1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu tìm hiểu vẻ đẹp của con người việt nam trong thời kỳ hiện đại

78 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 429,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thời đại ngày nay, tất cả các nước, trong đó có Việt Nam phải hòa mình vào toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa vừa mang lại những điều kiện thuận lợi nhất cho các nước đang phát triển, nhưng nó cũng là thảm họa nếu như hòa vào nó không đúng cách. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định: “toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này…vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”6, tr.46. Như vậy, toàn cầu hóa đưa con người ở các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn. Khi xích lại gần nhau hơn, con người giao lưu học hỏi lẫn nhau. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, cả cái tích cực và tiêu cực đang trộn lẫn và tràn lan trong xã hội chúng ta. Những cái tích cực thì không có gì bàn nhiều, có chăng là duy trì và phát huy thêm nữa. Cái cần bàn đến và cần có giải pháp ngăn chặn kịp thời là những mặt tiêu cực đang ngày càng xâm nhập, thẩm thấu vào những con người trước đây vốn dĩ có nhiều cái đẹp thì nay lại trở thành cái xấu, cái ác của xã hội. Một số người đang bị nó mê hoặc và ngày càng suy thoái về đạo đức lối sống, đang trong tình trạng lu mờ những giá trị truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam như: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, siêng năng, cần cù trong lao động, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, sống có lý tưởng cao đẹp, tâm hồn trong sáng rộng mở, lạc quan, yêu đời, v.v… Thực tế đó theo quan điểm mỹ học, vẻ đẹp thật sự ở nhiều người đã bị nhạt nhòa, tiêu tán. Trước thực trạng trên, là một công dân nước Việt Nam, người con của Đảng, tác giả chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện đại” để nêu lên bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp nhằm khôi phục lại kịp thời vẻ đẹp ở chính con người Việt Nam đã từng có được và phát huy hơn nữa vẻ đẹp ấy trong giai đoạn lịch sử mới của dân tộc.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời đại ngày nay, tất cả các nước, trong đó có Việt Nam phải hòamình vào toàn cầu hóa Toàn cầu hóa vừa mang lại những điều kiện thuận lợinhất cho các nước đang phát triển, nhưng nó cũng là thảm họa nếu như hòavào nó không đúng cách Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định:

“toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này…vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”[6, tr.46].

Như vậy, toàn cầu hóa đưa con người ở các nước có điều kiện xích lạigần nhau hơn Khi xích lại gần nhau hơn, con người giao lưu học hỏi lẫn

nhau “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, cả cái tích cực và tiêu cực đang

trộn lẫn và tràn lan trong xã hội chúng ta Những cái tích cực thì không có gìbàn nhiều, có chăng là duy trì và phát huy thêm nữa Cái cần bàn đến và cần

có giải pháp ngăn chặn kịp thời là những mặt tiêu cực đang ngày càng xâmnhập, thẩm thấu vào những con người trước đây vốn dĩ có nhiều cái đẹp thìnay lại trở thành cái xấu, cái ác của xã hội Một số người đang bị nó mê hoặc

và ngày càng suy thoái về đạo đức lối sống, đang trong tình trạng lu mờnhững giá trị truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam như: lòng yêunước, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, siêng năng, cần cùtrong lao động, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, sống có lý tưởng cao đẹp, tâmhồn trong sáng rộng mở, lạc quan, yêu đời, v.v… Thực tế đó theo quan điểm

mỹ học, vẻ đẹp thật sự ở nhiều người đã bị nhạt nhòa, tiêu tán

Trước thực trạng trên, là một công dân nước Việt Nam, người con của

Đảng, tác giả chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện đại” để nêu lên bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam

và kiến nghị một số giải pháp nhằm khôi phục lại kịp thời vẻ đẹp ở chính conngười Việt Nam đã từng có được và phát huy hơn nữa vẻ đẹp ấy trong giaiđoạn lịch sử mới của dân tộc

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu

Đề tài về “cái đẹp” có rất nhiều người đã nghiên cứu, như: “Cái đẹp tromg cuộc sống và trong nghệ thuật”, Tác giả Như Thuyết [17], “Đẹp là gì?”, tác giả Phạm Quỳnh, Sách Thượng Chi văn tập – Bộ Quốc gia Giáo dục (1962); “Cái đẹp nghệ thuật và đời sống xã hội”, tác giả Vũ Minh Tâm, Tạp chí triết học; “Giá của sắc đẹp”, tác giả Nguyễn Việt Hà, Tạp chí sống mới; “Cái đẹp muôn hình muôn vẻ”, tác giả Văn Ngọc, Báo Tia sáng; “Cái nết, cái đẹp trong nền kinh tế tri thức”, GS Tương Lai, Báo Người lao động; “Người Việt đẹp”, Tác giả Đỗ Bỉnh Quân, Tạp chí Tinh

hoa; “Cái đẹp trong mắt ai”, tác giả Phan Cẩm Phượng, Tạp chí Khoa Học

và đời sống; “Bàn về cái đẹp”, tác giả Nguyễn Hào Hải, Báo An ninh thế giới; “Vẻ đẹp quanh ta”, tác giả Phạm Ngọc, Tạp chí Phong cách; “Tụng

ca vẻ đẹp cuộc sống”, Tác giả Nguyễn Tất Thịnh, Giảng Viên Học Viện

Hành Chính Quốc gia (chuyên đề bàn về văn hóa ứng xử của người Việt

Nam); “Văn hóa sắc đẹp”, tác giả Chàng Báo, Tạp chí Mốt; “Người ta ngày càng đẹp lên hay xấu đi”, tác giả Hà Phạm Phú, Tạp chí Vòng đời;

Song mỗi người khai thác ở những góc độ, khía cạnh khác nhau Mỗi góc

độ, khía cạnh mà các tác giả đề tài trước khai thác nó có ý nghĩa nhất địnhtrong những lĩnh vực nhất định Ngay cả vẻ đẹp của con người thì cũngkhông bàn một cách tổng thể, khái quát mà cũng chỉ bàn một mặt nào đó

trong vẻ đẹp ấy Còn với đề tài “Bước đầu tìm hiểu vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện đại”, đây là một đề tài mới, có đối tượng về vẻ

đẹp con người rộng nhất, bao quát nhất, toàn diện nhất Đề tài không theolối mòn của những đề tài khác đã nghiên cứu, nó như một bước đột phá,bước tiến sâu rộng trong đối tượng nghiên cứu để giúp mọi người hướngtới cái đẹp hoàn bị nhất mà xã hội đang đặt ra Nhất là trong điều kiện ViệtNam đang xây dựng xã hội xã hội chủ chủ nghĩa thì nhất thiết phải làmsáng tỏ để góp phần vào việc xây dựng con người đẹp – “con người mới” –con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài này là những tiêu chí của vẻ đẹp conngười Tuy nhiên, những tiêu chí này không phải tiêu chí của một cuộc thi sắcđẹp mà là tiêu chí đẹp của con người đạt tới sự hoàn mỹ Con người đạt đượcnhững tiêu chí này thì người đó đã đạt đến giá trị chân – thiện – mỹ Trong cáiđẹp của con người có cái đẹp về mặt nội dung và cái đẹp về mặt hình thức.Trong cái đẹp về hình thức thì có: “hình thức thuần túy” (hình thể, sắc diện,

âm sắc trong lời nói, phục sức trang điểm) và “hình thức nội dung” (dáng đi,

cử chỉ, ngôn ngữ) Trong cái đẹp nội dung, đối tượng là vẻ đẹp: tâm hồn; tìnhcảm; trí tuệ; tư tưởng; phẩm chất cần cù, siêng năng, vượt khó; chiến đấu vìcông bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội; tham gia công tác xã hội, những việclàm từ thiện và trong việc tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Phạm vi đề tài nghiên cứu là xoay quanh con người Việt Nam, từ xaxưa cho đến hôm nay và còn nhìn ở tương lai Việt Nam là quốc gia đa dântộc, cho nên đi sâu vào những nét đẹp riêng của mỗi dân tộc cũng có ý nghĩalàm sáng tỏ, thấu đáo hơn cho những vẻ đẹp chung của con người Việt Nam

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Như tên đề tài “vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện

đại”, nghĩa là tác giả đi tìm vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời đại

ngày nay, dù những vẻ đẹp ấy đang bị đan xen, trộn lẫn với cái xấu, cái ác.Tìm ra vẻ đẹp đó không phải chỉ để chiêm ngưỡng hay ca tụng, mà phải rasức củng cố, phát huy, tôn vinh hơn nữa những vẻ đẹp ấy trong thời đại mới

Đó chính là mục đích nghiên cứu của đề tài

Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên tác giả tập trung giải quyết cácvấn đề sau:

Chương 1: Tác giả khái lược những tư tưởng mỹ học trước Mác về cái

đẹp nói chung; lý luận về cái đẹp của mỹ học Mác – Lênin nói riêng, từ đólàm rõ vẻ đẹp nội dung và vẻ đẹp hình thức của con người Đặc biệt trongchương 1 này, tác giả khái quát lên vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời

kỳ hiện đại

Trang 4

Chương 2: Tác giả làm rõ đặc điểm chung của thế giới và thời cơ, thách

thức của Việt Nam trong xu thế ngày nay, vạch ra sự tác động đó ảnh hưởngtiêu cực đến vẻ đẹp người Việt Nam đồng thời nêu ra kiến nghị giải pháp phùhợp nhằm giúp người Việt Nam kịp thời khôi phục và phát huy vẻ đẹp lên

tầm cao mới Đúng như nhà nghiên cứu mỹ học Như Thiết nói “đưa cái Đẹp vào các lĩnh vực quan trọng của cuộc sống mà còn phải chủ động và củng cố

và phát triển cái Đẹp trong cuộc sống hiện nay” [17, tr.111], mang lại cái đẹp

cho mọi người và hướng đến cái đẹp chung của xã hội Việt Nam và cái đẹpcủa toàn nhân loại

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Về cơ sở lý luận: không có cơ sở lý luận nào đúng đắn hơn hệ thống

triết học nói chung, mỹ học nói riêng của chủ nghĩa Mác – Lênin Sự vậndụng triết học ở các quan điểm (toàn diện, khách quan), các phạm trù mà đặcbiệt là vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, giải thích, nghiên cứunhững vấn đề trong xã hội một cách đúng đắn, toàn diện

Đối với mỹ học Mác - Lênin cung cấp những tiêu chí về cái đẹp hay

mỹ học Mác - Lênin vừa cung cấp lý luận về nội dung và vừa là tiêu chí củacái đẹp, từ đó tạo nên cơ sở khoa học cho đề tài

- Về phương pháp: là một đề tài mang tính xã hội cao, nên tác giả phải

vận dụng nhiều phương pháp như: phân tích, chứng minh, diễn giải, khái quáthóa… để làm rõ vấn đề từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp với nhữngthực trạng của xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài có những đóng góp sau:

Thứ nhất về mặt lý luận: tác giả đề tài khái quát cơ bản đầy đủ những tư

tưởng mỹ học về cái đẹp từ cổ đại cho đến nay, nhưng trọng tâm hơn cả vẫn

là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin xoay quanh cái đẹp con người nói riêng

và phạm trù cái đẹp nói chung

Thứ hai là về thực tiễn: hiện nay Việt Nam đang hòa mình vào xu thế

chung của thế giới đó là vấn đề toàn cầu Toàn cầu hóa làm cho con người

Trang 5

sống luôn nghĩ đến vấn đề vật chất, lao mình vào công việc để kiếm tiền màđôi lúc quên đi việc giữ cho mình những hình ảnh đẹp, hay sự xao lãng việc

tu rèn những cái đẹp vốn đã tồn tại trong mỗi người ngày một tốt đẹp hơn.Trước thực tiễn như thế, tác giả đề tài đã vạch ra được những cái đẹp màngười Việt Nam hiện đang còn giữ được; nhưng cũng đồng thời vạch rõnhững mặt hạn chế, yếu kém, những cái xấu, cái ác mà một số người hiệnđang bị lây nhiễm từ quá trình tòa cầu hóa Quá trình vạch ra rõ cái đẹp và cáichưa đẹp, không đẹp, thậm chí là cái ác đó nó nhằm giúp mọi người cảnh tỉnh

về mình Từ đó mọi người phát huy hơn nữa cái đẹp đang sở hữu và đồng thờithấy được cái chưa đẹp, cái xấu, cái ác mà chừa đi, hướng mình về giá trị cáiđẹp Chính việc bám riết vào thực trạng xã hội cũng là việc kết hợp, vận dụngtriết học vào trong khi nghiên cứu mỹ học, nên có đóng góp thứ ba

Thứ ba là nhóm giải pháp để rèn luyện, phấn đấu để vươn tới cái đẹp:

theo nguyên tắc khách quan, muốn thay đổi ý thức con người, trước hết phảilàm thay đổi thực tiễn xã hội (vì vật chất quyết định ý thức), và muốn có mộtgiải pháp phù hợp phải nhận định đúng thực tiễn Từ thực tiễn Việt Nam nhưhiện nay được nhiều nhà nghiên cứu nhận định, bên cạnh đó còn có quanđiểm của Đảng, cho nên thực trạng được phản ánh một cách đúng đắn, cơ bản

và đầy đủ Kết quả đó cho phép tác giả rút ra một nhóm giải pháp phù hợp vớithực trạng xã hội, có thể ứng dụng vào xã hội Việt Nam để giúp mọi người

vươn tới cái đẹp cho bản thân và cái đẹp cho toàn xã hội

Trang 6

Chương I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁI ĐẸP

VÀ VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM

1.1 Những quan niệm phi macxit về cái đẹp

Trước khi xuất hiện những quan niệm mỹ học của chủ nghĩa Mác –Lênin thì ngay từ thời Hy Lạp cổ đại cũng đã có nhiều triết gia bàn đến vấn đềcái đẹp Trong đó chủ yếu là hướng đến cái đẹp của con người, những tưtưởng mỹ học nêu trên được khái quát sau đây:

1.1.1 Chủ nghĩa duy tâm khách quan

Thời Hy Lạp cổ đại, do ảnh hưởng của thế giới quan cho rằng: thế giớicác sự vật thụ cảm là cái bóng của thế giới “ý niệm”, Platon thừa nhận vẻ đẹpcủa các sự vật, hiện tượng, nhưng đó chỉ là những vẻ đẹp nhất thời, thoángqua Ông cho cái đẹp bền vững và vĩnh hằng đó chính là cái đẹp của ý niệm

Platon khẳng định: “cái đẹp tồn tại vĩnh cửu,…nó không nảy sinh, không bị hủy diệt, không tăng, không giảm,…nó không phải là đẹp ở chỗ này mà không đẹp ở chỗ kia,… cũng không phải đẹp ở phương diện này, xấu về phương diện khác…”[14, tr.99]

Dù rằng phủ nhận tính khách quan của cái đẹp nhưng Platon cũng thừanhận cái đẹp là sự hài hòa, cân xứng, hoàn thiện, hoàn mỹ nhưng mặt khác lạicho rằng cái đẹp nó không gắn liền với sự vật mà ta thường thấy Cái đẹp của

Platon chỉ tồn tại trên thượng giới, khi chúng ta “bước theo thần Du-pi-te trong tiếng nhạc hòa tấu của thiên đình”[11, tr.45], lúc đó cái đẹp “ánh lên”

như một thực thể Còn cái mà chúng ta thấy đẹp ở hạ giới chỉ là “cái bóng” củamột “ý niệm” đẹp chiếu rọi từ thiên đình xuống hay cái đẹp mà ta thấy cái đẹp

đó là hình ảnh, là hào quang của ý niệm siêu nhiên, thần thánh Các sự vật đẹp

sở dĩ đẹp là vì tinh thần thượng đế đã nhập vào chúng, làm cho chúng đẹp

Platon còn phân loại các vẻ đẹp khác nhau theo cấp độ: vẻ đẹp hìnhdáng, vẻ đẹp chi tiết, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp trí tuệ, vẻ đẹp tư tưởng Trong

đó vẻ đẹp tư tưởng là vẻ đẹp cao nhất

Trang 7

Từ luận điểm này cho thấy Platon không thừa nhận vẻ đẹp khách quan củacon người, mà cái đẹp vĩnh hằng của con người đó là “ý niệm” đẹp về con người.

Hegel một nhà triết học duy tâm khách quan thời cổ điển Đức, ngoàinhững tư tưởng sâu sắc về triết học, logic ông còn có những quan điểm rất giátrị về cái đẹp Tuy nhiên Hegel không quan tâm đến cái đẹp trong tự nhiên,ông thấy chúng mờ nhạt, không đáng được mỹ học nghiên cứu mà trú trọng lýgiải bản chất cái đẹp như là biểu hiện cảm tính của “ý niệm tuyệt đối” ở trongnghệ thuật Vì vậy, trong khi đề cao cái đẹp trong nghệ thuật, ông lại đồng

thời hạ thấp cái đẹp trong tự nhiên Ông dứt khoát khẳng định: “…Ngay từ bây giờ đã có thể cho rằng cái đẹp nghệ thuật cao hơn cái đẹp tự nhiên Vì cái đẹp nghệ thuật là cái đẹp nảy sinh và hai lần nảy sinh từ tinh thần Tinh thần và những sáng tạo của nó càng cao hơn tự nhiên bao nhiêu thì cái đẹp nghệ thuật càng cao hơn cái đẹp tự nhiên bấy nhiêu”[ 8, tr.11-12] Từ đó ông tuyên bố: “Chúng tôi loại trừ cái đẹp trong tự nhiên ngay từ đầu, ra khỏi phạm vi bộ môn khoa học của chúng tôi”[15, tr.101] Khi loại trừ cái đẹp

trong tự nhiên ra khỏi đối tượng nghiên cứu của mỹ học thì ông đồng nhất cáiđẹp trong nghệ thuật với lý tưởng và lý giải đó là sự kết hợp cân đối giữa cáichung và cái riêng, giữa nội dung và hình thức Ngay trong nghệ thuật cái đẹpcũng biểu hiện qua các cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào sự tương xứng giữanội dung và hình thức

Như vậy, cả Platon và Hegel đều thừa nhận có cái đẹp, nhưng nó khôngtồn tại cảm tính mà nó chỉ tồn tại ở thế giới ý niệm và khảm nhập vào sự vật,hiện tượng trong thế giới này Cho nên không có cái đẹp trong hiện thực, cóchăng chỉ là nhất thời, thoáng qua, là “cái bóng” của thế giới ý niệm

1.1.2 Chủ nghĩa duy tâm chủ quan

Trong khi các nhà mỹ học duy tâm khách quan lý giải cái đẹp từ trong

thế giới của “tinh thần thượng đế” thì mỹ học duy tâm chủ quan (tiêu biểu

như Hume, Kant) lại tuyệt đối hóa cái đẹp theo quan niệm chủ quan, tìmnguồn gốc cái đẹp trong ý thức của chủ thể, trong cảm xúc cá nhân chủ quan

Trang 8

David Hume (1711 - 1776) người Scotland là một triết gia, nhà kinh tế

học, nhà sử học và còn là người có những tư tưởng mỹ học, một trong nhữngnhân vật quan trọng nhất trong thời kỳ Khai sáng của Scotland Mặc dù khôngphải là nhà mỹ học, nhưng Hume cũng có tư tưởng bàn về cái đẹp Cái đẹptrong Hume là cái đẹp do chủ thể quyết định Nghĩa là Hume không thừa

nhận tính khách quan của cái đẹp tồn tại thật sự Hume quả quyết rằng: “cái đẹp không phải là phẩm chất tồn tại trong bản thân sự vật, nó tồn tại trong tâm linh của người quan sát nó”[19, tr.53].

Kant (1724 1804) là nhà triết học, nhà mỹ học của Đức Với Kant thì

quan niệm về cái đẹp không khác gì so với Hume Ông đã không thừa nhậncái đẹp khách quan, mọi vẻ đẹp theo Kant chỉ là thị hiếu chủ quan Trong tác

phẩm “Phê phán khả năng phán đoán” ông viết: “không có khoa học về cái đẹp, chỉ có sự phán đoán về cái đẹp mà thôi” hay “không có khoa học về nghệ thuật, chỉ có phán đoán về nghệ thuật mà thôi” Từ đó Kant nói một cách hình tượng rằng: “cái đẹp không ở trên đôi má hồng cô thiếu nữ mà ở trong con mắt của kẻ si tình”[9, tr.83] Nhưng do xuất phát từ lý luận nhận

thức có tính nhị nguyên, ông lại khẳng định cái đẹp không có khái niệm,không xác định và đi đến nhận định cái đẹp thật sự là cái đẹp thuần khiết,không vụ lợi Những vẻ đẹp kèm theo công dụng thực tiễn ông gọi là vẻ đẹpkèm theo hay vẻ đẹp thứ hai

Xôcrát (469 – 399 TCN) là một nhà triết học chịu ảnh hưởng của tư

tưởng mục đích luận và nhất quán với tư tưởng đó, trong quan điểm về mỹhọc ông chỉ coi cái gì phù hợp với mục đích là đẹp Dù cái lá chắn có bằngvàng đi chăng nữa nếu không làm được chức năng thực dụng của mình thì nócũng là vật xấu, còn cái sọt được đan để đựng phân mà làm tốt chức năng củamình cũng đẹp Quan điểm của Xôcrát về cái đẹp được coi là có tính duy tâmchủ quan

Xôcrát không phân biệt nghệ thuật với thủ công, bởi vì nghệ thuật theoông, chỉ là sự tái hiện thực chất bằng cách bắt chước, có điều nó không bắtchước, mô phỏng một cách đơn giản các đồ vật và hiện tượng mà thường liên

Trang 9

kết các nét đã được chọn lọc ở các sự vật hiện tượng khác nhau vào một tácphẩm; sự vật được tái hiện như thế trong tác phẩm sẽ vươn lên tầm lý tưởng

về sự hoàn mỹ của nó

Theo Xôcrát nghệ thuật không những tái hiện thiên nhiên ở cái cóđường nét, màu sắc, hình khối mà nó còn có khả năng diễn tả các trạng tháitinh thần con người

Xôcrát còn đưa ra tiêu chí lựa chọn đối tượng để thể hiện trong tácphẩm nghệ thuật, đó là những con người có tính cách đẹp, nhân hậu, có phẩmhạnh cao Lý tưởng đạo đức cần phải được kết tinh trong tác phẩm nghệ thuật

Vì thế, tiêu chí nghệ thuật là tính đúng đắn và sinh động của việc tái hiện cácnguyên mẫu trong hiện thực

Xôcrát nhấn mạnh sự liên hệ hữu cơ giữa cái đạo đức và cái thẩm mỹ,cái thiện và cái đẹp Con người lý tưởng đối với Xôcrát là vẻ đẹp tinh thần lẫnthể chất, trong đó con người tinh thần, theo cách hiểu của ông là con ngườiđạo đức, con người trí tuệ

Đóng góp lớn của Xôcrát là đưa con người vào đối tượng chủ yếu củanghệ thuật, chỉ ra sự liên hệ vững bền giữa cái đẹp với cái có ích, cái có mụcđích có thật với cái tốt Ông coi nghệ thuật như một phương diện quan trọngcủa đời sống xã hội

Như vậy, so với trường phái duy tâm khách quan, các nhà mỹ học duytâm chủ quan đã cởi bỏ chiếc áo thần bí khoác lên cái đẹp nhưng lại tìm mọicách quy cái đẹp vào ý thức chủ quan của chủ thể, xem đó là nguồn gốc duynhất cả nó

1.1.3 Một số quan niệm của tôn giáo về cái đẹp

Quan niệm về cái đẹp trong các tôn giáo khác nhau, qua mỗi thời kỳkhác nhau có cách đánh giá khác nhau với mục đích nhằm củng cố và pháttriển chính tôn giáo của mình

Thời Trung cổ, Kitô giáo cho rằng trần thế, thân xác con người và

những ham muốn tự nhiên của nó đều là xấu xa, tội lỗi Đẹp chỉ có ở chúaTrời, Thượng đế và những sức mạnh tinh thần ngoài con người Đẹp cảm tính

Trang 10

là tội lỗi Để đạt tới chân – thiện thì cần phải xa lánh mọi lạc thú trần gian.Quan niệm này dẫn đến việc tu để về thiên đàng của một số nhân vật ép xác,khổ hạnh, những công trình kiến trúc hướng lên trời, con người ở trong đó chỉthấy mình nhỏ bé đáng thương.

Đạo Bàlamôn quan niệm đấng Tối cao sáng tạo ra muôn loài, trong đó

có cả con người Thể xác con người chỉ là ảo ảnh, chỉ có linh hồn là bất diệt.Con người sống rồi chết đi, thể xác tan rã còn linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn,linh hồn thì không chết Cuộc sống con người được điều hành bởi các vị thầnnhư: Thần Brahman (Đấng sáng tạo), Thần Vishnu (Thần bảo trợ) và thầnShiva (thần hủy diệt) Vẻ đẹp của thế giới chính là sự sinh nở và được cụ thểhóa là bộ phận sinh dục của đàn ông và đàn bà

Đạo Phật thì phủ nhận cuộc sống trên trần thế, cho rằng cuộc sống hiện

tại chỉ là tạm bợ, chỉ là nơi trú ngụ tạm thời để con người tu niệm để về vớicõi Niết bàn Triết lý Phật giáo cho rằng đời là bể khổ Mọi vẻ đẹp trên đờinày đều không có thật, con người có hài lòng với tất cả mọi thứ ở thế giớitrần tục này đi chăng nữa thì nó cũng chỉ là giả tạo, nó sẽ mất đi, chỉ có cáiđẹp trên cõi Niết bàn là thật, là vĩnh cửu Sau một thời gian tồn tại thì đạoPhật lại chia thành nhiều tông phái khác nhau, và sự thống nhất về mặt tổchức và giáo lý không còn như trước đó, tuy nhiên về cơ bản thì các tôngphái của đạo Phật đều không thừa nhận cái đẹp là khách quan mà chỉ cótrong tâm linh đã siêu thoát

Những tư tưởng của các tôn giáo về cái đẹp nhìn chung là giống nhau,cái đẹp không tồn tại khách quan và không có thật trên trần thế Cái đẹp nóchỉ tồn tại và có thật ở “Thiên đàng” và ở cõi “niết bàn” khi con người chết đi

(Tư tưởng của tôn giáo có phần giống với tư tưởng của những nhà duy tâm khách quan).

1.1.4 Chủ nghĩa duy vật trước Mác

Ngay từ thời cổ đại, các nhà mỹ học duy vật khi đi tìm bản chất của cáiđẹp đã biết dựa vào những đặc tính của tự nhiên, của sự vật để vạch ra nhữngthuộc tính, phẩm chất của cái đẹp

Trang 11

Hêraclít (530 – 470 TCN) – nhà thơ và triết gia điển hình theo xu

hướng duy vật, xem xét sự vật theo quan điểm biện chứng sơ khai Ông chorằng, “lửa” là khởi nguyên của vũ trụ, thế giới tồn tại là do ngọn lửa vận độngvĩnh cửu Hêraclít biện giải hài hòa là sự thống nhất giữa những mâu thuẫn và

nó đạt được thông qua con đường đấu tranh giữa chúng, như độ tương phảngiữa các màu sắc, các âm thanh cao thấp, dài ngắn …Ông còn phát hiện tínhchất tương đối của vẻ đẹp khi nhận định con khỉ đẹp nhất cũng xấu nếu đem

so sánh với con người

Như vậy, Hêraclít được coi là một trong những đại biểu sớm nhất giảithích các khái niệm thẩm mỹ theo xu hướng duy vật và có tính chất biệnchứng sơ khai

Đêmôcrít (460 – 370 TCN) lý giải sự hình thành của nghệ thuật bằng

các nguyên nhân vật chất: đó là sự bắt chước tự nhiên và các loài vật Ví dụ:kiến trúc là sự bắt chước sự làm tổ của con nhện, con én; ca hát là bắt chướcchim sơn ca, họa mi; múa là bắt chước thiên nga Đó là các nguyên nhân trựctiếp của nghệ thuật, còn nguyên nhân gián tiếp thì ông phát hiện ra trong nhucầu của xã hội

Đêmôcrít nêu lên tính chất về mức độ của vẻ đẹp – là sự trung bình,

vừa phải, không thừa, không thiếu, “nếu vượt quá mức độ, cái dễ chịu nhất cũng trở thành cái khó chịu”.

Arixtốt (384 – 322 TCN), ông phê phán kịch liệt Platôn Ông giao động

giữa 2 dòng duy tâm và duy vật, nhưng do không nghi ngờ gì về tính hiệnthực của thế giới xung quanh nên những tư tưởng mỹ học của ông mang xuhướng duy vật

Arixtốt thừa nhận các tiêu chí cơ bản của vẻ đẹp mà những người đitrước đã đưa ra như tính quy mô có trật tự, hài hòa, sự cân xứng Dấu hiệu tốiquan trọng của cái đẹp mà Arixtốt nhấn mạnh là sự chỉnh thể: phải có đầu, cógiữa, có cuối, phải liên kết giữa các bộ phận trong chỉnh thể một cách hữu cơ

Arixtốt quan niệm rằng: “cái đẹp ở trong kích thước và trong trật tự, do đó, một vật bé quá không trở thành đẹp vì thoạt nhìn đã qua, không kịp thu nhận,

Trang 12

một vật lớn quá không trở thành đẹp vì một lúc không nhìn chung chúng được ngay”[1, tr.55]

Arixtốt không thừa nhận sự đồng nhất cái đẹp với cái có ích; cái có íchchỉ ở hành vi, hành động, trong khi đó cái đẹp có cả trong sự tĩnh tại Ôngquan niệm nghệ thuật là sự tái tạo hiện thực, mô phỏng lại hiện thực Sự môphỏng tiến hành thông qua nhịp điệu, ngôn từ, giai điệu – và nó có mặt trongtất cả các loại nghệ thuật từ tạo hình đến ngôn từ, trong cả thi ca lẫn âm nhạc.Ông cho các loại hình nghệ thuật được phân biệt bởi các phương thức môphỏng: âm thanh cho ca hát, âm nhạc; màu sắc và hình thức cho hội họa vàđiêu khắc; nhịp điệu chuyển động cho các nghệ thuật múa; ngôn từ và âm lựcthi ca; các loại hình còn được chia theo nghệ thuật vận động (thi ca, âm nhạc,múa) và nghệ thuật tĩnh tại (hội họa, điêu khắc)

Nghệ thuật không có giá trị độc lập, nó gắn bó với đời sống đạo đứccủa con người, nó gột rửa con người khỏi vẩn đục Tác dụng gột rửa của nghệthuật sẽ giúp con người vượt qua cơn xúc động, nỗi sợ hãi và có khả năngchống đỡ lại hoàn cảnh bất hạnh

Như vậy, các nhà mỹ học duy vật quy cái đẹp về các thuộc tính của vậtchất cho nên nó mang tính duy vật Tuy nhiên họ không bàn gì đến vai trò củachủ thể thẩm mỹ, cho nên họ rơi vào phiến diện

Đến thế kỷ XIX, các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga đã thực sựkéo cái đẹp trở về với mãnh đất trần thế, tìm thấy cái đẹp ngay trong hiện thựccuộc sống, gắn cái đẹp với hoạt động thực tiễn của con người, thừa nhận sựtồn tại khách quan của con người Tiêu biểu cho tư tưởng này có nhà mỹ họcTsécnưsépxki

Tsécnưsépxki (1828 – 1889) cho rằng: “cái đẹp của hiện thực khách

quan là cái đẹp hoàn bị”, rằng “sự vật trong hiện thực hiện ra trước mắt chúng ta đúng như nó tồn tại trong hiện thực, và nó giữ y nguyên toàn bộ khía cạnh vật chất của nó”[15, tr.102] Từ đó Tsecnưsépxki đưa ra định nghĩa thật chí lý như sau: “cái đẹp là cuộc sống”, “một thực thể đẹp là thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta; một đối

Trang 13

tượng đẹp là một đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nó nhắc

ta nghĩ tới cuộc sống”[20, tr.23] Như vậy, khi so với các quan điểm duy tâm

và duy vật thô sơ trước đó, quan niệm của Tsecnưsépxki về cái đẹp đã tiến tớimột bước dài bởi ông đã rút ra nhiều kết luận quan trọng về bản chất của cáiđẹp

Bằng những luận cứ và luận chứng đầy sức thuyết phục, ông đã chứngminh rằng cái đẹp là một thuộc tính của bản thân hiện thực, chính hiện thựcgợi lên trong ta cảm xúc về cái đẹp, cái có giá trị thẩm mỹ Cho nên, cái đẹp

là kết quả của sự thống nhất giữa hai mặt chủ quan và khách quan

Tsecnưsépxki nói: “Khoái cảm trước những đối tượng này nọ mang trong bản thân nó phẩm chất đó (những phẩm chất cái đẹp – nội dung) tùy thuộc trực tiếp vào những khái niệm của người cảm thụ là đẹp, cái mà trong đó chúng ta nhận thấy cuộc sống, cuộc sống phù hợp với những khái niệm của chúng ta về nó”… “Do đấy, sự tồn tại khách quan của cái đẹp và cái cao cả thường hòa hợp với những quan niệm chủ quan của con người”[2, tr.171].

Không những thế, Tsecnưsépxki còn thấy được ở một mức độ nhấtđịnh, sự chi phối của tính giai cấp và tính lịch sử đối với cái đẹp Mặc dù cónhững tư tưởng mang tính duy vật tiến bộ, vượt xa các bậc tiền bối, song cũngkhông tránh khỏi những hạn chế nhất định Trong khi chỉ ra sự thống nhấtgiữa hai yếu tố chủ quan và khách quan trong bản chất của cái đẹp, ông đãkhông chú ý tới tính chất biện chứng trong mối quan hệ đó Ngoài ra bản chất

xã hội của cái đẹp cũng không được quan tâm một cách đầy đủ và toàn diện

Tóm lại, các quan niệm mỹ học về cái đẹp của các triết gia trước chủnghĩa Mác – Lênin đều không tránh khỏi tính phiến diện, ở mức độ này haymức độ khác khi họ xác định nguồn gốc của cái đẹp là ý niệm hay tinh thầntuyệt đối, hoặc xác định nguồn gốc cái đẹp từ cảm xúc chủ quan của cá nhân,hoặc tuyệt đối hóa tính khách quan của cái đẹp, đồng nhất cái đẹp với nhữngthuộc tính vật chất – vật lý của các sự vật hiện tượng Để tránh những nhượcđiểm, hạn chế mà các nhà mỹ học trước Mác đã mắc phải, mỹ học Mác –

Trang 14

Lênin ra đời nhằm phát triển khoa học mỹ học lên đỉnh cao của sự hoàn thiện,khắc phục những hạn chế trước đó.

1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về cái đẹp

1.2.1 Lý luận chung về cái đẹp

Mỹ học Mác - Lênin trước tiên xác định cái đẹp là một phạm trù mỹhọc, mà không đồng nhất với các biểu hiện cụ thể, đơn lẻ của nó là các vẻ đẹpsinh động, riêng lẻ, tảng mạng, ngẫu nhiên trong đời sống thường ngày

Phạm trù mỹ học theo tiếng Hy Lạp cổ (Kategoria): có nghĩa là câunhận xét, dấu hiệu, nó là những khái niệm rộng nhất, chung nhất phản ánhnhững mặt, những mối liên hệ chủ yếu và phổ biến nhất của các hiện tượngthẩm mỹ Phạm trù mỹ học là kết quả cao nhất của quá trình nhận thức thẩm

mỹ Do đối tượng nhận thức (thế giới các hiện tượng thẩm mỹ) thay đổi nêncác phạm trù của mỹ học cũng vận động biến đổi cả về số lượng lẫn nội dungphản ánh, theo xu hướng ngày càng toàn diện và sâu sắc Sự vận động biếnđổi này được C.Mác rút ra từ quá trình nghiên cứu về cái đẹp tất yếu nảy sinhtrong tiến trình phát triển của lịch sử Quy luật của cái đẹp không “nhất thànhbất biến” từ một hình thức lao động, một hình thái xã hội nào Cái đẹp có quyluật phổ biến từ thực tiễn thẩm mỹ Ở mỗi hình thái xã hội nào, quy luật ấy có

sự vận động và biểu hiện khác nhau Ngoài những biểu hiện khác nhau cònxuất hiện những quy luật khác nhau Từ sự phong phú của thực tiễn sáng tạo,

C.Mác đã đưa ra quan niệm khái quát vấn đề “sự vận động lịch sử của cái đẹp trong một số hình thái kinh tế - xã hội”[13, tr.16]

C.Mác cho rằng, quy luật của cái đẹp gắn liền với lao động, với nănglực bản chất của con người Trong một xã hội mà ở đó lao động bị tha hoá, cái

đẹp không có điều kiện để phát triển Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm

1844, C.Mác viết: “Theo những quy luật mà kinh tế chính trị học đề ra thì sự tha hoá của công nhân trong vật phẩm của mình, biểu hiện như sau: Công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta có thể tiêu dùng càng ít; anh ta tạo ra càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật

Trang 15

do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man Lao động sản xuất ra những vật phẩm kỳ diệu cho những người giàu, nhưng chính nó lại sản xuất ra bần cùng hoá công nhân Nó tạo ra lâu đài, nhưng cũng tạo ra cả những nhà ổ chuột cho công nhân Nó sáng tạo ra cái đẹp, nhưng cũng làm què quặt công nhân” [12, tr131].

Phạm trù cái đẹp liên quan đến hàng loạt các khái niệm phản ánh vẻ bềngoài, thuộc tính và các phẩm chất “bên trong”, gợi nên cảm xúc vô tư, không

vụ lợi trực tiếp ở con người

Trong số các phạm trù của mỹ học, phạm trù cái đẹp giữ vị trí trung tâm.Phạm trù cái đẹp giữ vị trí trung tâm được chế định bởi ba phương diện sau:

Phương diện thứ nhất: Trong cuộc sống thường ngày, trong lý luận nghệ

thuật – mỹ học và trong nghệ thuật Trong cuộc sống với bản tính người của mình,

con người “nhào nặn vật chất theo những quy luật của cái đẹp” [4, tr.116], nghĩa

là khác với loài vật, con người sản xuất một cách vạn năng thoát khỏi nhu cầu thểxác, mang tính sinh vật của mình, sản xuất theo kích thước của mọi loài và tự

do đối lập với sản phẩm của mình

Từ thời cộng sản nguyên thủy, khi con người chế tác những công cụ laođộng đã biết trau chuốt cho những cái que, những cây gậy, mẫu xương ngàycàng trở nên nhẵn bóng, để ưa nhìn và thích dụng Sau đó con người đã làmnhiều việc chỉ để thỏa mãn sự nhìn ngắm, cho những rung động sâu sa trongtâm hồn mình, như tìm kiếm những vật gì có hình thù mới lạ, bắt mắt vớinhững vỏ sò, cành san hô, hòn đá, kim cương, viên ngọc, vàng, bạc… Nhữngvật quý hiếm này mới trở thành những vật ngang giá trong trao đổi hàng hóa

và trở thành biểu tượng của quyền uy và giàu có Rất nhiều vật dụng trở thànhvật trang trí như cung nỏ, thanh kiếm, bình rượu, vải thảm…

Ngoài hoạt động sản xuất, trong các hoạt động khác như tiêu dùng, giaotiếp, giải trí…con người đều có xu hướng vươn tới sự tư do, hài hòa, hoànthiện nhằm đạt đến sự khoan khoái của tâm hồn, nghĩa là vươn tới cái đẹptrong các hoạt động ấy theo quan niệm của mình mà anh ta tiếp nhận mộtcách chủ yếu từ cộng đồng

Trang 16

Phương diện thứ hai trong lý luận nghệ thuật, trong mỹ học: phạm

trù cái đẹp được nghiên cứu và hoàn chỉnh trước hết, từ hệ chuẩn của nóngười ta xây dựng các phạm trù mỹ học cơ bản khác

Trong lịch sử mỹ học, có người đã hòa hiện tượng đẹp vào hiện tượngcao cả, lại có người đối lập chúng với nhau Thực tế thì hiện tượng đẹp vàhiện tượng cao cả đều là những hiện tượng thẩm mỹ tích cực, có tác dụngthúc đẩy tiến bộ xã hội, phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của các xã hội tiêntiến, lành mạnh Song hiện tượng cao cả thường gắn với vẻ đẹp “bên trong” –

vẻ đẹp nội dung của con người Còn hiện tượng đẹp là hiện tượng có “quan

hệ chuyển tiếp”[4, tr.117]: mọi hiện tượng cao cả đều đẹp, nhưng không phải

mọi hiện tượng đẹp đều là cao cả Hiện tượng đẹp mới chỉ là sự tương ứngnào đó giữa nội dung và hình thức, sự cân đối, sự đều đặn…còn hiện tượngcao cả tác động mạnh mẽ, thuận chiều với sự phát triển của toàn bộ xã hội.Hiện tượng cao cả thể hiện rõ lý tưởng thẩm mỹ, tạo ra lòng tự hào, khích lệmọi người phấn đấu vươn lên lập chiến công dâng cho cộng đồng

Hiện tượng bi thường gắn với nổi đau, nổi bất hạnh, chết chóc đauthương Tuy nhiên, đó là nổi đau, sự bất hạnh chết chóc của những con ngườitốt, người chính nghĩa và cao thượng Như vậy bản chất của hiện tượng bi làhiện tượng đẹp của những anh hùng hy sinh vì cái cao cả Nhân vật bi kịchthật sự là người chấp nhận nỗi khổ đau, chấp nhận hy sinh, thất thiệt để bảo

vệ những gì tốt đẹp Điều đó làm rung động lương tri con người, hướng conngười đi đến những giá trị đó

Xã hội luôn luôn dựa vào tiêu chuẩn của hiện tượng đẹp để đánh giácác hiện tượng còn lại, nhiều khi ngay cả những người luôn có ý thức hướngthiện, luôn mong muốn hành động vì lẽ phải… Những người đó cũng mắc sailầm, tức ở đây đã có sự vi phạm vào các chuẩn mực đẹp Sự vi phạm chuẩnmực đẹp của những người tốt này nhiều khi nảy ra tiếng cười Đó là tiếngcười hài Hiện tượng hài sinh ra khi có xung đột giữa hiện tượng đẹp với hiệntượng xấu, hoặc hiện tượng xấu giả danh, ngụy trang bằng vẻ đẹp bề ngoài bịphát hiện bất ngờ

Trang 17

Phương diện thứ ba: đối với nghệ thuật, khát vọng vươn tới cái hoàn

thiện là nguyên nhân cơ bản và là mục đích chân chính của mọi trường pháinghệ thuật, mọi nghệ sĩ đích thực Những khía cạnh của cuộc sống được phảnánh trong các tác phẩm nghệ thuật xét đến cùng đều xuất phát từ lý tưởng đẹpcủa nghệ sĩ

Theo Mác - Lênin cái đẹp có cơ sở từ các yếu tố khách quan của nó, đó

là mức độ của sự hài hòa mà biểu hiện ra cụ thể, biểu hiện ra chi tiết như sựcân xứng, tương xứng, tương đối, hợp lý, sự vật được trải ra với một nhịp độtiết tấu nhất định Nói như vậy nghĩa là hài hòa được tạo nên bởi sự thốngnhất giữa các mảng khối, số lượng, chất lượng…bên trong một sự vật nàođấy Cũng có thể giữa một loạt các sự vật với nhau Đối xứng là nguyên lý cơbản tạo thế cân bằng Nhìn chung đối xứng tạo ra hài hòa, mặc dù đôi khi nócũng trở thành cứng nhắc, khi môi trường xung quanh thay đổi

Những yếu tố có tính khách quan này chỉ được đánh giá là đẹp khi nóphù hợp với những trạng thái tâm lý nhất định trước số đông những ngườichiêm ngưỡng, cảm thụ Tức là chúng cũng được xem xét, đánh giá là tíchcực tùy theo những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, như tính thời đại, tínhdân tộc, tính giai cấp, tính đảng, tính nghề nghiệp, tính lứa tuổi, tính chânthật…của chủ thể thẩm mỹ

Trong xã hội sẽ có một nhóm người nhất định có chung một số kinhnghiệm nào đó, chung sở thích nào đó do có chung điều kiện, hoàn cảnh sống,mục đích sống… Vì vậy dễ cảm nhận vẻ đẹp theo cách khá tương đồng

Mỗi dân tộc cũng do lãnh thổ, điều kiện tự nhiên, ngôn ngữ, tập quánsinh hoạt…của cá nhân quy định Khi tiếp cận với hiện tượng này, hiện tượngkia thuận lợi cho cuộc sống của mình hơn, rồi dần dần dẫn đến tình cảm yêuthích những sự vật, hiện tượng đó, cuối cùng cho đó là đẹp

Giai cấp thống trị luôn luôn đề cao vẻ đẹp uy nghi để khẳng định uyquyền của mình đối với “kẻ dưới” Bọn họ cũng thích những người dướiquyền họ luôn có thái độ khuất phục, nhẫn nhịn, vâng lời, trung thành vớimình (vua, quan lại) và xem đó là “ngoan”, là “đẹp” Còn người dưới quyền

Trang 18

khi không ý thức được nhân phẩm của mình thì để mặc cho người đời chà

đạp, khi ấy như Ăngghen đánh giá: “chấp nhận làm kẻ toi mọi”[4, tr.120].

Người có nhân cách, yêu công bằng, bình đẳng, yêu công lý lại khẳng kháithà đau đớn, thậm chí chấp nhận cái chết chứ không sống quỳ lụy, sống nhụcnhã Những người thuộc giai cấp này quan niệm đẹp là anh dũng chống lạivương quyền, bảo vệ công bằng và lẽ phải

Cái đẹp không chỉ có tính giai cấp mà còn có tính nhân loại Cái đẹpmang tính nhân loại thể hiện ở hình dáng tự nhiên của con người, vẻ đẹp củacảnh vật như sông, núi, biển, trời, mây, mưa, gió, hay những gì thuận lợi chođiều kiện sống của con người, phục vụ tốt cho con người có xu hướng đượcnhiều dân tộc, nhiều cộng đồng yêu thích và cùng cho đó là đẹp

Quan niệm về vẻ đẹp mang tính lịch sử: Tính lịch sử thể hiện rõ nhất là

vẻ đẹp của người phụ nữ được quan niệm hết sức khác nhau trong những điềukiện lịch sử khác nhau Trong các tác phẩm nghệ thuật bộc lộ khát vọng vềnhững con người đẹp, mang những nét ưu tú nhất của thời đại mình Thời HyLạp cổ đại, những người phụ nữ đẹp là người có cơ bắp đầy đặn, nở nang, thểchất hài hòa Thời trung cổ, những người phụ nữ được miêu tả thân hình gầy

gò, đôi má hóp sâu, đôi mắt mở rộng, khuôn mặt hình trái xoan dài Quanniệm này có cơ sở từ tư tưởng thống trị của tôn giáo là phải tiêu trừ những gìsống động, tiêu trừ thể xác (nhiều người tu theo cách hành xác, khổ hạnh) và

chỉ hoài vọng về “thế giới bên kia” Thời Phục hưng tràn ngập cảm xúc vui

sướng được làm người, cảm xúc ngất ngây trước vẻ đẹp của thiên nhiên Vìvậy trong hội họa Phục hưng thể hiện cuồng nhiệt những người phụ nữ trànđầy sức sống, hơi đẫy đà, rất trần thế và hài lòng với cuộc sống

Đến thế kỷ XIX, quan niệm của người phụ nữ đẹp là những người cóthân hình mảnh mai, với đôi bàn tay, bàn chân nhỏ nhắn bởi vì lúc này nhữngngười phụ nữ không cần lao động nặng nhọc, do vậy vẻ đẹp tao nhã, mảnh dẻ

là phù hợp Trong khi đó những giới phụ nữ nông dân đẹp phải là nhữngngười có vóc dáng chắc chắn, “má đào”

Trang 19

Sự vật hiện tượng được đánh giá là đẹp phải diễn ra hoặc được phảnánh một cách chân thực, đúng đắn Nghĩa là nó không phải giả dối Sự chânthực, đúng đắn này không đồng nhất với chân lý trong triết học, nó khôngnhất thiết phản ánh chính xác hiện thực khách quan mà chủ yếu phải phù hợpvới quan niệm của xã hội, dư luận cộng đồng Nhưng các quan niệm, dư luậnnói trên không trái ngược với hiện thực, mà phải vận động theo xu thế, theologic của lịch sử và phải chứa đựng một số mặt, một số khía cạnh của chân lýkhách quan Như vậy, có nhiều hiện tượng mặc dù có thật vẫn không đượcđánh giá là đẹp; ngược lại, những hiện tượng đánh giá là đẹp không có nghĩa

là có thật hoàn toàn Sự vật được đánh giá là đẹp phải phù hợp với biểu tượngtích cực của con người về nó

Đối tượng được đánh giá là đẹp ở trong một chừng mực nhất định phải

có sự thống nhất với điều thiện hoặc ít nhất không bị đánh giá là ác, tứckhông làm hại đến cuộc sống bình yên của cá nhân và xã hội Trước đốitượng bản thân mình đánh giá là đẹp, người cảm thụ thường trong trạng tháihân hoan, vui sướng, thích thú một cách vô tư trong sáng Song như vậykhông có nghĩa tình cảm với các sự vật đẹp tách rời hoàn toàn khỏi nhữngnhu cầu và đòi hỏi của thực tiễn Về sâu xa, nó là sự kết tinh của những tìnhcảm nhân loại về các hiện tượng đẹp Những tình cảm ấy nảy sinh trong quátrình lao động: người ta thấy sự gắn bó giữa cái đẹp với sự tiện ích, làm cho

sự vật được tiện lợi nghĩa là làm cho sự vật đẹp Trong thời đại ngày nay, cóthể rất nhiều người không tham gia lao động trực tiếp, họ có thể không nhậnbiết sự tiện ích của các đồ vật như là sự kết tinh của sức lao động, như những

sự vật đẹp đối với họ ít nhất không đe dọa cuộc sống mà thông thường làmcho cuộc sống của con người thấy dễ chịu hơn

Là một phạm trù mỹ học, cái đẹp có tính lịch sử cụ thể, nghĩa là nó cóthể bị khúc xạ trong những điều kiện lịch sử xã hội, giai cấp, nghề nghiệp,dân tộc, giới tính, lứa tuổi của những người đánh giá Cảm quan của người

Trang 20

đánh giá càng phù hợp với xu thế của tiến bộ xã hội bao nhiêu thì cách đánhgiá càng có tính tích cực bấy nhiêu.

Như vậy, “cái đẹp là phạm trù mỹ học trung tâm, phản ánh giá trị thẩm mỹ tích cực ở các sự vật hiện tượng mang lại khoái cảm vô tư, trong sáng cho con người”[4, tr.125].

Nói đến biểu hiện của cái đẹp tức là nói đến các sự vật, hiện tượngđược đánh giá là đẹp, cũng có nghĩa là các vẻ đẹp cụ thể Vì vẻ đẹp được cảmnhận chủ yếu qua các giác quan thị giác và thính giác, nên nơi nào các giácquan với tới được, nơi đó có biểu hiện của cái đẹp Để dễ nhận biết, có thểphân ra 3 lĩnh vực biểu hiện như sau:

Cái đẹp trong tự nhiên:

Nói tới cái đẹp trong tự nhiên là nói tới những cái đẹp mà tạo hóa sinh

ra, tồn tại một khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của conngười Đó là cái đẹp thuộc về thế giới tự nhiên vô sinh, nói như Bác Hồ nói

“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp; Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông…”.

Nó cũng bao gồm những cái đẹp của thế giới hữu sinh như cây cỏ, chimmuông, cầm thú…, trong đó cái đẹp tự nhiên của hình thể con người cũng làmột lần ân huệ mà tạo hóa đã ban tặng cho con người

Thế giới tự nhiên quanh ta đa dạng bao nhiêu thì sự hiện hữu của cáiđẹp cũng phong phú bấy nhiêu Bởi vậy, nếu xét về sự phong phú và đa dạngthì có thể nói rằng không có cái đẹp trong lĩnh vực nào có thể sánh nổi với tựnhiên Đặc trưng thẩm mỹ của cái đẹp trong lĩnh vực này được biểu hiện quanhững thuộc tính vật chất của sự vật, hiện tượng như hình dáng, màu sắc,đường nét, âm thanh…được cấu tạo một cách cân đối, hài hòa với một mức

độ và tỉ lệ hợp lí, có khả năng tác động trực tiếp lên các giác quan của conngười và gây nên những xúc cảm thẩm mỹ Ngoài ra, cái đẹp trong tự nhiên làcái có năng lực biểu hiện sức sống trường tồn và sự phát triển, là cái khônggây hại hay đe dọa con người, có khả năng gợi cho con người thấy bản chấtchân chính của mình Nó còn là cái con người tìm thấy sức mạnh sáng tạo,

Trang 21

gợi nên ở con người những rung động thẩm mỹ, những cảm xúc mê say, tíchcực, khiến con người khát vọng và yêu đời, muốn cống hiến cho đời.

Trong đời sống thẩm mỹ của con người, cái đẹp trong tự nhiên có vaitrò vô cùng quan trọng Nếu mỹ học duy tâm phủ nhận cái đẹp trong tự nhiênthì trái lại, mỹ học duy vật không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của cáiđẹp trong tự nhiên mà còn coi đây là nguồn gốc, là nơi bắt đầu của mọi cáiđẹp Nhờ có thế giới tự nhiên mà con người mới có xúc cảm về cái đẹp, ýniệm về cái đẹp Khi đã có ý thức về cái đẹp, con người sáng tạo ra những cáiđẹp mới theo tiêu chuẩn và mong muốn của mình Đặt biệt, đối với nghệthuật, vẻ đẹp đa dạng của thế giới tự nhiên luôn luôn là nguồn cảm hứng, là

đề tài bất tận cho thơ ca, nhạc, họa…

Cái đẹp trong xã hội:

Nếu cái đẹp trong tự nhiên là sản phẩm khách quan của tạo hóa thì cáiđẹp trong xã hội lại là kết quả của hoạt động thực tiễn của con người Vì rằnghoạt động thực tiễn của con người là vô cùng phong phú nên trong đời sống xãhội cái đẹp cũng được biểu hiện dưới muôn hình nghìn vẻ khác nhau Chỉ cầnnhìn vào thế giới quanh ta, ta có thể thấy cái đẹp bộc lộ ngay trong những cáibình thường nhất, từ những vật dụng nho nhỏ hàng ngày đến những công trình

đồ sộ Đó là những sản phẩm do bàn tay và khối óc con người làm ra theo thước

đo của sự hoàn thiện và tính lý tưởng Cái đẹp cũng có mặt trong các hoạt động

đa dạng của con người từ vui chơi giải trí cho đến các hoạt động lao động sảnxuất, đấu tranh xã hội và các mối quan hệ phức tạp khác của con người Tronglĩnh vực này, cái đẹp chịu sự chi phối trực tiếp bởi các quan điểm chính trị, đạođức và không xa rời những chuẩn mực chung của xã hội – thực tiễn nhất định.Đặt biệt, bản thân con người với sự hài hòa giữa hình thể bên ngoài với thế giớitinh thần bên trong là một nhân tố quan trọng làm nên cái đẹp của xã hội

Chính vì không tách rời các hoạt động thực tiễn của con người nêntrong cuộc sống hàng ngày, cái đẹp bị lẫn lộn trong muôn vàng những cáibình thường khác khiến ta nhiều khi rất khó nhận ra Bởi vậy, mỗi người cầnphải biết cách nhận ra những cái đẹp trong cuộc sống, và hơn thế nữa, còn cần

Trang 22

phải nỗ lực, tự giác và chủ động tạo ra những cái đẹp, bởi sự tồn tại phổ biếncủa cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội chính là mộtthước đo trình độ văn minh của xã hội.

Cái đẹp trong nghệ thuật:

Cái đẹp trong nghệ thuật có những nét khác so với cái đẹp trong tựnhiên và trong xã hội Trước hết đó là sự phản ánh một cách chân thực nhữngcái đẹp của cuộc sống Bởi vậy, có thể nói rằng cái đẹp trong nghệ thuật cómối quan hệ mật thiết với cái đẹp trong cuộc sống, đó là quan hệ giữa cáiphản ánh và cái được phản ánh Do đó, chúng không những không đối lập màcòn thống nhất với nhau Tuy nhiên, do nghệ thuật là một lĩnh vực chuyênmôn hóa trong việc sản xuất ra cái đẹp, nên dù thống nhất nhưng cái đẹptrong nghệ thuật hoàn toàn không đồng nhất với với cái đẹp trong tự nhiêncũng như trong các sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra Sự khôngđồng nhất ấy được khẳng định qua những đặc điểm mà chỉ có cái đẹp trongnghệ thuật mới có

Trước hết so với cái đẹp trong các lĩnh vực khác, cái đẹp trong nghệthuật là cái đẹp điển hình Không phải ngẫu nhiên khi mà cuộc sống quanh takhông thiếu những cái đẹp nhưng con người vẫn không thôi tìm đến với nghệthuật để thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp Chính những cái đẹp điển hình là mộttrong nhiều lý do tạo ra sực hấp dẫn của nghệ thuật Chỉ một con đườngngoằn ngoèo trên dốc núi, một mái nhà tranh phảng phất khói lam chiều, mộtbuổi lao động tát nước đêm trăng, một bà mẹ già nua, khắc khổ như bao bà

mẹ trong cuộc đời, một cô thiếu nữ chân quê… qua bàn tay và khối óc củangười nghệ sĩ nhào nặn lại đã trở thành những cái đẹp, nên thơ, hấp dẫn đi vàolòng người Từ vô số những cái đẹp cụ thể, cá biệt, tản mạn khắp nơi trong cuộcsống, người nghệ sĩ đã gom nhặt, chắt lọc, tinh luyện nên những cái đẹp mới Đó

là những cái đẹp hoàn chỉnh và điển hình, trong đó chứa đựng những nét chủyếu, bản chất, tiêu biểu cho những cái đẹp cùng loại trong cuộc sống Có học giả

phương tây thừa nhận rằng: “mãnh lực của nghệ thuật là như vậy: một khuôn mặt tự nó không có gì đặt biệt cả, qua nghệ thuật đã có một ý nghĩa chung, tất

Trang 23

cả mọi người đều thấy hay, và con người mà sinh thời không ai chú ý, nhờ họa

sĩ với ngòi bút của mình đã mang lại cho người đó một cuộc đời mới, khiến bây giờ bao nhiêu con mắt ngắm nhìn” [3, tr.86].

Như vậy, có thể nói nghệ thuật đã làm biến đổi hoàn toàn giá trị của sựvật, khiến cho những cái bình thường, quen thuộc khi vào nghệ thuật càng trởnên mới lạ, khác thường, cái không đẹp cũng trở nên đẹp, cái vốn dĩ đã đẹplại càng nổi bật và hấp dẫn hơn Phép mầu của nghệ thuật chính là ở chỗ nó

đã thực hiện một bước “nhảy vọt”, một sự “siêu thoát”, vượt lên khỏi mọi cáivụn vặt, tầm thường của cuộc sống, tách cái đẹp khỏi sự ràng buộc bởi nhữngyếu tố thực dụng, tạo nên một khoảng cách giữa cái đẹp và cuộc sống hàng ngày

Một đặc điểm khác là cái đẹp trong nghệ thuật không đồng nhất với cáiđẹp trong tự nhiên và cũng khác so với cái đẹp trong sản phẩm con người làm

ra Đó chính là tính biểu cảm của cái đẹp trong nghệ thuật

Bất cứ cái đẹp nào được nghệ thuật được nghệ thuật miêu tả và tái hiệnthì đều gắn liền với nó là một thái độ, cảm xúc, tình cảm mà người nghệ sĩ gửigắm trong đó Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du cho người đời cảmnhận rất rõ rằng mỗi cảnh sắc thiên nhiên đều chứa đựng những nỗi niềmriêng tư, thầm kín của con người Trong cái dịu dàng, êm ả của buổi hoànghôn hình như có cả sự quyến luyến, vấn vương lòng người; trong cái phậpphồng, rạo rực của mùa hè cho ta nhận ra tâm trạng náo nức, say mê của conngười.v.v

Như ngay cả khi miêu tả những cái đẹp của tự nhiên người nghệ sĩcũng không thể không lồng vào đó tâm hồn, tình cảm của mình Nói cáchkhác, ở đây, người nghệ sĩ đã thổi hồn mình vào đối tượng, khiến cho cái đẹptrong nghệ thuật không còn vô tư, khách quan, ngẫu nhiên như vẻ đẹp tựnhiên vốn có của nó như trong tự nhiên Điều này lý giải tại sao cùng một đốitượng phản ánh nhưng các nghệ sĩ khác nhau lại cho ra đời những cái đẹpkhông giống nhau Đó cũng là lí do để xem cái đẹp trong nghệ thuật cũng làmột loại thông điệp chứa đựng những thông tin về đời sống

Trang 24

Khi nói cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp có dụng ý, có mục đích thìđiều đó cũng còn có nghĩa là cái đẹp trong nghệ thuật không chỉ đơn thuần làcái đẹp về hình thức mà đó là những cái đẹp có tính nội dung Nói khác đi, cáiđẹp trong nghệ thuật là sự thống nhất giữa hai mặt nội dung – hình thức Ởđây, bất cứ yếu tố nào của hình thức cũng điều liên quan đến nội dung, đềulàm biểu hiện một mặt của nội dung nào đấy Do vậy, nếu chỉ thay đổi mộtyếu tố của hình thức cũng đủ kéo theo sự thay đổi về nội dung Về phươngdiện này, nếu đem so sánh cái đẹp trong nghệ thuật với cái đẹp khác trong tựnhiên hay những sản phẩm vật chất do con người làm ra sẽ có sự khác biệt rõrệt Đối với những cái đẹp trong tự nhiên, con người hoàn toàn có thể cải tạolại theo ý mình, hoặc bù đắp những khiếm khuyết để nó có thể trở nên đẹphơn Con người có thể thay đổi màu vẻ bên ngoài mà không làm ảnh hưởng gìđến chức năng, công dụng của nó, bởi trong những trường hợp này, cái đẹpcủa hình dáng, màu sắc không mang tính nội dung, tự nó không nhằm nói lênmột điều gì cả Trong nghệ thuật thì khác, một gam màu trong hội họa, một

âm thanh trong âm nhạc, một bước đi trong điệu múa, một từ ngữ trong vănhọc.v.v đều gắn liền với chức năng biểu hiện một nội dung nhất định Vì vậy,không thể thay đổi dù chỉ một yếu tố nhỏ của hình thức mà lại không làm ảnhhưởng đến nội dung của nó

Do đó, hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, trong sáng tạo nghệ thuật,người nghệ sĩ rất chú trọng trong việc lựa chọn, trau chuốc, gọt giũa các yếu

tố hình thức để nó không chỉ đẹp mà còn có khả năng biểu đạt một cách sâusắc những điều cần nói

Như vậy, mặc dù phản ánh những cái đẹp trong hiện thực nhưng cáiđẹp trong nghệ thuật lại không đồng nhất với những cái đẹp trong tự nhiênhay trong đời sống xã hội, bởi nó là sản phẩm độc đáo của một hoạt độngsáng tạo có mục đích, trong đó in đậm dấu ấn của tài năng, cá tính sáng tạo vàthế giới tinh thần của người sáng tạo ra nó Để chiếm lĩnh được những cái đẹp

ấy, đòi hỏi con người phải có một thị hiếu nghệ thuật phát triển, phải đượcgiáo dục về nghệ thuật

Trang 25

Trên là lý luận chung về cái đẹp, song trong lý luận mỹ học của mình,Mác - Lênin có đề cập đến tiêu chí về vẻ đẹp ở con người.

1.2.2 Những tiêu chí của vẻ đẹp con người

Cái đẹp nói chung được thể hiện ở 3 lĩnh vực: trong tự nhiên, trong xãhội và trong nghệ thuật, trong đó vẻ đẹp của con người được kết từ cái đẹptrong tự nhiên và cái đẹp trong xã hội Con người vừa mang đặc tính của tựnhiên, là một thực thể trong tự nhiên nên cái đep trong tự nhiên biểu thị chocái đẹp về hình thức; và ngoài đặc tính tự nhiên – sinh học, con người còn cóđặc tính xã hội, đây là đặc tính làm cho con người khác con vật, đặc tính xãhội biểu trưng cho cái đẹp về nội dung của con người Vậy vẻ đẹp của conngười là gì?

Vẻ đẹp của con người là sự kết hợp hài hòa giữa nội dung với hình thức

1.2.2.1.Vẻ đẹp hình thức của con người

Cũng như bên trên có đề cập, vẻ đẹp tự nhiên của con người đó là sựbiểu hiện vẻ đẹp hình thức, trong vẻ đẹp hình thức được chia ra thành hai loại:

Thứ nhất “Hình thức thuần tuý”: là dáng vẻ bề ngoài của con người,

là cái hình thể, sắc diện, âm sắc Một người được gọi là đẹp khi hình thể của

họ không phải quá to hay quá nhỏ, nó còn phụ thuộc đó là nam giới thì cónhững chuẩn như thế nào, nữ giới thì ra sao Ngoài ra cái đẹp hình thức thuầntúy còn đòi hỏi con người phải có một cơ thể hoàn thiện, nó không chỉ có đầy đủnhững bộ phận mà còn có một trật tự sắp xếp một cách cân đối, hài hòa hợp lý,thể hiện ra bên ngoài một sức sống xung mãng, khỏe mạnh Bên cạnh đó còn cácyếu tố nữa kết hợp như: tóc, lông mày, lông mi, mắt, mũi, miệng, môi, cằm, gò

má, trán…hòa điệu với nhau để tạo nên vẻ đẹp hình thức thuần túy

Đôi lông mày thể hiện ra nét đẹp quân tử của người đàn ông, nét đẹphiền lành của người phụ nữ; cái trán thể hiện sự thông minh, nhanh trí củatừng người; cái miệng cười thể hiện sự duyên dáng, dễ thương của người phụnữ… Ngoài ra màu da, khuôn mặt hay còn gọi đó là sắc diện, âm sắc phải hòaquyện với nhau tạo nên một “hình thức thuần túy” hoàn hảo

Trang 26

Thứ hai “Hình thức nội dung”: điều này được hiểu là hình thức biểu

hiện ra bên ngoài, nó hàm chứa một nội dung nào đấy, bao gồm: dáng đi, cửchỉ, ngôn từ

Dáng đi: theo tướng số học thì dáng đi nó thể hiện được vận mệnh và

tính cách một con người Dáng đi biểu hiện ra bên ngoài là sang trọng “pháttướng – phát tài” hay bần tiện, sung sướng hay lam lũ , dáng đi như thế nào làmạnh mẽ, là trường thọ và tùy theo nam hay nữ mà dáng đi được đánh giá làđẹp Riêng đối với người nữ thì dáng đi không phải đòi hỏi mạnh mẽ như namgiới mà phải nhanh nhẹn nhưng gọn gàng và thướt tha, nói lên cái mãnh maicủa phái đẹp Có như vậy mới là dáng đi thuộc hình thức nội dung

Cử chỉ: đó là những cử động, cử chỉ biểu hiện ra bên ngoài trước một

việc làm cụ thể Chẳng hạn như trong giao tiếp (cái bắt tay, cái chào hỏi, một

nụ cười ), trong công việc có nhanh nhẹn, tháo vác hay là chậm chạp, vụn về,chạm vào đâu thì hư hại đến đấy…còn nhiều cử chỉ trong những trường hợpkhác nữa Và cũng giống như ý trên, cử chỉ nó có những quy định chung cho

cử chỉ đẹp của nam, cử chỉ đẹp cho nữ Cái đẹp biểu hiện chung cho cả nam

và nữ đó là cái cử chỉ ân cần, thân thiện trong tình cảm, nhanh nhẹn, khéo léotrong công việc cũng như trong ứng xử

Ngôn từ: là ngôn ngữ nói ra nó có hay, có đẹp hay không? Những câu

nói tục tằng, thô lỗ, nói dối, nói ác hay nói mà người nghe đánh giá là “nói vôduyên” thì tất nhiên nó nhất định là ngôn từ không đẹp Cái đẹp là lời nói cóvăn hóa, nói đúng nơi, đúng người, đúng việc, không nói những lời ác độc,không nói để hại người mong lợi mình…thời phong kiến, ngôn từ rất quantrọng, chỉ cần một lời phạm thượng cũng đủ bị xử “tru di”, và người con gái

là phải học và giữ “công, dung, ngôn, hạnh” Và ngày nay cũng vậy, tuy thờithế có thay đổi, song những bài học còn nguyên giá trị chúng ta vẫn phải kế

thừa và phát huy “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Dáng đi, cử chỉ và ngôn ngữ của phái đẹp còn nói lên tính thùy mỵ,

đoan trang của một con người

Trang 27

Như vậy, tập hợp tất cả những tiêu chí vừa kể trên đó sẽ cho chúng tamột vẻ đẹp về hình thức của con người Song chỉ có vẻ đẹp hình thức khôngthôi vẫn chưa đủ mà còn vẻ đẹp nội dung.

1.2.2.2.Vẻ đẹp nội dung của con người

Một con người đẹp thật sự, đẹp toàn diện không chỉ có đẹp về hìnhthức là đủ mà còn phải có vẻ đẹp về nội dung Vẻ đẹp nội dung được xác địnhvới những tiêu chí sau:

- Tâm hồn được định nghĩa là “ý nghĩ và tình cảm tạo nên đời sống nội

tâm trong mỗi con người” [22, tr.1502].

Khi nói vẻ đẹp tâm hồn thì điều phải nói tới đó là sự lạc quan, yêu đời

dù trong mọi hoàn cảnh Con người có tâm hồn đẹp là không bận tâm nhữngchuyện hoàn cảnh và điều kiện vật chất, dù sang giàu hay bần cùng khốn khổthì con người đó vẫn lạc quan vươn lên, sống không để tâm nhiều việc xã hội

và không thù ghét, sống có ý chí và không chùn bước trước gian nan Tùytheo cấp độ lứa tuổi mà sự đòi hỏi tâm hồn như thế nào là đẹp

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có sự yêu mến cái đúng, cái côngbằng hợp lý, yêu cái đẹp Cái đẹp ở đây nó thể hiện trong tất cả các sự vật,hiện tượng Tình cảm của một con người được xem là đẹp thì người đó phải

có tình yêu bao la, không chỉ thương yêu đồng loại mà đối với con vật cũngyêu nếm Tình cảm đẹp là tình yêu bao la, yêu một cách trong sáng, lành

Trang 28

mạnh Nói về vấn đề tình cảm, Tố Hữu nói “người với người sống để yêu nhau”, nghĩa là với Tố Hữu thì con người sống không có hận thù, ganh ghét,

mà yêu thương nhau, giúp đỡ nhau…thì đó mới là con người có tình cảm đẹp

Ngoài những tình cảm nói chung, tình cảm thẩm mỹ cũng là một hình

thái tình cảm xã hội của con người, nhưng nó khác với tình cảm đạo đức, trítuệ, tôn giáo… Đó là sự rung động – cảm xúc bởi cái đẹp, cái bi, cái hài, cáicao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật: Trước cái đẹp – vui sướng, hânhoan, thoả mãn Đó là sự cảm thụ những giá trị thẩm mỹ mang lại cho conngười những khoái cảm tinh thần – khoái cảm thẩm mỹ; Trước cái xấu – khóchịu, bực tức, căm ghét; Trước cái bi – đau đớn, thương tiếc, đồng cảm vàkhao khát muốn trả thù vì lý tưởng cao đẹp của cuộc sống; Trước cái hài –tiếng cười tích cực, phê phán những thói hư tật xấu nói chung của con ngườinhằm hướng đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ của bản thân con người và xã hội;Trước cái cao cả – khâm phục, khát vọng vươn lên để chế ngự, để chinh phục,

để khẳng định vai trò và sức mạnh của con người; Trước cái thấp hèn – ghêtởm, kinh ghét

- Trí tuệ: ở đây không có một chỉ tiêu cụ thể nào, tuy nhiên hiểu trí tuệ

của một người đẹp là có trí thông minh, hiểu biết nhiều, không chỉ biết làmđúng, làm đẹp cho bản thân mà còn sáng tạo ra cái đẹp để người khác họctheo Người có trí tuệ không chỉ họ nhận thức đúng những vấn đề hiện tại màcòn có khả năng phán đoán xu hướng thay đổi của vấn đề trong tương lai Dotrí tuệ mang lại giá trị như vậy, cho nên người có trí tuệ thường có những việclàm đúng, có ý nghĩa, và được gọi đó là đẹp

Trong lý luận về cái đẹp, tiêu chí trí tuệ không nói rõ chỉ số nhưng tavẫn hiểu ở đó cần có sự hiểu biết Một người không phân biệt được đúng – saithì không thể là một con người đẹp Bởi lẽ nhận thức như thế nào thì hành sựnhư thế ấy, nếu nhận thức sai một vấn đề quan trọng thì hậu quả khó lường,

“sai một li, đi một dặm” Có trí tuệ con người mới có thể không chỉ có những

hành động đúng mà còn biết sáng tạo trong công việc và sáng tạo trong giữgìn và phát huy cái đẹp truyền thống và tiếp thu những cái tích cực từ bên

Trang 29

ngoài Bên cạnh đó, trí tuệ còn giúp con người có cách nhìn hướng tới Chân –Thiện – Mỹ để phấn đấu rèn luyện tu dưỡng bản thân mình.

- Tư tưởng: khi nói đến tư tưởng thì có thể hiểu theo hai nghĩa Thứ

nhất khi nói đến tư tưởng thì người ta thường đề cập đến “sự suy nghĩ” củamột người và thứ hai đó là nói đến quan điểm và ý nghĩ chung của con ngườiđối với thế giới tự nhiên và xã hội

Dù với ý nghĩa nào đi chăng nữa thì nó cũng xuất hiện hai mặt tích cực

và tiêu cực Tuy nhiên trong tư tưởng về mỹ học thì tất cả các suy nghĩ,những tư tưởng đều phải là cái tích cực, cái tiến bộ, phù hợp với xu thế phát

triển chung của nhân loại Ngạn ngữ có câu: một hành động ác không bằng một lời nói ác, một lời nói ác không bằng một tư tưởng ác Vậy theo cấp độ

thì tư tưởng không đúng, không phù hợp với xu thế của thời đại thì hậu quảrất lớn Vì thế nên, một con người được đánh giá là đẹp không chỉ có ngoạihình, mà suy nghĩ, tư tưởng cũng phải đúng với chuẩn mực chung của xã hội,phải hướng theo cái mới, cái tiến bộ

- Hoạt động lao động của con người: ngay từ trong tác phẩm “Biện

chứng của tự nhiên”, Ăngghen đã phân tích và chứng minh vai trò của laođộng đối với sự phát triển, tiến hóa của của con người Trong đó, lao độnggiúp con người hoàn thiện về cơ thể

Ban đầu là giải phóng đôi bàn tay: cuộc sống của con vượn (vượn

người tối cổ) là leo trèo, vì vậy sự di chuyển của nó trên cây – đôi bàn tay rấtquan trọng, mang tính quyết định Khi cuộc sống con vượn chuyển từ trên câyxuống đất, đôi bàn tay dần được giải phóng, tay dần ngắn lại, cột sống thẳnglên, cằm không còn nhô ra nhiều như trước Cho nên nhờ đó mà dáng đi ngàymột thẳng, đôi bàn tay nhờ lao động mà ngày càng khéo léo hơn, nhanh nhẹnhơn, linh hoạt hơn Như vậy, ngay trong lao động đã giúp con người ngày mộthoàn thiện về hình thể, hay nói đầy đủ hơn là nhờ lao động mà vẻ đẹp hìnhthức của con người ngày một hoàn thiện (ảnh 1)

Trang 30

Tiếp theo lao động giúp não bộ con người phát triển: đôi bàn tay tham

gia lao động ngày càng nhiều nó góp phần thúc đẩy não bộ phát triển vì thựctiễn của lao động không phải lúc nào cũng thuận lợi Những lúc khó khăn và

có khi phải trả giá bằng sinh mạng của mình, con người thu được nhiều trithức kinh nghiệm Não phát triển sớm đưa con người đi đến ý thức về mình,biết che thân thể không còn lõa lồ Nét đẹp văn minh, lịch sự được đánh dấu ởđấy Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, ngành dệt là sản phẩm lâu dài và

là kết quả sự khéo léo của đôi bàn tay cùng khối óc Vải vóc ra đời ngày mộtnhiều, phong phú đa dạng càng giúp cho con người hoàn thiện thêm nữa mộtphần vẻ đẹp hình thức của mình “người đẹp vì lụa”

Không những thế, lao động tạo ra nguồn thức ăn dồi dào, cungcấp đầy đủ chất đinh dưỡng cần thiết cho cơ thể phát triển Tuy nhiên điềuquan trọng được đánh giá là bước ngoặt không phải ở đâu hết mà chính ở chỗcon người tìm ra lửa Lửa được con người nguyên thủy phát hiện một cáchtình cờ Vô tình con người phát hiện ra những con thú bị chết cháy trongnhững khu rừng, thịt có mùi thơm, dễ ăn, ăn thấy ngon hơn nên con người

đã dùng lửa để nấu chín thức ăn Quá trình ăn thức ăn chín giúp cơ thể hấpthụ hết cơ bản các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, nên cơ thể ngày mộtphát triển và đặc biệt là não phát triễn nhanh chóng từ giai đoạn đó

Như vậy, thông qua hoạt động lao động của con người đã gópphần làm cho tiêu chí vẻ đẹp của con người ngày một hoàn chỉnh, phong phú

và là động lực cho con người phấn đấu vươn lên

- Các hoạt động đấu tranh xã hội, chiến tranh, cách mạng: nếu lý giải

không rõ có thể làm người đọc hiểu sai lệch vấn đề này Tham gia các hoạtđộng đấu tranh xã hội, trong các cuộc chiến tranh, trong các cuộc cách mạngnhưng nó phải mang mục đích vì chính nghĩa Không thể lợi dụng binh lựchùng cường đi xâm lược, gây chiến tranh (như quân Mông cổ, Pháp, Mỹ…)tham gia vào đó mà được coi là đẹp Ở đây, tất cả đều dựa trên chính nghĩa.Tham gia đấu tranh vì nước, vì nhân dân, vì sự công bằng, bình đẳng và tiến

Trang 31

bộ của xã hội, dù có đánh đổi bằng cả mạng sống của mình nếu có thể manglại cho người còn sau cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc Cái chết

“làm nên lịch sử” ấy mới là nghĩa cử cao đẹp Đó là trong chiến tranh, còn

trong thời bình, tham gia chống cái ác, cái bất bình đẳng; chống lại âm mưuchống phá của kẻ thù và không làm hại đến dân đến nước; chống và khôngtham nhũng, lãng phí; không cản trở bước tiến của xã hội loài người đó cũng

là những việc làm vinh danh cái đẹp

- Quan hệ ứng xử giữa người với người: Đây là mối quan hệ nảy sinh

từ rất sớm, khi con người xuất hiện thì con người đã biết quan hệ với nhau, từnhững quan hệ kinh tế cho đến quan hệ hôn nhân, gia đình

Con người quan hệ với con người phải có nhân có hậu, có đạo có đức,sống phải biết nhường nhịn và xử sự với nhau bằng lẽ phải Không chỉ trong

mỹ học Mác, Ăngghen mới bàn đến quan hệ ứng xử giữa người với người, màtrong khi bàn đến quan hệ bóc lột của chủ nghĩa tư bản thì Mác, Ăngghen đãthấy được sự cần thiết để tiêu diệt quan hệ bóc lột đó Nghĩa là quan hệ màngười làm ra không được hưởng, còn kẻ không làm thì chiếm đoạt Hơn nữatrong quan hệ xã hội thì người lao động lại không có một địa vị nào Quan hệnhư thế nó không phù hợp với sự tiến bộ của xã hội Do đó, Mác, Ăngghentuyên đoán rằng: chủ nghĩa Tư bản rồi sẽ bị thay thế bằng xã hội mới – xã hộicộng sản chủ nghĩa

Cũng như vậy, trong mỹ học, vấn đề quan hệ ứng xử người với ngườibình đẳng, bác ái, có tình có nghĩa, có nhân có hậu…đó là một nét đẹp mà aicũng phải toi luyện thì mới đạt được yêu cầu của quan hệ ứng xử giữa conngười với nhau và đạt đến giá trị của cái đẹp

1.2.3 Sự gắn bó mật thiết giữa vẻ đẹp hình thức và vẻ đẹp nội dung trong một con người

Trong đời sống hàng ngày, khi bàn đến cái đẹp thì người ta thường haytuyệt đối hóa một mặt nào đó, hoặc nội dung hoặc hình thức Mỹ học Mác -Lênin thì không tuyệt đối một mặt nào, và thấy được sự gắn bó mật thiết giữa

Trang 32

vẻ đẹp nội dung và vẻ đẹp hình thức Sự tuyệt đối hóa một mặt nào đó của vẻđẹp đều đi đến một chiều, phiến diện, không thể đánh giá đúng được vẻ đẹpcủa một con người Đó chính là việc Mác, Ăngghen, Lênin đã dựa trên quanđiểm toàn diện để đánh giá cái đẹp nên nó đã khắc phục được những hạn chế,thiếu sót và vượt trên tất cả những nhà mỹ học trước đó.

Đúng như vậy, trong cuộc sống thực tiễn có thể đặt nặng tiêu chí này,tiêu chí khác Song, nếu chỉ chú ý đến một vài tiêu chí thì không thể đánh giáđược vẻ đẹp một cách đầy đủ, chính xác Mỹ học Mác - Lênin là khoa họctrang bị cho chúng ta những căn cứ để đánh giá, xem xét một con người đẹp

về toàn diện, đẹp về hình thức lẫn tâm hồn, đẹp ở mọi lúc mọi nơi chứ khôngphải theo chủ quan, cảm tính nên cái đẹp nó ổn định Chính vì vậy mà khiđánh giá cái đẹp trong cuộc sống, chúng ta phải nhìn ra được tính biện chứngtrong mối liên hệ giữa cái đẹp nội dung và cái đẹp hình thức để kết quả đánhgiá mang giá trị cao

1.3 Vẻ đẹp con người Việt Nam trong thời kỳ hiện đại

Dựa vào lý luận về cái đẹp của mỹ học Mác – Lênin, thực tiễn xã hội ViệtNam, chúng ta sẽ bàn vài nét về vẻ đẹp mà Người Việt Nam đang sở hữu

1.3.1 Vẻ đẹp hình thức

1.3.1.1 Vẻ đẹp hình thể - “hình thức thuần túy”

Sau nhiều năm đổi mới, đời sống vật chất của người Việt Nam được nângcao Mọi người giờ đây đã có cái ăn, cái mặc, cái ở, cái đi lại… Chính nhữngđiều kiện vật chất ấy đã cải thiện được hình thể của con người Những năm gầnđây, dù chưa có những số liệu cụ thể, song điều mà ai cũng phải thừa nhận đó làvóc dáng, chiều cao, cân nặng người Việt Nam đã cải thiện rất nhiều

Khoa học và thực tiễn chứng minh, người Việt Nam ngày nay thế hệcon cái thường cao lớn hơn thế hệ bố mẹ, não trẻ em ngày nay phát triểnnhanh và phát triển cao hơn so với trẻ em thế hệ trước kia Khi xã hội pháttriển, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng phong phú và đa dạng Tínhđến thời điểm hiện nay, trừ những xã đặc biệt khó khăn và vùng sâu vùng xa,còn lại tất cả các xã, phường đều có trạm y tế Con người Việt Nam có điều

Trang 33

kiện để chăm sóc sức khỏe của mình nhiều hơn Ngoài ra, y học phát triển(thuốc, sữa) góp phần ngăn ngừa và thúc đẩy sức khỏe con người khôngngừng tiến lên So sánh ngoài thực tế, một người gầy yếu, vóc dáng nhỏ (nhỏcon) sẽ không thể đẹp hơn một người có thân hình đầy đặn, cao ráo (nhưngkhông đến nỗi quá kích thước, quá thô kệch) Người Việt Nam ngày cànghoàn thiện hơn nữa, hay nói cụ thể hơn là vóc dáng người Việt Nam khôngcòn nhỏ nhắn, ốm yếu như trước nữa, về góc độ thẩm mỹ thì ngày càng hoànthiện hơn, cân đối hơn và đẹp hơn, đang tiến tới sở hữu một hình thể cân đốicủa sự hoàn hảo Các người đẹp Việt Nam thi hoa hậu, các cầu thủ bóng đá cóvóc dáng không thua gì ngoại hình của người nước ngoài, nhất là trong khuvực Châu Á

1.3.1.2 Vẻ đẹp sắc diện

Sắc diện được hiểu là vẻ mặt, nét mặt của con người Vẻ mặt, nét mặt ởđây được thể hiện ra là dễ thiện cảm, nét mặt phúc hậu nhân từ hay nói dễhiểu là nét mặt dễ thương Xét trong tất cả mọi con người trong nước ViệtNam, người khuôn mặt chữ điền, người mặt trái xoan, người có khuôn mặttròn…nhưng đều gợi lên một điều gì đó rất dễ hòa đồng, thân thiện và gầngũi Đó là trong xã hội nói chung, ngày nay trong nhiều cuộc thi người đẹp thìnhững thí sinh của Việt Nam cũng dành những vương niệm cao Ví dụ nhưnăm 2005, Phạm Thiên Trang đoạt vương miện hoa hậu tại Mỹ (ảnh 2); ngườiđẹp Hương Giang lọt tóp 10 mỹ nhân đẹp nhất thế giới (ảnh 3)…có được điều

đó một phần tự nhiên và cũng một phần là do sự tiến bộ của xã hội giúp conngười biết chăm sóc cho mình, và đời sống vật chất khá hơn là điều kiện chocon người chăm sóc mình được tốt đẹp hơn

Người có nghề nghiệp, có trình độ học vấn, có địa vị trong xã hội, đờisống vật chất cao…sẽ là những người có điều kiện hay đó là những người biếttạo cho mình một sắc diện tốt hơn những người trình độ học vấn thấp, không

có nghề nghiệp, không có địa vị xã hội, đời sống vật chất khó khăn Thực tếchứng minh, người học cao sẽ có thị hiếu thẩm mỹ tốt hơn người học ít và

Trang 34

không học; người có nghề nghiệp sẽ có điều kiện để họ đầu tư cho vẻ đẹp sắcdiện của mình hơn người không có nghề nghiệp, hay có những ngành nghề

mà đòi hỏi cao trong việc phải có một vẻ đẹp sắc diện tương đối hoàn hảo.Ngoài ra nơi ở thành thị hay nông thôn cũng có ảnh hưởng đến yếu tố sắc diệncủa con người Tuy nhiên, do xã hội Việt Nam ngày càng phát triển nênnhững yếu tố ảnh hưởng đến vẻ đẹp sắc diện ngày càng được cải thiện đáng

kể (trừ những người làm ác thì nét mặt không còn đẹp)

1.3.1.3 Vẻ đẹp âm sắc trong lời nói

Tiêu chí này được hiểu là âm hưởng, sắc thái phát ra trong lời nói Sựngọt ngào, nhẹ nhàng, dễ nghe, dễ được lòng người khác đó chính là nhữngnhận xét của bạn bè các nước khi đến Việt Nam

Việt Nam có một vị trí đặc biệt, nên tố chất tự nhiên ảnh hưởng đến conngười để rồi nhiều người có được một âm sắc giống nhau, tạo nên nét đẹptrong âm sắc ấy Ở từng con người một thì sẽ có sự khác nhau, nhưng nếunhìn một cách tổng thể thì người Việt Nam đa phần là giọng thanh, trongtrẻo nhưng ấm áp, ngọt ngào Khi giao tiếp với nhau, cảm giác dễ hòađồng, thân thiện được tạo nên từ chính âm sắc đó trong lời nói của ngườiViệt Thực tế chứng minh cho thấy, chính cái chất giọng, cái âm sắc trongtrẻo nhưng lại ngọt ngào, nhỏ nhẹ ấy giúp người Việt Nam có được một nétvăn hóa đặc sắc, vô cùng độc đáo trong âm nhạc mà các nước trên thế giớikhông có được Nói đến các thể loại nhạc thì các nước và Việt Nam đều có,thể loại này như nhau Nhưng nói đến những loại hình nghệ thuật như:tuồng chèo, cải lương Nam bộ, ngâm thơ, hò đối đáp, dân ca quan họ…thìchỉ có duy nhất ở con người Việt Nam mà thôi Cái trong trẻo, ấm áp, ngọtngào, truyền cảm đã cho những câu hát vọng cổ, những câu hò, những điệungâm thơ, những câu hát quan họ không chỉ đi vào lòng người mà còn làmột nét văn hóa độc đáo có một không hai trên thế giới Đặc biệt là mộtloại nhạc thời Nguyễn là “nhã nhạc cung đình” được UNESCO công nhận

là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003 Theo đánh

Trang 35

giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia" [29] Có thể khái quát một số điểm như

vậy để chứng minh cho vẻ đẹp âm sắc trong lời nói của con người ViệtNam hiện có Không những thế mà ngày nay, trước một nghề nghiệp nhấtđịnh cần “thanh” tốt thì người Việt Nam cũng rèn luyện thêm để chất giọngmình ngày càng tốt hơn, phù hợp với nghề nghiệp hơn Nên đó cũng góp phầnlàm nên cái đẹp trong âm sắc của lời nói

1.3.1.4 Vẻ đẹp cử chỉ, điệu bộ

Người Việt Nam có câu “lời chào cao hơn mâm cỗ”, cho nên dù đó là

một lời chào hay một cử chỉ, điệu bộ cũng có thể nói lên được sự vui vẻ hòađồng, sự nhiệt tình, hiếu khách Không chỉ vậy thôi mà một nụ cười rạng rỡ

trên đôi môi cũng thay cho một tiếng chào mừng, một thiện chí “ Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia, các dân tộc vì hòa bình hữu nghị, bình đẳng, cùng có lợi, cùng phát triển ”

Trong mỗi con người, sự biểu hiện của cử chỉ, điệu bộ không hoàn toàngiống nhau, vì con người không đồng nhất về nghề nghiệp, học vấn, đời sốngvật chất…người có công việc đòi hỏi giao tiếp nhiều, trình độ học vấn cao,đời sống vật chất khá…ắt hẳn sẽ có một phong thái trong quan hệ ứng xử vănminh, lịch sự Việt Nam đang trong quá trình vươn mình vào trong cộng đồnghòa nhập, cho nên ngành nghề đa dạng, trình độ học vấn cũng cần nâng lên,mức sống người dân ngày càng được cải thiện theo hướng đầy đủ Chính điều

đó mà ngày nay, trong xã hội Việt Nam những yếu tố có ảnh hưởng đến cáiđẹp của cử chỉ, điệu bộ ngày càng thay đổi theo hướng tích cực

1.3.1.5 Vẻ đẹp trong phục sức trang điểm

Việt Nam là đất nước có nền văn minh lúa nước lâu đời, do đó cáchlàm đẹp với những trang phục đó cũng mang đậm tính địa lý tự nhiên, tínhchất kinh tế, trình độ văn hóa của các dân tộc tiểu số nói riêng của Việt Namnói chung

Những người sống ở nông thôn thì ăn mặc gọn gàng, kín đáo, vớinhững gam màu tối để phù hợp với công việc đồng áng Những người vùng

Trang 36

cao (miền núi) thì mặc những trang phục có màu sắc sặc sơ hơn, sự phối hợpnhững gam màu ví như sắc màu của muôn hoa trong rừng đang mùa nở rộ Mỗidân tộc mang một sắc thái riêng, thông thường, phục trang của phụ nữ thể hiệnrất rõ bản sắc riêng của mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Chẳnghạn như chiếc áo dài (ảnh 4) của người Kinh (là Quốc phục của Việt Nam),chiếc áo bà ba của người Nam bộ (ảnh 5), trang phục truyền thống người Khme(ảnh 6), Người Tày (ảnh 7), người Giao (ảnh 8), người Giáy (ảnh 9), NgườiHoa (ảnh 10), người Lolo (ảnh 11) điều thể hiện vẻ đẹp mảnh mai, trang nhã,lịch sự, chân quê, vẻ đẹp mộc mạc của con người sống trong lao động

Ngày nay, xu thế hội nhập tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhu cầu làmđẹp về trang phục Nhu cầu làm đẹp của con người ngày càng phát triển nhờđất nước đổi mới, đời sống vật chất được nâng cao Ngoại trừ một số dân tộcvùng cao tự dệt vải để mặc, còn lại tất cả đều sử dụng vải của nền côngnghiệp dệt ngày nay, phong phú về chủng loại, đa đạng về giá cả, nên ngườinào cũng có thể sử dụng được Song không chỉ có ở đó, ngày nay xu thế hội

nhập và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là “kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa” Do đó, người Việt Nam tham gia

vào nhiều ngành nghề Chính những ngành nghề và trình độ nhận thức thẩm

mỹ nó cũng đòi hỏi trang phục của người ngày càng trở nên đẹp Những trangphục sang trọng, trang nhã, quí phái, gọn gàng, lịch nó vừa đòi hỏi cả trangphục truyền thống của ta và những âu phục nam nữ trong thời đại ngày nay,như áo dài cách điệu (ảnh 12), veston nam nữ (ảnh 13), váy công sở (ảnh 14),đầm dạ hội (ảnh 15)…càng điểm tô cho vẻ đẹp người Việt Nam Trang phụcngày nay, xét ở góc độ mỹ học nó không chỉ thể hiện người Việt Nam ngàynay vừa phát triển cả về ý thức thẩm mỹ nhờ biết tiếp cận cái mới, có thunhập được nâng cao mà còn nói lên được trình độ phát triển văn hóa của dântộc Việt Nam

Một nét đẹp có sự đan xen giữa nét truyền thống với nét hiện đại, nétđẹp truyền thống mang đậm đà màu sắc của dân tộc Việt Nam, nét đẹp hiệnđại càng tôn vinh cho nét đẹp của con người lên tầm cao tri thức thẩm mỹ,

Trang 37

của sự phát triển kinh tế của người dân và của cả nước Việt Nam Tuy nhiên,vấn đề nào cũng có mặt trái của nó Ngày nay có không ít người vì quá thamvọng đã chạy theo xu thế hiện đại, nó không mang lại giá trị tích cực mà còngây phản cảm cho cộng đồng (vấn đề này sẽ bàn ở phần hạn chế).

Tóm lại, vẻ đẹp hình thức người Việt Nam là sự kết hợp của các yếu tốhình thể, sắc diện, âm sắc trong lời nói, cử chỉ điệu bộ, trang phục trong cộngđồng 54 dân tộc Mỗi dân tộc dù có khác nhau màu da, tiếng nói, cách ăn mặcnhưng tất cả đều gợi lên một nét đẹp riêng cho dân tộc mình…chính nhờ sựkết hợp đó mà ngày nay, người Việt Nam có thể sánh vai với các nước trongnhững cuộc thi sắc đẹp, thể hình Hình ảnh cô gái có mái tóc dài thướt thatrong gió với chiếc áo dài và chiếc nón bài thơ đã đi vào lòng bạn bè khắpnăm châu

1.3.2 Vẻ đẹp nội dung

1.3.2.1 Vẻ đẹp tâm hồn

Nằm ở trung tâm, cửa ngõ Đông Nam Á, nhưng Việt Nam không phải

là nước phát triển mạnh về công nghiệp, mà trái lại chỉ phát triển được mộtnền kinh tế lúa nước là trọng yếu của quốc gia Không một ai không biết nghềnông vô cùng nặng nhọc, vất vả Nó không chỉ đòi hỏi phải cần cù chịu khó

mà còn phải có sự dẻo dai, bền bỉ Có thể nói rằng, công việc đồng áng củangười nông dân nhiều đến mức không có thời gian để nghỉ ngơi Tuy nhiên,điều đáng quý ở đây là công việc đồng áng không làm mờ nhạt tinh thần lạcquan, yêu đời, đam mê văn nghệ - nghệ thuật người nông dân Việt Nam

Tinh thần lạc quan yêu đời của người Việt Nam làm hình ảnh ngườinông dân trở nên một người nghệ sĩ Hình ảnh rất nghệ sĩ bộc lộ ngay cảnhững người sống trong núi cao, rừng thẳm Nhà thơ Tố Hữu đã khắc họa

nhân vật Thạch Sanh: “Tay đàn, tay búa, lưng đeo nỏ/ Giết mãng xà tinh, chém đại bàng” Khí phách hiêng ngang, tinh thần lạc quan, ung dung cao

độ như không có nguy hiểm gì sắp diễn ra Gặp mãng xà tinh là đi đến cáichết nhưng Thạch Sanh không mãi mai lo sợ, mà vẫn tay cầm đàn, tay cầmbúa thể hiện một tố chất mạnh mẽ, hiên ngang nhưng cũng nói lên tính nghệ

Trang 38

sĩ Hồ Chủ tịch cũng là một tấm gương về sự lạc quan, yêu đời Khi ở Pắc

Pó, mặc dầu điều kiện khó khăn cả về vật chất lẫn nguy hiểm bởi kẻ thù,nhưng Bác thì:

“Sáng ra bờ suối tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh vạch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang ” (Hồ Chí Minh)

Cuộc sống thật đơn sơ, giản dị, đạm bạc nhưng Bác luôn lạc quan, yêuđời viết nên những vần thơ trong khung cảnh đơn sơ, giản dị Điều lạc quancủa Bác chúng ta có thể thấy rõ khi nghiên cứu tập thơ “Nhật ký trong tù”

Tinh thần lạc quan, yêu đời, đam mê cái đẹp được thể hiện trong mọicon người Việt Nam, ở mọi thời đại và ở mọi lúc, mọi nơi

Nước Việt Nam có một nền văn hiến lâu đời, trải qua biết bao nhiêu thế

hệ, Người xưa đã đễ lại cho đời sau một kho tàng về cac dao, tục ngữ Nó nhưmột bức tranh tổng thể phản ánh tất cả các hoạt động của con người ViệtNam Dù lao động mệt nhọc nhưng con người vẫn vui vẻ, lạc quan Nhữngcâu ca dao, tục ngữ, những câu hát đối đáp trong đêm “chợ tình”, những câuhát quan họ, những câu hát cải lương, hay những điệu múa lâm thôn…tạo nênnét đẹp tâm hồn của con người Việt Nam

Ca dao tục ngữ, truyện dân gian thì nhiều vô số, nó là cả một kho tàng

số lượng và nội dung vô cùng phong phú, nó như một bức tranh văn hóa lưulại cho thế hệ hôm nay và mai sau Ca dao, tục ngữ, truyện dân gian hướngđến tất cả các đối tượng trong cuộc sống: tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, tìnhyêu quê hương đất nước, tri thức kinh nghiệm trong lao động sản xuất, nhữngbài học quý giá trong đạo làm người, những lời than thân, trách phận.v.v.nên nóảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Song song với tinh thần lạc quan, yêu cái đẹp thì con người còn say mêhướng tới sự đam mê nghệ thuật Xuất phát từ những âm thanh quen thuộctrong lao động, cùng với một tư duy chống lại sự mỏi mệt trong lao động, conngười hướng đến chế tác ra các loại nhạc cụ, nó làm từ những chất liệu đơn

Trang 39

giản, quen thuộc với người lao động, góp phần tạo nên âm hưởng cho nhữngđêm lễ hội hay sinh hoạt văn nghệ.

Một đặc điiểm của người Nam Bộ, dù lao động mệt nhọc, hay nhữnglúc tổ chức lễ cưới sinh, hoặc ngồi uống rượu với nhau cùng ca hát cải lương(ảnh 16) – một loại hình nghệ thuật chỉ có duy nhất ở Việt Nam Mức độ sinh

hoạt “đàn ca tài tử” rất phổ biến, nó ăn sâu và trở thành nhu cầu của người

dân Nam Bộ

Ngày nay, khi vai trò của triết học mang lại nhiều hiệu quả trong nhậnthức và trong hành động, môn triết học trở thành môn học chung cho tất cảcác ngành từ cấp học trung học trở lên Nhiều người bắt đầu quan tâm nghiêncứu và khai thác nhiều vấn đề mới, trong đó có người đi vào nghiên cứunhững quy luật, phạm trù có tính biện chứng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.Kết quả này chứng minh giá trị của ca dao, tục ngữ Việt Nam không chỉ làhiện thân của nét đẹp tâm hồn mà còn mang tính triết học (khoa học)

Ngoài những vấn đề trên, lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ thể hiệntrong sự phụng dưỡng lúc sinh thời, thờ cúng khi “qui tiên” Không những thế

mà có nhiều người tham gia các kỷ lễ lớn như: Giỗ tổ Vua Hùng (ảnh 17), Vía

Bà Chúa Xứ núi Sam (ảnh 18), Lễ Phật Đản (ảnh 19), Lễ Vu Lan (ảnh 20),…Đặc biệt là thói quen đi lễ, đi chùa làm con người thấy tâm hồn được thanhthản, vui vẻ, lạc quan, yêu đời hơn, sống chan hòa với mọi người nhiều hơn,

và xét ở góc độ tín ngưỡng nào đó cũng nhằm cầu phúc cho gia đình, cho ông

bà cha mẹ Đó là nét sinh hoạt tinh thần khá phổ biến của người Việt Namngày nay, và nó cũng là một nét đẹp tâm hồn cần được nhắc đến

Tất cả vấn đề nêu trên là một minh chứng thiết thực cho nét đẹp của sựlạc quan, yêu đời, đam mê nghệ thuật mà chung quy lại đó là nét đẹp tâm hồncủa người Việt Nam chúng ta Do nó đẹp nên chúng ta không chỉ kế thừa màphải phát huy, kết hợp với sự phát triển của thời đại để nâng giá trị nó lên một

tầm cao mới Như tinh thần của PGS.TS Đặng Hữu Toàn “trong xu thế vận động và phát triển của toàn cầu hóa hiện nay, văn hóa tinh thần nói chung,

Ngày đăng: 15/10/2020, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w