1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh ở việt nam

98 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 182,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta cóthể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh như sau : Chứng khoán phái sinh là một công cụ tài chính được thể hiện dưới dạng hợp đồng giữa hai bên mua và bán, có giá trị được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-TRẦ

N QUANG VIÊT

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

PHÁI SINH ỞVIÊT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-TRẦ

N QUANG VIÊT

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

PHÁI SINH ỞVIÊT NAM

Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng

Mã số : 60 34 20LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÀO LÊ MINH

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của TS.Đào

Lê Minh Qua đây tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy

Tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn đến Ban chủ nhiệm khoa, cácthầy cô trong khoa Tài chính ngân hàng, trường Đại học Kinh tế - ĐH QuốcGia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tác giả được làm việc trong một môi trườngkhoa học

Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong lớp cao học K19 TCNH2 đãgiúp đỡ và động viên để tác giả hoàn thành luận văn này

Hà Nội, năm 2014

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 3

1.1 Chứng khoán phái sinh 3

1.1.1 Khái niệm chứng khoán phái sinh 3

1.1.2 Đặc điểm của chứng khoán phái sinh 5

1.1.3 Phân loại chứng khoán phái sinh 6

1.1.4 Vai trò của chứng khoán phái sinh 17

1.2 Thị trường chứng khoán phái sinh 21

1.2.1 Khái niệm 22

1.2.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh 26

1.2.3 Điều kiện xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAM 36

2.1 Thực trạng sử dụng chứng khoán phái sinh ở Việt Nam 36

2.1.1 Giao dịch quyền chọn 36

2.1.2 Hợp đồng tương lai trên chỉ số chứng khoán 41

2.1.3 Quyền mua trước (Rights) 43

2.1.4 Các sản phẩm giao dịch có tính chất như CKPS 44

2.2 Đánh giá các điều kiện, tiền đề phát triển thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam………58

2.2.1 Những điều kiện, tiền đề đã có………58

Trang 5

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNGKHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAM 563.1 Sự cần thiết phải phát triển thị trường chứng khoán phái sinh 563.1.1 Giúp tăng khả năng huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trườngchứng khoán 563.1.2 Giúp thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn trongviệc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước 583.1.3 Giúp cho thị trường chứng khoán đa dạng về hàng hóa và trở nên sôiđộng hơn 593.1.4 Công cụ quản lý rủi ro hữu hiệu thông qua việc hoán chuyển rủi ro 593.1.5 Cung cấp thông tin về tỷ giá, giá hàng hóa, lãi suất hiện tại và tương laigiúp doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh 613.1.6 Tạo ra hiệu ứng đòn bẩy lớn 62

3.2 Định hướng xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt

Nam 743.2.1 Tổ chức thị trường 753.2.2 Các thành viên tham gia 783.3 Đề xuất mô hình và cơ chế giao dịch chứng khoán phái sinh tại thị trườngViệt Nam 823.3.1 Đề xuất mô hình và cơ chế giao dịch HĐTL, HĐQC trên chỉ số chứngkhoán tại Việt Nam 833.3.2 Giải pháp nhằm đưa mô hình và cơ chế giao dịch HĐTL, HĐQC trênchỉ số chứng khoán tại Việt Nam theo đề xuất vào thực tiễn 90KẾT LUẬN 98TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

STT

12345678910111213141516171819202122

Trang 8

ii

Trang 10

iii

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Khi Việt Nam đã gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhữngkhó khăn, những cạnh tranh trên thị trường quốc tế Bên cạnh đó, những biến độngbất thường về nền kinh tế toàn cầu, những tăng giảm đột ngột của giá xăng dầu thếgiới, những bấp bênh của tỷ giá đồng USD… đang là những vấn đề đáng lo lắng cho những nhà đầu tư, những doanh nghiệp xuất nhập khẩu Vậy phải làm gì để giảm bớt rủi ro? Để tối thiểu tổn thất và tối đa hoá lợi nhuận? Có một vấn đề khi nhắc đến có lẽ ai cũng biết : Điều kiện tiên quyết của mọi giải pháp luôn là vốn, đáp án của vấn đề huy động vốn trung và dài hạn lại nằm ở trị trường chứng

khoán

Thị trường chứng khoán là một thuật ngữ không xa lạ gì trên thế giới từ hơn năm thế kỷ qua, nhưng mới chỉ được người dân Việt Nam biết đến và tìm hiểu khoảng hơn mười năm trở lại đây dù đã tồn tại cách đây hơn nửa thế kỷ ở nước ta.Thị trường chứng khoán là sản phẩm khách quan trong quá trình phát triển của nềnkinh tế, nó là hàn thử biểu của nền kinh tế Một thị trường chứng khoán sôi động, hiệu quả thì sẽ phát huy tốt vai trò huy động vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, khôngthể có một thị trường chứng khoán sôi động nếu ít người tham gia và ít hàng hóa

để giao dịch Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở giai đoạn này Làm sao để thị trường chứng khoán trở nên sôi động thông qua việc bơm thêm hàng vào lưu thông ? Đây chính là lý do em chọn đề tài „„Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam‟‟

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, ở một số trường Đại học đã đưa chứng khoán phái sinh vào giảng dạy ở mức độ chi tiết khác nhau như Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân Trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây đã có một số

đề tài nghiên cứu về công cụ phái sinh ở Việt Nam Tuy nhiên, một số đề tài chỉ dừng lại ở mức hết sức sơ lược, một số đề tài thì phạm vi nghiên cứu lại rất rộng, nghiên cứu công cụ phái sinh trên cả thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán Đề tài của em tập trung nghiên cứu chi tiết về công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam, tìmnhững tồn tại và hạn chế của thị trường, từ đó đưa ra những giải pháp địnhhướng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh trong tương lai

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trang 12

Đề tài nghiên cứu thị trường chứng khoán phái sinh trong đó đi sâu phân tích mức độ áp dụng chứng khoán phái sinh tại thị trường Việt Nam.

5 Phương pháp nghiên cứu

Theo dõi và thu thập thông tin về thực trạng hoạt động của thị trường

chứng khoán phái sinh Việt Nam

Tổng hợp, phân tích và đánh giá trên cơ sở những lý thuyết tài chính, chứng khoán phái sinh Các thông tin được phân tích không đặt riêng biệt mà được nhận định trong bối cảnh chung của nền kinh tế đã gia nhập WTO và điều kiện phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh trong nước

6 Đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh ViệtNam Dựa trên những tồn tại, hạn chế của thị trường chứng khoán phái sinhViệt Nam để rút ra những định hướng, kiến nghị và những giải pháp để pháttriển sản phẩm chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

7 Bố cục luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viếttắt, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chứng khoán phái sinh và thị trường

chứng khoán phái sinh

Chương 2: Thực trạng về thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp phát triển thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam.

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1.1 Chứng khoán phái sinh

1.1.1 Khái niệm chứng khoán phái sinh

Công cụ phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất, chè, cà phê… Công cụ phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại

bỏ hoàn toàn rủi ro Mặc dù xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là một công cụ phòng chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính, các công cụ phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiến lợi nhuận

và thực hiện các hoạt động đầu cơ Chính vì những biến thái như trên nên không phải lúc nào sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro cũng có hiệu quả Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi và mang theo một số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Sự sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ năm 1987 được đẩy nhanh nhờ sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảo hiểm danh mục đầu tư Những người bảo hiểm này đã đầu tư mạnh vào thị trường mà nếu như không có kỹ thuật này thì có thể họ đã không làm như vậy Hay như Great Britain‟s Bearing, một trong những ngân hàng lâu đời nhất thế giới đã phá sản năm 1995 khi đầu cơ các hợp đồng tương lai trong một thương vụ ở Singapore Tuy vậy, các công phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ

và được sử dụng rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn của thế giới

Chúng ta hiểu công cụ phái sinh là công cụ xuất phát từ một công cụ gốc nào đó, các công cụ phái sinh có thể được tổng kết trong bảng sau:

Bảng 1.1: Các công cụ phái sinh

Tài sản cơ

sở

(Underlying

Asset)

Trang 14

Tiền gửi(Deposit)

Trái phiếu

Ngoại tệ

Vốn, cổphiếu

Trang 15

Qua một số tính chất về chứng khoán, công cụ phái sinh như trên Chúng ta có

thể đi đến định nghĩa chứng khoán phái sinh như sau : Chứng khoán phái sinh là

một công cụ tài chính được thể hiện dưới dạng hợp đồng giữa hai bên mua và bán, có giá trị được xác định dựa trên giá trị của tài sản cơ sở và được thanh toán tại một thời điểm nhất định trong tương lai.

1.1.2 Đặc điểm của chứng khoán phái sinh

Thứ nhất, Giá trị của CKPS thay đổi theo sự thay đổi về giá của tài sản cơ sở

CKPS bản thân nó không có giá trị nội tại mà giá trị của nó bắt nguồn từ giá trị của của tài sản gốc, biến thiên theo sự thay đổi giá trị tài sản gốc

Thứ hai, CKPS không yêu cầu đầu tư ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư ban đầu

thấp hơn so với các loại họp đồng khác Đặc biệt, đối với các CKPS được niêm yết trên thị trường tập trung, để giao dịch nhà đầu tư chỉ cần ký quỹ một phần giá trị của CKPS dự kiến giao dịch

Thứ ba, việc mua/bán CKPS được thanh toán vào một ngày trong tương lai được quy định trong hợp đồng phái sinh Việc thanh toán này có thể được thực

hiện hoặc bằng vật chất (PhysicalDelivery) hoặc bằng tiền (CashSettlemen)

TÀI SẢN CƠ SỞ

5

Cổ phiếu Chỉ số CP Trái phiếu Ngoại hối Lãi suất

Trang 16

(Nguồn: Do tác giả tổng hợp)

1.1.3 Phân loại chứng khoán phái sinh

1.1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn

Khái niệm : Hợp đồng kỳ hạn (Forward) là hợp đồng thỏa thuận trước để mua

hoặc bán một lượng tài sản, chứng khoán tại một thời điểm nhất định trong tươnglai với một mức giá xác định trước

Hợp đồng kỳ hạn là một loại công cụ phái sinh đặc biệt đơn giản Đây là thoảthuận mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai vớimột mức giá xác định Công cụ này khác với loại hợp đồng giao ngay, là sự thoảthuận bán hoặc mua một tài sản vào ngày hiện tại Ví dụ, một hợp đồng kỳ hạn 3tháng đối với trái phiếu có kỳ hạn 10 năm và lãi suất coupon 12% bao gồm:

- Người mua và người bán thỏa thuận tại thời điểm t = 0 về giá và khối

lượng trái phiếu

- Việc thanh toán và giao nhận trái phiếu chỉ được tiến hành tại thời điểm sau

3 tháng

Trang 17

Nếu mức lãi suất kỳ hạn được thỏa thuận là 12,5428%/ năm thì cứ 100 USDmệnh giá sẽ có giá là 97 USD và sau thời hạn 3 tháng người mua sẽ thanh toán chongười bán 97 USD để nhận từ người bán trái phiếu có mệnh giá là 100 USD Đây

là giá mà người mua phải thanh toán cho người bán và người bán phải giao hàngcho người mua không phụ thuộc vào bất cứ điều gì xảy ra đối với giá trái phiếutrong thời gian 3 tháng và giá thị trường của nó tại thời điểm sau 3 tháng

Đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn:

- Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi romất giá tiền tệ (Hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giámột loại hàng hoá nào đó (Hợp đồng kì hạn với dầu mỏ)

- Điều khoản hợp đồng do hai bên tự thỏa thuận Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (Spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (Spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí Chênh lệchgiữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư (Forward premium) nếu giá

kì hạn cao hơn, hoặc khoản khấu trừ (Forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn

- Hợp đồng kỳ hạn không theo những chuẩn mực được tiêu chuẩn hóa của một thị trường tập trung Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (Futures contract) Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng

Các loại hợp đồng kỳ hạn:

- Hợp đồng kỳ hạn hàng hóa (Nông sản, kim loại, nhiên liệu)

- Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (Liên ngân hàng, tín phiếu kho bạc, trái phiếu chínhphủ, trái phiếu chính quyền địa phương)

- Hợp đồng kỳ hạn chỉ số cổ phiếu

- Hợp đồng kỳ hạn ngoại hối

1.1.3.2 Hợp đồng tương lai

Khái niệm: Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng

khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và

mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai (Trích dẫn theo luật chứng khoán Việt Nam 2007)

Đặc điểm của hợp đồng tương lai:

Trang 18

- Hợp đồng tương lai là hợp đồng kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về điều

khoản hợp đồng, kỳ hạn hợp đồng, giá trị, khối lượng của tài sản cơ sở do cơ quan có thẩm quyền đặt ra

- Hợp đồng tương lai được thỏa thuận và mua bán thông qua người môi

giới, được giao dịch trên thị trường tập trung

- Khi xác lập trạng thái của hợp đồng tương lai, cả bên mua và bên bán phải

ký quỹ vào tài khoản ký quỹ theo quy định của sàn giao dịch

- Hợp đồng tương lai được tính theo ngày theo giá thị trường (Marking to market daily) Điều đó có nghĩa là trong kỳ hạn của hợp đồng tương lai, các

khoản lãi/lỗ hàng ngày được cộng/trừ vào tài khoản ký quỹ của mỗi bên

- Nhà đầu tư có thể đóng vị thế của mình bất cứ lúc nào trong giao dịch

hợp đồng tương lai

Các loại hợp đồng tương lai:

Hiện nay trên thế giới đó phát triển nhiều loại hình hợp đồng tương lai Một cách tổng quát có thể phân chia hợp đồng tương lai thành hai loại chủ yếu đó là:

- Hợp đồng tương lai về hàng hoá: Trên thị trường có nhiều loại hợp đồng tương lai cho các sản phẩm hàng hoá “Thực” bao gồm hợp đồng tương lai của các loại nông sản (Lúa mì, ngô, đường, ca cao, cà phê…), kim loại (Vàng, bạc, nhôm, thiếc…), năng lượng (Dầu thô, khí ga…)

- Hợp đồng tương lai về tài chính: Là loại hợp đồng tương lai dựa trên tài sản

cơ sở là các tài sản tài chính Hợp đồng tương lài về tài chính bao gồm các loại như: Hợp đồng tương lai về trái phiếu (Trái phiếu kho bạc ngắn hạn, trung hạn, các loại chứng chỉ ký thác), hợp đồng tương lai ngoại tệ, hợp đồng tương lai về lãisuất, hợp đồng tương lai các chứng khoán, hợp đồng tương lai các chỉ số chứng khoán…

- Hợp đồng tương lai về ngoại tệ: Khi giao dịch quốc tế phát triển, giá trị

tương quan tiền tệ của một quốc gia so với một quốc gia khác trở thành một nhân

tố quan trọng, ảnh hưởng tới khả năng thu lợi nhuận trong các hoạt động kinh doanh trong mọi lĩnh vực kinh tế Sự biến động tỷ giá hối đoái làm tăng rủi ro trong các giao dịch quốc tế Do vậy, hợp đồng tương lai ngoại tệ xuất hiện, được phát triển mở rộng từ hợp đồng tương lai hàng hóa Giới tài chính thế giới đã phát triển hợp đồng này để đối mặt, phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá hối đoái Hiện nay loại hợp đồng này được giao dịch mạnh trên các SGD hợp đồng tương lai

- Hợp đồng tương lai lãi suất: Thành công của hợp đồng tương lai ngoại tệ đó tạo nên sự phát triển của hợp đồng tương lai lãi suất để rào chắn một yếu tố rủi ro khác của các tiền tệ đó là biến động lãi suất Sự biến động lãi suất chứa đựng rủi

ro đối với hoạt động kinh doanh Những nhà đầu tư bắt buộc phải quan tâm đến mức lãi suất để thu lợi nhuận hay chi phí vay tiền đầu tư Trong khi đó luôn tồn tại

Trang 19

những nhà đầu cơ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có thể có lợi nhuận lớn Hợp đồngtương lai lãi suất dựa trên công cụ cơ sở là trái phiếu Chính phủ Đây là hợpđồng giao dịch những công cụ nợ trong tương lai với những mức lãi suất đượcxác định trước.

- Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu: Là loại hợp đồng được giao dịch từ saunhững năm 1980 và rất phổ biến hiện nay Đây là loại hợp đồng rất thông dụng dùng để rào chắn rủi ro cho những người đầu tư cổ phiếu, quản lý các quỹ đầu

tư cổ phiếu hay quản lý các danh mục đầu tư cổ phiếu… Hiện tại, trên thế giới

có khoảng vài chục loại chỉ số cổ phiếu được thiết lập cho giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số, và giá trị chỉ số được coi là giá trị biến thiên, sẽ được xác định trước tại thời điểm ký kết hợp đồng

Phân biệt hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai

Về cơ bản chúng ta có thể dựa vào mức độ chuẩn hoá của hợp đồng để phân thành hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai Về bản chất, hai loại hợp đồng này là như nhau, theo đó chúng đều là một thoả thuận trong đó có một người mua và một người chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác địnhtrong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật thì hai loại hợp đồng này có một số điểm khác nhau như sau:

- Tính chuẩn hoá: Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với hàng hoá bất

kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên mua và bán Tuy nhiên các hợp đồng tương lai đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng chuẩn đối với một loại hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước

- Hình thức giao dịch: Đối với hợp đồng kỳ hạn, các bên thường giao dịch trực

tiếp Đồng thời, đến thời hạn thực hiện hợp đồng thì hai bên giao nhận tiền và hàng hoá cho nhau Còn đối với hợp đồng tương lai, là loại được thiết kế theo chuẩn nên được giao dịch trên thị trường chứng khoán (Sở giao dịch hoặc thị trường OTC), thường là đến thời điểm thực hiện hợp đồng thì bên mua hoặc bên bán chỉ thanh toán hoặc được nhận phần chênh lệch lãi lỗ chứ không cần trao tiền

và hàng hoá cụ thể như trường hợp hợp của đồng kỳ hạn

- Giảm thiểu rủi ro thanh toán: Giao dịch hợp đồng kỳ hạn gây ra nhiều rủi ro cho

các bên tham gia hợp đồng Rủi ro trực tiếp từ đối tác là một đặc tính của giao dịch hợp đồng kỳ hạn Trong trường hợp người mua hoặc người bán phá sản, không thực hiện được hợp đồng, phía đối tác sẽ phải chịu thiệt hại mà không có bồi hoàn Nhiều trường hợp khác, do biến động bất lợi của thị trường, một bên tham gia có thể sẽ không thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho đối tác (Ví dụ, vào thời điểm giao hàng, giá thực tế lên rất cao so với giá hợp đồng đã ký kết, bên bán trong

Trang 20

hợp đồng kỳ hạn sẽ không giao hàng theo hợp đồng kỳ hạn đã ký kết mà đem hànghoá ra bán trên thị trường giao ngay để thu lời, gây thiệt hại cho bên mua).

Đối với các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên thị trường chứng khoán, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về người phía bên kia của giao dịch Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung gian trong tất cả các giao dịch Người bán thì bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua thì mua qua công ty thanh toán bù trừ Nếu nhà chế biến nông sản có phá sản thì người nông dân vẫn được trả tiền, và ngược lại Việc thực hiện các hợp đồng tương lai được đảm bảo bằng uy tín của những người chủ sở hữu Sở giao dịch và công ty thanh toán bù trừ, thường là những hãng môi giới lớn nhất trên thế giới

- Điều chỉnh theo giá trị thị trường (Marking to the Market ): Hợp đồng kỳ hạn

được ký kết giữa hai bên đối tác trực tiếp với nhau nên không phải điều chỉnh giá trị cho thị trường hàng ngày Đối với hợp đồng tương lai, do đặc thù các bên tham gia giao dịch không biết nhau mà chỉ giao dịch thông qua Sở giao dịch hoặc thị trường OTC, công ty thanh toán bù trừ sẽ làm đối tác trung tâm Do vậy, để phòng ngừa rủi ro trong thanh toán, hợp đồng tương lai đòi hỏi các bên tham gia giao dịch phải thực hiện ký quỹ theo tỷ lệ quy định về ký quỹ ban đầu, ký quỹ duy trì vàtiến hành điều chỉnh giá trị ký quỹ theo tỷ lệ đã quy định nhằm đảm bảo được việcthanh toán hợp đồng

Bảng 1.2: So sánh một số điểm khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp

đồng tương lai Các tiêu chuẩn

Trang 21

6 Quy mô thị trường

(Nguồn: Do tác giả tổng hợp)

1.1.3.3 Hợp đồng quyền chọn

Khái niệm: Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp

đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức

giá được xác định trước (Trích dẫn theo luật chứng khoán 2007)

Một điểm đáng lưu ý của Hợp đồng quyền chọn là người nắm giữ hợp đồng

có thể lựa chọn việc thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ, đây là điểm khác biệt căn bản của Hợp đồng quyền chọn với các hợp đồng tương lai hoặc hợp

đồng kỳ hạn

Tài sản cơ sở của hợp đồng quyền chọn có thể là các chứng khoán, các chỉ

số chứng khoán, các ngoại tệ, công cụ nợ, hàng hoá, hoặc thậm chí là các loại hợp đồng tương lai

Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn:

- Các điều khoản của hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, được giao dịch trên cả thị trường tập trung và thị trường phi tập trung

- Chỉ quy định quyền giao hay nhận mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình, không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm

- Người mua có thể thực hiện quyền, có thể bán quyền cho người khác hoặc không thực hiện quyền Để thực hiện được quyền này, khi ký kết hợp đồng ngườimua phải trả phí quyền, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định tronghợp đồng là ngày đáo hạn Tương tự như vậy đối với người mua trong hợp đồng quyền chọn bán

- Tùy theo từng loại hợp đồng quyền chọn được ký kết mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện bất kỳ ngày nào trước ngày đáo hạn hoặc phải đến ngày đáo hạn

Trang 22

11

Trang 23

Các loại hợp đồng quyền chọn cơ bản:

- Hợp đồng quyền chọn mua (Call option): Cho phép người nắm giữ có quyềnmua tài sản cơ sở trong một khoảng thời gian hoặc vào một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá ấn định trước Mức giá ấn định sẽ mua hoặc bán tài sản tại một thời điểm trong tương lai được gọi là giá thực hiện (Exercise pricehoặc strick price); ngày của hợp đồng gọi là ngày hết hạn (Expiration date), ngày thực hiện (Exercise date) hoặc ngày đáo hạn (Maturity date) Người sở hữu hợp đồng quyền chọn mua sẽ thực hiện hợp đồng khi mức giá thực hiện thấp hơn mứcgiá cổ phiếu trên thị trường tại thời điểm thực hiện hợp đồng Trong trường hợp mức giá thực hiện cao hơn mức giá cổ phiếu trên thị trường thì người sở hữu sẽ

để hợp đồng hết hạn mà không thực hiện quyền

- Hợp đồng quyền chọn bán (Put option): Cho phép người nắm giữ có quyền bán tài sản cơ sở trong một khoảng thời gian hoặc vào một ngày xác định trong tương lai với một mức giá xác định, thường được mong đợi là cao hơn mức giá hiện tại Người sở hữu quyền chọn bán sẽ thực hiện hợp đồng khi giá thực hiện cao hơn mức giá cổ phiếu hiện tại trên thị trường và sẽ không thực hiện hợp đồng nếu xảy ra trường hợp ngược lại

Trong hợp đồng quyền chọn, nếu là hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ thì người nắm giữ có thể thực hiện quyền vào bất cứ lúc nào kể từ khi mua hợp đồng cho đến hết ngày hết hạn Còn nếu là hợp đồng quyền chọn Châu Âu chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền vào ngày hết hạn Hầu hết các quyền chọn được giao dịch trên các Sở giao dịch là quyền chọn Mỹ

Có nhiều cách để phân loại hợp đồng quyền chọn, nếu phân loại dựa vào tài sản

cơ, các loại hợp đồng quyền chọn thường gặp bao gồm hợp đồng quyền chọn muabán cổ phiếu, hợp đồng quyền chọn mua bán ngoại tệ, hợp đồng quyền chọn mua bán chỉ số chứng khoán, hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai

- Hợp đồng quyền chọn mua bán cổ phiếu (Stock Options): Như tên gọi đã chỉ

ra, hợp đồng này cho phép người sở hữu có quyền, không phải nghĩa vụ, mua bán một loại cổ phiếu nhất định với một mức giá định trước trong một khoảng thời gian hoặc vào một thời điểm trong tương lai

Tại Mỹ, theo quy định, mỗi hợp đồng cho phép người sở hữu có quyền mua hoặc bán 100 cổ phiếu với mức giá xác định trước Việc quy định như vậy tạo thuận lợi cho việc giao dịch hợp đồng quyền chọn bởi vì bản thân các cổ phiếu làmtài sản cơ sở được giao dịch trên các Sở giao dịch chứng khoán cũng có đơn vị lô chẵn là 100 cổ phiếu

- Hợp đồng quyền chọn mua bán chỉ số chứng khoán (Index Options): Quyền chọn về chỉ số chứng khoán là quyền được chọn mua hoăc bán một khối lượng tài sản tương đương với một bội số của một chỉ số chứng khoán Ví dụ: 100*SP100 ở

Trang 24

mức giá thực hiện nhất định, giả sử giá này là 280$, giá trị hợp đồng là 100*280$

= 2800$ Nếu tại thời điểm thực hiện quyền, giá trị của chỉ số là 292 thì người phát hành quyền phải trả cho người nắm giữ quyền (292-280)*100 = 1200$

- Hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai (Future Options)

Đối với hợp đồng quyền chọn hợp đồng tương lai, tài sản cơ sở là một hợp đồng tương lai Hiện nay hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai khá phổ biến đối với hầu hết các loại tài sản có hợp đồng tương lai Khi một người sở hữu một hợp đồng quyền chọn mua hợp đồng tương lai thực hiện quyền, người này sẽ sở hữu một hợp đồng tương lai cộng với một khoản tiền mặt bằng với khoản chênh lệch giữa giá của hợp đồng tương lai và giá thực hiện của hợp đồng quyền chọn Khi một người sở hữu một hợp đồng quyền chọn bán hợp đồng tươnglai thực hiện quyền, người này sẽ bán hợp đồng tương lai và thu về khoản chênh lệch giữa giá thực hiện hợp đồng quyền chọn và giá của hợp đồng tương lai Trong

cả hai trường hợp, nếu hợp đồng tương lai có giá trị bằng không sẽ bị tất toán ngay lập tức Khi đó thu nhập từ hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai tương tự như thu nhập từ hợp đồng quyền chọn mua bán cổ phiếu với giá cổ phiếu được thay bằng giá của hợp đồng tương lai Hợp đồng quyền chọn mua bán hợp đồng tương lai được thực hiện nhiều nhất là hợp đồng quyền chọn mua bán tương lai trái phiếu kho bạc Các hợp đồng về ngô, đậu, dầu thô, gia súc sống, vàng, đô la Châu Âu và một số loại tiền cũng khá phổ biến

Ví dụ, một người đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn mua hợp đồng tương lai có các yếu tố sau: Giá thực hiện của hợp đồng quyền chọn là 90$, giá của hợp đồng quyền chọn là 3$ Trong trường hợp giá của hợp đồng tương lai trên thị

trường là 100$, người đầu tư sẽ thực hiện quyền mua hợp đồng tương lai với giá90$ Nếu ngay sau đó, người đầu tư bán lại hợp đồng tương lai này với giá 100$ thì sẽ thu được 10$ trên mỗi hợp đồng, trừ chi phí mua hợp đồng quyền chọn là 3$, lợi nhuận trên mỗi hợp đồng là 7$ Nếu người này mua 100 hợp đồng thì tổng lợi nhuận sẽ là 700$

1.1.3.4 Hợp đồng hoán đổi

Khái niệm: Hợp đồng hoán đổi hay còn gọi là hợp đồng SWAP, là một

công cụ tài chính phái sinh trong đó hai bên đối tác trao đổi một dòng tiền (Cash flow) này lấy một dòng tiền khác của bên kia Những dòng tiền này gọi là các nhánh của swap (Legs), các dòng tiền được tính toán dựa trên một con số ước tính nhất định

Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi:

Trang 25

- Hợp đồng hoán đổi thực chất là một chuỗi các hợp đồng kỳ hạn, thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng Nếu ngày đáo hạn rơi vào ngày nghỉ thì hai bên sẽ thỏa thuận lại một ngày đáo hạn thích hợp

- Hợp đồng hoán đổi không được chuẩn hóa và luôn được giao dịch trên

thị trường phi tập trung

- Hợp đồng hoán đổi khác hợp đồng kỳ hạn là các bên có thể chấm dứt hợp đồng trước thời hạn bằng cách thỏa thuận song phương với bên đối tác để hủy hợpđồng, hoặc bằng cách chuyển nhượng nó cho bên thứ ba với điều kiện có sự đồng

ý của phía đối tác

Các loại hợp đồng kỳ hạn:

Hợp đồng hoán đổi được thiết kế riêng theo nhu cầu của hai bên đối tác,

chính và vậy các điều kiện của hợp đồng mang tính cứng nhắc và thiếu linh hoạt.Hợp đồng gồm có hai loại cơ bản là hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ:

- Hợp đồng swap lãi suất: là một dạng khá phổ biến trong các công cụ tài chính phái sinh Trong hợp đồng này, một bên sẽ hoán đổi một dòng lãi suất của mình lấy dòng lãi suất của đối phương Dòng lãi suất là gì? Đó là tập hợp các khoản lãi suất trong tương lai của một khoản đầu tư Đối với dòng lãi suất cố địnhthì thu nhập từ khoản đầu tư là đều nhau trong những khoảng thời gian tương đương, còn dòng lãi suất biến đổi thì không

Swap lãi suất thường là hình thức hoán đổi giữa lãi suất "cố định - biến đổi", nhưng cũng có khi là "biến động - biến động" Về mặt lý thuyết thì loại thứ ba "cố định - cố định" cũng có thể thực hiện được, nhưng do toàn bộ dòng lãi suất có thể xác định được ngay thời điểm kí hợp đồng swap nên chẳng có lý do gì mà hai bên lại tiến hành hoán đổi cho nhau nếu các khoản đầu tư có chung đơn vị tiền tệ

Ví dụ: A có một khoản gửi ngân hàng bằng USD, lãi suất 5%/năm, B sở hữu một

số trái phiếu có giá trị tương đương, trái tức 7% Vậy nếu tiến hành swap thì đơn giản

là A sẽ phải bù cho B 2%, và chẳng bên nào được lợi lộc gì Swap lãi suất "cố định - biến động" thường được sử dụng khi các công ty muốn thay thế rủi ro trước biến động lãi suất của mình bằng một lãi suất ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản trị chiến lược, và khi đó công ty sẽ dễ dàng xác định các nhân tố ảnh hưởng hơn Ở chiều swap ngược lại, bên tham gia muốn đổi lãi suất ổn định của mình lấy lãi suất biến động, mà theo kỳ vọng của anh ta là có lợi hơn Ngoài ra swap lãi suất còn giúp các bên giảm chi phí sử dụng vốn Nếu A và B hoạt động trong điều kiện giống nhau thì có vẻ như SWAP chỉ là một trò chơi có tổng bằng 0 (Zero sum game) khi mà lợi ích bên này lại là thiệt hại của bên kia Tuy nhiên, khi A và B hoạt động trong những môi trường khác nhau, tiếp cận với những nguồn lực khác nhau, thìvẫn có một khoảng nào đó khiến cả hai cùng có lợi

Trang 26

- Hợp đồng hoán đổi tiền tệ: Là hoán đổi có liên quan đến việc trao đổi vốn gốc và thanh toán lãi suất cố định trên khoản vay theo một loại tiền tệ này với vốn gốc và thanh toán lãi suất cố định trên khoản vay tương đương theo một loại tiền

tệ khác Điều kiện tiên quyết của một hợp đồng hoán đổi tiền tệ giữa lãi suất thả nổi với lãi suất cố định là cả hai bên đều có lợi thế tương đối mà phía bên kia quantâm, cả hai phải có sự lành mạnh và tương đối ngang bằng về tài chính Chi phí giao dịch cho loại hợp đồng này tương đối cao

1.1.3.5 Các loại chứng khoán phái sinh khác

Quyền mua cổ phần (Rights)

Quyền mua cổ phần (Quyền mua trước) là một loại chứng khoán phái sinh được hình thành từ việc công ty phát hành muốn huy động thêm vốn bằng một đợtphát hành cổ phiếu mới Quyền mua cổ phần chỉ dành cho cổ đông hiện hữu của công ty, những người hiện đang nắm giữ cổ phiếu của công ty phát hành Quyền mua cổ phần cho phép những cổ đông hiện hữu được mua một số cổ phiếu nhất định, với một mức giá xác định, trong một khoảng thời gian nhất định trong đợt phát hành mới của công ty Quyền mua cổ phần cũng có thể được chuyển nhượngcho các cổ đông hay các nhà đầu tư khác Thông thường, quyền mua trước có thời hạn là ngắn (2-3 tuần) và việc phát hành thường được quy định trong vốn điều lệ Quyền mua cổ phần được phát hành nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu

tư Quyền mua cổ phần giúp cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông cũ không bị giảm nếu thực hiện quyền đồng thời đảm bảo tài sản của chủ sở hữu chứng khoán (Những

cổ đông) Đó là do khi phát hành thêm cổ phiếu, cổ phiếu trên thị trường của công

ty phát hành thường có xu hướng giảm giá Người nắm giữ quyền này có thể dùng để mua cổ phiếu mới hoặc bán quyền trên thị trường chứng khoán

Nếu cổ đông giữ để thực hiện quyền thì nó được ưu đãi mua chứng khoán vớigiá thấp hơn mức giá hiện hành của cổ phiếu vào thời điểm quyền được phát hành Để tránh cho các cổ đông cũ khỏi thiệt thì họ được mua cổ phần mới theo giá lý thuyết bằng phần chênh lệch giữa thị giá cổ phiếu trước và sau khi tăng vốn Phần chênh lệch giữa giá sau khi tăng vốn với giá được mua theo chứng quyền sẽ bù lỗ cho nhà đầu tư phần giảm giá trị chứng khoán trước khi tăng vốn

và sau khi tăng vốn

Các cổ đông hiện hữu không nhất thiết phải thực hiện quyền này, họ có thể đem bán và giá của quyền mua cổ phiếu sẽ bù đắp vào phần thiệt hại do giá chứng khoán mà họ nắm giữ bị giảm Như vậy, tổng tài sản của họ sẽ được bảo toàn Giá của quyền mua cổ phần khi đem bán sẽ phản ánh giá trị của quyền mua cổ phần, nó

có thể cao hơn và có thể thấp hơn nhưng giá của nó thường nằm trong khoảng chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu sau khi đã phát hành quyền mua cổ

Trang 27

phiếu với giá mà người nắm quyền mua cổ phần được mua (Là mức giá xác

định ghi trên quyền mua cổ phần)

Như vậy, quyền mua trước cổ phiếu không chỉ có chức năng bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà nó còn có khả năng làm tăng vốn của công ty phát hành Các công ty phát hành rất quan tâm tới chức năng này của quyền mua trước và các công ty này thường nghiên cứu kỹ tác dụng của nó để vận dụng vào trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu nhằm tăng vốn cho công ty, tài trợ cho những

dự án đầu tư

Chứng quyền hay chứng khế (Warrants)

Trong các loại chứng khoán phái sinh, không chỉ có quyền mua cổ phần là docông ty phát hành ra để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư họ mà còn có thể pháthành ra chứng khế Chứng khế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (Cam kết bán ) làmột loại chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi

mà người sở hữu nó có quyền được mua một số loại chứng khoán nhất định vàtrong một thời hạn nhất định

Chứng khế thường được phát hành trong trường hợp tổ chức lại công ty, hoặc khi công ty phát hành nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có điều kiện kiếm thuận lợi Để bù đắp cho những rủi ro cao của của trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đó, nhà đầu tư kỳ vọng có thể được nhận thêm phần chênh lệch do sự lên giá có thể xảy ra đối với cổ phiếu thường Chứng khế là công cụ nhằm đảm bảo thành công cho đợt huy động vốn của công ty trong thời điểm khó khăn, giúp công ty vượt qua được giai đoạn khó khăn, tránh cho công ty khỏi bị thua lỗ nặng nề hơn thậm chí là thoát khỏi nguy cơ phá sản Đổi lại, công ty (Chủ sở hữu hiện tại hay những cổ đông hiện tại) phải chấp nhận thiệt thòi trong tương lai khi mà công ty phải bán cổ phiếu thường cho nhà đầu tư nắm giữ chứng khế với giá rẻ hơn giá thị thị trường tại thời điểm đó và phải chấp nhận chia sẻ quyền kiểm soát công ty Công ty phát hành quyết định pháthành chứng khế khi mà họ phân tích thiệt hơn của vấn đề, nó đảm bảo sao cho những cổ đông cũ có lợi nhất Chứng khế còn đảm bảo quyền lợi cho những nhà đầu tư mới của công ty

Tuy nhiên, những người sở hữu chứng khế không có tư cách cổ đông trong công

ty, không được nhận cổ tức và không có quyền biểu quyết cho đến khi chuyển chứng khế ra thành cổ phiếu thường Tại thời điểm phát hành chứng khế, giá mua cổ phiếu ghi trong chứng khế bao giờ cũng cao hơn giá thị trường cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định có thể được tăng lên định kỳ, nhằm đảm bảo rằng quyền đó không được thực hiện ngay tránh gây khó khăn cho công ty Khác với quyền mua cổ phần, thời hạn chứng khế thường dài hơn rất nhiều thông thường là từ 2 năm, 3 năm, 10 năm, 20năm và có thể là vĩnh viễn Các chứng khế này sau

Trang 28

một thời gian có thể tách ra khỏi chứng khoán cơ sở và được giao dịch riêng biệt trên thị trường Giá của chứng khế tuỳ thuộc vào giá trị của chứng khế và cung cầu trên thị trường

Giá trị của chứng khế = Giá trị nội tại + Giá trị thời gian

+ Giá trị nội tại = (Giá cổ phần – Giá thực hiện) x Số cổ phần

được mua của chứng khế

+ Giá trị thời gian cũng có tác động tỷ lệ thuận tới giá trị của chứng khế và thời gian càng dài, cơ hội cổ phiếu lên giá càng cao, nhà đầu cơ hy vọng tại thời điểm trong tương lai họ sẽ mua được cổ phiếu với giá rẻ hơn giá thị trường tại thời điểm đó Giá trị thời gian còn phụ thuộc vào sự đánh giá khả năng phát triển của công ty phát hành Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như cổ tức mà công ty trả cho cổ đông, các mức lãi suất trên thị trường và các điều kiện thị trường nói chung Thông thường, các mức giá chứng khế sẽ có xu hướng tăng trong thị trường lên và giảm trong thị trường xuống

Như đã trình bày ở trên, chứng khế có chức năng bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư mua cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu của công ty Rủi ro của các chứng khoán

đó được bù đắp bởi thu nhập từ việc thực hiện chứng khế hoặc từ việc bán nó.Các chứng khế và quyền mua cổ phần sau khi tách khỏi chứng khoán gốc thì

nó có nhiều đặc tính giống như hợp đồng quyền chọn mua kiểu Mỹ, đó là được mua chứng khoán với mức giá xác định và khối lượng nhất định tại một thời điểm xác định trong tương lai Nhưng quyền mua cổ phần lại có thời hạn ngắn nên khả năng giá chứng khoán tăng lại rất ít khi xảy ra , còn với chứng khế thì khả năng này là cao hơn do thời hạn dài hơn dự công ty này có khả năng tăng trưởng không cao Như vậy nhà đầu tư sẽ mua chứng khoán phái sinh này khi họ nhận định là giá chứng khoán thời điểm tương lai sẽ cao hơn giá chứng khoán trong chứng khế cộng với giá mua chứng khế Như vậy ngoài chức năng phòng ngừa hạn chế rủi

ro, nó còn có thêm chức năng để đầu cơ, nhưng chức năng bảo vệ nhà đầu tư vẫn

Trang 29

trường các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ Bởi người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lậphoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗinhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được Và thế là họ gặp nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác.Những nhà đầu cơ không phải là những tay

cờ bạc Chỉ đơn giản là thay và giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn Bởi cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn

có cuả thị trường tài chính, chuyển những khoản rủi ro đó từ những người không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ Không có thêm bất kỳ một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này Và lợi ích từ thị trường không chỉ bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả

ra toàn xã hội

Công cụ bảo hiểm cho nhà đầu tư

Theo một số chuyên gia, thị trường chứng khoán phái sinh sẽ là một trong những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay Qua những kinh nghiệm và thực tiễn các nước trên thế giới, HOSE đó khẳng định rằng việc phổ biến kiến thức cho nhà đầu tư về thị trường chứng khoán phái sinh là rất cầnthiết bởi tính chất phức tạp của thị trường này Nhận thức rõ về những lợi ích đi kèm theo những rủi ro có thể xảy ra là điều quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán phái sinh Nhưng để có thể làm được điều này vai trò của các công ty chứng khoán, tổ chức tài chính là rất quan trọng và cần thiết trong việc tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận được với cả lý thuyết và thực tế

Trên thực tế các hợp đồng mua bán tương lai, kỳ hạn và quyền chọn không quá

xa lạ với nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt trong các giao dịch

về gạo, cà phê, vàng…các hợp đồng này được sử dụng khá phổ biến Như Huỳnh Anh Tuấn - Tổng giám đốc công ty chứng khoán SJC cho rằng các hợp đồng mua bántương lai, quyền chọn nếu được thực hiện sẽ giúp nhà đầu tư giảm thiểu được rủi ro trong thời điểm hiện nay Mặc khác, nhà đầu tư cũng chưa cần nguồn vốn lớn để thực hiện mà chỉ cần một khoản phí nhỏ cũng như ký quỹ nhỏ hơn trị giá hợp đồng Luật chứng khoán Việt Nam cũng có những quy định về các hình thức giao dịch trên Tuy nhiên để giao dịch diễn ra được trong thực tiễn thì

Trang 30

điều quan trọng là phải thành lập được một sàn giao dịch cùng với trung tâm lưu ký.

Công cụ phòng ngừa rủi ro của ngân hàng hay doanh nghiệp

- Phòng ngừa rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối

Rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối là những rủi ro thường thấy trong hoạt động của ngân hàng Hai loại rủi ro này có thể làm tăng chi phí vay nợ của ngân hàng (Trong trường hợp lãi suất tăng hoặc tỉ giá tăng) hoặc có thể làm giảm kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (Trong trường hợp lãi suất hoặc tỉ giá giảm) Các công cụ phái sinh là những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa hai loại rủi ro trên Mặt khác, công cụ phái sinh có thể cho ngân hàng xác định được trước và chính xác chi phí vay nợ, từ đó có thể xác định được trước kết quả kinh doanh để lên kế hoạch cho phù hợp

Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, mà chủ yếu là rủi ro kỳ hạn bất cân xứng hay rủi

ro định giá lại tài sản, ngân hàng có thể áp dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi Trong đó, phổ biến nhất là thỏa thuận kì hạn lãi suất (FRA_forward rate agreement) và hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS _ interest rate swap) Thỏa thuận kỳ hạn lãi suất (FRA) là một hợp đồng kỳ hạn mà theo đó các bên tham gia đồng ý thanh toán cho nhau bằng tiền mặt khoản chênh lệch lãi suất (Không có giao nhận khoản tiền gốc) của một khoản vay ngắn hạn Hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS) là một thỏa thuận giữa hai bên, theo đó hai bên sẽ thực hiện trao đổi các dòng tiền lãi cho nhau Thông thường một bên sẽ nhận lãi suất cố định và bên còn lại sẽ nhận lãi suất thả nổi tại những ngày xác định trước, gọi là những ngày giá trị giao dịch, dựa trên khung thời gian và khoản tiền danh nghĩa đó được xác định trước Hai loại hình hợp đồng phái sinh này có cách sử dụng tương đối giống nhau, tuy nhiên FRA dùng trong ngắn hạn, còn IRS được dùng trong thời hạn dài Có thể nhận thấy, ở cả hai loại hình này, ngân hàng

có thể phòng ngừa được rủi ro khi lãi suất lên đồng thời không phải chuyển giao tài sản gốc cho nhau Từ đó, tiết kiệm chi phí giao dịch và có thể tận dụng số tiền

đó để quay vòng vốn Các ngân hàng thường kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh với nhau để phòng ngừa được rủi ro tỉ giá bất lợi cho mình và kiếm lời từ chênh lệch tỉ giá Hơn nữa, các công cụ phái sinh còn đảm bảo số lượng ngoại tệ bất thường cho ngân hàng, giúp ngân hàng giữ vững tính thanh khoản của mình Ngân hàng có thể sử dụng các công cụ phái sinh như quyền chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi tiền tệ để tự phòng ngừa rủi ro tỉ giá Nhìn chung, các công cụ phái sinh mang lại cho ngân hàng nhiều sự lựa chọn hơn trong việc phòng ngừa rủi ro Nếu có thể kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh, ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỉ giá tại một mức chi phí hợp lí

- Phòng ngừa rủi ro tín dụng

Trang 31

Một trong những rủi ro mà ngân hàng phải quan tâm nhất đó là rủi ro tín dụng Bất kì một khoản tín dụng nào khi được cấp, người cho vay đều hy vọng thu đượcmột khoản lợi nhuận nhất định từ khoản tín dụng đó Tuy nhiên rủi ro hoàn toàn cóthể xảy ra khi khoản tín dụng đó bị lỗ một phần hoặc hoàn toàn Để phòng ngừa rủi

ro này, ngân hàng có thể sử dụng hợp đồng phái sinh tín dụng được mua bán trên thị trường phi tập trung

Công cụ phái sinh tín dụng là thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả các hợp đồng quyền chọn và hoán đổi khác nhau nhằm chuyển giao rủi ro tín dụng của các khoản vay hoặc tài sản có khác từ một bên là người mua sự an toàn sang một bên là người bán sự an toàn Người bán sự an toàn sẽ nhận được một khoản phí hoặc nhận được một khoản thu nhập theo lãi của khoản tín dụng và cam kết

sẽ thanh toán cho người mua sự an toàn tùy theo độ tín nhiệm của một hoặc một

số tài sản tham chiếu

Hai công cụ được sử dụng nhiều để phòng ngừa rủi ro tín dụng là hoán đổi nợtín dụng và quyền tín dụng Trong đó, hoán đổi và nợ tín dụng là công cụ hoán đổi

mà trong đó một bên nhận được phí vào các khoảng thời gian được định trước cho việc cam kết thanh toán một khoản cụ thể nếu xảy ra sự kiện tín dụng bất lợi, chẳng hạn như thứ hạng tín dụng của khách hàng vay vốn bị suy giảm Như vậy, mặc dù phải trả một khoản phí định kì nhưng ngân hàng lại có sự bảo đảm về chấtlượng khách hàng của mình, hạn chế một phần rủi ro tín dụng, là một sự đảm bảo cho một giao dịch lớn hơn Mặt khác, ngân hàng cũng dễ dàng tính được chi phí kinh doanh trong kỳ và sự cố định của hợp đồng dạng này Hợp đồng quyền tín dụng là một công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong giá trị tài sản tín dụng, giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút

1.1.4.2 Đầu tư kiếm lợi nhuận

Các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn… ngoài khả năng phòng chống rủi ro thì chúng còn có thể tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư Trong khi người rào chắn rủi ro muốn tránh những biến động giá của tài sản cơ sởthì ngược lại, với ý muốn đầu tư thì nhà đầu cơ lại mong muốn tham gia vào các

vị thế giao dịch trên thị trường, cho dù giá tài sản cơ sở sẽ tăng hay giảm

Đầu cơ bằng các công cụ phái sinh là tham gia vào một vị thế trong hợp đồng phái sinh nhằm hưởng lợi trên sự biến đổi của tài sản cơ sở Các công cụ phái sinh nhằm phục vụ cho mục đích đầu cơ chủ yếu là hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn

Đối với một đầu tư cụ thể, việc sử dụng quyền chọn sẽ nhân lên rất nhiều kết quả tài chính Kết quả tốt sẽ rất tốt và kết quả xấu sẽ trở nên rất xấu Những hợp

Trang 32

đồng kỳ hạn và quyền chọn là những công cụ tương tự như nhau đối với những người đầu cơ trong trường hợp cả hai đều có thể cho những kết quả mang tính đòn bẩy Tuy nhiên, có một điểm khác nhau quan trọng giữa hai hình thức Với hợp đồng kỳ hạn, khoản lỗ tiềm năng của người đầu cơ cũng như khoản lãi tiềm năng rất lớn Còn đối với “vị thế trường” trong hợp đồng quyền chọn, người đầu

cơ chỉ mất tối đa là khoản chi phí để mua quyền (Giới hạn khoản lỗ)

Bên cạnh việc tham gia trực tiếp vào các vị thế của công cụ phái sinh để kiếm lợi nhuận, nhà đầu tư có thể kiếm lời bằng việc kinh doanh chênh lệch giá Kinh doanh chênh lệch giá là việc kiếm lời khi đồng thời tham gia vào hai giao dịch tại hai hay cùng một thị trường Giao dịch chênh lệch giá đơn giản chỉ là đồng thời mua một hợp đồng và bán một hợp đồng khác để hưởng lợi nhuận do có sự chênhlệch giá Trong cùng một thị trường, nếu chênh lệch giữa giá một hợp đồng tươnglai đến hạn và giá giao ngay của cùng một loại hàng hoá là đáng kể (Cao hơn chi phí), một nhà đầu tư có thể dễ dàng kiếm tiền bằng việc đồng thời mua và bán haihợp đồng này Ví dụ, nếu giá hợp đồng cổ phiếu A đến hạn cao hơn 10$ so với giágiao ngay, nhà đầu cơ đơn giản bán cổ phiếu A trên thị trường hợp đồng tương lai, mua cổ phiếu A trên thị trường giao ngay, chuyển số cổ phiếu A mua trên thị trường giao ngay sang thanh toán cho hợp đồng tương lai Kết quả là kiếm được một khoản lợi nhuận không rủi ro là 10$/ 1 cổ phiếu, trừ đi hoa hồng và phí giao dịch Giống như vậy, nếu giá hợp đồng tương lai thấp hơn 10$, một nhà đầu cơ

có thể mua trên thị trường hợp đồng tương lai, tiến hành giao hàng, và rồi bán lại trên thị trường giao ngay để kiếm lợi nhuận là 10$/ 1 cổ phiếu

Cũng như vậy, trong một thị trường thông thường, giá của hợp đồng tương laitháng càng xa luôn cao hơn giá của hợp đồng tháng gần ngày thoả thuận hơn, gọi

là khoản giá phụ trội, thể hiện khoản phí lưu giữ hàng trong kho – như phí lưu kho, lãi suất đối với khoản vốn đầu tư vào hàng hoá và khoản bảo hiểm lỗ Tuy nhiên, thỉnh thoảng thị trường bị biến động ngược chiều, giá của hợp đồng tháng

kế tiếp thấp hơn giá hợp đồng tháng trước đó Điều này thường là hậu quả của sức

ép mua trên thị trường giao ngay, làm cho giá tăng lên và khuyến khích những người nắm giữ hàng hoá trong kho bán ra hơn là tiếp tục giữ chúng Tình huống này được gọi là “Ép bán” (Short squeeze) và có thể do hậu quả thiếu hàng tạm thời của thị trường, hoặc có thể do một vài cá nhân hoặc một nhóm các nhà đầu tưthao túng mua vét hết hàng ở thị trường bằng việc mua hết hàng từ các nguồn cung cấp hàng, nhằm làm cho giá tăng lên một cách giả tạo và tạo sức ép lên những người phải mua hàng hoá Những tình huống này trên thị trường có thể cung cấp cơ hội cho các nhà đầu tư tinh khôn kiếm được lợi nhuận với rủi ro thấp

1.2 Thị trường chứng khoán phái sinh

Trang 33

1.2.1 Khái niệm

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 16 tại Osaka Nhật Bản các hợp đồng tương lai về vậnchuyển và hàng hoá là các sản phẩm nông nghiệp đó được loài người biết đến và sửdụng nhằm tránh các rủi ro về thiên tai, bệnh dịch, cũng có nghĩa ngay từ lúc này thịtrường chứng khoán phái sinh đó được hình thành Người ta thấy những hợp đồngđược ký kết ở thời điểm này cũng có những điều khoản được chuẩn hoá mà đến ngàynay nó vẫn còn nguyên giá trị Đến năm 1848, Sở giao dịch hợp đồng tương lai có tổchức và hiện đại nhất thế giới được thành lập ở phía bắc nước Mỹ, đó là CBT(Chicago Board of Trade), tuy nhiên, Sở chủ yếu vẫn giao dịch các hợp đồng tươnglai về các sản phẩm nông nghiệp như lúa mỳ, lúa mạch Sau CBT, một vài Sở giaodịch chứng khoán phái sinh khác cũng được thành lập tại Mỹ bao gồm: ChicagoMercantile Exchange và sau đó là NewYork Mercantile Exchange, Chicago BoardOptions Exchange Nhưng phải đến đầu những năm 70 của thế kỷ trước, thị trườngchứng khoán phái sinh tài chính mới chính thức được mở ra và nó phát triển mạnh mẽđến ngày nay Mặc dù vậy, thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch các hàng hoá

là dầu mỏ và kim loại vẫn tiếp tục phát triển, nhưng ngày nay thị trường chứng khoánphái sinh tài chính đang ngày càng chiếm vị trí thống trị và phát triển rầm rộ Sự pháttriển của thị trường chứng khoán phái sinh tài chính của những năm đầu thế kỷ 20đang là minh chứng xác thực cho điều đó Trải qua một chặng đường phát triển dàicủa thị trường chứng khoán phái sinh tài chính, cùng với sự phát triển của khoa họccông nghệ, thị trường chứng khoán phái sinh tài chính ngày nay đang áp dụng nhữngthiết bị khoa học công nghệ hiện đại Nếu như trước kia việc giao dịch trên thịtrường chính thức phải được thực hiện bằng phương thức bên bán và bên mua gặpnhau trực tiếp và diễn ra tại sàn thì ngày nay đó được bổ sung thêm các hình thứckhác như giao dịch bằng hệ thống giao dịch

Trang 34

điện tử, điện thoại và internet Thế giới những năm đầu của thế kỷ 21, thị trườngchứng khoán phái sinh được phát triển mạnh mẽ đầu tiên là ở London (Anh) vàNew York (Mỹ) Một số thị trường chứng khoán phái sinh điển hình như: Tokyo(Nhật), Paris (Pháp), Frankfurt (Đức), Chicago (Mỹ), Amsterdam

Nếu xét đến quy mô của thị trường ngày nay thì thị trường giao dịch hợp đồngquyền chọn và tương lai của Mỹ chiếm gần 35% thị phần trên thế giới Tuy nhiên,

Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc mới được coi là Sở có quy mô giao dịchchứng khoán phái sinh lớn nhất thế giới, thứ 2 thế giới là Sở Eurex (Gồm Đức vàThụy Sỹ), tiếp đến là Sở giao dịch Chicago, London, Paris

Hiểu được lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh,vậy chúng ta hiểu như thế nào là thị trường chứng khoán phái sinh?

Thị trường chứng khoán phái sinh là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứngkhoán phái sinh, nhưng thị trường chứng khoán phái sinh có đặc biệt hơn là ở chỗkhi ta xét về bản chất thì thị trường chứng khoán phái sinh không phải là nơi traođổi, mua bán, nơi mà các khoản vốn được luân chuyển, phân bổ như thị trường cổphiếu hay trái phiếu mà thị trường chứng khoán phái sinh được hiểu như là nơi

mà người ta sử dụng để phòng ngừa các rủi ro trong mua bán trao đổi và kèm theo

đó là phí và lợi nhuận lớn thu được Các bên tham gia giao dịch nhiều khi họ sửdụng các công cụ phái sinh không phải với mục tiêu là lợi nhuận mà mục tiêuchính của họ là để tránh sự biến động giá của chứng khoán cơ sở Hay nói cáchkhác, thị trường chứng khoán phái sinh là nơi tiến hành các hoạt động quản lý rủi

ro hay tìm kiếm lợi nhuận Nói đến thị trường chứng khoán phái sinh, chúng takhông thể không biết đến các thuật ngữ như chứng khoán cơ sở (Underlyings),hợp đồng (Contracts), sản phẩm…

Trang 35

Khác với thị trường chứng khoán vốn (Cổ phiếu) hay chứng khoán nợ (Tráiphiếu), ở thị trường chứng khoán phái sinh, các chứng khoán giao dịch là các công

cụ phái sinh hay còn gọi là "chứng khoán điều kiện", chúng không xác nhận quyền

sở hữu hay quyền chủ nợ đối với tổ chức phát hành, mà chúng xác nhận các quyền

và nghĩa vụ của các bên cam kết Các công cụ phái sinh được sử dụng phổ biếnnhư: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai về cổ phiếu, hợpđồng tương lai về lãi suất, hợp đồng hoán đổi, sản phẩm tổng hợp (Syntheticproduct - như quyền chọn đối với hợp đồng tương lai lãi suất, quyền chọn đối vớihợp đồng hoán đổi )

Thị trường chứng khoán phái sinh cũng có thể được hiểu như là một nơi mà ở đócác chứng khoán gốc hay còn được gọi là chứng khoán cơ sở được "bảo hiểm" thôngqua các công cụ được gọi là công cụ phái sinh Với chức năng kinh tế đó, thị trườngchứng khoán phái sinh giúp hoán chuyển các rủi ro từ bên có chứng khoán nhưngkhông muốn hay nói cách khác họ sợ rủi ro, sợ những biến động của thị trường có thểxảy ra mà gây bất lợi cho họ, sang bên khác bên mà họ sẵn sàng chấp nhận những rủi

ro, và tất nhiên đi kèm đó là phí và lợi nhuận kỳ vọng cao Với ý nghĩa này thị trườngchứng khoán phái sinh gần giống như một ngành công nghiệp bảo hiểm Ví dụ, mộthợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu giống như một hợp đồng bảo hiểm giúp chongười mua tránh khỏi sự sụt giá cổ phiếu Và cũng giống như ngành bảo hiểm, thì saugiao dịch cả bên mua bảo hiểm và cả bên bán bảo hiểm đều có được kết quả tốt đẹpnhư ý muốn ban đầu của mình Tuy nhiên, người ta thường không thay thế chức năngbảo hiểm này của thị trường chứng khoán phái sinh để gọi là ngành bảo hiểm, màngười ta gọi đó là phòng ngừa rủi ro (Hedging)

Thị trường chứng khoán phái sinh được chia thành hai dạng: Thị trường chứngkhoán phái sinh OTC và thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tập trung (Hay

Trang 36

còn gọi là thị trường giao dịch tại Sở - ODE - orgnization ) Hai thị trường chứngkhoán phái sinh này rất khác nhau về tính chất pháp lý của các công cụ phái sinh

sử dụng cũng như là cách mà chúng được giao dịch trên thị trường

Do đặc thù của thị trường chứng khoán phái sinh, khác với những người muabán chứng khoán chủ yếu là các nhà đầu tư, thì công cụ phái sinh hấp dẫn ba loạingười giao dịch: người muốn phòng ngừa rủi ro (Hedgers), người kinh doanhchênh lệch giá (Arbitragers), người đầu cơ (Speculators):

Người muốn phòng ngừa rủi ro (Hedgers): Như đó trình bày ở phần trên, bản

chất của thị trường chứng khoán phái sinh là nơi để "đóng gói" rủi ro, chuyển rủi

ro từ bên có thể sẽ gặp rủi ro, gặp bất lợi, muốn phòng ngừa rủi ro sang bên mà họsẵn sàng chấp nhận rủi ro để họ được hưởng phí và lợi nhuận kỳ vọng lớn Chúng

ta đó xem xét ví dụ về một công ty tham gia mua bán chứng khoán, với nguồn vaytín dụng của ngân hàng chiếm tỷ lệ cao, họ muốn phòng ngừa rủi ro về tỷ lệ lãi suất

có thể tăng cao gây bất lợi cho tình hình kinh doanh của họ bằng cách ký kết hợpđồng tương lai lãi suất trên Sở giao dịch chứng khoán phái sinh, và họ được gọi lànhững người muốn phòng ngừa rủi ro

Người kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrager): Kinh doanh chênh lệch giá là

việc kiếm lời khi đồng thời tham gia vào hai giao dịch tại hai hoặc cùng một thịtrường Giao dịch chênh lệch giá chỉ đơn giản là đồng thời mua 1 hợp đồng và bánmột hợp đồng khác để hưởng lợi nhuận do có sự chênh lệch giá Thông thường có

ba kiểu chênh lệch giá:

- Chênh lệch giá trong cùng một thị trường, nơi vị thế được tiến hành trên hai hợp đồng ở các tháng khác nhau của cùng một loại hàng hoá

- Chênh lệch giá giữa các hàng hoá khác nhau: đây là kiểu chênh lệch giá giữa mua một hợp đồng hàng hoá loại này và bán một hợp đồng hàng hoá loại khác

Trang 37

- Chênh lệch có thể tồn tại giữa khi một loại hàng hoá được giao dịch trênnhững Sở Giao dịch khác nhau

Người đầu cơ (Speculators): Trong khi người muốn phòng ngừa rủi ro sử dụng

các công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán phái sinh thì các nhà đầu cơ lạimuốn tham gia vào các vị thế trên thị trường với kỳ vọng sẽ kiếm được lợi nhuậncao trên thị trường, cho dù tài sản gốc là tăng hay giảm

1.2.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh

Thị trường chứng khóan phái sinh được hiểu như là sân chơi cho các nhà đầu

tư chuyên nghiệp và các nhà tạo lập thị trường Thực tế cho thấy, ở tất cả cácnước khi mà thị trường chứng khoán phát triển đạt đến tầm nhất định thì thịtrường chứng khoán phái sinh mới được ra đời và chính thức đi vào hoạt động, lý

do là bởi tính chuyên nghiệp và mức độ phức tạp của thị trường Ở bất kỳ thịtrường nào, dù là thị trường vàng, bất động sản, đô la hay chứng khoán cũng luôntồn tại dưới hai hình thức: đó là thị trường chính thức (Hay còn gọi là thị trườnggiao dịch tập trung, thị trường giao dịch tại Sở) và thị trường không chính thức(Hay còn gọi là thị trường OTC), và thị trường chứng khoán phái sinh cũng vậy

Để tìm hiểu rõ hơn về hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh, chúng tacùng đi tìm hiểu về sự khác biệt về phương thức giao dịch, thành viên giao dịch,công cụ phái sinh, các nhà tạo lập thị trường

Về phương thức giao dịch: Thị trường chứng khoán phái sinh OTC là thị

trường mà ở đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau, trao đổi và mua bán,nghĩa là các bên tham gia giao dịch không cần đến Sở hay phải thông qua bất kỳmột trung gian nào Bên mua và bên bán tự tìm đến nhau, tự do trao đổi, thỏa thuận

và đi đến quyết định mua bán cuối cùng Nhìn chung, các bên mua bán tự thỏathuận và ký kết hợp đồng, không có điều khoản bắt buộc phải ký quỹ Tuy nhiên,

Trang 38

ngày nay, các hoạt động giao dịch của thị trường chứng khoán phái sinh OTC ởmột số quốc gia cũng không hoàn toàn mang tính chất nguyên thủy là “chợ đen”,nghĩa là cũng chịu sự quản lý của cơ quan của Nhà nước nhằm mục tiêu là giảmthiểu các rủi ro trong giao dịch, giúp thị trường trở nên minh bạch và công bằnghơn Cơ quan này tham gia thực hiện công tác thanh toán bù trừ (Ví dụ như thịtrường chứng khoán phái sinh OTC của Singapore), hay tham gia điều hành quản

lý hệ thống quản lý ký quỹ của Trung tâm Lưu ký (Ví dụ như thị trường chứngkhoán phái sinh OTC của Hàn quốc)

Còn thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở là thị trường mà cáchoạt động mua bán công cụ phái sinh đều thông qua Sở Giao dịch (Trực tiếp đến

Sở hoặc thông qua giao dịch trực tuyến) Sở đóng vai trò như là một tổ chức trunggian trong tất cả các hoạt động mua bán, yêu cầu 2 bên mua bán trước khi tiếnhành hoạt động mua bán phải ký quỹ tại Sở như một điều kiện bảo đảm giữa 2bên Ở thị trường này, ký quỹ là một quy định bắt buộc đối với các bên sau khi hợpđồng được ký kết Cơ chế ký quỹ được duy trì ở hai mức, đó là mức ký quỹ banđầu và mức ký quỹ duy trì Mức ký quỹ ban đầu là mức ký quỹ được quy định bắtbuộc các bên phải thực hiện ký quỹ, tùy thuộc vào giá trị hợp đồng ký kết mà Sởyêu cầu mức ký quỹ ban đầu các bên phải thực hiện là bao nhiêu Mức ký quỹ duytrì là mức ký quỹ tối thiểu mà các bên cần phải có trước những biến động của giátrên thị trường Nếu giá thị trường biến động bất lợi cho bên mua hay bên bán, màsau khi thực hiện bù trừ, mức ký quỹ của họ bị giảm xuống thấp hơn mức ký quỹduy trì, thì lập tức Sở sẽ yêu cầu họ phải thực hiện lệnh ký quỹ bổ sung Cũng cầnlưu ý là ký quỹ ở đây có thể là tiền, hoặc cũng có thể là các chứng khoán niêm yếttrên thị trường chứng khoán tập trung, tuỳ thuộc vào quy định pháp luật của mỗiquốc gia

Trang 39

Về hàng hóa giao dịch: Ở thị trường chứng khoán phái sinh không chính thức,

các công cụ phái sinh thường được sử dụng như hợp đồng hoán đổi, hợp đồngcam kết về tỷ lệ lãi suất kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn Các điều khoản ghi tronghợp đồng không phải tuân thủ theo chuẩn mực nào cả và cũng không bị chi phốihay giám sát của điều luật nào khác, mà ngược lại rất linh hoạt, dựa vào nhu cầu càthỏa thuận của chính người tham gia ký kết hợp đồng Đây là điểm khác biệt cơbản so với thị trường chứng khoán tập trung Thị trường chứng khoán phái sinhkhông chính thức ngày nay đang ngày càng phát triển lớn mạnh

Còn ở thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở, công cụ phái sinhđược giao dịch phổ biến trên thị trường là hợp đồng quyền chọn và hợp đồngtương lai Hợp đồng giao dịch tại Sở với các điều khoản ghi trong đó được chuẩnhóa về chất lượng, về thời gian, địa điểm, phương thức, quy mô hợp đồng… vàchịu sự chi phối của các quy định tại Sở, hệ thống pháp luật

Về thành viên giao dịch: Ở thị trường chứng khoán phái sinh OTC các thành viên

giao dịch chính là những nhà đầu tư trực tiếp tham gia thực hiện giao dịch, họ khôngphải qua bất kỳ trung gian nào Còn ở thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại

Sở thì lại khác, thành viên giao dịch trên thị trường thường gồm có hai loại chính:Thứ nhất, là thành viên giao dịch với tư cách là chính chủ (Là các nhà tạo lập thịtrường và tự doanh) Thứ hai là thành viên giao dịch với tư cách là đại diện chokhách hàng (Cá nhân hoặc các định chế trong và ngoài nước) Ở thị trường chứngkhoán phái sinh giao dịch tại Sở, các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò rất quantrọng, gần như đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của thị trường.Các nhà tạo lập thị trường có thể là cá nhân hoặc tổ chức thực hiện đăng ký với Sởtham gia thị trường với tư cách là nhà tạo lập thị trường Và với tư

Trang 40

cách này họ thường được hưởng các ưu đói đặc biệt như về thuế, điều kiện giaodịch

Ngoài ra, thị trường chứng khoán phái sinh ở một số nước còn có những quyđịnh cụ thể đối với từng loại thành viên giao dịch: thành viên giao dịch thanh toán,

tự doanh, cá nhân Ví dụ như thành viên giao dịch thanh toán ở thị trường chứngkhoán phái sinh Singapore thì thành viên thanh toán cần có mức vốn tối thiểu 5triệu $ Sing và có giấy phép cung cấp dịch vụ thị trường vốn

1.2.3 Điều kiện xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh 1.2.3.1 Điều kiện về môi trường kinh tế, thị trường tài chính và hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật

Hệ thống luật pháp

Lịch sử thị trường chứng khoán phái sinh đã hình thành từ hàng trăm năm trướcđây Ban đầu chỉ là các hình thức tổ chức thị trường hết sức sơ khai, thường là mangtính tự phát, thiếu sự chặt chẽ trong quản lý Thị trường chứng khoán phái sinh banđầu hình thành dưới hình thức là thị trường phi tập trung, mang nhiều tính tự phát.Nghĩa là các công cụ phái sinh được mua bán, chuyển nhượng ở nhiều địa điểm phântán, quy mô giao dịch nhỏ, diễn ra dưới hình thức hội họp, câu lạc bộ, phòng trà, quán

cà phê Hầu hết việc mua bán công cụ phái sinh diễn ra trực tiếp giữa người mua vàngười bán Các giao dịch thực hiện dựa trên các thỏa thuận, và quá trình thanh toántiền và chứng khoán giữa các bên được thực hiện thông qua việc chuyển giao vậtchất Quá trình giao dịch này được tiến hành thủ công trong điều kiện quy mô thịtrường còn nhỏ, số lượng người sở hữu tham gia chưa nhiều Các bên tham gia giaodịch chỉ bị ràng buộc bởi những điều khoản của chính họ đặt ra mà được ghi tronghợp đồng ký kết, ngoài ra họ không phải chịu bất kỳ một loại hình pháp lý nào khácràng buộc hay chi phối Cũng chính và các phương thức

Ngày đăng: 16/10/2020, 20:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w