Tuy nhiên, quyết định tuyển chọn thành viên kênh là thường xuyên,cần thiết ngay cả khi không thay đổi cấu trúc kênh Bởi thực tế doanh nghiệp
có thể muốn mở rộng thị trường hoặc tuyển chọn để thay thế thành viên kênh
đã bỏ khỏi kênh Qúa trình lựa chọn thành viên kênh gồm ba bước cơ bản:
-Tìm kiếm các thành viên kênh có khả năng
- Dùng các tiêu chuẩn tuyển chọn để đánh giá khả năng phù hợp của các thành viên kênh
- Bảo đảm thành viên này là chắc chắn tham gia kênh
1.2.6.2 Khuyến khích các thành viên kênh phân phối
Để các trung gian phân phối hoàn thành tốt nhất công việc của họ và đểcác thành viên hợp tác chặt chẽ với nhau lâu dài trong hoạt động tiêu thụ sảnphẩm, các doanh nghiệp bảo hiểm cần thường xuyên chú trọng thực hiệnkhuyến khích, động viên các trung gian phân phối Doanh nghiệp phải tìm
35
Trang 40hiểu nhu cầu, mong muốn và những khó khăn của các thành viên kênh Trên
cơ sở những nhu cầu và vướng mắc đó đưa ra sự trợ giúp các thành viên kênh;lãnh đạo kênh thông qua sử dụng quyền lực một cách có hiệu quả
- Tìm ra các nhu cầu và mong muốn của các thành viên kênh
Muốn khuyến khích các thành viên trong kênh thành công thì doanhnghiệp cần phải cố gắng tìm hiểu xem những người này cần gì từ các mốiquan hệ trong kênh, họ có những nhu cầu và đang gặp phải trở ngại gì? Cáctrung gian phân phối họ là những cá nhân, những doanh nghiệp kinh doanhđộc lập, họ là một thị trường độc lập, có sức mạnh và có kế hoạch kinh doanhriêng Trong nhiều trường hợp quan điểm và mong muốn của doanh nghiệpvới các trung gian phân phối là khác nhau, do vậy cần phải điều tra để cónhững chích sách thích ứng với nhu cầu và mong muốn của họ Để nhận biết
về nhu cầu và mong muốn của các thành viên trong kênh, doanh nghiệp có thể
+Thông qua hội đồng tư vấn của doanh nghiệp, sẽ có lợi là : một là nótạo ra sự công nhận đối với các thành viên trong kênh, hai là cung cấp mộtphương tiện để người xác định và bàn bạc về những yêu cầu và khó khănchung không giúp cho việc cải thiện toàn bộ hệ thống liên lạc trong kênh
- Giúp đỡ và khuyến khích các thành viên kênh
Sau khi nghiên cứu nhu cầu và khó khăn của các thành viên kênh, các doanh nghiệp cần có nỗ lực khuyến khích và giúp đỡ các thành viên kênh đáp