1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ thương mại trung quốc liên minh châu âu (EU) và tác động của nó đến việt nam chính trị

109 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 109,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới tác động đa chiều của các biến cố trong nền kinh tế thế giới, mốiquan hệ hợp tác thương mại giữa Trung Quốc và EU đang bộc lộ những xu... Với nền kinh tế toàn cầu hoá, việc tổ chức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

***********

VŨ THỊ NGUYỆT NGA

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC – LIÊN MINH CHÂU ÂU

(EU) VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

Mã số : 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Tạ Kim Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Mục lục

Bảng các chữ viết tắt

Lời mở đầu

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế và sự cần thiết khách quan của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế

1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế

1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế

1.1.3 Một số lý thuyết thương mại quốc tế

1.2 Các xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới và sự cần thiết của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU

1.2.1 Xu thế toàn cầu hóa kinh tế

1.2.2 Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển

1.3 Vị thế của EU trong nền kinh tế thế giới và chiến lược của EU với châu Á 1.4 Lợi ích của Trung Quốc trong quan hệ thương mại với EU

Chương 2 Thực trạng quan hệ thương mại Trung Quốc - EU trong giai đoạn từ 1990 đến nay và tác động của nó đến Việt Nam

2.1 Chính sách lâu dài của EU đối với Trung Quốc

Trang 4

2.1.1 Tổng quan về quan hệ Trung Quốc – EU 24

2.4 Tác động của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đến nền kinh tế 52

Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

2.4.1 Những đặc điểm của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU 492.4.2 Tác động của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đến nền kinh tế Việt 52Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3.1.2 Cải cách chính sách thu hút đầu tư nước ngoài 65

3.2 Quan điểm của Việt Nam về việc phát triển quan hệ thương mại Việt 66

Nam – EU

3.2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam – EU và triển vọng 663.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc phát triển quan hệ thương mại 67Việt Nam – EU

Trang 5

3.3.1 Cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam 71

Trang 6

3.3.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng xuất khẩu 743.3.3 Phát triển nguồn nhân lực 793.3.4 Tăng cường xúc tiến thương mại của Việt Nam đối với 82

Trang 7

Uỷ ban châu ÂuCộng đồng Than – Thép Châu ÂuLiên minh Châu Âu

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoàiChế độ ưu đãi phổ cập

Hiện đại hoáQuỹ Tiền tệ thế giớiQuy chế kinh tế thị trườngChế độ đãi ngộ tối huệ quốcKhối quân sự Bắc Mỹ

Các nền kinh tế công nghiệp mớiNgân hàng thế giới

Diễn đàn kinh tế thế giới

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

Bảng 1 Khu vực xuất khẩu của Trung Quốc (% tổng lượng hàng xuất khẩu)

Bảng 2 Tỷ lệ hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước và

khu vực khác nhau trong năm 1999 (%)

(Tài liệu tham khảo số 31)

Trang 10

- Các sản phẩm công 7,68,4

nghiệp khác

Bảng 3 Luồng FDI trong giai đoạn 1987 – 2000

(Tài liệu tham khảo số 29)

Đơn vị: Triệu USD

Bảng 4 Ngoại thương và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ở một số năm

(Tài liệu tham khảo số 17)

1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

(tỷ USD)

Trang 11

2 Tổng sản phẩm quốc dân

(Tỷ Nhân dân tệ)

(Nhân dân tệ/USD)

Trang 12

Bảng 7 Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim

ngạch xuất khẩu của Việt Nam ( 1994 – 2000)

Bảng 8 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và cán cân thương mại Việt

Nam giai đoạn 1992 – 2001.

(Tài liệu tham khảo số 24)

1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài.

Nền kinh tế thế giới trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 đượckhắc họa bởi rất nhiều đặc điểm phát triển mới, trong đó nổi bật là: các nềnkinh tế quốc gia lớn, nhỏ ngày càng tương thuộc chặt chẽ với nhau và đangkết nối thành một mạng lưới thống nhất trên quy mô toàn cầu; các nền kinh

tế quốc gia và khu vực đang xúc tiến quá trình liên kết, hội nhập và mở cửatheo hướng tự do hoá

Theo xu hướng trên, xuất hiện hàng loạt các mô hình liên kết kinh tếkhu vực và thế giới nhiều cấp độ Trong các mô hình liên kết kinh tế hiệnnay, mô hình có hiệu quả nhất là mô hình liên kết của liên minh Châu Âu(EU) Cho đến nay, EU đã trở thành một tổ chức của 25 quốc gia Châu Âu

có tính thống nhất cao về kinh tế, chính trị và xã hội Và đặc biệt là vấn đềthống nhất tiền tệ và đẩy mạnh việc thành lập và hoàn thiện thị trường nội

bộ EU thống nhất Với xu thế phát triển trên, EU ngày nay đã trở thành mộtcực kinh tế có vai trò rất quan trọng trên thế giới

Cũng trong những năm cuối của thế kỷ 20, tình hình thực tế của đấtnước và bối cảnh quốc tế đã buộc Trung Quốc phải thay đổi phương thứcquản lý, tiến hành cải cách, mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tếkhu vực và thế giới Với định hướng phát triển đó, EU đã trở thành một đốitác quan trọng của Trung Quốc Hiện nay, Trung Quốc và EU đã xác địnhđược một quan hệ bền chặt hợp tác và cùng phát triển mọi mặt, trước nhất

và quan trọng nhất là trên lĩnh vực thương mại Mối quan hệ này đã đượchai bên xác định trong các chiến lược phát triển của mình

Dưới tác động đa chiều của các biến cố trong nền kinh tế thế giới, mốiquan hệ hợp tác thương mại giữa Trung Quốc và EU đang bộc lộ những xu

Trang 15

thế phát triển rất phức tạp Quan hệ giữa Trung Quốc và EU không dừng ở mốiquan hệ song phương giữa Trung Quốc với các quốc gia thành viên EU mà còn

là ở mối quan hệ giữa Trung Quốc và toàn EU với tư cách là khối liên kết kinh tếlớn trên thế giới Có thể nói, mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU đãphản ánh rất đầy đủ tất cả các xu thế phát triển về kinh tế nói chung và thươngmại nói riêng trên thế giới hiện nay Hơn thế nữa, mối quan hệ này còn có ảnhhưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới Vì vậy, những nhận định về mối quan hệthương mại Trung Quốc và EU không chỉ những phán đoán thông thường màphải là kết quả của việc nghiên cứu nghiêm túc trên các cơ sở khách quan và mộtgóc nhìn toàn diện

Trong quá trình phát triển, Trung Quốc và Việt Nam đã bộc lộ nhiềuđặc điểm tương đồng Tiến trình và kết quả của mối quan hệ thương mạigiữa Trung Quốc và EU tác động trực tiếp tới quá trình phát triển hội nhậpkinh tế thế giới của Việt Nam hiện nay

Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như vậy nên tôi chọn đề tài nghiên

cứu cho luận văn thạc sỹ của mình là: “Quan hệ thương mại Trung Quốc Liên minh Châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam”

-2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những thập kỷ gần đây, cả Trung Quốc và EU đang nổi lên lànhững đối trọng lớn trong nền kinh tế thế giới Những động thái của haichủ thể này là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoàinước Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và về

EU Có thể kể đến các công trình sau:

- “Chiến lược của EU từ sau chiến tranh lạnh đến nay” của PGS.TS Kim Ngọc thuộc công trình khoa học cấp Nhà nước (KHXH06-02)

- “ Quan điểm và đối sách của EU trong việc Trung Quốc gia nhập WTO” của PGS.TS Kim Ngọc - đề tài khoa học cấp Nhà nước

Trang 16

- “Chính sách lâu dài của Liên minh Châu Âu đối với Trung Quốc vàquan hệ mậu dịch song phương”, theo tạp chí “Kinh tế thế giới” (TrungQuốc) số 8-1999.

- “Kinh tế và chính sách của EU mở rộng” của Giáo sư Carlo

Altomonte và Giáo sư Mario Nava, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2004

- “EU- Trung Quốc: quan hệ đối tác quan trọng”, quan điểm của Uỷviên Châu Âu về quan hệ đối ngoại Chris Patten - theo TTXVN (Brucxen11/11)

- “Tình hình và triển vọng kinh tế Trung Quốc” của các tác giả TrungQuốc: Mã Hồng và Tôn Tượng Thanh do NXB Chính trị quốc gia, HN,

1998

- “Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU” của Th.S Đỗ Thanh Hà,theo tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 15(58) tháng 4/2005.Cùng một số tác phẩm được xuất bản trong các tạp chí chuyên ngành khác

Tuy nhiên, phần lớn các công trình này đều chỉ là những nghiên cứuđộc lập hoặc về Trung Quốc hoặc về EU, có rất ít tác phẩm nghiên cứu vềmối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU Vả lại, các tác phẩm nàymới chỉ đề cập đến mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU ở một

số khía cạnh nhất định Vì vậy, một nghiên cứu mang tính hệ thống và kháiquát tất cả các đặc điểm của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc –

EU và tác động đến Việt Nam là một vấn đề hoàn toàn mới và cần thiết

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: quan hệ thương mại Trung Quốc - EU, baogồm cả các mối quan hệ song phương và đa phương Tác động của mốiquan hệ thương mại giữa Trung Quốc – EU tới Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đã hình thành

từ lâu, nhưng thực sự khởi sắc từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (từ

Trang 17

năm 1990 trở đi) và bộc lộ những xu thế vận động rõ nét Vì vậy, tôi chọnphạm vi nghiên cứu là từ năm 1990 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm phươngpháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phântích hệ thống, phương pháp so sánh và áp dụng phương pháp thống kê học

để xử lý số liệu

5 Những đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hoá lý thuyết về thương mại quốc tế, làm rõ cơ sở thực tiễncủa mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU

- Phân tích thực trạng mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU,

- Phân tích những tác động của mối quan hệ thương mại Trung Quốc -

EU tới Việt Nam

- Khuyến nghị về những giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan

hệ Việt Nam - EU

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế và

sự cần thiết khách quan của quan hệ thương mại Trung Quốc - EU

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Trung Quốc - EU trong

giai đoạn từ 1990 đến nay và tác động của nó đến Việt Nam

Chương 3: Giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ

thương mại Việt Nam - EU

Trang 18

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC

TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUAN HỆ

THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC – EU

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc

tế Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nướcthông qua mua bán Sự trao đổi đó là một hình thức của quan hệ xã hội vàphản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hànghoá riêng biệt của các quốc gia

Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, có thể

là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hoặc thị trường của nướcxuất khẩu hay nước nhập khẩu, ở đó diễn ra các hoạt động mua bán hànghoá của các bên tham gia trao đổi

Các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác quốc gia, cóthể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể hoặc tư nhân.Mục đíchtham gia thương mại quốc tế của họ là có lợi trong việc trao đổi

Hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật chất, hàng hoádịch vụ… Trao đổi quốc tế hàng hoá vật chất gọi là thương mại hàng hoá quốc

tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại thương Hàng hoá vật chất là những hànghoá tồn tại dưới dạng vật chất, định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lươngthực thực phẩmvà phi lương thực thực phẩm Trong trao đổi, người mua vàngười bán mua bán với nhau quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá Do có sựcách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước xuấtkhẩu sang nước nhập khẩu Cùng với các nghiệp vụ

Trang 19

mua, bán hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo quản, bảohành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế…

Trao đổi quốc tế hàng hoá dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ quốc tế,

ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ Hàng hoá dịch vụ lànhững hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó định lượng được, không

dự trữ được Quá trình cung cấp diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ (sửdụng) hàng hoá dịch vụ Trong trao đổi, người bán (người cung cấp dịchvụ) và người mua (người nhận dịch vụ) mua bán với nhau về quyền sửdụng hàng hoá dịch vụ Do có sự cách biệt về địa lý giữa người cung cấp vàngười nhận dịch vụ, hàng hoá dịch vụ có thể di chuyển hoặc không dichuyển qua biên giới

Phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa người mua vàngười bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi

Vai trò của thương mại quốc tế

Ngày nay, khối lượng thương mại thế giới thông qua xuất khẩu tănglên rất nhanh Thông qua xuất nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng củamỗi nước tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mà ở nền kinh tế tựcung tự cấp không bao giờ có được Đặc biệt với các nước đang phát triển,nhờ thương mại quốc tế, họ có được cơ hội tạo công ăn việc làm, tăng thunhập, tạo ra tích luỹ, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Các nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và quốc tế hoá theohướng hình thành một thị trường thế giới đông nhất nên sự phụ thuộc giữacác quốc gia thông qua thương mại ngày càng tăng lên

Thương mại quốc tế là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùnggiữa các nước Chính vì vậy mà nó có một vai trò rất quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân của mỗi nước:

Trang 20

+ Thương mại quốc tế tác động vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất vàtiêu dùng phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất và tiêu dùngtheo hướng phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế.

+ Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là

mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước hay nói cách khác là

nó làm thay đổi phương thức sản xuất và phương thức tiêu dùng Thươngmại quốc tế cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượngnhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn của khả năng sản xuất trongnước khi thực hiện chế độ tự cung, tự cấp, không buôn bán

+ Thương mại quốc tế còn làm cho thu nhập GDP tăng lên, cải thiện đời sống của nhân dân

+ Thương mại quốc tế giúp cho các nước thoả mãn nhu cầu về vănhoá, nâng cao trình độ văn hoá, quan hệ với nhiều nước trên thế giới, nângcao uy tín trên thị trường quốc tế

+ Thương mại quốc tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Một số lý thuyết thương mại quốc tế

Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã có một lịch sử lâu đời Các lýthuyết dau bổ sung và hoàn thiện những lý thuyết trước nhằm giải thích sâusắc hơn bản chất và những yếu tố quyết định thương mại quốc tế Sau đây,tôi xin trình bày một số lý thuyết thương mại quốc tế điển hình

Học thuyết trọng thương

Quan điểm của trường phái Trọng thương về thương mại quốc tế ra đờivào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 Học thuyết Trọng thương cho rằng, mỗi nướcmuốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khốilượng tiền tệ; muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước thì con đường chủyếu phải phát triển ngoại thương tức là phát triển buôn bán với

Trang 21

nước ngoài; lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kết quả của sựtrao đổi không ngang giá và lừa gạt Trong trao đổi phải có một bên thua và mộtbên được và trong thương mại quốc tế thì dân tộc này làm giầu bằng cách hy sinhlợi ích của dân tộc khác; phái Trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trongviệc điều khiển kinh tế thông qua bảo hộ, cụ thể là Nhà nước phải hạn chế tối đanhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụchính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp.

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith bắt đầu từ giữa thế kỷ 18 Adam Smith đã đưa ra các giả thiết sau:

+ Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng

+ Chi phí vận chuyển bằng 0

+ Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữacác ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốcgia

+ Thương mại là hoàn toàn tự do

Theo Adam Smith mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá và nhữngngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa sử dụng những lợi thếtuyệt đối đó cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp hơn các nướckhác Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được hiện tượng: Mộtnước có lợi thế hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế nào

cả thì chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế là ở đâu và thương mạiquốc tế sẽ diễn ra như thế nào đối với các nước này

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh của David Ricardo

Để xây dựng lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh, Ricardo

đã đưa ra một số giả thiết sau:

+ Chỉ có hai quốc gia và hai loại sản phẩm

Trang 22

+ Thương mại tự do.

+ Không có chi phí vận chuyển

+ Chi phí sản xuất là cố định

+ Lao động được di chuyển trong phạm vi mỗi quốc gia nhưng

không được di chuyển giữa các quốc gia

+ Lý thuyết tính giá trị bằng lao động

Theo lý thuyết này mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham giavào quá trình phân công lao động quốc tế Bởi vì phát triển ngoại thươngcho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước Một quốc gia nênchuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩuhàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác Những lợithế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệtđối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể vàvẫn có lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánhnhất định về một số mặt hàng khác

Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được nguồn gốc phátsinh lợi thế của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, do vậy khônggiải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của qúa trình thương mại quốc tế

Lý thuyết về chi phí cơ hội của Haberler

Vào năm 1936, Haberler đã dựa trên lý thuyết chi phí cơ hội để giảithích quy luật lợi thế so sánh Theo lý thuyết này, chi phí cơ hội của mộtsản phẩm là số lượng của một sản phẩm khác mà người ta phải hy sinh để

có đủ tài nguyên sản xuất tăng thêm một đơn vị sản phẩm thứ nhất

Theo lý thuyết của Haberler, trong điều kiện chi phí cơ hội là khôngđổi thì đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia là một đường thẳngbiểu thị sự kết hợp thay thế lẫn nhau giữa hai sản phẩm mà quốc gia có thểlựa chọn trong điều kiện sử dụng toàn bộ nguồn lực với kỹ thuật là tốt nhất

Trang 23

Trong trường hợp không có thương mại, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng chính là giới hạn tiêu dùng của quốc gia.

Lý thuyết Heckscher - Ohlin

Khái niệm hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố:

Lý thuyết Haberler - Ohlin được xây dựng trên hai khái niệm cơ bản là hàm

lượng (hay độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố Mộtmặt hàng được coi là sử dụng nhiều (một cách tương đối) lao động nếu tỷ

lệ giữa lượng lao động và yếu tố khác như vốn, đất đai sử dụng để sản xuất

ra một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng các yếu tố đó để sảnxuất ra một đơn vị mặt hàng thứ hai Tương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và cácyếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng được coi là có hàm lượng vốn cao

Lưu ý rằng, định nghĩa về hàm lượng vốn (hay hàm lượng lao động)không căn cứ vào tỷ lệ giữa vốn (hay lao động) mà được phát biểu dựa trêntương quan giữa lượng vốn và lao động cần thiết để sản xuất một đơn vịsản lượng

Một quốc gia được coi là dồi dào một yếu tố sản xuất của một quốcgia được đo không phải bằng số lượng tuyệt đối mà bằng tương quan giữa

số lượng yếu tố đó với các yếu tố sản xuất của quốc gia

Xuất phát từ các khái niệm cơ bản trên thì nội dung của định lý

Heckscher - Ohlin có thể tóm tắt như sau: "Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia".

Lý thuyết Heckscher - Ohlin được xây dựng dựa trên một loạt cácgiả thiết đơn giản sau đây:

+ Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất là lao động và vốn,

2 mặt hàng

+ Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia

Trang 24

+ Sản suất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô, còn mỗi yếu tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần.

+ Hàng hoá khác nhau về hàm lượng các yếu tố sản xuất và không có

sự hoán đổi hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tốtương quan nào

+ Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên thị trường hàng hoá lẫn thị trườngyếu tố sản xuất

+ Chuyên môn hoá là không hoàn toàn

+ Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia

+ Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia

+ Thương mại là tự do, chi phí vận chuyển bằng 0

Dựa trên lý thuyết Heckscher - Ohlin thì có thể hình dung rằngnhững nước giầu tài nguyên thiên nhiên sẽ là những nước xuất khẩu chínhtài nguyên đó trên thị trường thế giới Chẳng hạn, Arập Xêút xuất khẩu dầulửa, Zambia xuất khẩu đồng, Jamaica xuất khẩu quặng bô xít v.v… Nhữngnước có nguồn nhân công lớn và tương đối rẻ thì tập trung vào sản xuất vàxuất khẩu những mặt hàng chế biến sử dụng nhiều lao động

Các lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế

Các lý thuyết này có thể phân thành 3 nhóm dựa vào cách tiếp cậncủa chúng: lý thuyết dựa trên hiệu suất theo quy mô; lý thuyết liên quanđến công nghệ; lý thuyết liên quan đến cầu

a Thương mại quốc tế dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy môMột trong những lý do quan trọng dẫn đến thương mại quốc tế làtính hiệu quả tăng dần theo quy mô Sản xuất được coi là có hiệu quả nhấtkhi được tổ chức trên quy mô lớn Lúc đó một sự gia tăng đầu vào với tỷ lệnào đó sẽ dẫn tới sự gia tăng đầu ra (sản lượng) với tỷ lệ cao hơn

Trang 25

b Thương mại dựa theo sự biến đổi của công nghệ

Về thực chất, các lý thuyết thương mại liên quan đến công nghệ cũngtheo đuổi cách tiếp cận chủ yếu của lý thuyết thương mại dựa trên lợi thếtương đối của David Ricardo, nhưng điểm khác là ở chỗ sự khác biệt vềcông nghệ được coi không phải là yếu tố tĩnh và tồn tại mãi mãi: nó chỉ làhiện tượng tạm thời và gắn liền với một quá trình động, liên tục phát triển

c Lý thuyết về khoảng cách công nghệ

Lý thuyết về khoảng cách công nghệ được Posner đưa ra vào năm

1961 Nó dựa trên ý tưởng rằng công nghệ luôn luôn thay đổi dưới hìnhthức ra đời các phát minh và sáng chế mới và điều này tác động đến xuấtkhẩu của các quốc gia

d Lý thuyết vòng đời sản phẩm

Về thực chất lý thuyết vòng đời sản phẩm chính là sự mở rộng của lýthuyết khoảng cách công nghệ Các phát minh có thể ra đời ở các nướcgiàu, nhưng điều đó không có nghĩa là quá trình sản xuất sẽ chỉ được thựchiện ở các nước đó thôi Lý thuyết khoảng cách công nghệ chưa trả lờiđược câu hỏi là phải chăng các hãng phát minh sẽ tiến hành sản xuất tạinhững nước có điều kiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất)đối với mặt hàng mới Theo Vernon (1966) các nhân tố cần thiết cho sảnxuất một sản phẩm mới sẽ thay đổi tuỳ theo vòng đời sản phẩm đó

Lý thuyết về sự tác động của thương mại quốc tế với nước lớn và nước

Trang 26

Giả định: Nước nhỏ là nước không có khả năng tác động đến cácđiều kiện mậu dịch Nước lớn là nước có khả năng tác động mạnh mẽ đếncác điều kiện mậu dịch Các nhà kinh tế học đã chỉ ra tác động của thuếquan đến nước nhỏ là:

+ Khi có thuế quan thì phúc lợi sẽ trở nên ít hơn so với tự do mậu dịch

+ Phúc lợi giảm là kết quả của việc người tiêu dùng và sản xuất trongnước đều chịu những mức giá khác với mức giá thế giới Tổn thất về phúclợi là do sản xuất không hiệu quả

+ Thuế quan làm thu hẹp buôn bán Sau khi có thuế quan, xuất và nhập khẩu đều giảm

Khi đề cập đến thuế quan với một nước lớn thì tác động của thuếquan là không rõ ràng Bởi theo nguyên tắc khi đánh thuế là khiến cho khốilượng thương mại giảm, lợi ích từ thương mại giảm Tuy nhiên, khác vớinước nhỏ - điều kiện mậu dịch được ấn định, thì ở nước lớn điều kiện mậudịch có thể tăng hoặc giảm, khi đó lợi ích từ thương mại cũng có thể tănghoặc giảm Do vậy, nếu điều kiện mậu dịch giảm, thì cũng như trongtrường hợp với nước nhỏ, lợi ích từ thương mại giảm Mặt khác, nếu điềukiện mậu dịch được cải thiện thì lợi ích từ thương mại tăng

Bằng nhiều cách, việc nghiên cứu thương mại quốc tế đã lý giải đượcnhững phúc lợi mà thương mại quốc tế đem lại Đây chính là luận điểmkhẳng định tính tất yếu khách quan của thương mại quốc tế, là nguyên nhântại sao đã từ lâu các nước tích cực tham gia trao đổi với nhau thông quanhiều hình thức và nhiều phương tiện Mối quan hệ thương mại TrungQuốc – EU không những không nằm ngoài quy luật này mà còn đang tíchcực khai thác những lợi ích có được từ việc trao đổi với nhau đem lại

Các xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới và sự cần thiết của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU

Trang 27

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế:

Toàn cầu hoá là kết quả của sự bùng nổ của công nghệ thông tin thếgiới, nó bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại và về thựcchất, nó là hiện tượng kinh tế Toàn cầu hoá kinh tế, xét cho cùng, là hệ quảcủa những biến đổi trong lĩnh vực công nghệ truyền thông và thông tin vàchính 3 nhân tố: công nghệ – kỹ thuật, thông tin và tiền vốn lưu chuyểnxuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá

Do đó, cũng có thể nói, xu thế toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự pháttriển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuấttrên quy mô quốc tế Bản chất của toàn cầu hoá là một tiến trình kháchquan, là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các quy tắc thương mại và đây làmột quá trình chưa kết thúc Với nền kinh tế toàn cầu hoá, việc tổ chức sảnxuất và khai thác thị trường trong phạm vi một nước đã nhanh chóngchuyển sang tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi thế giới

và theo đó, sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều vượt rangoài biên giới quốc gia dân tộc

Vì vậy, toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽnhững mối liên hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước

và các khu vực Theo cách hiểu này, toàn cầu hoá ngày nay là sản phẩm củavăn minh nhân loại và do đó, nó là cơ hội để mọi quốc gia đón nhận, tựnguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy sự phát triển toàn cầu

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thể hiện những nội dungchủ yếu sau:

Thứ nhất, toàn cầu hoá kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự phát triểnnhanh chóng của các quan hệ kinh tế thương mại chu chuyển trên phạm viquốc tế, trong đó, toàn cầu hoá về tài chính là đặc điểm nổi bật chi phối các

Trang 28

tiến trình tự do hoá về thương mại, dịch vụ và đầu tư đã kết với nhau thành một mạng trên quy mô toàn cầu.

Thứ hai, tính chất xã hội hoá sản xuất quy mô lớn trên phạm vi toàncầu xác lập vai trò quyết định và năng động của công tác quản lý Công tácquản lý được sự góp sức đắc lực của công nghệ thông tin

Thứ ba, hình thành sân chơi chung bình đẳng cho mọi nền kinh tế,bất kể đó là nền kinh tế thuộc trình độ và xuất phát điểm phát triển như thếnào Thị trường trong toàn cầu hoá, do đó, được hiểu là thị trường mở vàcác nền kinh tế quốc gia tự nguyện mở cửa nền kinh tế nước mình để trên

cơ sở các lợi thế so sánh vốn có sẽ hội nhập hiệu quả vào các thị trườngkhu vực và thế giới

Thứ tư, trong nền kinh tế toàn cầu, các chính sách kinh tế của quốcgia dân tộc có chủ quyền chịu sự quyết định của 4 chủ thể: quốc gia dân tộc

có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực (ví dụ: ASEAN, EU, ); các thể chếkinh tế quốc tế (IMF, WB, ) và các công ty xuyên quốc gia Bốn chủ thểnày trên thực tế luôn ảnh hưởng lẫn nhau, ràng buộc, hợp tác và đươngnhiên có xung đột với nhau

Thứ năm, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, xu hướng khu vực hoá vàliên kết quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Kể từ đầu thập niên 90,hàng loạt các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế dưới nhiều cấp độ vàmang tính thể chế ngày càng cao, đã ra đời Có thể khẳng định, khu vựchoá là biểu hiện của toàn cầu hoá ở phạm vi địa lý hẹp hơn

Ngày nay, các nước đang rất tích cực tham gia vào quá trình toàn cầuhoá thể hiện qua các quan hệ thương mại, đầu tư song phương và đaphương Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU không nằm ngoài xuhướng này Mục đích tham gia quá trình toàn cầu hoá của các nước là bởi

kỳ vọng đạt được những lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại:

Trang 29

+ Toàn cầu hoá thúc đẩy rất mạnh và rất nhanh sự phát triển và xãhội hoá của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tếthế giới Theo đó, nó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt

là sự giảm dần tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo và tăngmạnh tỷ trọng của các ngành dịch vụ, đặc biệt là các ngành dịch vụ dựa vàocông nghệ mới Đây là tiền đề rất quan trọng cho sự phát triển xã hội mới –hiện đại của con người

+ Toàn cầu hoá truyền bá và chuyển giao trên quy mô lớn những thànhquả mới mẻ, những đột phá sáng tạo về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản

lý, về sản xuất và kinh doanh đưa kiến thức, kinh nghiệm đến mọi quốc gia dântộc, đến từng gia đình, từng người, dọn đường cho các quốc gia thực hiện côngnghiệp hoá cũng như thực hiện bước chuyển sang kinh tế tri thức

+ Toàn cầu hoá kinh tế tạo khả năng phát triển rút ngắn và mang lạinhững nguồn lực rất quan trọng, rất cần thiết cho các nước đang phát triển

và chuyển đổi; từ nguồn vốn tư bản hữu hình đến nguồn tri thức, kinhnghiệm, cả về chiến lược dài hạn đến tổ chức tiến hành trên cả tầm vĩ môquốc gia cũng như tầm vi mô của các doanh nghiệp và cá nhân

+ Toàn cầu hoá đã thúc đẩy cải cách sâu rộng nền kinh tế của mỗiquốc gia để bắt kịp và nâng cao khả năng cạnh tranh của nó trong nền kinh

tế thế giới, chỉ rõ vị trí hàng đầu của yếu tố chất lượng, yếu tố thời gian,yếu tố nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh tranh và hiệu quả trên nhữngthị trường mới, đối tác mới với những cách thức hoạt động mới

+ Toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các dân tộc,kích thích các luồng và các dạng giao lưu, làm cho con người ở mọi châulục ngày càng hiểu nhau, nắm được tình hình cập nhật ở mọi nước và theo

đó, nó góp phần nâng cao dân trí và sự tự khẳng định của các dân tộc, củamỗi con người

Trang 30

Là hai nền kinh tế quan trọng trên thế giới, trong nội tại đang diễn raquá trình phát triển và xã hội hoá mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, TrungQuốc và EU dường như không có sự lựa chọn nào khác là cùng cuốn theochiều phát triển của xu thế toàn cầu hoá kinh tế Xu thế này bằng cách nàyhay khác, đã tác động khiến quan hệ thương mại Trung Quốc – EU ngàycàng trở nên sâu sắc và thể hiện những xu hướng vận động rất đa dạng.

Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển:

Sau chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới không còn sự đối đầu giữa haicực đối lập là Mỹ và Liên Xô cũ Cùng với sự chi phối của toàn cầu hoákinh tế và sự hình thành thị trường thế giới thống nhất như một chỉnh thểdưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ mới và sự thúc đẩy củanhững cuộc sáp nhập xuyên quốc gia, kinh tế trở thành trọng tâm trongchiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới Các nước nằmtrong thế tương thuộc lẫn nhau, quy định và chi phối nhau nên sự phát triểncủa nền kinh tế nước này là điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế cácnước khác, bất kể đó là nền kinh tế lớn, nhỏ như thế nào

Xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế là nội dung trọng tâm của các tiếntrình quốc tế, các nước lớn không có lý do, cũng như tuỳ tiện tăng cường tiềmlực quân sự Để cho bầu không khí hoà bình, hợp tác và phát triển được coi làđiều kiện cho sự phát triển kinh tế và các quan hệ quốc tế, các nước lớn đã lầnlượt điều chỉnh chiến lược của mình theo các quan hệ bạn bè, đối tác, ổn định vàcân bằng Đứng trước những mâu thuẫn, tranh chấp, con đường giải quyết của họbắt đầu phổ biến là đối thoại, thoả hiệp, thương lượng và tránh xung đột đối đầu.Các nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, tăng cường hiểu biết và đối thoại, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau đều được các nước lớn quán triệt sâu sắctrong khi xây dựng chính sách hữu nghị với các nước láng giềng Điều đặc biệtđáng chú ý là với tư cách những người

Trang 31

khởi xướng và dẫn dắt các quá trình liên kết khu vực và quốc tế, các nước lớnđều tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong việc thúc đẩy các tiến trình này.

Các nước đang phát triển và chuyển đổi cũng từng bước cải cách đểchuyển đổi tích cực sang kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập quốc tế Họlần lượt là thành viên của các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế và trongcác diễn đàn quốc tế, tiếng nói của các nước nhỏ ngày càng có trọng lượnghơn Khi thương mại hàng hóa – dịch vụ toàn cầu đã kết nối thành mộtmạng thương mại điện tử rộng khắp, khi các dòng vốn quốc tế kết hợp chặtchẽ với nhau thì sự liên kết về chính sách phát triển ngày càng chặt chẽ hơnbao giờ hết và theo đó, cả thế giới đứng trước những rủi ro chung Sự đổ vỡcủa một mắt xích nào trong hệ thống này sẽ dẫn đến sự đổ vỡ của cả hệthống Do đó, sự hợp tác để phát triển trên nhiều cấp độ: vĩ mô và vi mô,quốc gia và quốc tế, khu vực và liên lục địa tất yếu sẽ là phổ biến Mộtthế giới hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển sẽ là dòng chảy chủ yếucủa thế giới khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba

Xu hướng hoà bình hợp tác, phát triển là lâu dài bởi nó đáp ứng đúngnguyện vọng của tất thảy các quốc gia từ giàu có đến các nước chậm pháttriển Sự đối đầu giữa Ixaraen và Palestin kéo dài nhiều thập kỷ đến nay giờ

đã chuyển sang đối thoại và hợp tác để giải quyết, quan hệ Trung – Nga từchỗ bất đồng sâu sắc đã được cải thiện căn bản dựa trên cơ sở đối thoại,hợp tác và mối quan hệ ngày càng có phần “nồng nàn” hơn khi NATO mởrộng sang phía Đông: quan hệ căng thẳng giữa các nước Đông Dương vàkhối ASEAN đã chuyển sang đối thoại, hợp tác và đến này tất cả các nướcnày đều đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN hoà bình, hợp tác

và phát triển

Xu hướng hoà bình hợp tác, phát triển tác động đến sự phát triển kinh tếcủa các quốc gia trên thế giới cũng theo cùng hướng vớ i quá trình toàn cầu

Trang 32

hoá kinh tế Xu hướng này tác động đến các quốc gia trong những năm đầuthế kỷ XXI là lựa chọn chiến lược theo mô thức hội nhập tích cực vào nềnkinh tế thế giới và khu vực để phát triển Nhờ đó, tạo cơ hội cho các nướcđang phát triển có khả năng tiếp cận thị trường thế giới, với những côngnghệ hiện đại, với những thành tựu mới trong quản lý, nhờ đó có cơ hộiphát triển tăng tốc và rút ngắn được thời gian công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu tạo điều kiện cho các quốcgia kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy đượcnội lực và mọi tiềm năng sáng tạo, đồng thời tranh thủ được tối đa cácnguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển.

Vị thế của EU trong nền kinh tế thế giới và chiến lƣợc của EU với châu Á

Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành của EU là bản "Tuyên bốSchuman" của Bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 09tháng 05 năm 1950 với đề nghị đặt toàn bộ nền sản xuất gang thép củaCộng hoà liên bang Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung, trongmột tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham gia Sau đó, hiệpước Paris thành lập Cộng đồng Than - Thép châu Âu (ECSC), một tổ chứctiền thân của EU ngày nay được ký kết 14/04/1951 với sự tham gia của 6nước: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Luxemburg

Trải qua không ít những thăng trầm trong gần một nửa cuối thế kỷ XX,giờ đây châu Âu đang dần lấy lại vị trí "trung tâm thế giới" của mình Đặc biệttrong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, EU đã thực sự khẳng định được vị thế là mộttrung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể

và tương đối ổn định EU tích cực "Đẩy mạnh nhất thể hoá" trên tất cả các lĩnhvực từ kinh tế, tiền tệ, ngoại giao, an ninh đến nội chính và tư pháp Các quốc giathành viên từng bước tập trung quyền lực quá độ tiến đến

Trang 33

thành lập Liên bang châu Âu Với việc kết nạp thêm Áo, Thuỵ Điển vàPhần Lan vào năm 1995, số thành viên của EU lên đến 15 và hiện nay đangtrong quá trình mở rộng, kết nạp thêm các nước Trung và Đông Âu Vàotháng 5/2004, với việc kết nạp thêm 10 thành viên Trung và Đông Âu, EUchính thức mở rộng quy mô với 25 nước thành viên Nhiệm vụ chính củagiai đoạn này là thực hiện nhất thể hoá xuyên quốc gia thay thế cho hợp tácthông thường EU đã trở thành một thị trường thống nhất với sức mua củagần 500 triệu người tiêu dùng.

Chiến lược của EU đối với Châu Á

Mặc dù quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU với các nước trongkhu vực châu Á đã có từ lâu, nhưng trong một thời gian tương đối dài sau Thếchiến thứ II, các nước lớn trong EU rất ít chú ý đến châu Á Nói cách khác đi,sau Thế chiến thứ II, vị trí của EU ở châu Á suy giảm, quan hệ kinh tế cũng vìthế trở nên mờ nhạt nhường bước cho sự lấn sâu của Mỹ và Nhật Bản Đến cuốithập kỷ 1960, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với thị trường rộng lớn ở châu Mỹ

La Tinh và tiềm năng khai thác nguyên liệu to lớn ở châu Phi đã hấp dẫn các nhàkinh doanh đầu tư châu Âu nhiều hơn khu vực châu Á Trong giai đoạn này, quan

hệ của các nước EU với khu vực châu Á chủ yếu là viện trợ kinh tế Tuy vậy, từđầu thập kỷ 1980 đến nay các nước châu Mỹ La tinh lần lượt lâm vào khủnghoảng nợ “Sân sau” của EU thay đổi, đồng thời tiềm năng kinh tế ngày càngtăng của châu Á với những đại biểu là các nền kinh tế công nghiệp châu Á(NIEs) đã buộc EU bắt đầu phải quan tâm đến châu lục này Vào đầu những năm

1990, EU đã lập ra nhiều chiến lược khác nhau liên quan tới châu Á, tới một sốkhu vực hoặc quốc gia riêng biệt của châu lục này Sau khi chiến tranh lạnh kếtthúc, EU cố gắng phát triển đối thoại về mặt chính trị với châu Á và tìm kiếmnhững phương tiện cho phép phối hợp với châu Á ngày càng nhiều hơn trongviệc giải quyết các công việc

Trang 34

của quốc tế, nhằm tạo ra một đối tác cân bằng sức mạnh có khả năng giữmột vai trò làm ổn định và xây dựng thế giới hiện nay.

Để tranh thủ những khả năng mới này, EU đang gắng góp phần tíchcực vào các cuộc đối thoại khu vực về việc giải quyết các vấn đề an ninh,

và rất chú ý theo dõi diễn biến tình hình đặc biệt trong các lĩnh vực kiểmsoát vũ trang, không phổ biến vũ khí hạt nhân, các cuộc xung đột khu vực

và an ninh trên các tuyến đường biển EU thông qua những chiến lượcquyết tâm hơn, đặt trọng tâm vào việc khai thác mạnh mẽ hơn và có mụctiêu chính xác hơn đối với sự hợp tác kinh tế nhằm khuyến khích buôn bán

và đầu tư của châu Âu

Ngay từ năm 1990, EU đã xây dựng một kế hoạch hợp tác nhiều năm(1991-1995) với các nước châu Á với tổng ngân sách là 1,79 tỷ ECU Đồngthời, các nước lớn ở EU đã liên tiếp khởi thảo các chính sách và áp dụngnhiều biện pháp nhằm đẩy nhanh nhịp độ quay trở lại châu Á Tháng10/1993 để tăng cường quan hệ với các nước châu Á, CHLB Đức đã công

bố “kế hoạch ngoại giao châu Á” với mục tiêu trong vòng 5 năm tăng tỷtrọng xuất khẩu sang châu Á từ 7% lên 10%

Một trong những vấn đề cấp bách hiện nay của EU là phải tăngcường sự hiện diện về kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy trì ảnh hưởngnổi trội nhất của mình trong nền kinh tế thế giới Việc thiết lập được sựhiện diện mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho phép EUbảo đảm được lợi ích của mình tại khu vực này vào đầu thế kỷ 21 sẽ đượcquan tâm đầy đủ Để đạt được điều đó, tháng 7/1994, EU đã công bố

“Hướng tới chiến lược châu Á mới” và xúc tiến thực hiện chiến lược nàyvới các mục tiêu chủ yếu là:

Thứ nhất, tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Ánhằm duy trì vai trò nổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới

Trang 35

Thứ hai, góp phần vào sự ổn định ở châu Á bằng cách khuyến khíchhợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế: về mặt này, EU đang mởrộng và làm sâu sắc các mối quan hệ chính trị và kinh tế của mình với cácnước châu Á.

Thứ ba, khuyến khích sự phát triển kinh tế của các nước và khu vựckém thịnh vượng nhất EU và các nước thành viên tiếp tục góp phần giảmbớt sự nghèo nàn và tạo một sự tăng trưởng bền vững ở các nước của khuvực này

Thứ tư, góp phần phát triển và củng cố nền dân chủ, nhà nước phápquyền, cũng như về phương diện tôn trọng quyền con người và các quyền

- Hợp tác đa phương: EU đã bắt đầu một cuộc đối thoại rộng rãi với châu

Átrong khuôn khổ của tổ chức Liên Hợp Quốc về các vấn đề cùng quan tâm cóliên quan tới hoà bình và an ninh quốc tế Trong những năm gần đây, EU đã tăngcường mạnh mẽ sự hợp tác kinh tế của mình với các nước châu Á

- Trợ giúp phát triển: các chương trình trợ giúp của Eu tập trung vào 2hướng hợp tác chủ yếu là: trợ giúp phát triển cho các nước và tầng lớp nhândân nghèo khó nhất; hợp tác kinh tế với các nước hoặc các khu vực có tiềmnăng tăng trưởng mạnh

- Hợp tác thương mại: chính sách thương mại của EU, nhìn chung cũng nhưcác nước đối với châu Á là luôn hướng về một sự thúc đẩy tích cực việc tự dohoá thương mại trong khuôn khổ của một hệ thống đa phương với sự

Trang 36

tôn trọng mọi nguyên tắc và mọi cam kết có liên quan Trong phạm vi châu

Âu, những hoạt động khuyến khích nền thương mại cũng như các dòng đầu

tư sang thị trường châu Á đang được tiến hành ở mọi cấp độ khác nhautrong toàn khu vực

Chiến lược mới đối với châu Á đã được EU hoạch định ra EU nhậnthấy rất rõ lợi ích của mình trong sự hợp tác kinh tế, thương mại đối vớichâu Á, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khu vực Đông và Đông Nam Áđang trở thành những tiêu điểm trên vũ đài kinh tế

Lợi ích của Trung Quốc trong quan hệ thương mại với EU

Trong quan hệ thương mại với EU, Trung Quốc kỳ vọng đạt đượcnhững lợi ích sau:

+ Việc tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với các quốc gia châu

Âu có ý nghĩa to lớn, tác động tích cực đến việc hội nhập kinh tế quốc tếcủa Trung Quốc, EU sẽ ủng hộ Trung Quốc hoà nhập vào nền kinh tế thếgiới, thúc đẩy Trung Quốc nhanh chóng gia nhập WTO, thông qua viện trợkinh tế và tăng cường đối thoại trong các lĩnh vực chính sách quan trọng, giúp Trung Quốc thành công trong tiến trình cải cách xã hội

+ EU với tư cách là một Liên minh kinh tế và tiền tệ lớn, một trong

ba trung tâm kinh tế của thế giới, bắt tay với EU, Trung Quốc có cơ hội hợptác kinh tế thương mại với nhiều nền kinh tế khác trên thế giới

+ Bên cạnh đó, trên cơ sở lý thuyết về lợi thế so sánh tương đối thì cơ cấukinh tế của Trung Quốc và các nước châu Âu hoàn toàn có thể bổ sung

cho nhau

+ Góp phần ngăn chặn chủ nghĩa đơn cực của Mỹ, Trung Quốc kiêntrì quan điểm trật tự thế giới cần phát triển theo hướng đa cực hoá TrungQuốc hy vọng Trung Quốc và EU sẽ chiếm những vị trí quan trọng trongtrật tự đa cực hoá này

Trang 37

Qua những phân tích trên, quan hệ thương mại Trung Quốc – EU là tấtyếu khách quan, phù hợp với những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới

và các quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay Mối quan hệ này đang vận động với tưcách là những xu thế lớn trong nền kinh tế thế giới, nó không chỉ tác động trựctiếp đến cuộc sống của gần 2 tỷ dân cư sống tại Trung Quốc và EU mà còn tácđộng gián tiếp đến nhiều bộ phận dân cư ở các nước và khu vực khác Là mộtnước láng giềng với Trung Quốc, những tác động của quan hệ thương mại TrungQuốc – EU nhất định có những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của ViệtNam Phân tích những tác động này sẽ gợi mở những giải pháp cho Việt Namnhằm thúc đẩy một cách hiệu quả quan hệ thương mại Việt Nam – EU nói riêng

và hội nhập kinh tế thế giới nói chung

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC - EU TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1990 ĐẾN NAY VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ

ĐẾN VIỆT NAM

2.1 Chính sách lâu dài của EU đối với Trung Quốc

2.1.1 Tổng quan về quan hệ Trung Quốc – EU

Quan hệ Trung Quốc – EU được thiết lập từ năm 1978 Cho tới trước khiASEM ra đời, quan hệ hai bên không mấy phát triển, mặc dù EU và Trung Quốc

đã ký “Hiệp định hợp tác và mậu dịch EC – Trung Quốc năm 1985” để

Trang 38

thay cho Hiệp định năm 1978 Thông qua thư trao đổi vào năm 1994,Trung Quốc và EU đã thiết lập quan hệ đối thoại chính trị.

Sau khi ASEM được thành lập, quan hệ Trung Quốc – EU đã pháttriển rất nhanh Bởi vì, Trung Quốc là một trong những đối tác lớn và quantrọng nhất trong ASEM ở Châu Á và là mục tiêu quan trọng hàng đầu củaChiến lược Châu Á mới của EU

Nhằm cung cấp cơ sở pháp lý cho việc phát triển quan hệ với Trung Quốc,

từ năm 1996 tới nay, EU đã liên tục đưa ra các văn kiện về chính sách đối vớiTrung Quốc: Thông cáo “Xây dựng quan hệ đối tác với Trung Quốc” công bốnăm 1998; “Xây dựng quan hệ đối tác với Trung Quốc” tháng 9, 2000; “ Chiếnlược của EU đối với Trung Quốc: Thực hiện Thông cáo 1998 và các bước đitrong tương lai vì một chính sách hiệu quả hơn của EU” được công bố ngày 15tháng 5 năm 2001 Những văn kiện này chứa đựng chính sách của Liên minhChâu Âu đối với Trung Quốc trong bối cảnh ASEM Mục tiêu được EU theođuổi trong chính sách đối với Trung Quốc bao gồm:

+ Lôi cuốn hơn nữa Trung Quốc vào quan hệ song phương và cả trêntrường quốc tế

+ Ủng hộ sự quá độ của Trung Quốc sang xã hội mở cửa dựa trên nguyên tắc lập pháp và quyền con người

+ Khuyến khích sự hội nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giớibằng cách đưa Trung Quốc vào hệ thống thương mại toàn cầu, ủng hộ tiếntrình cải cách kinh tế đang diễn ra ở Trung Quốc

+ Nâng cao vị thế của EU ở Trung Quốc

Gần đây, do những biến đổi trong môi trường chính trị và kinh tế quốc tế

và do sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ hợp tác giữa hai bên, chính sách của

EU – Trung Quốc đã được điều chỉnh với việc công bố văn kiện: “ Một

Trang 39

quan hệ đối tác đang chín: Lợi ích cùng chia sẻ và những thách thức trongquan hệ EU - Trung Quốc” vào ngày 13 tháng 10 năm 2003.

Văn kiện này gợi ý các phương cách phát triển hơn nữa quan hệ EU Trung Quốc thông qua việc xác định các điểm hành động cụ thể và thực tiễn chochính sách của EU đối với Trung Quốc trong 2,3 năm tới Trong văn kiện trên,

-EU khẳng định sẽ tăng cường đối thoại chính trị với Trung Quốc thông qua việc

sử dụng các cơ chế hiện có Chủ đề đối thoại chính trị sẽ được mở rộng để baogồm các vấn đề quản lý toàn cầu, khu vực và các vấn đề an ninh

Hợp tác EU - Trung Quốc được xúc tiến trên tất cả các lĩnh vực:chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ

Trong lĩnh vực chính trị, hai bên đã tiến hành đối thoại ở nhiều cấpđộ: Hội nghị cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, Giám đốc chính trị,các trưởng phái đoàn, các hội nghị có tính chất kỹ thuật của các quan chứccao cấp Các chủ thể đối thoại bao gồm các vấn đề khu vực và quốc tế đangdiễn ra trên thế giới, kể cả vấn đề nhân quyền

Trong lĩnh vực kinh tế, hợp tác EU – Trung Quốc đang phát triển rất thuậnlợi Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc trong 20 năm qua đã tácđộng mạnh mẽ tới các quan hệ kinh tế và thương mại giữa EU – Trung Quốc.Trong năm 2002, buôn bán hai chiều EU - Trung Quốc đã tăng 40 lần kể từ khicải cách bắt đầu ở Trung Quốc với giá trị lên tới 115 tỷ Euro Trong quan hệthương mại với Trung Quốc, EU đã chuyển từ vị trí thặng dư sang thâm hụt tới

47 tỷ Euro, mức thâm hụt lớn nhất so với bất kỳ đối tác nào Trung Quốc trởthành đối tác ngoài EU lớn thứ hai, sau Mỹ của EU EU là thị trường xuất khẩuhàng hoá lớn thứ hai của Trung Quốc Trong những năm gần đây, các công tychâu Âu đã đầu tư lớn vào thị trường Trung Quốc Dòng FDI mới từ EU đưa vào

sử dụng hàng năm đạt mức trung bình 4,2 tỷ đôla,

Trang 40

trong 5 năm qua, tổng số FDI của EU vào Trung Quốc lên tới trên 33,9 tỷEuro.

EU ủng hộ Trung Quốc tham gia WTO và xem việc giám sát TrungQuốc thực hiện các cam kết với tổ chức trên là một ưu tiên trong nhữngnăm tới

Hợp tác phát triển EU - Trung Quốc cũng được đẩy mạnh Liên minhChâu Âu đang tài trợ cho 40 dự án phát triển với tổng số vốn lên tới gần

260 triệu Euro Các dự án hợp tác của EU hiện nay vượt ra ngoài viện trợphát triển truyền thống để hỗ trợ cho 11% dân số Trung Quốc đang sốngdưới mức nghèo đói tuyệt đối (1 đôla Mỹ/ngày) Trong những năm sắp tới,Viện trợ phát triển của EU sẽ tập trung 3 lĩnh vực ưu tiên:

+ Hỗ trợ cải cách kinh tế và xã hội của Trung Quốc

+ Môi trường và phát triển bền vững

+ Cai trị tốt và tăng cường phát luật

Các dự án đang thực hiện hoặc đang được chuẩn bị bao gồm: ủng hộ

tư cách thành viên WTO của Trung Quốc, hỗ trợ xã hội thông tin, cải cách

an sinh xã hội và viện trợ để đấu tranh chống di cư bất hợp pháp Trong giaiđoạn 2002 – 2006, kinh phí dành cho Chương trình hợp tác phát triển vớiTrung Quốc của Uỷ ban Châu Âu dự kiến lên tới 250 triệu Euro

2.1.2 Chiến lược lâu dài của EU đối với Trung Quốc

Coi trọng vị trí của Trung Quốc trên vũ đài quốc tế cả về kinh tế,chính trị, xã hội, EU đã bằng nhiều văn kiện với chủ trương tăng cườngtoàn diện mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế với TrungQuốc Tạp chí “Kinh tế và chính trị thế giới” (Trung Quốc) tháng 12/2001

đã khái quát chiến lược của EU đối với Trung Quốc trong năm điểm:

Ngày đăng: 16/10/2020, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w