1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển thị trường vốn việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế001

108 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 151,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm vào đó, là một kênh dẫn vốn của nền kinh tế, việc mở cửa hội nhập thịtrường vốn và đi kèm theo nó là quá trình tự do hoá dòng chảy vốn đầu tưgiữa các quốc gia sẽ có tác động trực ti

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

1.1.2 Các chủ thể và công cụ tham gia trên thị trường vốn

1.1.3 Chức năng và vai trò của thị trường vốn

1.2 Xu hướng phát triển thị trường vốn trong điều kiện toàn cầu hóa

1.3.2 Tình hình phát triển TTV và kinh nghiệm của một số nước khác

1.3.2.1 Các nước chuyển đổi ở Châu Âu và cộng đồng các quốc gia

độc lập

1.3.2.2 Các nước Đông Á

1.3.3 Bài học kinh nghiệm phát triển TTV của các nước

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN TTV VIỆT NAM TRONG QUÁ

TRÌNH HNKTQT

2.1 Tình hình phát triển thị trường vốn Việt Nam trong quá trình

HNKTQT

2.1.1 Thị trường chứng khoán

Trang 4

2.1.2 TTTD dài hạn

2.2 Những bước phát triển và hạn chế, tồn tại chủ yếu của TTV Việt

nam trong quá trình HNKTQT

2.2.1 Những thành tựu đã đạt được

2.2.2 Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

2.2.2.1 Hạn chế và tồn tại trên TTCK

2.2.2.2 Hạn chế và tồn tại trên TTTD

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN TTV

VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HNKTQT

3.1 Định hướng phát triển thị trường vốn Việt Nam trong thời gian tới

3.1.1 Những thách thức đối với thị trường vốn Việt Nam trong quá

trình HNKTQT

3.1.2 Mục tiêu, quan điểm và định hướng phát triển thị trường vốn

Việt Nam trong thời gian tới

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốn Việt

Nam trong quá trình HNKTQT

3.3.1 Định hướng các giải pháp phát triển thị trường vốn Việt Nam

trong quá trình HNKTQT

3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu phát triển thị trường vốn Việt Nam

trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

: Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng thương mại: Sở Giao dịch Chứng khoán: Tổ chức tín dụng

: Thị trường chứng khoán: Thị trường cổ phiếu: Trung tâm Giao dịch chứng khoán: Trung tâm lưu ký chứng khoán: Thị trường tín dụng

: Thị trường trái phiếu: Thị trường vốn: Tổ chức thương mại thế giới (World TradeOrganization)

Trang 6

Phần mở đầu

Sự cần thiết của đề tài

Thị trường vốn là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường Đây lànơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn (thường có thờihạn trên một năm) Các công cụ được giao dịch trên thị trường vốn gồm cổphiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, các loạikhế ước thế chấp và tín dụng ngân hàng…Các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cánhân, hộ gia đình, chính phủ và các định chế trung gian tham gia trên thịtrường vốn với tư cách là các chủ thể

Cho đến nay, các nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một khái niệm thống nhất

về thị trường vốn Căn cứ vào cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể cóquan niệm khác nhau về thị trường vốn Hiện nay, có hai trường phái quanđiểm chính; đó là trường phái theo quan điểm của Pháp và trường phái theoquan điểm của Mỹ, Anh, Đức Cách phân chia thị trường theo hai trường pháiquan điểm này đều có ưu, nhược điểm nhất định; do đó, tùy vào mục đíchnghiên cứu, người ta có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp Trong phạm viLuận văn, chúng tôi chọn quan niệm của Mỹ, Anh, Đức (và một số nướckhác), trong đó thị trường vốn là một bộ phận của thị trường tài chính và lànơi giao dịch các nguồn vốn trung và dài hạn

Thị trường vốn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế

-xã hội của một quốc gia Vai trò đó thể hiện trước hết ở những đóng góp tolớn khi nó được vận hành hiệu quả; ngược lại, những thiệt hại nặng nề trongtrường hợp đổ vỡ thị trường cũng cho thấy việc đảm bảo một thị trường vốnhoạt động lành mạnh luôn luôn là một yêu cầu cấp thiết

Thị trường vốn phát triển là cơ chế hiệu quả để phân bổ nguồn vốn vàthúc đẩy hoạt động kinh doanh vốn Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá vàhội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường vốn vừa là nội dung, và cũng làgiải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nội địa

Trang 7

Thêm vào đó, là một kênh dẫn vốn của nền kinh tế, việc mở cửa hội nhập thịtrường vốn (và đi kèm theo nó là quá trình tự do hoá dòng chảy vốn đầu tưgiữa các quốc gia) sẽ có tác động trực tiếp trong việc gia tăng nguồn vốn đầu

tư cho nền kinh tế; kích thích sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa thị trường vốn nội địa; tăng áp lực cạnh tranh, tạo điều kiện giúp khu vựctài chính hoạt động có hiệu quả và bền vững hơn; đồng thời giúp các tổ chứctài chính nội địa có điều kiện cải thiện năng lực quản lý

Tuy nhiên, mở cửa thị trường vốn cũng sẽ tăng tính phụ thuộc và chịunhững tác động trực tiếp từ những biến động trên thị trường vốn quốc tế Thịtrường vốn thiếu lành mạnh và non trẻ là đối tượng dễ bị tổn thương hơn baogiờ hết Do đó, cần phải thận trọng và có những giải pháp thích hợp để đảmbảo an toàn và hiệu quả của hội nhập Thực tiễn và kinh nghiệm của các nước

là những minh chứng tin cậy về vấn đề này

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của thị trường vốn, Đảng và nhà nước

ta đã xác định trong Nghị quyết Đại hội IX năm 2001 “Phát triển nhanh và bền vững thị trường vốn, nhất là thị trường vốn dài hạn và trung hạn” Ở

nước ta, thực tiễn phát triển trong nhiều năm qua cho thấy, các cấu thành cơbản của thị trường vốn đã dần hình thành và đang được vận hành trong mộtkhuôn khổ pháp lý xác định Tuy nhiên, thị truờng vốn nước ta vẫn còn sơkhai, đang phát triển ở trình độ thấp và quy mô nhỏ so với các nước trong khuvực và thế giới TTCK ở nước ta chưa thực sự trở thành kênh đắc lực tronghuy động và phân bổ vốn trung, dài hạn; do đó, nguồn cung ứng vốn cho cácdoanh nghiệp chủ yếu vẫn là các ngân hàng thưong mại Hệ thống các địnhchế trung gian của thị trường vốn còn kém phát triển; hoạt động của hệ thốngngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; khuôn khổ pháp lý chưa hoàn chỉnh; cácnguyên tắc quốc tế và quản lý thị trường chưa được áp dụng một cách đồng

bộ Thực tế này đã đặt ra những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, đặc biệttrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với nhiều rủi ro

Trang 8

Như vậy, những nghiên cứu về thị trường vốn thực sự có ý nghĩa về mặt

lý luận và thực tiễn trước những vấn đề đặt ra trong thực tế đối với phát triển thị

trường vốn nước ta trong điều kiện hội nhập Do đó, tôi đã chọn đề tài “Phát

triển thị trường vốn Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” với mục

đích nghiên cứu thực trạng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnthị trường vốn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung củaLuận văn sẽ được phân tích theo cơ cấu các chương, bao gồm:

Chương I Cơ sở lý luận chung về thị trường vốn

Chương I Tình hình phát triển thị trường vốn Việt Nam trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế

Chương III Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốnViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tình hình nghiên cứu

Thị trường vốn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, do đó

đã nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả và là đối tượng của một số đề tàinghiên cứu khoa học của các cơ quan chức năng Các bài viết về thị trườngvốn tương đối đa dạng về hình thức nghiên cứu, bao gồm đề tài, đề án, luận

án, các bài viết nghiên cứu, các bài báo, một phần trong giáo trình giảng dạy

ở các trường Đại học và cao đẳng….Trong đó, điển hình là một số nghiên cứudưới hình thức đề tài khoa học hoặc Luận án Tiến sĩ như sau:

1 Trần Mạnh Dũng (1998): “Sự hình thành và phát triển thị trường vốn ở Việt Nam hiện nay”, Luận án TS kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh

Nội dung: Phân tích quá trình hình thành và phát triển thị trường vốnViệt Nam; đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triểnthị trường vốn Việt Nam hiện nay

Trang 9

2 Phạm Văn Hùng (2003), “Tác động của việc mở cửa thị trường vốn đối với nền kinh tế các nước đang phát triển: Bài học cho Việt Nam”, Luận án

Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Nội dung: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mở cửa hội nhập thị trường vốntại các nước đang phát triển Tác động của mở cửa thị trường vốn đầu tư vàphát triển của các nước đang phát triển Trên cơ sở đó, khái quát một số bàihọc khoa học dành cho Việt Nam

3 Đỗ Đức Quân (2001), “Thị trường vốn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Luận án TS khoa học kinh tế, Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Nội dung: Quy luật hình thành và phát triển thị trường vốn, điều kiện,tiền đề cơ bản cho sự hình thành và phát triển của thị truờng vốn Việt Namtrong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Những giải pháp phát triển thị trường vốn từ nay đến năm 2010

4 Ban Kinh tế Trung ương (2004), Đề tài khoa học “Định hướng và những giải pháp chủ yếu để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường vốn ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng”

Nội dung: Làm rõ những chủ trương, quan điểm về phát triển thịtrường vốn Việt Nam; đánh giá tình hình thị trường vốn từ 2001-2004; đềxuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa thị trường vốn ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng

Nhìn chung, do nghiên cứu từ lâu nên những công trình nói trên chưacập nhật; mặt khác, tùy thuộc mục đích, yêu cầu nghiên cứu nên chưa có côngtrình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về thị trường vốn gắn với quá trìnhhội nhập kinh tế của Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn sẽ bổ sung tình hìnhphát triển mới của thị trường vốn Việt Nam, đặc biệt là phần hội nhập kinh tếquốc tế

Trang 10

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận chung và tình hình

phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế để đề xuất một số gợi ý giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốnViệt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: môi trường pháp lý và hiệu quả hoạt động của thị trường vốn Việt Nam trong quá trình hội nhập KTQT

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thị trường vốn Việt Nam bao gồm thịtrường tín dụng dài hạn và thị trường chứng khoán gắn liền với quá trình hộinhập kinh tế quốc tế Thời gian nghiên cứu từ năm 1986 nhưng chủ yếu tập trungnhững năm gần đây khi những tác động của quá trình hội nhập đã trở nên rõràng

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong

Luận văn là phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh và xin ý kiến chuyên gia.Luận văn đã vận dụng quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển thị trườngvốn Việt Nam hiện nay; có kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học đi trước

Những đóng góp của Luận văn

- Làm rõ một số cơ sở lý luận chung về thị trường vốn

- Phân tích tình hình phát triển thị trường vốn Việt Nam trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế; trong đó cập nhật tình hình mới trong điều kiệnhiện nay

- Đề xuất một số gợi ý giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốn nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Bố cục của luận văn: Luận văn được trình bày theo kết cấu chương,

mục Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm 3 chương và 7 mục

Trang 11

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN

1.1 Những vấn đề chung về thị trường vốn

1.1.1 Khái niệm

Thị trường vốn là một phạm trù của kinh tế thị trường Phạm trù này cóthể được tiếp cận dưới nhiều góc độ dẫn đến các quan niệm khác nhau Tùyvào mục đích nghiên cứu, người ta có thể lựa chọn quan niệm và cách phânloại phù hợp Hàng hóa được trao đổi trên TTV là loại hàng hóa có tính chấtđặc biệt, gọi chung là vốn Vậy trước hết, vốn là gì?

Thực tế hiện nay còn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về vốn (tư

bản) Từ điển Kinh tế thị trường định nghĩa vốn (tư bản) “là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được tái tạo ra” (3, tr 56).

Theo định nghĩa này, vốn là tài sản và có khả năng tạo ra một nguồn thu nhậpkhác ngoài bản thân nó

Bên cạnh đó, trong Bộ Tư bản, Mác đã kết luận quá trình chuyển hoá

của tiền thành tư bản như sau: “Như vậy là giá trị ứng ra ban đầu không những được bảo toàn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tăng thêm giá trị Chính sự vận động

ấy đã biến giá trị đó thành tư bản” (46, tr228) Sự khác biệt giữa hàng hóa tư bản và các hàng hóa thông thường khác được Mác nhấn mạnh: “Đối với các hàng hoá khác, cuối cùng, giá trị sử dụng của chúng đều do người mua tiêu dùng đi, đồng thời, thực thể của hàng hoá và giá trị của nó cũng biến mất theo Trái lại, hàng hoá tư bản lại có đặc tính là khi giá trị sử dụng của nó được đem tiêu dùng đi, hàng hoá- tư bản không những vẫn giữ nguyên giá trị

và giá trị sử dụng của nó, mà còn làm cho giá trị và giá trị sử dụng của nó tăng thêm lên nữa” (47, tr 537)

Tuy hiện vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về vốn (tư bản), nhưngkhi nghiên cứu bản chất của nó, chúng ta có thể nhận thấy một số đặc trưng

Trang 12

chung Trước hết, vốn là hình thái giá trị được biểu hiện bằng tiền Nói nhưvậy có nghĩa là vốn không chỉ tồn tại dưới hình thức giá trị độc lập (tiền tệ)

mà còn tồn tại trong các tài sản hữu hình, vô hình và đại diện cho một lượnggiá trị hàng hoá, dịch vụ, tài sản nhất định Vốn còn được thể hiện bằng tiềmnăng và lợi thế vô hình như vị trí địa lý, bản quyền sáng chế…Thứ hai, vốnđược biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả tiền đều là vốn Tiền chỉ làvốn khi nó được đưa vào sử dụng với mục đích đầu tư hoặc kinh doanh.Trong quá trình vận động, tiền quay trở về điểm xuất phát với một lượng lớnhơn bản thân nó Cuối cùng, trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng

hoá đặc biệt Theo Mác, “Tiền chỉ được đem nhượng lại với hai điều kiện, một là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định, và hai là nó sẽ quay về điểm đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện các giá trị sử dụng của nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư”.

Tóm lại, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể là tàisản (đã được giá trị hoá), có thể là tiền tệ Nhưng đã là vốn thì phải gắn với sựvận động và phải sinh lời Trong cơ chế thị trường, vốn trở thành hàng hoávới tính chất đặc biệt đã được Mác nêu rõ như phần phân tích trên

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, vốn có thể được phân loại theonhiều cách thức Mác căn cứ vào khả năng thay đổi giá trị của các bộ phận tưbản trong quá trình sản xuất để phân loại thành tư bản bất biến và tư bản khảbiến (nguồn gốc sinh lời của vốn bắt nguồn từ bộ phận tư bản khả biến) Mặtkhác, căn cứ vào tính chất chu chuyển và phương thức chuyển dịch, tư bản(vốn) lại được chia thành tư bản cố định và tư bản lưu động

Ngoài ra, tuỳ từng mục đích nhất định, người ta cũng có các cách phânloại hàng hoá đặc biệt này khác nhau Căn cứ vào hình thức tồn tại có vốn tiền tệ

và tài sản; căn cứ vào chủ sở hữu có vốn chủ sở hữu và vốn vay; căn cứ vào thờigian cho vay và trả nợ có vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Trong đó,

Trang 13

cách phân chia dựa vào tiêu chí chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng trongnghiên cứu và phân tích TTV.

Trong một nền kinh tế, hiện tượng thừa và thiếu vốn luôn luôn tồn tạisong hành Hiện tượng này làm phát sinh cung và cầu về vốn Trong đó, cung

về vốn có nguồn gốc từ những tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân…có tiềnnhàn rỗi (do chi tiêu ít hơn thu nhập, hoặc chưa đến hạn phải chi tiêu) Đểkhông làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, họ có nhu cầu cho vay số tiền nàytrong một thời gian nhất định để hưởng lãi Đồng thời, cầu về vốn lại xuấtphát từ những tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đang thiếu vốn cho hoạt độngđầu tư hoặc tiêu dùng của mình Chính hệ thống luân chuyển vốn giữa mộtbên là người có vốn và một bên là người cần vốn gọi chung là thị trường vốn

Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong quan điểm về thị trườngvốn Căn cứ vào cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể có quan niệm khácnhau, giới hạn phạm vi khác nhau về phạm trù này Tuy nhiên, các nghiêncứu cho thấy có hai trường phái chủ yếu; đó là các trường phái theo quanđiểm của Pháp (và một số nước khác) và trường phái theo quan điểm của Mỹ,Anh, Đức (và một số nước khác)

Theo quan điểm của Pháp (và một số nước khác), TTV là thị trườnggiao dịch cả nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn Căn cứ vào phươngthức chuyển dịch vốn theo thuộc tính thời gian và hình thức vận động, TTVđược phân chia thành thị trường tiền tệ và thị trường tài chính Cụ thể:

- Thị trường Liên ngân hàng

- Thị trường các giấy tờ có giá ngắn hạn

Trang 14

Như vậy, theo quan điểm này, TTV là khái niệm rộng và bao hàm cả thịtrường tài chính Trong đó, các nguồn vốn ngắn hạn vận động không tập trung,chủ yếu là các phương tiện thanh toán và được quy thành đối tượng của thịtrường tiền tệ Các nguồn vốn dài hạn, ngược lại, vận động tập trung thành cáckênh lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh và được tụ lại trên cácđiểm giao dịch vốn lớn, được quy thành đối tượng của thị trường tài chính.

Cách phân chia theo quan điểm này đã bao quát được cả nguồn vốn ngắnhạn và dài hạn Tuy nhiên, việc phân chia thành các bộ phận nhỏ hơn là thịtrường tiền tệ và thị trường tài chính lại chưa có đủ căn cứ thuyết phục Bởi vì,tài chính là một khái niệm rộng gồm nhiều khâu và lĩnh vực hoạt động giao dịchcác nguồn vốn tài chính, kể cả nguồn vốn tài chính ngắn hạn và dài hạn

Khác với quan điểm của Pháp, trường phái quan điểm thứ hai của Mỹ,Anh, Đức (và một số nước khác) lại cho rằng TTV chỉ là một bộ phận của thịtrường tài chính; đối tượng được mua bán trên thị trường này là chứng khoán

và các giấy ghi nợ trung hoặc dài hạn Cụ thể:

Thị trường tài chính

(TTTD dài hạn, TTCK)Cách phân chia từ cách tiếp cận hệ thống thị trường như trên tương đối

dễ hiểu Căn cứ vào thời gian sử dụng, vốn vay của người đi vay và ngườitích luỹ được phân biệt thành nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn Thị trường tiền

tệ là nơi giao dịch các nguồn vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng thương mại,giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương Trong khi đó, cácnguồn vốn dài hạn là đối tượng của TTV (gồm TTTD dài hạn và TTCK, trong

đó chủ yếu là TTCK)

Như vậy, trong khi cách phân chia thứ nhất bao quát hết các nguồn vốngiao dịch trên thị trường thì trường phái thứ hai lại bỏ qua nguồn vốn ngắn

Trang 15

hạn Tuy nhiên, xuất phát từ vai trò quan trọng của các nguồn vốn dài hạn đốivới đầu tư phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, để dễ tiếp cận trong quá trìnhnghiên cứu, chúng tôi chọn cách phân chia theo quan điểm của trường pháithứ hai Theo quan điểm này, TTV và thị trường tiền tệ là hai bộ phận của thịtrường tài chính Hai bộ phận này trên thực tế có quan hệ chặt chẽ với nhau.Những biến đổi về giá cả, lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo cácbiến đổi trực tiếp trên thị trường vốn Ngược lại, những thay đổi của TTV (chỉ

số chứng khoán hay giá cả cổ phiếu…) cũng phản ánh các hiện tượng tốt, xấuđang hoặc sẽ xảy ra đối với thị trường tiền tệ

TTV được cấu thành bởi hai bộ phận: TTTD dài hạn và TTCK, trong

đó TTCK đóng vai trò chủ yếu và quan trọng TTTD dài hạn hoạt động thôngqua các nghiệp vụ vay để cho vay của các TCTD Tùy từng loại hình cụ thể,những TCTD này được phép huy động vốn bằng các nghiệp vụ nhận tiền gửi,phát hành các giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và vay ngân hàng nhànước Đồng thời, các TCTD được phép cấp tín dụng dưới nhiều hình thứckhác nhau (cho vay, cho thuê tài chính…) Thị trường này có vai trò quantrọng trong các kênh huy động vốn cho phát triển, đặc biệt khi TTCK vẫnđang ở giai đoạn đầu phát triển như nước ta Tuy nhiên, hoạt động của thịtrường này lại tách rời người sở hữu vốn và người sử dụng vốn Những ràngbuộc như quy định lãi suất, điều kiện cho vay của các TCTD…đã khiến chohoạt động của thị trường này mang tính chất độc quyền

Để khắc phục những hạn chế trên TTTD dài hạn, TTCK ra đời như một

bổ sung tất yếu khách quan vào các kênh huy động vốn truyền thống Trongđiều kiện của nền kinh tế hiện đại, TTCK được quan niệm là nơi diễn ra cáchoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bánnày được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua chứng khoán lần đầu từnhững người phát hành; ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lạicác chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp

Trang 16

Trên lý thuyết, căn cứ vào các bộ phận cấu thành, TTCK được phânloại thành TTCK nhà nước, TTCP và TTTP Trong đó, TTCK nhà nước (cácgiấy ghi nợ của Nhà nước như trái phiếu, tín phiếu kho bạc nhà nước dài hạn

và các chứng chỉ đầu tư…); TTTP là thị trường mua bán các chứng khoán cólãi suất cố định (trái phiếu) Trong số các bộ phận cấu thành TTCK, thịtrường cổ phiếu là hạt nhân cơ bản và rất nhạy cảm với các biến động của nềnkinh tế như lạm phát, thất nghiệp…

1.1.2 Các chủ thể và công cụ tham gia trên thị trường vốn

Các chủ thể chủ yếu và cơ bản tham gia trên TTV gồm có Nhà nước,

doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian, các cá nhân và hộ gia đình.Tùy vào tư cách tham gia, tùy vào thực lực tài chính mà góc độ và mức độtham gia của các chủ thể này vào TTV khác nhau

Trước hết, Nhà nước tham gia vào TTV với tư cách là nhà quản lý và

tổ chức các hoạt động của thị trường này thông qua bộ máy quản lý và hệthống pháp luật Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có thể tham gia với tư cách làmột doanh nghiệp bình thường Chẳng hạn, trên TTCK thứ cấp, Nhà nước(Bộ Tài chính) tham gia mua bán các chứng khoán của doanh nghiệp (khốilượng nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ tham gia quản lý); Nhà nước (Ngânhàng Nhà nước) lại có thể thực hiện điều hành lưu thông thị trường tiền tệbằng hoạt động nghiệp vụ trên thị trường mở

Các doanh nghiệp tham gia trên TTV với tư cách là người tạo hàng(chứng khoán), đồng thời là người tiến hành các hoạt động mua bán chứngkhoán Trong đó, các công ty cổ phần là chủ thể quan trọng nhất trên TTCK

Ở nước ta, các công ty cổ phần được hình thành chủ yếu từ quá trình cổ phầnhóa các DNNN

Các cá nhân, hộ gia đình cũng là những chủ thể cung ứng vốn quantrọng Họ có thể tham gia trực tiếp trên thị trường hoặc thông qua quỹ tương

hỗ hay quỹ đầu tư

Trang 17

Các tổ chức tài chính trung gian tham gia với tư cách là những doanhnghiệp kinh doanh tín dụng Đây chính là cầu nối giữa người đi vay và ngườicho vay bao gồm các TCTD (các NHTM, các công ty tài chính…), các công

ty tài chính khác (quỹ tương hỗ, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí…) Các công

ty tài chính khác với các NHTM ở chỗ chúng không thực hiện các dịch vụthanh toán và tiền mặt, không huy động tiền gửi tiết kiệm, không sử dụng vốnvay của dân để làm phương tiện thanh toán Trong nền kinh tế thị trường, cáccông ty tài chính gắn liền với các nghiệp vụ về chứng khoán, có tên gọi khácnhau như: công ty chứng khoán, công ty tài chính chứng khoán, hiệp hội cácnhà buôn chứng khoán…

Ở nước ta, sau 20 năm đổi mới, các chủ thể theo thông lệ quốc tế cơbản đã được hình thành nhưng vẫn còn ít về số lượng và non kém về mặt nghiệpvụ

Các công cụ tài chính (hàng hóa) trên TTV được hiểu là quyền đòi nợ

tài chính như chứng chỉ, cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, hợp đồng bảo hiểm…Các công cụ này đều có tính thanh khoản và có thể được phân loại thành cáccông cụ của từng thị trường Trên TTV, các công cụ tài chính thường có thờigian đáo hạn trên một năm, bao gồm các công cụ nợ và công cụ vốn Cáccông cụ của TTV có mức giá biến động mạnh hơn so với các công cụ trên thịtrường tiền tệ và được coi là những khoản đầu tư có rủi ro cao Tuy nhiên, khithị trường tài chính ngày càng phát triển, các công cụ tài chính được sử dụngđan xen giữa các thị trường Những công cụ mới không ngừng ra đời và mangđặc trưng của nhiều loại công cụ tài chính khác Chính vì vậy, ranh giới giữacác công cụ tài chính và giữa các bộ phận thị trường cấu thành ngày càngmang tính tương đối

Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ

vật chất hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp củangười sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc của một công ty cổ phần Cổ phiếu

Trang 18

là một loại chứng khoán vốn, thể hiện quan hệ đồng sở hữu giữa người pháthành và nhà đầu tư Người mua cổ phần được gọi là cổ đông của công ty Cổđông nhận được một (các) giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.Người mua cổ phiếu trở thành người sở hữu một phần công ty và được hưởngcác quyền đối với công ty tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ Khicông ty làm ăn thua lỗ, các cổ đông phải chịu thiệt hại tương ứng với giá trị

cổ phiếu của họ Căn cứ vào tính chất các quyền lợi cổ phiếu mang lại cho cổđông, cổ phiếu được phân loại thành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức

chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ của tổ chức pháthành phải trả cho người nắm giữ trái phiếu một khoản tiền xác định trongnhững khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khiđáo hạn Trái phiếu là chứng khoán nợ; người nắm giữ trái phiếu là chủ nợ vàchủ thể phát hành là con nợ

Khế ước thế chấp (mortage) là khoản tiền mà các cá nhân hay các công

ty kinh doanh vay để mua nhà, đất hoặc những công trình kiến trúc khác,trong đó hiệp hội tiết kiệm và cho vay và những ngân hàng tiết kiệm tương hỗ

là những người cho vay hàng đầu trong thị trường cho vay thế chấp nhà ở.Tuy nhiên, các NHTM cũng tham gia tích cực hơn vào thị trường này Đa sốnhững món cho vay thế chấp thương mại và nông trại do các ngân hàngthương mại và công ty bảo hiểm thực hiện

Những khoản vay thương mại ngân hàng cấp và vay tiêu dùng là những

khoản vay dành cho người tiêu dùng và cho những công ty kinh doanh Cáckhoản vay này có thể được ngân hàng hoặc các công ty tài chính cấp Thườngkhông có thị trường thứ cấp để mua bán lại những món vay này và do đó,chúng được coi là có tính thanh khoản thấp nhất trong các công cụ của thịtrường vốn Tuy nhiên, thị trường thứ cấp hiện cũng đang trong giai đoạnhình thành và phát triển

Trang 19

Công cụ tài chính phái sinh là tài sản tài chính có giá trị trong tương

lai, phụ thuộc vào giá trị của một hay một số tài sản tài chính cơ sở tại thờiđiểm hợp đồng được ký kết Các công cụ tài chính phái sinh bao gồm:

Hợp đồng kỳ hạn (Forwards) là một thỏa thuận, trong đó, một người

mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch với khối lượng xácđịnh tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn địnhvào thời điểm thỏa thuận hợp đồng Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận, kýtrực tiếp bởi hai bên ký hợp đồng; được mua bán trên thị trường phi tập trung

và được thanh toán vào ngày đáo hạn

Hợp đồng tương lai (Futures) cũng là hợp đồng mua hoặc bán một lượng

xác định các tài sản cơ sở tại một thời điểm xác định trong tương lai với mộtmức giá xác định tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng Khác với hợp đồng kỳ hạn,hợp đồng tương lai nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch Điều này chophép giá cả được hình thành hợp lý hơn do các bên mua, bên bán được cung cấpthông tin đầy đủ và công khai Mặt khác, các giao dịch của hợp đồng tương laigiúp xóa bỏ rủi ro tín dụng Việc thực hiện các hợp đồng tương lai được đảm bảobằng lòng tin và uy tín của những người chủ sở hữu giao dịch và công ty thanhtoán bù trừ Chính sự linh hoạt của hợp đồng tương lai đã khắc phục được nhữngnhược điểm của hợp đồng kỳ hạn và thương được xem là một cách thức tốt hơn

để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh

Quyền chọn (Options) là một công cụ cho phép người nắm giữ có quyền

mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một số lượngxác định các đơn vị tài sản cơ sở tại hay trước một thời điểm xác định trongtương lai với một mức giá xác định (strike price) ngay tại thời điểm thỏa thuận

Quyền mua trước (Rights) là quyền ưu tiên các cổ đông được mua

chứng khoán mới phát hành (theo tỷ lệ với số lượng cổ phiếu mà cổ đôngđang nắm giữ) với mức giá xác định (thường rẻ hơn giá thị trường) và trong

Trang 20

một thời hạn nhất định (thường có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần) trướckhi cổ phiếu được chào bán lần đầu ra công chúng (thông qua TTCK).

Chứng quyền (Warrants) là quyền cho phép các cổ đông mua một số cổ

phần nhất định theo một mức giá xác định trong một thời hạn tương đối lâu(hàng năm) Chứng quyền tương tự quyền chọn mua, nhưng thời hạn củachứng quyền dài hơn nhiều (hàng năm) trong khi thời hạn của quyền muatrước ngắn hơn Hơn nữa, chứng quyền được phát hành và đảm bảo bởi mộtcông ty trong khi quyền mua trước chỉ là một công cụ tài chính và khôngđược các công ty phát hành

Trên TTV, cơ chế hình thành giá cả khác nhau tùy theo đó là TTCK hay TTTD dài hạn.

Trên TTTD dài hạn, giá cả của hàng hóa (vốn) chính là chi phí để đượcquyền sử dụng vốn Chi phí này trên tổng số vay được gọi là lãi suất và phụthuộc vào 2 yếu tố: tiền lãi và tiền vốn Lãi suất cao hay thấp là do tỷ suất lợinhuận bình quân hay hiệu quả hoạt động của nền kinh tế quyết định

Trong khi đó, giá cả của hàng hóa trên TTCK phụ thuộc vào đó là loạihình TTCK sơ cấp hay thứ cấp TTCK sơ cấp là nơi phát hành chứng khoánlần đầu; do đó, giá hàng hóa ở giai đoạn này chính là giá phát hành chứngkhoán Giá chứng khoán có lãi suất cố định (trái phiếu) là giá trị được in trêntrái phiếu Giá chứng khoán có lãi suất biến động (cổ phiếu) là giá được intrên cổ phiếu Giá cả chứng khoán ở TTCK thứ cấp là giá mà các chứngkhoán thực sự mua bán trên thị trường và do đó, phụ thuộc vào quan hệ cungcầu chứng khoán

1.1.3 Chức năng và vai trò của TTV

Chức năng chủ yếu của TTV là cung cấp tài chính cho các khoản đầu

tư dài hạn của chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình Đồng thời,hoạt động trên TTV được xem như “hàn thử biểu” đo xu hướng vận động củanền kinh tế; giảm thiểu vấn đề mất cân đối kép của hệ thống ngân hàng

Trang 21

Với các chức năng như trên, TTV có vai trò đặc biệt quan trọng đối vớiphát triển kinh tế của một quốc gia TTV là kênh huy động và phân bổ vốnmột cách hiệu quả để phát triển kinh tế xã hội; thông qua đó, góp phần thúcđẩy sáng tạo và đổi mới công nghệ TTV phát triển lành mạnh là nhân tố rấtquan trọng để ổn định kinh tế vĩ mô và giảm các rủi ro, nguy cơ khủng hoảngcủa nền kinh tế.

Đối với doanh nghiệp, TTV có vai trò giúp các doanh nghiệp cải thiệnnăng lực quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Đồng thời, tạo điều kiện đa dạng hóa các nguồn huy động và đầu tư vốn, giúpnhà đầu tư chia sẻ và phân tán bớt rủi ro

Thực tế đã chứng minh rằng, khu vực tài chính của một quốc gia sẽthêm hùng mạnh, dòng vốn được luân chuyển hiệu quả hơn nếu có thị trườngvốn vận hành tốt Ngoài hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung gian trongviệc huy động vốn và cho vay, các thị trường trái phiếu và cổ phiếu có thểchuyển vốn một cách hữu hiệu từ các nhà đầu tư (kể cả người cư trú và ngườinước ngoài) cho khu vực doanh nghiệp thông qua việc phát hành và kinhdoanh chứng khoán

TTV vận hành tốt sẽ giúp người vay đa dạng hóa hình thức và nguồnvốn Người đi vay nhờ đó sẽ ít chịu rủi ro vốn bị đứt đoạn (ví dụ như tìnhtrạng ngân hàng họ vay vốn mất khả năng cung cấp) hoặc phải vay với giáquá cao (khi có quá ít nguồn vốn) Tương tự như vậy, TTV phát triển đếnmức cao giúp nhà đầu tư đa dạng hóa các khoản đầu tư và từ đó loại bỏ cácrủi ro không đáng có

Thị trường các chứng khoán được niêm yết cũng hết sức quan trọng đểđịnh giá một cách hữu hiệu những thỏa thuận bảo hiểm phức tạp hơn cần thiếtcho việc quản lý các rủi ro trong khu vực ngân hàng và rộng hơn là trong nềnkinh tế Ví dụ, các dạng thức phổ biến nhất của tiền tệ chỉ có thể được địnhgiá một cách hữu hiệu nếu có thị trường vận hành tốt và thuận lợi cho chứngkhoán nợ không chứa rủi ro

Trang 22

1.2 Xu hướng phát triển TTV trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay

Tự do hoá TTV là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong nền kinh

tế thị trường và trong quá trình hội nhập tài chính giữa các nền kinh tế Vềtổng quan, đây là quá trình giảm thiểu và dỡ bỏ dần các biện pháp hạn chếgiao dịch vốn ở thị trường, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Chính phủvào các quyết định phát hành và đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán, làviệc cho phép rộng rãi các ngân hàng và các nhà đầu tư nước ngoài tham giacác giao dịch chứng khoán ở thị trường trong nước, là quá trình dỡ bỏ kiểmsoát các luồng vốn vào và luồng vốn ra khỏi nền kinh tế Kết quả, các luồngvốn sẽ được luân chuyển tự do giữa thị trường các quốc gia

Lợi ích của việc tự do hoá thị trường vốn rất lớn do đa dạng hoá đượcnhiều luồng vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, quá trình tự dohoá thị trường vốn cũng chứa đựng những khả năng tiềm ẩn về rủi ro và nguy

cơ khủng hoảng Hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng các tiêu chí quản lýthận trọng và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là yêucầu bức thiết đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam Tham gia tích cực

và hiệu quả các chương trình hợp tác khu vực và quốc tế đối với lĩnh vực tự

do hoá thị trường vốn sẽ giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình hội nhập nhằmđạt được những mục tiêu đề ra

1.3 Kinh nghiệm phát triển TTV của một số nước trên thế giới.

Kinh nghiệm của các quốc gia đi trước trong khu vực và thế giới là mộttrong những nguồn tham khảo quan trọng trong xây dựng và phát triển thịtrường trong nước Trên thế giới, có nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đangphát triển có điều kiện kinh tế- xã hội tương đồng với Việt Nam đã thànhcông trong phát triển TTV; nhưng mặt khác, cũng có những sai lầm trong quátrình phát triển đã được thực tiễn chứng minh bằng các cuộc khủng hoảng tàichính Trong phạm vi nhỏ hẹp, luận văn chỉ xin nêu tình hình phát triển TTVcủa một số quốc gia; qua đó làm rõ vai trò của các nguồn vốn và một số kinh

Trang 23

nghiệm có thể tham khảo được; đồng thời, rút ra một số bài học đối với pháttriển TTV nước ta, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiềurủi ro tiềm ẩn.

1.3.1 Tình hình phát triển TTV và kinh nghiệm của Trung Quốc

TTCK Trung Quốc ra đời từ rất sớm nhưng phải đến khi thực hiệnchính sách mở cửa, cải cách nền kinh tế, thì việc phát hành trái phiếu, tínphiếu, thực hiện cổ phần hóa DNNN mới có tác động tích cực đến TTCK.Năm 1986, thị trường phi tập trung đầu tiên được mở cửa; sau đó, ngày19/12/1990, SGDCK Thượng Hải ra đời, tiếp đến là SGDCK Thẩm Quyến(3/7/1991) Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, TTCK Trung Quốc đượcxem là tương đối hoàn thiện

Trong quá trình phát triển TTV, Trung Quốc đã chú trọng xây dựng hệthống pháp luật làm khuôn khổ hoạt động cho thị trường Khung pháp lýTTCK của Trung quốc tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ với văn bản pháp lýcao nhất điều chỉnh hoạt động của TTCK là Luật chứng khoán (được banhành năm 1999) Về mặt tổ chức quản lý, Trung Quốc đã thành lập cơ quanquản lý TTCK với hai bộ phận: Hội đồng chứng khoán Nhà nước và Ủy banGiám quản chứng khoán Hệ thống giao dịch trên TTCK được tự động hóahoàn toàn và được quản lý chặt chẽ bằng hệ thống luật pháp Sau gần 15 nămhoạt động, TTCK Trung Quốc đã đạt được những thành tựu quan trọng, mộtphần chủ yếu nhờ hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, thực thi nghiêmminh và cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý thị trường được cải tiến

Về mặt tổ chức TTCK, chính sách tập trung hóa quản lý và kiểm soátcủa chính phủ đối với thị trường là phương hướng quan trọng được chính phủTrung Quốc nỗ lực thực hiện Trước năm 1992, TTCK chịu sự quản lý vàgiám sát của chính quyền địa phương Từ tháng 10/92 đến tháng 3/98, TTCKchịu sự quản lý và giám sát đồng thời của Hội đồng Chứng khoán quốc gia(SCSC) và Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc (CRSC) Từ tháng 4/98, hai cơ

Trang 24

quan này được sát nhập (CSRC) và thống nhất quản lý, giám sát TTCK Mộtđiểm đáng lưu ý là Trung Quốc đã tách chức năng kinh doanh chứng khoán rakhỏi hệ thống ngân hàng.

Về công tác tạo hàng trên TTCK, Chính phủ Trung Quốc cũng đượcđánh giá là tương đối thành công trong việc hoàn thiện chính sách cổ phầnhóa DNNN Trung Quốc đã cải thiện đáng kể cơ chế chào bán chứng khoánlần đầu (IPO), qua đó đưa được nhiều doanh nghiệp làm ăn thực sự có hiệuquả ra niêm yết, hạn chế được nạn tham nhũng có liên quan đến phê duyệtIPO trước đây Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã tăng cường kỷ luật minhbạch, công khai thông tin; tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật thông quathành lập các Ủy ban Thực thi (Enforcement Bureau), đặc biệt khá mạnh taytrong việc đấu tranh với các hành vi vi phạm công khai thông tin, gian lận,thao túng thị trường

Đối với TTTD, Trung Quốc cũng đã áp dụng cải cách sâu rộng cácđịnh chế tài chính, đặc biệt là đối với hệ thống ngân hàng (cả ngân hàngTrung ương và ngân hàng thương mại) Luật Ngân hàng thương mại (1995)

đã tăng cường chuyển đổi sang một hệ thống ngân hàng định hướng thịtrường, đa dạng sở hữu và họat động độc lập hơn Dù các NHTM Nhà nướcvẫn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng, nhưng không còn cơ cấungân hàng độc quyền như trước đây Ngoài việc đa dạng hóa sở hữu hệ thốngngân hàng, việc phát triển các định chế phi ngân hàng được coi là một bướcchuyển biến cơ bản trong cải cách thể chế tài chính của hệ thống ngân hàngTrung Quốc

Đặc biệt, đứng ở góc độ nền kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều điểmtương đồng với Trung Quốc, Việt Nam sẽ rút ra được bài học kinh nghiệmquý báu cho mình trong việc xử lý nợ xấu, vốn đang là vấn đề nan giải củacác NHTM Việt Nam- đó là phát triển nghiệp vụ chứng khoán hóa các khoản

nợ xấu Trung Quốc đã từng bước xây dựng các điều kiện cần thiết cho việc

Trang 25

phát triển của chứng khoán hoá các khoản nợ Một bước tiến cụ thể của TrungQuốc trong kế hoạch này là đã ban hành Các quy tắc quản lý cho việc chứngkhoán hóa thí điểm các tài sản tín dụng vào tháng 4/2005; trong đó quy định

rõ các vấn đề liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người được ủy thác khixảy ra thất thoát trong giao dịch, quyền truy đòi của nhà đầu tư và làm thế nàongăn chặn giao dịch nội gián liên quan đến chứng khoán hóa các khoản nợ

Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu là giải pháp thiết thực và hữu ích đốvới hệ thống các NHTM Trước hết, các NHTM sẽ giải phóng được một số vốnlớn nằm trong quỹ dự phòng rủi ro, từ đó có thể bổ sung thêm nguồn vốn quý giá

để thực hiện các khoản vay mới Ngoài ra, phương thức này sẽ tạo ra sức cạnhtranh mới trên thị trường tài chính Trung Quốc, đặc biệt khi Trung Quốc sẽ mởcửa thị trường tài chính vào cuối năm 2007 Việc chứng khoán hóa các khoản nợxấu sẽ giúp các NHTM Trung Quốc gia tăng được lợi nhuận bằng cách tái bố trílại các khoản cho vay của mình Một ngân hàng có thể cho vay theo lãi suất thịtrường, sau đó chứng khoán hóa các khoản vay này ở một lãi suất thấp hơn; cuốicùng, các NHTM Trung Quốc sẽ có một cách thức chia sẽ rủi ro tín dụng mới.Thông thường, các ngân hàng sẽ phân phối lại rủi ro tín dụng bằng cách cân đốigiữa các khoản cho vay và các khoản tiền gửi Thay vì vậy, khi thực hiện chứngkhoán hóa, các ngân hàng có thể chuyển giao phần rủi ro tín dụng này cho cácnhà đầu tư chứng khoán Chính phủ Trung Quốc đã thử nghiệm nhiều biện phápkhác nhau để xử lý nợ xấu, nhưng cuối cùng, thực tiễn từ Trung Quốc cũng nhưnhiều quốc gia trên thế giới đã đưa đến kết luận là phương thức chứng khoán hóacác khoản nợ là một biện pháp thích hợp và tốt nhất để xử lý nợ xấu của các hệthống tài chính

Đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc là trường hợpđiển hình thực hiện hội nhập quốc tế khu vực ngân hàng thông qua các camkết trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Tiến trình hội nhập quốc tế củaTrung Quốc được tiến hành từng bước và được hỗ trợ bằng các chương trình

Trang 26

cải cách nhằm củng cố khu vực ngân hàng và các khu vực tài chính khác,đồng thời với quá trình cải cách khu vực DNNN Phương pháp hội nhập quốc

tế trong lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc bao gồm tự do hoá các hạn chếđối với sự tham gia và hoạt động của các ngân hàng nước ngoài thông quaviệc cho phép mua các cổ phần thiểu số mang tính chất đối tác chiến lượctrong các ngân hàng thương mại quốc doanh trung bình hoặc lớn hơn nhưngkhông được quyền chi phối Các ngân hàng thương mại quốc doanh lớn sẽ thuhút các luồng vốn quốc tế thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu trên cácthị trường quốc tế và có thể bán cho các đối tác chiến lược Quá trình cải cáchnày được tiến hành đồng thời với các biện pháp tăng cường công tác thanhtra, giám sát (thiết lập một cơ quan thanh tra ngân hàng độc lập) nhằm pháttriển các TTV, cải thiện các công cụ và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô

1.3.2 Tình hình phát triển TTV và kinh nghiệm của một số nước khác 1.3.2.1 Các nước chuyển đổi ở Châu Âu và cộng đồng các quốc gia độc lập

Tại các nước Đông Âu, TTCK của nhiều nước chuyển đổi Châu Âu(được thành lập từ đầu thập niên 1990) nhưng cũng đã đạt được một số thànhtựu quan trọng Cho đến cuối những năm 90, trong số 26 nước chuyển đổi ởTrung Âu và Đông Âu đã có 20 TTCK được thành lập Tuy nhiên, ở một sốquốc gia (Bungary, Macedonia, Rumani…) đã không đạt được thành côngnhư mong đợi trong những năm đầu do thực hiện tư nhân hóa một cách ồ ạt

và buộc các doanh nghiệp cổ phần phải niêm yết ngay sau khi đã cổ phần hóa.Một số nước khác (Croatia, Estonia, Latvia…) bắt đầu phát triển TTCK bằngcách chào bán một số ít cổ phiếu thông qua cách thức truyền thống IPO Kếtquả, nhiều cổ phiếu đã có tính thanh khoản tương đối cao; số lượng các công

ty niêm yết tăng vững chắc

Niêm yết trên TTCK quốc tế cũng là một lựa chọn quan trọng đượcnhiều nước chuyển đổi Châu Âu và cộng đồng các quốc gia độc lập thực hiện

Trang 27

Các công ty niêm yết ra nước ngoài của các nước này chiếm trung bìnhkhoảng 18% tổng giá trị thị trường trong nước Bên cạnh đó, hầu hết các nướcchuyển đổi cũng đã chú trọng xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý củaTTCK tuy hiệu lực thực thi còn tương đối thấp; nguyên nhân chủ yếu do nạntham nhũng nặng nề, hệ thống tư pháp yếu kém và công khai thông tin cònnhiều hạn chế.

Với những đặc trưng tài chính của mình, các nước quốc gia này cũng

đã phải tiến hành cải tổ toàn bộ hệ thống ngân hàng của mình và đạt được một

số thành tựu nhất định Tuy nhiên, đáng chú ý là các nước thuộc Đông Âu cũnhìn chung đều nhanh chóng hội nhập quốc tế hệ thống tài chính của mình.Các bước hội nhập phổ biến nhất đối với các nước này là: Kiên quyết giảm sởhữu nhà nước trong các ngân hàng; Cho phép người nước ngoài mua cổ phầnchi phối trong các ngân hàng đã từng là ngân hàng thương mại quốc doanh.Các nước với các ngân hàng thương mại quốc doanh được tư nhân hoá sớm

đã thu được nhiều lợi ích như các luồng tiết kiệm trong nước tăng lên, lòng tincủa dân chúng vào hệ thống ngân hàng và chính phủ tăng lên, các chươngtrình cải cách cơ cấu kinh tế hiệu quả

Trang 28

dựng đường cong lãi suất chuẩn bằng việc thiết lập TTTP chính phủ với cơchế định giá theo thị trường và xem đây như một điều kiện tiên quyết để pháttriển TTTP công ty; Khắc phục các nhân tố cản trở sự phát triển của TTTPcông ty; Thiết lập thị trường tài chính liên quan nhằm hỗ trợ cho việc nângcao năng lực quản trị rủi ro (thị trường tiền tệ, thị trường phái sinh); Hoànthiện hệ thống thanh toán để hạn chế rủi ro mang tính hệ thống.

Về phát triển thị trường trái phiếu, có thể lấy trường hợp của Thái Lanlàm minh chứng cụ thể TTCK Thái Lan mới được hình thành và hoạt động từnăm 1962 Hệ thống pháp luật TTCK của Thái Lan tương đối hoàn chỉnh vớivăn bản pháp lý điều chỉnh cao nhất là Luật Chứng khoán; ngoài ra Thái Lancòn ban hành Luật Sở GDCK Cơ cấu tổ chức quản lý thống nhất với cơ quangiám sát cao nhất và toàn bộ là Ủy ban Giao dịch chứng khoán (thành lậpnăm 1992) Từ năm 1992, sau khi Luật Chứng khoán có hiệu lực, hoạt độngcủa thị trường, đặc biệt là TTTP bắt đầu khởi sắc và thu được những kết quảrất khả quan Từ sau năm 1997, TTTP được mở rộng, bao gồm chủ yếu cáctrái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty tư nhân có tên tuổi Những nỗ lựcphát triển TTTP của Thái Lan bao gồm: cải thiện cơ sở hạ tầng pháp lý (sửađổi Luật Phá sản 1998…); yêu cầu tất cả các đợt phát hành trái phiếu công cóthời gian đáo hạn trên 1 năm và trái phiếu tư nhân giá trị trên 100 triệu Bathphải được định mức tín nhiệm; tạo dựng đường cong lãi suất thông qua việcđưa ra thời gian biểu định trước theo quý về việc phát hành thương xuyên tráiphiếu chính phủ (với thời gian đáo hạn từ dưới 1 năm đến 15 năm); thành lập

cơ quan định mức tín nhiệm…

Cùng với việc phát triển TTTP trong nước, đặc biệt, các nước Đông Á

đã hợp tác và đạt được sự đồng thuận cao về sự cần thiết phải phát triển TTTPkhu vực Thể hiện là sáng kiến về TTTP Châu Á đưa ra cuối năm 2002 đãnhận được sự đồng tình của cả 10 nước ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc Để có một TTTP khu vực hiệu quả, các nước đều đã cam kết

Trang 29

thực thi cải cách hệ thống tài chính, mở cửa hợp lý thị trường tài chính, trong

mẽ trong lĩnh vực thanh tra, giám sát an toàn theo hướng làm cho ngân hàngtrung ương độc lập hơn Ngoài ra, các nước cũng tăng cường và áp dụngnghiêm túc các luật điều chỉnh về quyền sở hữu vốn của các ngân hàng Bêncạnh đó, các nước Đông Á cũng đã tiến hành các biện pháp lành mạnh hóa vànâng cao hiệu quả của hệ thống ngân hàng Các biện pháp chủ yếu nhằm giảiquyết các vấn đề nổi cộm như: xử lý các khoản nợ quá hạn; tăng cường nănglực giám sát và quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại

Đặc biệt, kinh nghiệm của Malaysia về củng cố và nâng cao khả năngcạnh tranh của hệ thống ngân hàng cũng nên được tham khảo Malaysia chorằng, mở cửa khu vực tài chính nội địa cho sự thâm nhập của các đối thủ cạnhtranh nước ngoài sẽ góp phần tạo lập một khu vực tài chính hoạt động hiệuquả Theo tiêu chuẩn quốc tế, khu vực ngân hàng của Malaysia đã có rấtnhiều hiện diện của nước ngoài và là một trong những khu vực tự do nhấtChâu Á Tuy nhiên, để có thể có được lợi ích của tự do hóa thì tốc độ tự dohóa phải phù hợp với khả năng và mức độ phát triển của hệ thống tài chínhnhằm tránh tình trạng mất ổn định Do đó, Malaysia đã ban hành một số chính

Trang 30

sách củng cố và tăng cường năng lực, trình độ của các thể chế tài chính nhằmnâng cao khả năng cạnh tranh trong môi trường tự do hơn.

Cải cách về biện pháp thận trọng và các chế độ liên tục được ban hànhnhằm tăng cường khả năng linh hoạt của hệ thống ngân hàng Ngân hàngTrung ương cũng thực hiện một số cơ cấu đối với khung thể chế, theo hướnggiảm bớt các quy định đối với khu vực ngân hàng như: cho phép các thể chếngân hàng từ 2/1991 tự do quyết định lãi suất tiền gửi và cho vay dưới mứclãi suất trần; liên tục tự do hóa hệ thống ngân hàng nội địa, đẩy mạnh cạnhtranh qua việc sử dụng hệ thống khuyến khích (Hệ thống quản lý hai tầngTTRS)…Đồng thời, Malaysia cũng đã soạn thảo 23 trong số 25 nguyên tắcgiám sát cơ bản của Ủy ban Basel Sau khi khủng hoảng xảy ra, trước những

áp lực của nền kinh tế, chính phủ cũng đã áp dụng thành công các biện pháptái lập độ tin cậy và ổn định trong khu vực ngân hàng Chính sách bảo đảmtính thường xuyên của hệ thống thanh toán được ban hành Các biện phápkhống chế được giới thiệu nhằm cải thiện tính dẻo dai của khu vực tài chính

và tránh rủi ro hệ thống; bao gồm hợp nhất các công ty tài chính, thành lậpDanaharta, hạn chế các khoản vay không hiệu quả (NPL); thành lậpDanamodal - cơ quan đặc biệt nhằm hạn chế tình trạng mất vốn ở một số ngânhàng….Chương trình hợp nhất ngân hàng là điều kiện tiên quyết tạo lập hệthống ngân hàng nội địa vững mạnh, có tính cạnh tranh cao; đồng thời cũng làbiện pháp quan trọng làm giảm khoảng cách giữa ngân hàng nội địa và ngânhàng nước ngoài tại Malaysia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.3 Bài học kinh nghiệm phát triển TTV của các nước

Bài học về tôn trọng quy luật phát triển khách quan Mỗi loại thị

trường có những yêu cầu và quy luật phát triển riêng Cần phải thấu hiểu bảnchất của thị trường cũng như cơ chế vận động của nó mới có cơ sở xây dựng

và hoạch định chính sách làm nền tảng cũng như thúc đẩy sự phát triển củathị trường Nhà nước quản lý thị trường thông qua luật pháp, không làm thaychức năng của thị trường

Trang 31

Bài học về phát triển thị trường theo hướng thể chế hóa Hầu hết các

nước có TTV phát triển đều được điều chỉnh bởi khung pháp lý tương đốihoàn thiện Hệ thống các văn bản luật và dưới luật hoàn thiện và đồng bộchính là điều kiện tiên quyết để phát triển thị trường nói chung, TTV nóiriêng Đồng thời, cần đặt trong sự phát triển đồng bộ với các thị trường khác(thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản…)

Để hội nhập quốc tế thành công cần phải xây dựng một môi trườngpháp lý trong nước đồng bộ, hấp dẫn với các cơ chế chính sách nhất quán, rõràng, tạo lập một môi trường kinh doanh bình đẳng để tất cả các nhà đầu tư( trong nước và nước ngoài) cùng phát triển Xây dựng môi trường pháp lý làquan trọng; thực thi nghiêm minh là cần thiết

Bài học về tạo hàng hóa cho TTCK: Hầu hết các nước đều quan tâm

đến tạo nguồn hàng về số lượng và chất lượng cho TTCK; áp dụng nhữngchương trình cổ phần hóa và tư nhân hóa mạnh mẽ; có các biện pháp khuyếnkhích đăng ký niêm yết; sử dụng các biện pháp ưu đãi tài chính Đối với ViệtNam, muốn phát triển TTCK thì phải đẩy mạnh cổ phần hóa bằng những biệnpháp hữu hiệu

Đặc biệt, để phát triển TTCK, thúc đẩy sự phát triển của TTTP công tycũng là bài học nên được đúc rút và tham khảo Đây là một quá trình lâu dài

và đòi hỏi nhiều công sức

Đối với phát triển TTCK, vai trò của hệ thống ngân hàng thương mairất quan trọng Nghiên cứu TTCK các nước cho thấy, các ngân hàng thươngmại tham gia mua bán trên TTCK như một doanh nghiệp còn thực hiện cácnghiệp vụ trung gian khác (môi giới, tư vấn…) Như vậy, muốn phát triểnTTCK nước ta, cần phải dựa vào hệ thống ngân hàng nhưng các ngân hàngphải thành lập công ty chứng khoán và tách khỏi hoạt động kinh doanh củangân hàng; nghiêm cấm các ngân hàng thương mại dùng tiền gửi của kháchhàng để kinh doanh chứng khoán

Trang 32

Bài học về vai trò của nguồn vốn bên ngoài và quản lý sự tham gia của bên nước ngoài vào TTV.

Trì hoãn để có thời gian cho các định chế tài chính, đặc biệt là hệ thốngngân hàng trong nước bằng cách hạn chế sự tham gia của bên nước ngoài làmột chiến lược không phù hợp trong điều kiện hội nhập kinh tế là chắc chắn.Những hạn chế có thể làm tăng chi phí tương đối của các ngân hàng nướcngoài trong quá trình tham gia thị trường; do đó tạo ra lợi thế nhất định chocác ngân hàng trong nước Tuy nhiên, điều đó lại dẫn đến hoạt động kém hiệuquả và mức độ cạnh tranh thấp trên thị trường Kinh nghiệm của các nướcphát triển và đang phát triển cho thấy sự tham gia thị trường của các ngânhàng nước ngoài không gây tác động lớn đến sự luân chuyển vốn ngắn hạn.Tuy nhiên, trình tự hội nhập quốc tế tối ưu tuỳ thuộc vào mức độ phát triểncủa hệ thống tài chính nội địa Tương tự như vậy đối với TTCK; hầu hết cácnước đều áp dụng các biện pháp hạn chế sự tham gia của bên nước ngoài trênTTCK Để bảo vệ nền kinh tế trong nước trong điều kiện thiếu vốn, huy độngvốn từ nước ngoài đóng vai trò quan trọng nhưng không nên áp dụng rộng rãi

để tránh rủi ro Hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao khả năng cạnh tranhcủa các định chế tài chính trong nước là điều quan trọng trước hết trong hộinhập kinh tế quốc tế

Bài học về kết hợp kinh nghiệm quốc tế với thực tiễn của đất nước.

Phần lớn các nước đều học tập kinh nghiệm phát triển TTV của các nước pháttriển, nhưng mức độ thành công khác nhau Do vậy, cần vận dụng linh hoạtcác kinh nghiệm có tính đến điều kiện thực tế của nước mình; tránh vận dụngmáy móc, phi thực tiễn

Kết luận Chương I

Để có cơ sở nghiên cứu về TTV Việt Nam, nội dung Chương I đã đềcập đến những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thị trường vốn Trong đó đã địnhhướng phạm vi nghiên cứu thị trường vốn trên cơ sở lựa chọn sự phân loại thị

Trang 33

trường theo quan điểm của Mỹ, Anh, Đức (và một số nước khác); phân tíchmột số các khái niệm cơ bản (vốn, các công cụ, chủ thể); đồng thời, nêu kháiquát vai trò, chức năng của thị trường vốn.

Một trong những nguồn tham khảo quan trọng để phát triển TTV trongnước là kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của các quốc gia trong khuvực và thế giới, đặc biệt là những nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồngvới Việt Nam Những kết quả nghiên cứu tình hình phát triển TTV của một sốnước là cơ sở để khái quát một số bài học kinh nghiệm mang tính lý luận và thựctiễn có thể áp dụng đối với TTV Việt Nam Trong đó, cần nhấn mạnh rằng, hoànthiện hệ thống pháp luật và nâng cao khả năng cạnh tranh của TTV trong nước làđiều quan trọng trước hết trong hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 34

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN TTV VIỆT NAM

TRONG QUÁ TRÌNH HNKTQT

Để chủ động và khuyến khích hội nhập kinh tế quốc tế, chính phủ cácnước thường thực hiện mở cửa tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia, xây dựngmôi trường chính sách trong nước hỗ trợ cho cạnh tranh, từng bước cho phépcác nhà ĐTNN cạnh tranh trong một sân chơi công bằng và tạo thuận lợi chocác tổ chức, doanh nghiệp trong nước thâm nhập thị trường quốc tế; đồng thờichính phủ các nước cũng áp dụng các tiêu chuẩn thông lệ tốt nhất của quốc tếliên quan đến hoạt động của thị trường; luân chuyển vốn quốc tế trở nên tự dohơn Mức độ hội nhập quốc tế đạt được trên thực tế tuỳ thuộc vào sự phản hồicủa các nhà ĐTNN và các nhà đầu tư trong nước đối với các cơ hội do sựthay đổi chính sách tạo ra

2.1 Tình hình phát triển TTV Việt Nam trong quá trình HNKTQT 2.1.1 Thị trường chứng khoán

Sau quá trình chuẩn bị các điều kiện cần thiết về môi trường kinh tế,chính trị xã hội, môi trường pháp lý, điều kiện kỹ thuật cũng như nhân tố conngười, TTCK đã từng bước hình thành, phát triển và đạt được những kết quảkhả quan về nhiều mặt Đây thực sự là một bổ sung quan trọng vào kênh huyđộng và phân bổ vốn truyền thống

Thứ nhất, sau 6 năm đi vào hoạt động, khung pháp lý điều chỉnh TTCK

đã được xây dựng tương đối đồng bộ, góp phần quan trọng vào những thành công ban đầu của TTCK nước ta Trước hết, đã tạo được cơ sở pháp lý cho sự

ra đời của hai TTGDCK, hình thành nên TTCK theo mô hình tập trung vớivai trò là kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế Đồng thời, đã tạo ra

cơ sở pháp lý xây dựng hệ thống các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCKnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, giao dịch chứngkhoán Bên cạnh đó, pháp luật về chứng khoán và TTCK quy định tương đối

rõ ràng và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, từ đó thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt

Trang 35

là các nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường.Từng bước tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp,nâng cao tính minh bạch, thực hiện kiểm toán, và bước đầu đã thực hiệnnguyên tắc quản trị công ty; tạo ra hành lang pháp lý để cơ quan quản lý nhànước thực hiện chức năng quản lý, giám sát TTCK.

Trong quá trình HNKTQT, cơ chế và chính sách về TTCK nước tacũng đã từng bước được sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với các cam kết hộinhập cũng như các thông lệ quốc tế; đồng thời, tạo môi trường pháp lý dầndần bình đẳng trong điều kiện thực tế phát triển của nền kinh tế Sở hữu củanhà đầu tư nước ngoài trên thị trường được mở rộng với các bước đi thíchhợp; áp dụng các thông lệ quốc tế vào cơ chế quản lý thị trường là nhữngbước tiến quan trọng

Ngày 23/6/2006, Quốc hội khoá XI đã chính thức thông qua LuậtChứng khoán (bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2007) Luật Chứng khoán

đã được xây dựng phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiệncho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế vàkhu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết trong Hiệpđịnh Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và gia nhập WTO Cùng với quá trìnhhình thành nên một trật tự thị trường, một khung pháp lý chuẩn làm địnhhướng cho sự phát triển của các thành phần tham gia thị trường, Luật Chứngkhoán với nhiều điểm tích cực sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện

hệ thống quản lý, kích thích luân chuyển vốn, phù hợp với giai đoạn khởiđộng nhằm thúc đẩy nhanh chóng TTCK Việt nam phát triển.

Thứ hai, về hợp tác quốc tế, ngày 26/6/2001, Uỷ ban Chứng khoán Nhà

nước Việt Nam đã chính thức được công nhận là thành viên chính thức củaIOSCO Đây là một tổ chức quốc tế tiền thân của những Uỷ ban chứng khoán

và là một trong những diễn đàn quan trọng cho sự hợp tác quốc tế giữa cácnhà quản lý thị trường vốn Các nguyên tắc và mục tiêu về quản lý chứng

Trang 36

khoán của IOSCO (Các nguyên tắc của IOSCO) được cộng đồng tài chính thếgiới công nhận là các chuẩn mực quốc tế cho tất cả các thị trường.

Việc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam gia nhập Tổ chức này

là phù hợp với chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và nhà nước nhằm tranhthủ sự hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm vớicác nước trong việc phát triển TTCK, góp phần giúp ngành chứng khoán nontrẻ của Việt Nam hội nhập quốc tế Tham gia vào IOSCO, Uỷ ban Chứngkhoán Nhà nước Việt Nam có đủ tư cách tham gia ký kết Biên bản ghi nhớ(MOU) với các Uỷ ban chứng khoán khác theo tinh thần của Điều ước Rio vềhợp tác quốc tế giữa các Uỷ ban Chứng khoán Việc ký kết MOU này rất cầnthiết cho tiến trình phát triển TTCK Việt Nam thông qua sự hỗ trợ và hợp táccủa các thành viên khác trong mọi lĩnh vực của TTCK; tạo điều kiện pháttriển nhanh và bền vững trong quá trình hội nhập

Thứ 3, về hoạt động trên TTCK, quy mô thị trường không ngừng tăng qua các năm Sau thời kỳ giao dịch trầm lắng những năm 2002, 2003, giá trị

chứng khoán niêm yết tăng thêm trong năm 2004 gần 12.500 tỷ đồng, tăng93,4% so với giá trị chứng khoán niêm yết năm 2003 (trong đó: niêm yết cổphiếu tăng thêm gần 216 tỷ) Năm 2005, tính chung trên cả hai TTGDCK,tổng giá trị chứng khoán và đăng ký giao dịch (theo mệnh giá) đã tăng 64%;giá trị thị trường của chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch tăng gấp 1,6lần so với năm 2004, tương đương 6,1% GDP năm 2005 (so với mức 3,9%GDP năm 2004), trong đó cổ phiếu là 1,2% GDP Tính đến tháng 4/2006, đãđưa vào niêm yết và đăng ký giao dịch khoảng 45 loại cổ phiếu (34.000 tỷđồng), 400 loại trái phiếu chính phủ (48.500 tỷ đồng)

Tại TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, giá trị giao dịch năm 2005 đạthơn 26,8 ngàn tỷ đồng; trong đó trái phiếu chiếm 90%, còn lại là cổ phiếu vàchứng chỉ quỹ đầu tư

Trang 37

Bảng 1: Hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán

đầu tư được giao dịch trên thị trường

Thứ năm, sau 6 năm đi vào hoạt động, thành phần các chủ thể tham gia thị trường ngày càng đa dạng, hoạt động tích cực và có hiệu quả Tính đến thời điểm hiện nay, hệ thống các tổ chức trung gian đã được tạo lập với

14 công ty chứng khoán, 01 ngân hàng thanh toán, 01 trung tâm lưu ký chứngkhoán, 7 công ty kiểm toán, 9 công ty quản lý quỹ (riêng năm 2005 cho phépthành lập 4 công ty quản lý quỹ), 2 trung tâm giao dịch chứng khoán(TTGDCK TP Hồ Chí Minh, thành lập 7/2000; TTGDCK Hà Nội, thành lậptháng 3/2005)

Thứ sáu, công tác đào tạo và tuyên truyền đã được chú trọng Công tác

này đóng góp đáng kể vào việc cung cấp kiến thức cơ bản cũng như nhữnghiểu biết về mặt pháp luật về chứng khoán và TTCK cho công chúng, gópphần cung cấp cho thị trường những nhà đầu tư có kiến thức nhất định vềchứng khoán, TTCK; đồng thời tạo ra đội ngũ nhân viên quản lý, giao dịchchuyên nghiệp cho các cơ quan quản lý và công ty chứng khoán

Trang 38

Trên đây là một số nhận xét chung; tình hình phát triển các thị trường

bộ phận cụ thể như sau:

2.1.1.1 Thị trường cổ phiếu

a Thị trường cổ phiếu tập trung

Năm 2000, TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu đi vào hoạt độngvới chỉ hai loại cổ phiếu được niêm yết (tổng giá trị là 270 tỷ đồng) Đến năm

2004, số loại cổ phiếu đã tăng lên 26 (tổng giá trị là 1.240 tỷ đồng); năm2005: 32 loại cổ phiếu Tính đến cuối tháng 4/2006, TTCK Việt Nam đã có

45 loại cổ phiếu được niêm yết và đăng ký giao dịch trên hai TTGDCK; tổnggiá trị thị trường đạt khoảng 34.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng gần 4,4% GDP

Tháng 3/2005, TTGDCK Hà Nội bắt đầu đi vào hoạt động đã hoànthiện thêm một bước TTCK ở nước ta Tháng 8/2005, TTGDCK Hà nội chínhthức khai trương sàn giao dịch thứ cấp và tính đến đầu tháng 3/2006TTGDCK Hà nội đã tổ chức được tròn 100 phiên giao dịch với tổng khốilượng chuyển nhượng trên 30 triệu cổ phiếu; khối lượng giao dịch trung bìnhđạt trên 300.000 cổ phiếu với giá trị hơn 4 tỷ đồng/ phiên

Theo dõi qua các năm cho thấy, giá cổ phiếu dần đi vào ổn định và hầu như do thị trường tự điều chỉnh, phản ánh được quy luật cung cầu Những

năm 2002, 2003, tình trạng giảm sút của nền kinh tế đã tác động trực tiếp đếnhoạt động của TTCK Việt Nam Chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) giảmmạnh từ 240 điểm vào cuối năm 2001 còn 183,05 điểm trong phiên giao dịchcuối năm 2002; còn 138,19 điểm vào tháng 11/2003 Giá trị giao dịch chứngkhoán có phiên chỉ đạt 80 triệu đồng (10/2002) Từ năm 2003, chỉ số chứngkhoán dần dần phục hồi và ổn định và đạt mức cao Chỉ số VN-Index ở mức239,29 ngày 31/12/2004, tăng 72,35 điểm (trên 43%) so với chỉ số VN Indexngày 31/12/2003 là 166,94 Nửa cuối năm 2005, chỉ số VN-Index đã tăngmạnh So với mức đóng cửa phiên giao dịch ngày 31/12/2004, chỉ số VN-Index đóng cửa phiên giao dịch ngày 30/12/2005 đã tăng 28,51% lên 307,50

Trang 39

điểm (22 cổ phiếu tăng giá) Chỉ số VN-Index tiếp tục tăng cao đến mức kỷlục vào đầu năm 2006 và sau đó giảm, ổn định hơn Kết quả hoạt động kinhdoanh ổn định và bền vững của các công ty là yếu tố quyết định xu hướngtăng giá của hầu hết các cổ phiếu.

Hình 1: Biểu đồ biến động giá cổ phiếu và chỉ số VN INDEX 2004-7/2006

Nguồn: Ủy Ban chứng khoán Nhà nước

Hoạt đấu giá cổ phiếu cũng tương đối sôi động Đặc biệt trong năm

2005, hai TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã tổ chức đấu giácho 64 doanh nghiệp, trong đó có 56/64 cổ phiếu đạt mức giá đấu bình quâncao hơn giá khởi điểm; tổng số cổ phiếu đã bán là 310.499.094/352.554.154

cổ phiếu chào bán; đạt 88,07% so với số lượng cổ phiếu chào bán; tổng sốtiền thu về cho Nhà Nước và doanh nghiệp là hơn 4.573,6 tỷ đồng, thu lợi hơn1.468,6 tỷ đồng so với mệnh giá và hơn 527,2 tỷ đồng so với giá khởi điểm

Về công bố thông tin, các công ty niêm yết thực hiện công bố định kỳ

đúng thời hạn; cố gắng và chủ động hơn trong việc công bố thông tin bấtthường như : thông tin về đại hội cổ đông, thay đổi nhân sự, phát hành thêm

cổ phiếu hoặc chi trả cổ tức

Về nguồn cung cổ phiếu, các DNNN được cổ phần hóa là nguồn cung

hàng hóa chủ yếu trên thị trường Tính từ năm 1992 đến hết năm 2005, cảnước ta đã tiến hành cổ phần hóa được 2.996 DNNN Tuy nhiên, các công ty

Trang 40

niêm yết chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số đó (năm 2003, tỷ lệ này là3%) Năm 2005, chỉ có 35 công ty cổ phần niêm yết trên thị trường, nhưnghầu hết đều có quy mô nhỏ, lớn nhất là Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam vớitổng số vốn điều lệ là 1.590.000.000.000 đồng Tính tới ngày 21/7/2006 chỉmới có 39 công ty cổ phần trong số hơn 5000 công ty cổ phần của cả nướctham gia vào TTCK Đây là một con số rất nhỏ so với khả năng của nền kinh

tế và của các nhà đầu tư Dự kiến trong năm 2006, 2007, có 16 doanh nghiệp(trong danh sách thuộc QĐ 528/QĐ-TTg phê duyệt danh sách các công ty cổphần hóa thực hiện đấu giá cổ phần, niêm yết, đăng ký giao dịch) sẽ niêm yếttrên TTCK

Về cầu cổ phiếu, tham gia giao dịch cổ phiếu trên TTCP tập trung hầu

hết là các nhà đầu tư cá nhân; các nhà đầu tư có tổ chức Đặc biệt, cùng vớiquá trình mở cửa nền kinh tế và thực hiện các cam kết hội nhập, số lượng cácnhà đầu tư nước ngoài tham giao giao dịch tăng qua các năm Nếu như năm

2003 mới có khoảng 14.500 tài khoản thì tính đến hết năm 2005, số tài khoảngiao dịch chứng khoán đã lên đến 31.000 tài khoản (tăng 45% so với năm2004), trong đó tài khoản của các nhà đầu tư nước ngoài đã tăng lên gấp đôi.Tính đến đầu năm 2006, có trên 52.000 tài khoản đầu tư, trong đó có 246 nhàđầu tư là tổ chức, trên 362 tài khoản đầu tư là của người nước ngoài Đây lànhững nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy tăng cầu chứng khoán thông quacác nhà đầu tư chuyên nghiệp, có khả năng thu hút, tập trung các nguồn vốnđầu tư nhỏ lẻ trong nền kinh tế Mặt khác, điều này cũng cho thấy sự quantâm ngày càng tăng của các nhà ĐTNN đối với TTCK Việt Nam

Về môi trường chính sách pháp lý, khung pháp luật điều chỉnh TTCP

chính thức cũng dần dần được hoàn thiện

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành hệ thống các quy địnhpháp lý, trong đó đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của TTCP như phát hành

cổ phiếu ra công chúng, niêm yết cổ phiếu, công bố thông tin (Nghị định số

Ngày đăng: 16/10/2020, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w