1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở học viện tài chính trong giai đoạn hiện nay

111 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 751 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu trên, con người là một trong những nhân tố hàng đầu, quan trọng nhất và quyết định nhất. Vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung và sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước nói riêng. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của Việt Nam đang có rất nhiều vấn đề bất cập: Luôn ở trong tình trạng thừa lao động thủ công lao động không có chuyên môn kỹ thuật, nhưng lại thiếu lao động có trình độ cao lao động có trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh. Một trong những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo không đáp ứng được yêu cầu mà những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tế trong nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng đòi hỏi. Trong những loại hình đào tạo thì đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở bậc Đại học có vị trí đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung đang có nhiều bất cập do nhiều lý do khác nhau và Học viện Tài chính (HVTC) cũng không nằm ngoài thực trạng ấy. Cho nên, thực tế đặt ra cho giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung và ở HVTC nói riêng là phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Đó là một tất yếu khách quan, một yêu cầu hết sức cấp bách. Nó không những ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện công cuộc CHN, HĐH đất nước. Đối với HVTC là một trong những Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp vào những trường đào tạo chuẩn quốc tế trong những năm tới. Để có thể bắt kịp được với xu thế phát triển kinh tế thế giới, với trào lưu quốc tế hoá, toàn cầu hoá, và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nội dung đào tạo của giáo dục đại học ở HVTC phải không ngừng phải cải tiến hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo để thích ứng nhanh và phù hợp với chuẩn quốc tế và thực hiện tốt mục tiêu xây dựng, phát triển Học viện thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học về kinh tế tài chính kế toán hàng đầu Việt Nam, có uy tín trong khu vực, thực hiện sứ mệnh Cung cấp các sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa học tài chính kế toán chất lượng cao cho xã hội. Mặt khác, cùng với tinh thần không ngừng phấn đấu vươn lên của toàn thể thành viên trong Học viện: đội ngũ lãnh đạo cấp cao; đội ngũ giảng viên; đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ sinh viên, đồng thời là một giảng viên lâu năm của HVTC, chúng tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm đóng góp một phần công sức của mình để nâng cao danh tiếng, thương hiệu của Học viện và làm cho chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Học viện ngày càng được nâng cao, chất lượng sản phẩm đào tạo của Học viện ngày càng tốt hơn nữa và được thị trường trong nước cũng như quốc tế chấp nhận và đánh giá cao. Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở Học viện Tài chính trong giai đoạn hiện nay” làm Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế.

Trang 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN

LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 71.1 Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 71.2 Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở bậc đại học 251.3 Đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 34

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN

2.2 Phân tích, đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại Học

2.3 Đánh giá chung về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại Học

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO

TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 743.1 Những căn cứ chung cho việc đề ra giải pháp 743.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

Trang 2

CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

KT - XH : Kinh tế - xã hội

Trang 3

Bảng 2.1: Điểm tuyển sinh qua các năm tại Học viện Tài chính 51

Hình 1.1: Các yếu tố tác động chất lượng đào tạo 34

Hình 1.2: Mô hình đánh giá chương trình đào tạo 35

Hình 1.4: Mô hình chất lượng dùng trong giảng dạy và học tập 39

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng và lãnh đạo, phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp Để thực hiện được mục tiêu trên, con người là một trongnhững nhân tố hàng đầu, quan trọng nhất và quyết định nhất Vì con người vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung và sự nghiệp côngnghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước nói riêng Tuy nhiên, nguồnnhân lực của Việt Nam đang có rất nhiều vấn đề bất cập: Luôn ở trong tìnhtrạng thừa lao động thủ công - lao động không có chuyên môn kỹ thuật, nhưnglại thiếu lao động có trình độ cao - lao động có trình độ quản lý, tổ chức sảnxuất kinh doanh Một trong những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạokhông đáp ứng được yêu cầu mà những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tếtrong nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng đòi hỏi

Trong những loại hình đào tạo thì đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao ở bậc Đại học có vị trí đặc biệt quan trọng Tuy nhiên chất lượng giáo dụcđại học ở Việt Nam nói chung đang có nhiều bất cập do nhiều lý do khácnhau và Học viện Tài chính (HVTC) cũng không nằm ngoài thực trạng ấy.Cho nên, thực tế đặt ra cho giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung và ởHVTC nói riêng là phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Đó là mộttất yếu khách quan, một yêu cầu hết sức cấp bách Nó không những ảnhhưởng đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiệncông cuộc CHN, HĐH đất nước

Đối với HVTC là một trong những Trường được Bộ Giáo dục và Đàotạo xếp vào những trường đào tạo chuẩn quốc tế trong những năm tới Để cóthể bắt kịp được với xu thế phát triển kinh tế thế giới, với trào lưu quốc tếhoá, toàn cầu hoá, và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nội dung đào tạo của

Trang 5

giáo dục đại học ở HVTC phải không ngừng phải cải tiến hơn nữa nhằm nângcao chất lượng đào tạo để thích ứng nhanh và phù hợp với chuẩn quốc tế vàthực hiện tốt mục tiêu xây dựng, phát triển Học viện thành trung tâm đào tạo

và nghiên cứu khoa học về kinh tế - tài chính - kế toán hàng đầu Việt Nam, có

uy tín trong khu vực, thực hiện sứ mệnh "Cung cấp các sản phẩm đào tạo và

nghiên cứu khoa học tài chính - kế toán chất lượng cao cho xã hội".

Mặt khác, cùng với tinh thần không ngừng phấn đấu vươn lên của toànthể thành viên trong Học viện: đội ngũ lãnh đạo cấp cao; đội ngũ giảng viên;đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ sinh viên, đồng thời là một giảng viên lâunăm của HVTC, chúng tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm đóng góp mộtphần công sức của mình để nâng cao danh tiếng, thương hiệu của Học viện vàlàm cho chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Học viện ngày càng đượcnâng cao, chất lượng sản phẩm đào tạo của Học viện ngày càng tốt hơn nữa

và được thị trường trong nước cũng như quốc tế chấp nhận và đánh giá cao.Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tôi chọn đề

tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở Học viện

Tài chính trong giai đoạn hiện nay” làm Luận văn thạc sỹ chuyên ngành

Quản lý kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo nguồn nhânlực nói riêng đã được một số tác giả là cá nhân, tổ chức nghiên cứu Tuynhiên, đây là vấn đề khó, phức tạp và nhạy cảm, phạm vi rộng và phong phú,

do vậy số các đề tài nghiên cứu lĩnh vực này còn ít với nội dung nghiên cứukhá rộng Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau đây:

- Nguyễn Duy Bắc (2002), “Phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh

thần xã hội hoá”, Tạp chí lý luận chính trị.

- Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan (1999), “Phát triển nguồn nhân

lực cho giáo dục đại học Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội.

Trang 6

- Nguyễn Hữu Chí (2003), “Những giải pháp về quản lý nhằm nâng

cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế,

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

- Lương Anh Trâm, chủ nhiệm đề tài: “Một số giải pháp Công đoàn

góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho công nhân đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước”.

- Phạm Ngọc Đỉnh, “Quản lý giáo dục nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp

CNH, HĐH đất nước”

- Phạm Văn Quyết, chủ nhiệm đề tài: “Một số kiến nghị và phương

pháp xây dựng định mức chi phí thường xuyên trong đào tạo một sinh viên đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề”

- Lê Thị Ái Tâm, “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và

đào tạo ở một số nước Đông Nam Á”

- Đề tài cấp Bộ - Tổng cục dạy nghề (2005), “Hệ thống dạy nghề của Việt

Nam trong tiến trình hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới”

- Phan Chính Thức, “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp

phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH”, Luận án Tiến sỹ.

- Nguyễn Đức Tĩnh (2007), Quản lý Nhà nước về đầu tư phát triển đào

tạo nghề ở nước ta - Thực trạng và giải pháp, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học

viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Các đề tài trên đã đề cập đến chất lượng tay nghề, chất lượng công tácđào tạo nghề trong những năm qua ở Việt Nam và đề xuất những giải phápnhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời gian tới để đáp ứng côngcuộc CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên, nội dung đề cập và giải pháp chỉ làmột trong những nội dung nhỏ của đề tài

Với đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở

HVTC trong giai đoạn hiện nay” là một đề tài cụ thể, có phạm vi nghiên cứu

đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ đại học được tôi chọn làm đề tài Luận vănThạc sỹ của mình và đề tài có tính độc lập so với các đề tài khác

Trang 7

Kế thừa có chọn lọc kết quả và kinh nghiệm của các đề tài đã có, vậndụng lý luận và thực tiễn, đồng thời phát triển những quan điểm tư tưởng củanhững người đi trước, tôi mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề bứcxúc về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở bậc đại học phục vụ cho sự nghiệpCNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới chất lượng nguồnnhân lực được đào tạo ở trình độ đại học; nhằm phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao;

- Phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngđào tạo nguồn nhân lực tại HVTC

- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạonguồn nhân lực ở HVTC trong giai đoạn tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứ các nhân tố tác động tới chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,trong đó trọng tâm nghiên cứu bao gồm: nội dung, chương trình đào tạo; cơ sởvật chất; xây dựng đội ngũ giảng viên; kiểm tra, đánh giá đối với người học từđầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra

Trang 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về phát triển nguồnnhân lực ở khâu đào tạo và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ đạihọc, chuyên ngành kinh tế tại HVTC

- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng trong giaiđoạn từ năm 2001 đến nay Các giải pháp cho giai đoạn tiếp theo

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa Chủ nghĩa Mác - Lênin, bám sát điều kiện thực tế tại HVTC

Trong từng nội dung cụ thể còn sử dụng phương pháp phân tích tổnghợp, khái quát so sánh, điều tra mẫu, thống kê và xử lý số liệu để làm sáng tỏvấn đề cần nghiên cứu

6 Đóng góp mới của luận văn

- Phân tích đánh giá trên cơ sở các căn cứ khoa học, thực trạng chấtlượng đào tạo nguồn nhân lực trong những năm qua ở HVTC;

- Phân tích những mặt mạnh, mặt yếu về chất lượng đào tạo nguồnnhân lực ở bậc đại học, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan cácnguyên nhân còn tồn tại và đề xuất các giải pháp phù hợp

Trang 9

- Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn trình bày rõ định hướng và giảipháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại HVTC để có thểđáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH và bắt kịp quá trìnhtoàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝLUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

1.1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

1.1.1 Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

* Khái niệm nguồn nhân lực

- Khái niệm nguồn nhân lực (NNL) có nhiều cách tiếp cận khác nhau,theo Begg, Fischer và Dornbusch: NNL là toàn bộ trình độ chuyên môn màcon người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhậpcao trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, NNL là kết quả đầu

tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai Cách hiểu nàycòn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưađặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của NNL

- Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diệnquốc gia hay địa phương NNL được xác định là “tổng thể các tiềm năng laođộng của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị(ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó,tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng conđường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơcấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH" Theo cách hiểu này, NNL là nguồn laođộng sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương.Một cách chung nhất, có thể hiểu NNL là bộ phận dân số trong độ tuổi nhấtđịnh theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động NNL là tổnghợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, mộtđịa phương hay một quốc gia Độ tuổi lao động được qui định cụ thể ở mỗinước có khác nhau Ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động,tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi

Trang 11

- Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện khoa học Lao động vàcác vấn đề xã hội, xem xét NNL dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năngđộng xã hội Ở góc độ thứ nhất, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xãhội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vậtchất và tinh thần cho xã hội Xem xét NNL dưới dạng tiềm năng giúp địnhhướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội củaNNL thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, nếu chỉ dừnglại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng

đó, phải chuyển NNL sang trạng thái động, thành vốn nhân lực, tức là nâng caotính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giảipháp giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vô tận,nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị laođộng thì tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn vốn vôcùng to lớn Vì vậy, NNL được hiểu là “tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơnăng lực xã hội của con người(thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xãhội của con người Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lựccon người thành vốn con người”

- Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trongchương trình cấp Nhà nước KX-07, NNL được hiểu là "số dân và chất lượngcon người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lựcphẩm chất, thái độ, phong cách làm việc"

Như vậy, NNL được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng:

Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của

cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia Số lượng NNL đóngvai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế (KT) - xã hội (XH) Nếu sốlượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởngkhông tốt đến quá trình CNH, HĐH Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạogánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượngnhân lực cho quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước

Trang 12

Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ,

động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹpcủa người công dân đó là yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội (CNXH) Trong bamặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trílực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Ý thức tinhthần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá củatrí lực thành thực tiễn Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu củaNNL bởi nó có con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộkhoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội Mác và Ăngghen đã nói "Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phảithông qua đầu óc của họ"

- Từ những quan niệm của các tác giả nước ngoài và các tác giả trongnước, có thể hiểu NNL là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng thamgia vào quá trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềmnăng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thốngnhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách)và tính năng động xã

hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia Tính

thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốncon người đáp ứng yêu cầu phát triển

Nói cách khác, NNL bao gồm những người trong độ tuổi lao động cókhả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội theo Luật lao động quy định

NNL có nội hàm rộng bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, trithức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sứcsáng tạo, truyền thống lịch sử và cả nền văn hoá Do vậy, có thể cụ thể hoácác yếu tố cấu thành NNL theo các nhóm sau đây:

+ Qui mô dân số, lao động và sức trẻ;

+ Trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật của NNL liên quan và phụthuộc vào sự phát triển nền giáo dục-đào tạo và dạy nghề một quốc gia;

Trang 13

+ Tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người, yếu tố liênquan đến chính sách giải phóng sức lao động, tạo động lực phát triển, pháthuy tài năng;

+ Truyền thống lịch sử và nền văn hoá hun đúc lên bản lĩnh, ý chí, tácphong của con người trong lao động

* Phát triển nguồn nhân lực

Phát triển NNL được nhiều tác giả bàn đến và đã có nhiều cách hiểumới được bổ sung theo thời gian Cho đến nay, xuất phát từ những cách tiếpcận khác nhau vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Nadler & Nadler (1990)cho rằng phát triển NNL và giáo dục, đào tạo(theo nghĩa rộng) là những thuậtngữ có cùng nội hàm Hai tác giả này định nghĩa:

“Phát triển NNL là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảngthời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc “

UNESCO sử dụng khái niệm phát triển NNL(theo nghĩa hẹp): là làmcho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với

sự phát triển của đất nước

Tổ chức lao động của thế giới (ILO) lại cho rằng phát triển NNL baohàm phạm vi rộng hơn, không chỉ trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nóichung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm

có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân

Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩa rộng, baogồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy pháttriển KT-XH và nâng cao chất lượng cuộc sống

* Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, giữ vai tròquyết định trong sự phát triển KT-XH: Vai trò đó bắt nguồn từ vai trò của yếu tốcon người Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển KT-XH

Trang 14

Con người không những là động lực của sự phát triển mà còn là mụctiêu, cái đích cuối cùng phải đạt được của sự phát triển kinh tế xã hội nhằmthoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người, làm cho cuộc sống ngàycàng tốt hơn, xã hội ngày càng phát triển, văn minh.

Nhu cầu của con người hết sức đa dạng, phong phú và không ngừngtăng lên, bao gồm cả nhu cầu vật chất - tinh thần, điều đó đã tác động tới quátrình phát triển KT-XH

Trong quá trình phát triển, con người không chỉ có mong muốn và thựchiện được việc chế ngự tự nhiên, mà còn có mong muốn và thực hiện được sựcải tạo, hoàn thiện bản thân Lịch sử tiến hoá, phát triển của loài người đãchứng minh điều này Con người lần lượt đi qua những giai đoạn phát triển từthấp đến cao để trở thành con người như ngày nay Và không chỉ dừng lại ởđấy, qua mỗi giai đoạn phát triển, con người lại hoàn thiện hơn về mọi mặt vàtheo đó là sự tăng lên của khả năng chế ngự tự nhiên, thêm động lực cho sựphát triển KT-XH

Nhận thức đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của nhân tố con người, Đảng

ta coi việc phát huy nhân tố con người như một nguồn lực quan trọng nhất.Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, tuyên bố lấy con người và NNL là mộttrong ba khâu đột phá đi vào CNH, HĐH đất nước: "Phát triển giáo dục vàđào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH,HĐH là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để pháttriển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [8, tr.108-109]

1.1.2 Đào tạo và các loại hình đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực

* Đào tạo nguồn nhân lực

Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay cho thấyđầu tư cho NNL được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác Đầu tư phát triển

Trang 15

NNL được hiểu ở cả ba mặt: chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộcsống và giáo dục đào tạo, trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọngnhất Khái niệm giáo dục luôn gắn với khái niệm đào tạo Theo từ điển tiếngViệt, đào tạo được hiểu là:

"Đào tạo, là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người

đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thốngnhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một

sự phân công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh

tế xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Tuỳ theo tính chấtchuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn

và đào tạo nghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ nhau với những nộidung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học,

kỹ thuật-công nghệ và văn hoá của đất nước Có nhiều hình thức đào tạo; đàotạo cấp tốc, đào tạo chính quy và không chính quy"

Về cơ bản, đào tạo là hoạt động giảng dạy của nhà trường, gắn việctruyền thụ tri thức với giáo dục đạo đức và nhân cách Kết quả và trình độđược đào tạo của một người ngoài việc phụ thuộc vào hoạt động nêu trên còn

do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia vào cáchoạt động xã hội, lao động sản xuất, tự rút kinh nghiệm của người đó quyếtđịnh Chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo một cáchtích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao

Đào tạo là một mắt xích trong chu trình phát triển NNL Nó phải đápứng yêu cầu cung cấp NNL cho xã hội ở các lĩnh vực sau:

- Nhân lực trong lĩnh vực khoa học-công nghệ, ngành nghề, kinh tế,

kỹ thuật

- Nhân lực trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nhà nước

- Nhân lực trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp

Trang 16

Thực tế cho thấy dù nhân lực ở lĩnh vực nào đi chăng nữa cũng phảiđảm bảo được yêu cầu của công việc như trình độ chuyên môn, kỹ thuật (tứccác tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thái độ, phong cách, năng lực sángtạo để có khả năng thực hiện một loạt các công việc trong phạm vi ngànhnghề theo sự phân công lao động xã hội.

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Đào tạo NNL là quá trình tác động,dạy và rèn luyện con người thông qua việc tổ chức truyền thụ tri thức vànhững kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người để gây dựng họ trở thànhngười có hiểu biết đạt đến một trình độ chuyên môn nghề nghiệp nhất định,

có khả năng đảm nhận một sự phân công lao động xã hội trong từng thời kỳcủa quá trình phát triển KT-XH

Đào tạo NNL tạo nên sự chuyển biến về chất của NNL, biến nhữngtiềm năng nhân lực của quốc gia thành những lực lượng lao động hiện thựcphù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH Để thực hiện thắng lợi sự nghiệpCNH, HĐH, việc đào tạo NNL cần phải đảm bảo đựơc yêu cầu, mục tiêu sau:

- Đổi mới chất lượng đào tạo nhân lực theo hướng phù hợp với việcnâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

- Đào tạo phải gắn kết thường xuyên và chặt chẽ với sử dụng NNL vàphù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động và thị trường lao động

Đào tạo NNL theo yêu cầu, mục tiêu nêu trên cần được thực hiện vớinhiều loại hình và nhiều phương thức khác nhau sao cho mọi người có nhucầu được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao và đào tạo lại đều có thể được đáp ứng.Việc đào tạo có thể được thực hiện tại các trường dạy nghề, trường Đại học,Cao đẳng, các Trung tâm do Nhà nước hoặc tư nhân quản lý, hoặc các trường,lớp thuộc doanh nghiệp, trong các thành phần kinh tế, hay tại các lớp dạynghề do các tổ chức xã hội và các làng nghề truyền thống tổ chức Việc đàotạo NNL có thể được thực hiện theo các cấp trình độ tuỳ theo yêu cầu đổi mớicủa nền sản xuất-xã hội và nhu cầu của người học như đào tạo bán lành nghề-

Trang 17

lành nghề-trình độ cao; đào tạo trình độ sơ cấp-THCN-cao đẳng-đại học vàsau Đại học.

* Sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo

Trong tiếng Việt khái niệm sử dụng NNL được dùng khá phổ biến, và

về thực chất sử dụng NNL chỉ bao hàm một số thành tố của quá trình quản lýNNL như: tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đánh giá, trả công, trả lương và thăngthưởng Trong các tài liệu truyền thống, dùng người đúng có nghĩa là sử dụngđược thế mạnh của con người, dùng người vào đúng chỗ, đúng lúc, phát huy đượcđộng lực làm việc của con người Nếu mở rộng khái niệm sử dụng NNL, nội hàmcủa sử dụng NNL sẽ trùng với nội hàm khái niệm quản lý NNL

NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống cácyếu tố cấu thành: sức lực, trí tuệ, khối lượng cùng đặc trưng về chất lượng laođộng như trình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ phongcách làm việc, tính năng động xã hội và sức sáng tạo Đó là sức lao động, nhưMác đã nói: khả năng mà con người có thể thông qua lao động để biến thànhhiện thực, từ đó có thể đóng góp vào sự nghiệp CNH và sự phát triển KT-XH.Tuy nhiên, khi nói NNL tức là nói sức lao động, do vậy nó còn ở trạng tháikhả năng, ở trạng thái tĩnh, nó phải được chuyển sang trạng thái động tức làphải được đem phân bố, sử dụng nó một cách có hiệu quả, phải làm thế nào

để NNL dưới dạng khả năng đó thành hiện thực, thành vốn nhân lực

Sử dụng NNL tức là quá trình tạo điều kiện cho người tham gia vàohoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu cầusản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong xã hội Quá trình lao động sản xuất đó làquá trình kết hợp sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất nênviệc khai thác và phát huy NNL không thể tách rời việc tổ chức nền sản xuấtcùng những cách thức của sự phát triển KT-XH Bởi vậy, sử dụng NNL đượchiểu: là việc khơi dậy và phát huy tất cả các khả năng của con người thànhhiện thực, biến sức lao động thành lao động trong quá trình phát triển KT-XH

Trang 18

Quá trình sử dụng NNL luôn gắn kết với sản xuất nên kết quả của nóphụ thuộc vào những đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý sản xuất,những cải tiến về công nghệ và phụ thuộc rất lớn vào việc hoàn thiện giáodục đào tạo.

Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta, việc khai thác sử dụng NNL cóthể được xem xét trên các khía cạnh sau:

Một là, NNL được biểu hiện ra là nguồn lao động bao gồm toàn bộ

những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nốitiếp, vì vậy sử dụng NNL trước hết là sử dụng lực lượng lao động trong sảnxuất kinh doanh Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất NNL hiện có làyêu cầu cơ bản và chủ yếu của sử dụng NNL

Hai là, con người khi tham gia vào quá trình phát triển KT-XH không

chỉ sử dụng lao động giản đơn mà còn phải sử dụng cả lao động trí óc cho xãhội ngày càng phát triển Ngày nay thế giới đã bước vào giai đoạn phát triểnkinh tế tri thức, thì vai trò của lao động trí tuệ của con người thể hiện ngàycàng rõ nét Đúng như dự báo của Mác và Ăng ghen: Khoa học do lao độngtrí tuệ của con người sáng tạo ra sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trithức khoa học đang thấm sâu vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất và trởthành một nhân tố có ý nghĩa quyết định sự phát triển Do đó có thể khẳngđịnh lao động trí tuệ, lao động qua đào tạo là yếu tố giữ vai trò quan trọnghàng đầu của NNL, do vậy cần coi trọng và phát huy tiềm năng của NNL quađào tạo

Ba là, sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã

và đang làm thay đổi tính chất, nội dung của lao động, cơ cấu lao động vàviệc làm và làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn đi đôi với tiến trìnhphát triển việc làm Điều đó đòi hỏi phải chuyển từ sử dụng lao động theochiều rộng sang khai thác sử dụng theo chiều sâu Việt Nam là một nướcchậm phát triển, thực hiện CNH sau, NNL khá dồi dào nhưng chất lượng và

Trang 19

trình độ còn thấp, vì vậy trong quá trình sử dụng NNL chúng ta phải chú ý sửdụng lao động theo hướng kết hợp cả số lượng và chất lượng.

Như vậy, để khai thác phát huy và nâng cao hiệu quả NNL cần phải căn

cứ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của NNL và sự phát triển KT-XH trongtừng thời kỳ của quốc gia

* Các loại hình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực

Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đạihọc Trong đó:

Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ

em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tốđầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một

Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học; giáo dục trung học cơ

sở; và giáo dục trung học phổ thông

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp sinh viên phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển nănglực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bịcho sinh viên tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Giáo dục tiểu học nhằm giúp sinh viên hình thành những cơ sở ban đầucho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ vàcác kỹ năng cơ bản để sinh viên tiếp tục học trung học cơ sở

Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp sinh viên củng cố và phát triểnnhững kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở vànhững hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trunghọc phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Trang 20

Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp sinh viên củng cố và pháttriển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổthông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, cóđiều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tụchọc đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Giáo dục nghề nghiệp bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.

Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹnăng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghềnghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điềukiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếptục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức,

kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và cótính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc

Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch

vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo

Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và

kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộcchuyên ngành được đào tạo

Giáo dục đại học bao gồm đào tạo trình độ cao; đào tạo trình độ đại

học; đào tạo trình độ thạc sĩ; và đào tạo trình độ tiến sĩ Mục tiêu của giáo dụcđại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục

vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng vớitrình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyênmôn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sángtạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Trang 21

Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao

về thực hành, có khả năng nghiên cứu và làm việc độc lập, sáng tạo, có năng lựcphát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo

Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lýthuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện vàgiải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứukhoa học và hoạt động chuyên môn

Đào tạo trình độ đại học bao gồm các hình thức đào tạo khác nhau như:đại học chính quy, đại học tại chức, đại học văn bằng 2, đại học từ xa, v.v…Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi đi sâu vào đào tạo trình độ đạihọc chính quy tại Học viện tài chính

1.1.3 Sự cần thiết khách quan của đào tạo, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

NNL và CNH, HĐH có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Trongnền kinh tế thị trường, thực chất của mối quan hệ này là mối quan hệ về cungcầu lao động Trong mối quan hệ đó yếu tố con người bao giờ cũng giữ vị tríquyết định Điều này thể hiện ở chỗ: Con người là chủ thể của quá trình CNH,HĐH Con người là lực lượng sản xuất hàng đầu, có khả năng biến các nguồnlực khác thành động lực phát triển Con người với tất cả những phẩm chất tíchcực của mình là động lực cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH Mối quan hệ nàythể hiện:

Thứ nhất, sự tác động của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

NNL, nhất là NNL qua đào tạo là yếu tố vật chất quan trọng nhất, quyếtđịnh nhất của lực lượng sản xuất, của nhận thức, lĩnh hội và sử dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất, thúc đẩy CNH, HĐH

và phát triển KT-XH như Lênin nói: "Nếu không có các chuyên gia am hiểu

Trang 22

các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất thì không thể nào cóbước chuyển lên xã hội XHCN", đặc biệt là NNL chất lượng cao, một yếu tốkhông thể thiếu của quá trình CNH, HĐH được LêNin viết: "Việc điện khíhoá không phải do những người mù chữ thực hiện được mà chỉ biết chữ thôithì không đủ điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấnhiện đại mà nếu không có nền học vấn hiện đại đó thì chủ nghĩa Cộng sản chỉ

là nguyện vọng mà thôi" Theo Lênin cái quyết định cho sự thắng lợi của trật

tự xã hội mới đối với xã hội cũ là năng suất lao động cao cho nên cần phảithực hiện sự phát triển NNL Từ ý tưởng đó có thể thấy để nâng cao năng xuấtlao động trước hết phải nâng cao trình độ tiến bộ của nền giáo dục và văn hoácủa đông đảo quần chúng nhân dân, tiếp đến phải nâng cao tinh thần kỷ luậtcủa người lao động, nâng cao tài khéo léo và trình độ thành thạo của NNL.Trên cơ sở đó, Đảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho quá trìnhCNH, HĐH đất nước là nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên,

cơ sở vật chất, tiềm lực khoa học công nghệ, các nguồn lực ngoài nước.Nhưng trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất".Nguồn lao động dồi dào, con ngươì Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần

cù sáng tạo có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoahọc và công nghệ đó là nguồn lực quan trọng" Sở dĩ như vậy vì NNL quađào tạo là lực lượng duy nhất có khả năng phát hiện, xác định mục tiêu, nộidung và các giải pháp đúng đắn để tiến hành CNH, HĐH Mặt khác NNL quađào tạo có ưu thế hơn hẳn các nguồn lực khác là nó không bao giờ cạn: "Trithức có tính chất lấy không bao giờ hết"

Chính vì vậy Đảng ta đã xác định: "Phương hướng chủ yếu phát triển trítuệ của con người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học công nghệ đàotạo để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" Nghị quyết Hộinghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII nhấn mạnh: "Muốn tiến

Trang 23

hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển Giáo dục đào tạo, lấy việc phát huynguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững".

Thực tiễn của nước ta và các nước đi trước đã chứng minh quá trìnhCNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụthuộc vào nhiều yếu tố nhưng trước hết tuỳ thuộc vào chất lượng NNL bởinền kinh tế thế giới đã phát triển theo hướng kinh tế tri thức, yếu tố tri thức

đã chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ lao động giản đơn trongsản phẩm chỉ còn 1/10, trí tuệ được coi là thước đo trình độ CNH và độnglực của quá trình phát triển Mặt khác trong xu thế toàn cầu hoá và việc mởrộng quan hệ giao lưu quốc tế hiện nay, các nước có thể khắc phục sự yếukém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường chuyển giao, khắc phục

sự thiếu vốn qua con đường nhập khẩu hoặc gia tăng nguồn vốn bằng cáchvay từ ngân hàng, quỹ phát triển của thế giới, nhưng không thể khắc phụchoàn toàn sự yếu kém về NNL qua nhập khẩu lao động hay vay mượn khảnăng sáng tạo của con người Vì vậy, Việt Nam cũng như tất cả các nướctrên thế giới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển NNL qua đào tạo Nghịquyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt nam đã chỉ ra rằng: "Phát huy nguồnlực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển Giáodục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sựnghiệp CNH, HĐH"

Chúng ta cần ý thức sâu sắc rằng đầu tư cho Giáo dục đào tạo là mộttrong những hướng chính của đầu tư phát triển; Giáo dục đào tạo phải thật

sự trở thành quốc sách hàng đầu, hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡngnguồn lực con người kịp thời và phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH Xét mộtcách tổng thể việc đào tạo NNL phải đáp ứng yêu cầu giải quyết mối quan

hệ cung - cầu lao động cả số lượng, chất lượng, cơ cấu, hạn chế tối đa việc

dư thừa bất hợp lý về lao động đã đào tạo trên tất cả các lĩnh vực Trước hếtphải đào tạo được những con người có khả năng để đảm nhận và hoàn thành

Trang 24

công việc ở cương vị công tác theo sự phân công lao động của xã hội Đó lànhững con người vừa có tài vừa có đức Theo tiêu chí của tài và đức thì hệthống các cơ sở đào tạo NNL phải làm thế nào để người học sau khi đượcđào tạo phải được trang bị kiến thức văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, kỹ năng, kỹ xảo thực hành, có năng lực hợp tác trong mọi hoạt động, cónăng lực nhận thức, vận dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, hiểu và biết vậndụng đường lối chính sách của Đảng, biết lựa chọn các giải pháp tối ưu chocác hoạt động của mình đồng thời phải có phẩm chất đạo đức tốt, biết đặtlợi ích của cộng đồng xã hội lên trên lợi ích cá nhân, có ý thức trách nhiệmcao đối với công việc, ý thức tự hào và phát huy truyền thống dân tộc, ý chívươn lên để thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu

Thứ hai, sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đến đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

Một là, đối với đào tạo NNL: Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đã và

đang mở ra cơ hội lớn đồng thời đòi hỏi rất nhiều ở giáo dục, đào tạo NNLĐại hội Đảng lần thứ IX đã xác định chỉ có thể thực hiện bằng con đường

"phát triển rút ngắn" mới thu hẹp được khoảng cách chênh lệch về trình độphát triển của nước ta so với các nước khác trên thế giới Tiến trình đó đòi hỏihoạt động giáo dục đào tạo phải có NNL đủ về số lượng, đảm bảo về chấtlượng và cơ cấu trình độ, đặc biệt phải có NNL trình độ cao

- Trong tiến trình CNH, HĐH đặt ra yêu cầu mới cho đào tạo NNL Với

tư cách là người sử dụng NNL qua đào tạo, nó đòi hỏi phải tuyển chọn để thuhút được một đội ngũ lao động có trình độ học vấn cao, tay nghề giỏi để thựchiện vai trò quyết định của NNL Ăng ghen nhấn mạnh "Muốn nâng sản xuấtcông nghiệp và nông nghiệp lên một mức độ cao mà chỉ có phương tiện cơgiới và hoá học phù trợ thì không đủ, còn cần phải phát triển một cách tươngxứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó nữa"

Trang 25

- CNH, HĐH còn là điều kiện vật chất cần thiết cho việc định hướngđào tạo và phát triển NNL Điều đó thể hiện ở chỗ:

+ CNH, HĐH là điều kiện vật chất tồn tại cần thiết để cải biến nếp nghĩ,nếp làm, vốn còn mang nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuất nhỏ của một bộ phậnđáng kể lực lượng lao động xã hội mà trong đào tạo nhất thiết phải tính đến

+ Trong mỗi giai đoạn phát triển của CNH, HĐH sự biến đổi về kinh

tế, kỹ thuật và công nghệ lại luôn thúc đẩy sự phát triển chất lượng của NNL

và đòi hỏi NNL qua đào tạo ngày càng nhiều và với chất lượng cao

+ CNH, HĐH còn là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu giảiphóng và phát triển con người một cách toàn diện Điều đó tác động khôngnhỏ đến mục tiêu đào tạo toàn diện NNL cho CNH, HĐH đất nước

Để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nhanh chóng đổi mới đưa

kỹ thuật công nghệ của nền sản xuất lên trình độ tiên tiến, thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, côngnghiệp, dịch vụ ngày càng tăng trong GDP và chuyển dịch cơ cấu lao độngtheo hướng tỷ trọng và số tuyệt đối của lao động nông nghiệp giảm, tỷtrọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp và dịch vụ tăng Đặc biệt CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn đòi hỏi việc đào tạo NNL không chỉ đáp ứngyêu cầu về chất lượng mà ngày càng phải tiến dần tới sự đáp ứng yêu cầu

về số lượng, quy mô, cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo cho các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực quản lý xã hội và sản xuấtkinh doanh ở nông thôn Trên cơ sở đó nâng cao năng suất lao động, hiệuquả sử dụng lao động và sức cạnh tranh của lao động nước ta Vì vậy việcđào tạo NNL phải làm tốt công tác dự báo, phải điều chỉnh quy hoạch đàotạo; bồi dưỡng thường xuyên NNL bao gồm cả đào tạo cao đẳng, đại học,THCN và đào tạo nghề với các cấp trình độ bán lành nghề, lành nghề, trình

độ cao cho các ngành, các lĩnh vực KT-XH để khắc phục sự bất cập vềtrình độ, quy mô, cơ cấu của NNL hiện nay để có thể tiếp thu sử dụng công

Trang 26

nghiệp hiện đại mới Vấn đề này đã đựơc nêu trong kết luận của Hội nghịTrung ương 6, khoá IX: "Điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng nhanh dạy nghề

và THCN Hiện đại hoá một số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũcông nhân bậc cao có trình độ tiếp thu và sử dụng công nghệ mới và côngnghệ cao"

Như vậy, vấn đề đào tạo NNL ở nước ta vừa phải đáp ứng yêu cầu chấtlượng, vừa phải đáp ứng yêu cầu số lượng, quy mô, cơ cấu trình độ và thựctiễn phát triển của các ngành nghề trong các lĩnh vực khác nhau, trên địa bànlãnh thổ khác nhau Điều đó có nghĩa là đào tạo NNL phải gắn với nhu cầuthực tiễn: nhu cầu NNL cần sử dụng để giải quyết sự mất cân đối "rất thiếunhưng rất thừa nhân lực hiện nay" như định hướng của Hội nghị Trung ương

6, khoá IX: "Nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục, phát triển quy môgiáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh

cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển KT-XH, đào tạo sử dụng"

Hai là, đối với sử dụng NNL: Đào tạo và sử dụng NNL là hai mặt

của sự phát triển Khi xác định chiến lược phát triển đất nước, đẩy mạnhCNH, HĐH Đảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho việc thựchiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là con người Việt Nam,nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học kỹ thuật vốn có vàcác nguồn lực ngoài nước (vốn, thị trường, công nghệ, kinh nghiệm quảnlý) Nhưng các nguồn lực đó tự nó không thể tham gia vào các quá trìnhKT-XH bởi phần lớn mới ở dạng tiềm năng Để thực hiện được mục tiêucủa CNH chúng ta không thể không khai thác, sử dụng phát huy tối đanguồn lực lâu bền và quan trọng nhất đó là NNL vì chỉ có con người mới

có thể tác động khai thác các nguồn lực đó biến nó ở dạng tiềm năng thànhhiện thực Hơn nữa, nguồn lực con người không chỉ quyết định sử dụnghiệu quả việc khai thác các nguồn lực tự nhiên mà còn góp phần tạo ra cácnguồn lực mới Như Mác- Ănghen đã nói: "Những con người có năng lực

Trang 27

phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm vững nhanh chóng toàn bộ

hệ thống sản xuất trong thực tiễn đáp ứng đựơc nhu cầu khai thác sử dụngcác nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội "

Đào tạo NNL đông đảo có trình độ chuyên môn là một vấn đề quantrọng nhưng việc sử dụng NNL đó như thế nào để phát huy được mọi tiềmnăng của nó, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ và sức sáng tạo lại càng quantrọng hơn Điều này đã được khẳng định thông qua kinh nghiệm thực tiễncủa các nước trong khu vực và thế giới Vấn đề thực tiễn đặt ra cho nước tahiện nay là với một nguồn lực lao động dồi dào nhưng còn nhiều bất cập vềtrình độ, cơ cấu, sự phân bổ lao động trong các ngành, vùng chưa hợp lýnhưng lại phải khắc phục sự tụt hậu quá xa về kinh tế kỹ thuật; bởi vậy cầnphải có chính sách phân công lao động hợp lý để có thể thu hút được tất cảlực lượng lao động xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có việc làm, có cơhội để cống hiến sức lực trí tuệ của mình cho sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước Lực lượng lao động phải được xem như một tổng thể nằm trong một

cơ cấu lao động thống nhất Ở đó, mỗi cá nhân người lao động được sửdụng đúng trình độ chuyên môn kỹ thuật, đúng công việc mà mình yêuthích theo hướng toàn dụng lao động Mặt khác dưới sự tác động của cuộccách mạng khoa học công nghệ hiện đại, lao động trí tuệ trở thành đặctrưng, với ý nghĩa đó việc khai thác phát huy tiềm năng lao động trí tuệ trởthành yêu cầu cơ bản nhất của sử dụng NNL qua đào tạo để đảm bảo năngsuất, hiệu quả lao động cao Trong điều kiện nền kinh tế mở, quan hệ phâncông và hợp tác lao động quốc tế ngày càng mở rộng, việc sử dụng NNLcàng mang tính mở rộng, tính quốc tế hoá cao Nhu cầu sử dụng người laođộng nước ngoài ở mỗi quốc gia trên thế giới hiện nay rất đa dạng vềchủng loại, cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, do vậy việc xuất khẩulao động là một lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng cần được chú ý tớitrong việc khai thác sử dụng lao động Xuất khẩu lao động dư thừa trong

Trang 28

nước, tăng thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ choNhà nước và mặt khác đây còn là con đường để đào tạo nguồn lao độngcho đất nước Do đó Nhà nước cần có chính sách khuyến khích cho hoạtđộng xuất khẩu lao động để khai thác lợi thế nguồn lao động dồi dào phục

vụ quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy quá trình CNH, HĐH ở nước tahiện nay đòi hỏi phải đào tạo NNL chất lượng cao và sử dụng NNL một cáchhiệu quả, mà CNH, HĐH với tư cách thuộc phía cầu của NNL trên thị trườnglao động ở nước ta

1.2 CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở BẬC ĐẠI HỌC 1.2.1 Quan niệm về chất lượng và chất lượng nguồn nhân lực

* Quan niệm về chất lượng

Chất lượng là một khái niệm mang tính tương đổi Vấn đề này đượcnhìn nhận ở hai khía cạnh Trước tiên, chất lượng liên quan đến người sửdụng do đó nó tuỳ thuộc vào yêu cầu của người sử dụng Cùng một sản phẩm,nhưng hai người sử dụng khác nhau sẽ có thể đánh giá khác nhau vì yêu cầucủa họ khác nhau Từ đó nảy sinh câu hỏi “chất lượng của ai?” Trong lĩnhvực giáo dục, có nhiều đối tượng liên quan bao gồm sinh viên, nhà quản lý,cán bộ giảng dạy, cán bộ phục vụ, chính phủ, các cơ quan cung cấp tài chính,v.v… mỗi đối tượng có một yêu cầu khác nhau, do đó có thể dẫn đến tiêuchuẩn về chất lượng của các đối tượng cũng khác nhau Thứ hai, chất lượngdựa vào sự khảo sát thực tế Theo quan niệm này thì chất lượng mang tínhtuyệt đối hơn Chất lượng là một ngưỡng tuyệt đối cần phải vượt qua được sựxếp loại về chất lượng Tuy nhiên, cũng có thể xác định được một ngưỡngtuyệt đối để đánh giá chất lượng, do đó nó cũng là một quá trình tương đối.Chất lượng có thể được xem như là một sự vượt trội, sự tuyệt hảo, sự phù hợpvới mục tiêu, có giá trị được thể hiện bằng tiền và có thể chuyển đổi

Trang 29

Trước đây, người ta coi chất lượng là một khái niệm “tĩnh” với tiêuchuẩn chất lượng được coi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài Ngàynay, chất lượng không gắn với một tiêu chuẩn cố định nào đó, mà “chất lượng

là một hành trình, không phải là một điểm dừng cuối cùng mà ta đi tới” Đây

là quan niệm “động” về chất lượng, trong đó chất lượng được xác định bởingười sử dụng sản phẩm - dịch vụ hay trong nền kinh tế thị trường còn gọi làkhách hàng Khách hàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụng sản phẩm - dịch vụ

có nghĩa là sản phẩm - dịch vụ đó có chất lượng

Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhaucũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng Có một số khái niệmtiêu biểu về chất lượng như:

Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của

sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với

sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Theo từ điển tiếngViệt, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 1999: Chất lượng biểu thị rabên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lạilàm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và khôngtách rời khỏi sự vật Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất đichất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật Vềcăn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượngcủa nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Một sự vật bao giờ cũng là

sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng

Theo GS Philip B Gosby, người Mỹ: Chất lượng là sự phù hợp vớinhững yêu cầu hay đặc tính nhất định

Theo tiêu chuẩn của Pháp NF X chất lượng là tiềm năng của một sảnphẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng

Nói như vậy, không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượngđến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất,mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi Tổ chức Quốc tề về Tiêu chuẩn hoá ISO,

Trang 30

trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khảnăng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình đểđáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan Ở đây yêu cầu

là nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán

Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệmchất lượng:

Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì

lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chấtlượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rấthiện đại Đây là một kết luận then chốt

Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luônbiến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, khônggian, điều kiện sử dụng

Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đếnmọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụthể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên cóliên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộngđồng xã hội

Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêuchuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sửdụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trongchúng trong quá trình sử dụng

Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá mà ta vẫnhiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình

Trên đây là các quan niệm, khái niệm chung về chất lượng mà khi xétcho từng đối tượng cụ thể thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử cụ thểcủa đối tượng đó

* Quan niệm về chất lượng nguồn nhân lực

Trang 31

Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn

ở khía cạnh chất lượng Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổnghợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, tâm lực Nóthể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là mộtkhách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và cácquan hệ xã hội Trong đó:

- Thể lực con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chămsóc sức khoẻ và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể Một cơ thể khoẻ mạnhthích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng nhucầu của một hoạt động cụ thể nào đó Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyếtđịnh năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực con người mới trởthành lực lượng lao động và tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tạo

ra của cải vật chất cho xã hội

- Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiếnthức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xétđoán của mỗi con người Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã được

xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người, được thực hiệnqua nhiều kênh khác nhau Nó được hình thành phát triển thông qua quátrình giáo dục, đào tạo cũng như trong quá trình lao động sản xuất

- Tâm lực (phẩm chất, đạo đức) là những đặc điểm quan trọng trongyếu tố xã hội của nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những tình cảm, tậpquán, phong cách thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng,đạo đức và nghệ thuật , gắn liền với truyền thống văn hoá Một nền văn hoávới bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một dân tộc Kinh nghiệmthành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NIC Châu Á

là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy giá trị tốtđẹp của nền văn hoá dân tộc để đổi mới và phát triển

Trang 32

Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, là tiền đề pháttriển của nhau Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải nâng cao cả

ba mặt: thể lực, trí lực, phẩm chất Tuy nhiên ở mỗi yếu tố trên lại liên quanđến một lĩnh vực rất rộng lớn Thế lực và tình trạng sức khoẻ gắn với dinhdưỡng, y tế, chăm sóc sức khoẻ Trí lợi gắn liền với lĩnh vực giáo dục và đàotạo Còn phẩm chất đạo đức chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hoá dântộc, thể chế chính trị của mỗi quốc gia

1.2.2 Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

Từ các quan niệm về chất lượng và chất lượng nguồn nhân lực có thểđưa ra quan niệm về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực như sau:

Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là tổng thể năng lực về trí lực củamột tập hợp nhóm nhiều người trong mối tương quan với khả năng đáp ứngyêu cầu phát triển bản thân con người và phát triển kinh tế - xã hội, những nănglực này được hình thành phát triển thông qua giáo dục, đào tạo nghề nghiệp

Từ quan niệm trên có thể hiểu chất lượng đào tạo nguồn nhân lực dướicác góc độ sau đây:

- Năng lực về trí lực là một trong ba yếu tố cấu thành chất lượngnguồn nhân lực

- Một tập hợp nhóm nhiều người mới thành nguồn nhân lực có thể vậndụng vào chất lượng đào tạo của trường bậc học và ngành nghề cụ thể

- Khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển không chỉ bản thân con ngườiđược đào tạo để nâng cao trí lực mà còn đáp ứng nhu cầu của thị trường laođộng cho phát triển kinh tế - xã hội

- Năng lực được hình thành và phát triển phải thông qua giáo dục, đàotạo nghề nghiệp

Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tínhsáng tạo thích ứng với xã hội của con người Nói đến trí lực là nói đến yếu tốtinh thần, trình độ văn hoá và học vấn của con người, biểu hiện ở khả năng

Trang 33

vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằmđạt hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định hướng giá trị hoạt động của bảnthân để đạt được mục tiêu Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn khả năngsáng tạo của con người, là yếu tố ngày càng đóng vai trò quan trọng và quyếtđịnh trong chất lượng nguồn nhân lực nói riêng và sự phát triển của nguồnlực con người nói chung Để nâng cao trí lực của nguồn nhân lực cần phảiđảm bảo:

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở tất cả các bậc học Trong

đó, bước quan trọng đầu tiên là phải có sự đổi mới cả về mục tiêu, chươngtrình và phương pháp dạy học từ bậc phổ thông đến đại học nhằm đảm bảocung cấp cho người học những kiến thức cơ bản làm nền tảng cho hoạt độngthực tiễn sau này của họ Phương pháp dạy học phải xuất phát từ mục tiêuđào tạo, gắn với nội dung và phù hợp với điều kiện của sinh viên; rèn luyện

và tạo điều kiện cho sinh viên biểu đạt vấn đề theo quan điểm và cách nhìncủa mình, tạo thói quen suy nghĩ độc lập cho người học

Chuẩn hoá chương trình và giáo trình đào tạo đảm bảo phù hợp vớiyêu cầu của thực tiễn xã hội, xác định ngành nghề mũi nhọn nhằm đào tạođội ngũ chuyên gia có trình độ cao Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa họccủa giảng viên và sinh viên Tập trung vào quản lý nội dung và chất lượnggiáo dục và đào tạo, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với các cơ

sở giáo dục và đào tạo

Phương pháp đào tạo thích hợp giúp người học có những kiến thức cơbản để làm việc Hơn thế nữa là có khả năng tiếp cận với các công nghệ hiệnđại, có khả năng sáng tạo và phát triển trong công việc, có các kỹ năngnghiệp vụ tốt để thích ứng với môi trường làm việc

Chuẩn hoá đội ngũ giảng viên, đảm bảo sự kết hợp giữa kiến thứcchuyên môn với phương pháp sư phạm hiện đại, có tư cách đạo đức tốt,phương pháp tư duy khoa học

Trang 34

Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với nhiệm vụ sảnxuất kinh doanh Trong đó lấy con người làm trọng tâm, phát huy tiềm lựccủa người học, bảo đảm hiệu quả công việc.

Có kế hoạch cụ thể và dài hạn để đào tạo cán bộ quản lý, lao động có

kỹ thuật chuyên môn cao, áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại Gắn việcđào tạo cán bộ quản lý với chiến lược phát triển của doanh nghiệp để sửdụng hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo

1.2.3 Các nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở bậc Đại học

Chất lượng đào tạo NNL chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cảyếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài

1.2.3.1 Các nhân tố bên trong

Đào tạo NNL chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trongcủa chính quá trình đào tạo bao gồm: yếu tố tổ chức quản lý của cơ sở đàotạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, nội dung chương trình đào tạo, hệ thốngmục tiêu, tuyển sinh, kiểm tra đánh giá v.v… Những yếu tố này được coi lànhững yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Chúng ta xét một

số yếu tố chính như sau:

* Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

Giáo viên giảng dạy cũng là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức

lý thuyết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho sinh viêntrên cơ sở trang thiết bị dạy học hiện có Vì vậy, năng lực giáo viên tác độngtrực tiếp đến chất lượng đào tạo

Đào tạo đại học có những nét khác biệt với các cấp học khác trong nềngiáo dục quốc dân đó là đa dạng các hình thức đào tạo: chính quy, tại chức,liên thông, sau đại học, v.v… Do đó, đội ngũ giáo viên đòi hỏi phải có đủ cả

về số lượng và chất lượng Đủ về số lượng thì mới có thể dành nhiều thời gianhơn cho việc nghiên cứu bài giảng, có thể tận tình hướng dẫn sinh viên Giáo

Trang 35

viên có chất lượng thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho sinh viên mộtcách hiệu quả.

Ngoài đội ngũ giảng viên thì đội ngũ cán bộ quản lý cũng ảnh hưởngđến chất lượng đào tạo đại học Trong giai đoạn trước đây, vai trò của cán bộquản lý trong các cơ sở đạo tạo không được đánh giá đúng mức Trong giaiđoạn hiện nay, nhất là trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và canh tranhtrong lĩnh vực giáo dục đòi hỏi cán bộ quản lý phải là những người thực sự cótrình độ Chất lượng cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng rất lớn đến đào tạo thểhiện ở khả năng tổ chức, quản lý, điều phối quá trình đạo tạo, tìm kiếm cơ hộihợp tác và liên kết đào tạo v.v…

* Cơ sở vật chất, tài chính

Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, thư viện, tài liệu học tập, trangthiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, v.v… Đây là yếu tố hết sức quantrọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo thư viện, giáo trình, tàiliệu học tập và trang thiết bị phục vụ giảng dạy là yếu tố không thể thiếu trongquá trình đào tạo vì nó giúp cho sinh viên có điều kiện học tập, nghiên cứu,cập nhất kiến thức mới nhất trong nước cũng như trên thế giới

Tài chính cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chất lượngđào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng đào tạo thông qua khả năng trang

bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo, bồidưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, v.v…

* Nội dung chương trình (chương trình nghề nghiệp chuyên sâu và kỹ năng nghề nghiệp)

Nội dung chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản

lý nhà nước các cấp, các ngành đối với hoạt động của các cơ sở đào tạo.Chương trình đào tạo được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trongnhững yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo Không có chươngtrình đào tạo sẽ không có các căn cứ để xem xét, đánh giá bậc đào tạo của các

Trang 36

đối tượng tham gia đào tạo và việc đào tạo sẽ diễn ra không theo một tiêuchuẩn thống nhất.

Chương trình đào tạo gắn liền với ngành đào tạo Không có chươngtrình đào tạo chung cho tất cả các ngành đào tạo, mà mỗi ngành đều cóchương trình riêng Do vậy, một cơ sở đào tạo có thể có rất nhiều chươngtrình đào tạo nếu như cơ sở đó đào tạo nhiều chuyên ngành Điều này đòi hỏiviệc nghiên cứu, đánh giá thực trạng về chương trình đào tạo không thể chỉ căn

cứ vào cơ sở đào tạo mà phải căn cứ vào chuyên ngành mà cơ sở đó đào tạo

Với giáo trình cũng tương tự, giáo trình là những quy định cụ thể hơncủa chương trình về từng môn học cụ thể trong đào tạo Nội dung giáo trìnhphải tiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc đào tạomới sát thực tế và hiệu quả đào tạo mới cao Việc nghiên cứu, xây dựngchương trình, giáo trình sao cho hợp lý và sát với nhu cầu thực tiễn rất quantrọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo

* Yếu tố đối với người học (Đối tượng đào tạo)

Người học là nhân tố quan trọng nhất, có tính quyết định đối với côngtác đào tạo, nó ảnh hưởng toàn diện đến công tác đào tạo Trình độ văn hóa,

sự hiểu biết, sự nghiên cứu tìm tòi, ham học hỏi, tâm lý, cá tình, khả năng tàichính, quản lý quỹ thời gian…của bản thân người học có ảnh hưởng sâu sắcđến quy mô và chất lượng đào tạo trình độ văn hóa, khả năng tư duy sáng tạo

và sự nghiên cứu, học hỏi của người học càng cao thì chất lượng càng tốt vàngược lại

Trên đây là những yếu tố cơ bản bên trong của quá trình đào tạo Chấtlượng của các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp và quyết định đến chất lượngđào tạo nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo Tuy nhiêu, hệ thống đào tạo vậnhành trong môi trường văn hóa, kinh tế, chính trị xã hội nhất định và cũngchịu sự tác động qua lại của điều kiện môi trường bên ngoài

1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài

Trang 37

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thuộc nhiềulĩnh vực khác nhau như: thị trường lao động, thể chế chính trị, kinh tế, xãhội, khoa học, công nghệ, truyền thống, văn hóa, v.v… Tuy nhiên cần quantâm hơn đến một yếu tố cơ bản như: Hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướngtoàn cầu hóa, sự phát triển của khoa học công nghệ, thể chế chính trị, sựphát triển kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách, quy mô và cơ cấu lao động,nhận thức xã hội về đào tạo đại học Các yếu tố này có thể khái quát như sơ

đồ sau:

Hình 1.1: Các yếu tố tác động chất lượng đào tạo

1.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

1.3.1 Các mô hình đánh giá chất lượng

Điều kiện môi trường đào tạo

-Mục tiêu đào tạo

Chất lượng đào tạo

Thông tin phản hồi

Trang 38

1.3.1.1 Đánh giá chương trình đào tạo

Để đánh giá chất lượng đào tạo, người ta đánh giá chương trình đàotạo Để đánh giá chương trình đào tạo cần phải xác định nhu cầu trước khixây dựng mục tiêu mà việc đánh giá phải hướng đến Chẳng hạn như để đánhgiá chương trình đào tạo trước tiên cần xác định hướng đi và dựa vào đó xây dựng

kế hoạch đánh giá để xác định xem chương trình đó có thành công không?

Đánh giá chương trình có liên quan đến các giai đoạn khác nhau trongxây dựng và triển khai chương trình đào tạo Hình vẽ dưới đây mô tả một môhình đánh giá chương trình đào tạo:

CC

Kiểm tra

Phán xétNhận xét

Hình 1.2: Mô hình đánh giá chương trình đào tạo

- Hình tròn (1) và (2) mô tả chương trình được thiết kế

- Hình tròn (3) và (4) mô tả chương trình được triển khai

- Mũi tên liền nét chỉ các lĩnh vực trong các hoạt động đánh giá

- Mũi tên đứt đoạn thể hiện các hoạt động được tiến hành trong giaiđoạn xây dựng

CÁC

ĐẶC TRƯNG

(1)

KẾT QUẢ THỰC TẾ (4)

HOẠT ĐỘNG THỰC TẾ (3)

HOẠT ĐỘNG

DỰ KIẾN

(2)

Trang 39

Mối quan hệ:

- Các đặc trưng (1) và Kết quả (4) là một chủ điểm chính trong hầu hếtcác nghiên cứu đánh giá Công cụ này thường được sử dụng trong phạm vinày là kiểm tra về kết quả theo nhiều thể loại khác nhau

Trong biểu đồ trên, một đường kẻ liền nét giữa hai yếu tô này chỉ rarằng loại thông tin này không thể thu thập được nếu chưa tiến hành thí điểmtài liệu chương trình

- Các đặc trưng (1) và Hoạt động dự kiến (2) được nối với nhau bằngđường đứt nét cho thấy mối quan hệ giữa các đặc trưng chương trình và cáchoạt động dự kiến chỉ có thể được nghiên cứu ở giai đoạn xây dựng tài liệuthông qua các quá trình phán xét Các kết quả đạt được ở giai đoạn này khôngcần được nghiên cứu lại ở giai đoạn thử nghiệm

- Các hoạt động dự kiến (2) và các hoạt động thực tế (3) cho thấy: Cầnphải thiết kế các nghiên cứu thử nghiệm với mục đích dự đoán mức độ triển khaicủa chương trình dự kiến Nếu các chuyên gia dự tính rằng chương trình sẽkhông được triển khai và họ cho là các hoạt động thực tế sẽ khác xa với các hoạtđộng dự kiến thì các nhà xây dựng chương trình phải sửa đổi chương trình đểlàm tăng khả năng thực hiện chương trình Việc thực hiện chương trình dự kiến

có khả năng thất bại khi các hoạt động dự kiến đặt ra những yêu cầu không hợp

lý đối với nhà trường, đối với giáo viên và đặc biệt là các yêu cầu về nguồn lực

Trong quá trình xây dựng chương trình, nên sử dụng cả hai loại nghiêncứu dự đoán và quan sát thực nghiệm Chương trình dự thảo sẽ được gửi đếncác chuyên gia để phán xét và chỉnh sửa, sau đó sẽ tổ chức thí điểm và đánhgiá trên cơ sở thí điểm

- Các hoạt động thực tế (3) và kết quả thực tế (4) cần được nghiên cứubằng thực nghiệm dựa trên dữ liệu quan sát và đạt được Các nghiên cứu thựcnghiệm được tiến hành song song với điều tra về sự phù hợp giữa các đặc trưng

và các hoạt động học tập dự kiến Các nghiên cứu loại này được sử dụng rộng rãi

Trang 40

trong các kế hoạch xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo Do vậy, có hailĩnh vực mà đánh giá phán xét có thể có giá trị là sự phù hợp giữa các đặc trưng

và các hoạt động dự kiến hoặc sự phù hợp giữa các hoạt động dự kiến và thực tế

1.3.1.2 Mô hình đánh giá của Mỹ

Mô hình đánh giá hiệu quả của Mỹ dựa vào 4 yếu tố:

- Đầu vào (Inputs) bao gồm các yếu tố liên quan đến người học (nhưtrình độ chung lúc vào học, trình độ, giới tính…), lực lượng giảng viên, cơ sởvật chất, máy móc thiết bị phục vụ giảng dạy, giáo trình, tài liệu học tập, kinhphí đào tạo

- Hoạt động (Activities): kếhoạch tổ chức đào tạo, các dịch vụ hỗ trợhọc tập, tổ chức nghiên cứu khoa học,…

- Đầu ra (Outputs): Mức tiếp thu của người học đến khi tốt nghiệp(kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, thái độ), tỷ lệ tốt nghiệp

- Hiệu quả (Outcomes): Mức độ tham gia vào xã hội, mức độ đáp ứngtrong công việc, mức thu nhập

Hình 1.3: Mô hình đánh giá của Mỹ

1.3.1.3 Mô hình các yếu tố tổ chức B

Mô hình đưa ra 5 yếu tố để đánh giá như sau:

- Đầu vào: sinh viên, giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo,quy chế, tài chính…

- Quá trình đào tạo: phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo…

- Kết quả đào tạo: mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được vàkhả năng thích ứng của sinh viên,

ĐẦU

VÀO

(Inputs)

HOẠT ĐỘNG (Activities)

ĐẦU RA (Outputs)

HIỆU QUẢ (Outcomes)

Ngày đăng: 15/10/2020, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w