TÓM TẮT LUẬN VĂNTên đề tài: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị Số trang: 84 trang Trường: Đại học Kinh tế - Đại học Qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3CAM KẾT
Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện.Các thông tin và số liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn đủ nguồn tàiliệu và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực Luận văn không trùngvới bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày tháng năm 2020
Tác giả
Vũ Tiến Hiệu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin được gửi lời cảm ơnchân thành tới TS Lưu Thị Minh Ngọc – Người đã quan tâm hướng dẫn, gợi
ý và tạo điều kiện giúp tác giả hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô đã giảng dạy trong quá trìnhhọc thạc sĩ, Quý thầy cô trong Hội đồng bảo vệ đề cương, Quý thầy cô KhoaQuản trị kinh doanh và Khoa Sau đại học, Quý thầy cô trong Hội đồng chấmluận văn đã truyền đạt các kiến thức bổ ích, đồng thời có những góp ý quýbáu về những thiếu sót, hạn chế của luận văn, giúp tác giả nhận ra những vấn
đề cần khắc phục để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đôthị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp các số liệu nội bộ để tác giả sửdụng làm tài liệu cũng như mình chứng cho các luận điểm để luận văn cậpnhật được vấn đề sâu sắc và xác thực nhất
Tác giả
Vũ Tiến Hiệu
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị
Số trang: 84 trang
Trường: Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Khoa: Quản trị Kinh doanh
Người nghiên cứu: Vũ Tiến Hiệu
Người hướng dẫn khoa học: TS Lưu Thị Minh Ngọc
Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường bất động sản, chất lượngnhà ở trở thành vấn đề cấp thiết mà khách hàng luôn quan tâm Bên cạnh đó,đây cũng là một trong những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanhbất động sản Đặc biệt, nhà ở là một nhu cầu thiết yếu đối với tất cả ngườidân, là sản phẩm sử dụng gần như gắn với cả cuộc đời nên việc đáp ứng đượcnhu cầu và sự thỏa mãn sẽ là yếu tố quyết định đến việc mua nhà của mỗingười Chính vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cần phải xácđịnh những nhân tố nào tác động đến sự hài lòng khách hàng và các kháchhàng hiện tại có hài lòng về sản phẩm, dịch vụ của mình hay không?
Song cho đến nay, Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị - đơn vị
đi đầu trong tổ chức thực hiện hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và kinh doanhbất động sản thuộc Bộ Xây dựng vẫn chưa có những nghiên cứu chính thức,
cụ thể về sự hài lòng khách hàng của mình Do đó, tác giả đã chọn đề tài:
“Mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng
công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị” để làm luận văn thạc sĩ của mình.
Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về mức độ hài lòng
Trang 6của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triểnnhà và đô thị trong giai đoạn 2015 - 2017.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất giải pháp nhằm nâng cao
mức độ hài lòng khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tưPhát triển nhà và đô thị để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh doanh và điều kiệnthực tế
Phương pháp nghiên cứu:
1) Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp Luận văn sử dụng nguồn dữliệu thu thập từ các tài liệu, báo cáo và thông tin nội bộ của Tổng công ty Đầu
tư Phát triển nhà và đô thị trong giai đoạn 2015 - 2017, nguồn dữ liệu thu thập
từ bên ngoài như cơ quan Bộ ngành trung ương, các ấn phẩm đã được xuấtbản
2) Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Phương pháp khảo sát điều tra là phương pháp tác giả sử dụng những
kỹ thuật nghiên cứu để thu thập dữ liệu, thông tin có thể biểu hiện bằng cáccon số thống kê, các bảng biểu đối với các khách hàng đang sử dụng nhà ởcủa Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị
Những kết quả nổi bật của đề tài:
Về mặt lý luận, luận văn góp phần khái quát và phát triển những nội
dung lý thuyết về sự hài lòng nói chung, cũng như về sự hài lòng của kháchhàng đối với sản phẩm nhà ở
Về mặt thực tiễn, luận văn nghiên cứu, tìm hiểu và tổng hợp các kinh
nghiệm thực tiễn quý báu về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà
ở Qua phân tích, luận văn chỉ ra thực trạng những ưu, khuyết điểm và nhữngnguyên nhân then chốt ảnh hưởng tới sự hài lòng của khách hàng đối với sảnphẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị Từ đó, đề ranhững giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng một cách
Trang 7khoa học và khả thi, góp phần thực hiện thắng lợi các chiến lược phát triểncủa Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị.
Các giải pháp và kiến nghị được đưa ra đều nhằm mục đích nâng caomức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở tại các dự án doTổng Công ty làm chủ đầu tư
Trang 8MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NHÀ Ở 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở 7
1.2.1 Một số khái niệm 7
1.2.2 Đặc điểm và ý nghĩa của sản phẩm nhà ở 10
1.2.3 Các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng 12
1.2.4 Sự hài lòng của khách hàng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Quy trình nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu 24
2.1.1 Quy trình nghiên cứu 24
2.1.2 Mô hình nghiên cứu 26
2.1.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2 Triển khai nghiên cứu 29
2.2.1 Thu thập dữ liệu 29
Trang 92.2.2 Xử lý và phân tích dữ liệu 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 35
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NHÀ Ở CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ 36
3.1 Tổng quan về Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị 36
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
3.1.2 Sơ đồ tổ chức 38
3.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 41
3.2 Thực trạng về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị 44
3.2.1 Thực trạng sự hài lòng của khách hàng về chất lượng nhà ở 46
3.2.2 Thực trạng sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ kèm theo 49
3.2.3 Thực trạng sự hài lòng của khách hàng về giá cả 52
3.2.4 Thực trạng sự hài lòng của khách hàng về vị trí 54
3.2.5 Thực trạng sự hài lòng của khách hàng về cảnh quan và sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật 55
3.3 Đánh giá chung về mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị 57
3.3.1 Kết quả đạt được 57
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 60
Chương 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NHÀ Ở CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ 61
4.1 Bối cảnh thị trường bất động sản 61
Trang 104.2 Định hướng phát triển của Công ty đến năm 2022 61
4.3 Các giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị 62
4.3.1 Giải pháp về định hướng đầu tư và công tác quản trị doanh nghiệp, quản lý quy hoạch, xây dựng công trình 62
4.3.2 Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý và người lao động 69
4.4 Kiến nghị với Chính phủ 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2 3
Trang 12DANH MỤC BẢNG
STT
1 2
3
4
5 6 7
8
9 10 11 12
Trang 13ii
Trang 14DANH MỤC HÌNH
STT
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14
Trang 15iii
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Tại Việt Nam, nhà ở đang là một vấn đề nan giải, nguyên nhân chủ yếu
do tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ
Sự tăng giá chóng mặt của nhà ở trong những năm vừa qua tạo ra trở ngại lớncho việc ổn định nhà ở của các hộ gia đình có thu nhập thấp và các thế hệ trẻ.Bên cạnh đó, với sự phát triển nóng của thị trường bất động sản, rất nhiềudoanh nghiệp chuyển ngành nghề kinh doanh sang lĩnh vực này cùng vớihàng ngàn doanh nghiệp thành lập mới đã cho ra đời hàng triệu công trình nhà
ởtại khắp các địa phương Với sự phát triển nhanh chóng như vậy, chất lượngnhà ở là một vấn đề cấp thiết khách hàng luôn quan tâm
Mặt khác, đứng trên khía cạnh doanh nghiệp kinh doanh bất động sản,thông qua phản hồi của khách hàng sử dụng nhà ở, doanh nghiệp sẽ biết được giátrị thực tế sản phẩm của mình, lợi thế cạnh tranh với đối thủ hoặc biết được cáccông việc cần phải làm để nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Tuy nhiên, với việc tốc độ đô thị hóa và sự phát triển bùng nổ của thịtrường bất động sản hiện nay dẫn tới việc đầu tư xây dựng các công trình nhà ởtràn lan, chất lượng không đồng đều ở mọi phân cấp nhà ở Rất nhiều doanhnghiệp không đủ năng lực đứng ra đầu tư xây dựng nhưng thiếu kinh nghiệm,năng lục tài chính và quản lý dẫn tới chất lượng sản phẩm nhà ở không đảm bảo,các dịch vụ tiện ích đi kèm không có hoặc thiếu đồng bộ, môi trường sống, cảnhquan xung quanh, vệ sinh … không đảm bảo Điều này đòi hỏi phải thực hiệncác nghiên cứu, đánh giá về chất lượng nhà, chất lượng sử dụng dịch vụ
Chính vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cần phải xácđịnh những nhân tố nào tác động đến sự hài lòng khách hàng và các kháchhàng hiện tại có hài lòng về sản phẩm, dịch vụ của mình hay không? Việcnắm bắt những nhu cầu, nhận thức của khách hàng là cơ sở cho chiến lược
Trang 17hoạch định cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhằm nâng caomức độ hài lòng khách hàng, góp phần giúp các doanh nghiệp duy trì lượngkhách hàng hiện tại và mở rộng thị phần tìm kiếm khách hàng mới.
Song cho đến nay, Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị - đơn vị
đi đầu trong tổ chức thực hiện hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và kinh doanhbất động sản thuộc Bộ Xây dựng vẫn chưa có những nghiên cứu chính thức,
cụ thể về sự hài lòng khách hàng của mình Do đó, vấn đề cấp thiết mà Tổngcông ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị phải nghiên cứu và tìm ra giải phápnâng cao chất lượng nhà ở, dịch vụ và thực hiện được vai trò tích cực trongviệc thực hiện chiến lược nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt
Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề đặt ra, tác giả đã chọn nghiên cứu
đề tài “Mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị” Ở nghiên cứu này, tác giả sẽ tìm ra
các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đến sự hài lòng, từ
đó đánh giá mức độ hài lòng chung của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở và
đề xuất các giải pháp để Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị xemxét, cải tiến, thực hiện nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho Tổng công ty
Từ đó, có 3 câu hỏi cần được làm rõ trong nghiên cứu, đó là:
- Khách hàng hài lòng ở mức độ nào đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị và đâu là nguyên nhân?
- Có những giải pháp nào để nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty trong thời gian tới?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 18b, Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứu là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sảnphẩm nhà ở; Tổng hợp có nhận xét các công trình nghiên cứu có liên quanđến đề tài;
- Phân tích và đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị
- Nghiên cứu bối cảnh thị trường bất động sản, định hướng phát triển Tổng công ty làm cơ sở đề xuất giải pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a, Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị
- Phạm vi về không gian: Các dự án nhà ở, khu đô thị của Tổng công ty
Đầu tư Phát triển nhà và đô thị tại miền Bắc và miền Trung
4 Những đóng góp của luận văn nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận văn góp phần khái quát và phát triển những nội
dung lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng nói chung, cũng như sự hài lòngcủa khách hàng đối với sản phẩm nhà ở nói riêng
Trang 19Về mặt thực tiễn, luận văn chỉ ra thực trạng những ưu, khuyết điểm và
những nguyên nhân then chốt ảnh hưởng mức độ hài lòng của khách hàng đốivới sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị tronggiai đoạn 2015 – 2017 Từ đó, đề ra giải pháp nâng cao mức độ hài lòng củakhách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty có tính khoa học và khảthi, góp phần vào xây dựng và phát triển Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà
và đô thị trong tương lai
Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị đối với cấp quản lý của Tổngcông ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị
- Chương 4: Các giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng
đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH
HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NHÀ Ở
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Do sự hạn chế về khả năng tiếp cận kho dữ liệu các nghiên cứu nướcngoài về mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở nên ở phầnnày tác giả xin đề cập tới các công trình nghiên cứu có tính ứng dụng cao vàphổ biến về sự hài lòng của khách hàng
Năm 1989, chỉ số (barometer) đo mức độ hài lòng đầu tiên được ra đờitại Thụy Điển (Swedish Customer Satisfaction Barometer - SCSB) nhằm thiếtlập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với việc mua và tiêu dùng sản phẩm -dịch vụ nội địa Trong những năm sau đó, chỉ số này được phát triển và ứngdụng rộng rãi tại các nước phát triển như Mỹ - ACSI, Na Uy - NCSI , ĐanMạch - DCSI và các quốc gia EU - ECSI (1998) Chỉ số này có thể thực hiệntrên phương diện quốc gia (các doanh nghiệp, các ngành sẽ thỏa mãn như thếnào đối với khách hàng của họ) hoặc ở góc độ nội bộ ngành (so sánh sự thỏamãn của các doanh nghiệp trong phạm vi một ngành) và so sánh giữa các thờiđiểm khác nhau (để nhận thấy sự thay đổi) Từ đó, các doanh nghiệp có thểbiết được vị thế, sự đánh giá của khách hàng đối với doanh nghiệp để hoạchđịnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp của mình
Theo đó, Parasuraman và cộng sự (1988,1991,1993) đã khẳng địnhrằng Servqual là một dụng cụ đo lường chất lượng dịch vụ tin cậy, chính xác
và thang đo này đã được sử dụng rộng rãi (Buttle, 1996; Robinson,1999),nhiều nhà nghiên cứu đã ứng dụng thang đo Servqual trong việc đo lườngmức độ hài lòng như: Lotfollah Najjar và Ram R.Bishu (2006), Ugur Yavas
Trang 21(2007) Các nghiên cứu này tập trung vào hiệu chỉnh các thành phần chấtlượng đều dựa trên các biến số được đề nghị của Parasuraman.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đa phần các công trình trong nước trước đây đều nghiên cứu sự hàilòng gắn với các lĩnh vực khác nhau như trong giáo dục, dịch vụ ngân hàng,viễn thông di động, Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và kinh phí nên tácgiả sẽ chỉ đi sâu vào tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp tới
đề tài đang thực hiện
Trịnh Thị Xuân Lan (2005), Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng đối với sản phẩm sản phẩm căn hộ chung cư cao cấp trên thị trường thành phố (Tp) Hồ Chí Minh Luận văn thạc sĩ Đại học Bách
khoa, TP Hồ Chí Minh Với thang đo ban đầu là 7 thành phần và 24 biến: Giá(1 biến), Chất lượng sản phẩm (6 biến), Chất lượng dịch vụ (6 biến), Lòng tin(1 biến), Thương hiệu (1 biến), Vị trí địa lý (3 biến) và Sự thỏa mãn kháchhàng (6 biến) Tiếp tục bổ sung và hiệu chỉnh, kết quả thu được bộ thang đovới 7 thành phần và 22 biến: Giá (2 biến), Chất lượng căn hộ (5 biến), Chấtlượng dịch vụ (6 biến), Hạ tầng kỹ thuật (4 biến), Thương hiệu (2 biến), Vị tríđịa lý (3 biến), và Sự hài lòng chung (5 biến) Kết quả nghiên cứu có độ giảithích đạt khá cao 68.7% và mô hình phù hợp với dữ liệu ở độ tin cậy 95%
Theo nghiên cứu của Huỳnh Đoàn Thu Thảo (2010), Phân tích các nhân
tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng sử dụng sản phẩm căn hộ chung cư của Công ty Kinh doanh và Phát triển nhà Khánh Hòa các biến được đề xuất
gồm: Giá, chất lượng căn hộ, chất lượng dịch vụ, thương hiệu, vị trí địa lý Saukhi phân tích nhân tố mô hình có 6 thành phần và 17 biến gồm: Giá và chấtlượng dịch vụ (3 biến), Hạ tầng kỹ thuật (3 biến), Kỹ năng nhân viên (2 biến),Thiết kế căn hộ (2 biến), Thương hiệu và vị trí (4 biến), Sự uy tín (3 biến)
Trang 22Nghiên cứu thực hiện bằng cả hai phương pháp định tính và định lượng
để xây dựng thang đo và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sựhài lòng khách hàng mua căn hộ chung cư ở Khánh Hòa
Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ giải thích của mô hình đạt khá cao73,8% và mô hình phù hợp với dữ liệu ở độ tin cậy 95% Từ đó, tác giả gợi ýmột số giải pháp cho doanh nghiệp; đồng thời xác định các hạn chế của đề tài
và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trước đây chủ yếu là liên quan tới sựhài lòng của khách hàng về các vấn đề, lĩnh vực sản phẩm tiêu dùng, dịch vụngân hàng, tài chính, bán lẽ, viễn thông, Lĩnh vực nghiên cứu sự hài lòngcủa khách hàng đối với sản phẩm nhà ở ít được quan tâm nghiên cứu, nhất làgiai đoạn hiện nay của thị trường bất động sản, về chất lượng dịch vụ kèmtheo sản phẩm nhà ở gần đây lại ít được quan tâm
Bên cạnh đó, với các công trình trong nước, tác giả cũng đã phân tích,đánh giá và nhận thấy đến thời điểm hiện tại hầu như chưa có các nghiên cứu
về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩmnhà ở nói chung, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại Tổngcông ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị
Đây sẽ là các gợi ý nghiên cứu để tác giả thực hiện nghiên cứu một vấn
đề, lĩnh vực còn tương đối mới mẻ nhưng có tính thời sự và thực tiễn xã hộitại thời điểm hiện nay
1.2 Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở
1.2.1 Một số khái niệm
Khái niệm sản phẩm nhà ở
Tuỳ theo các góc độ nghiên cứu khác nhau, có nhiều khái niệm về nhà ở
Trang 23Về góc độ xây dựng, nhà ở là sản phẩm của hoạt động xây dựng và khônggian bên trong có tổ chức được ngăn cách với môi trường bên ngoài dùng để ở.
Về góc độ quản lý kinh tế, nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đờisống con người, là bộ phận quan trọng bảo vệ con người trước các hiện tượng
tự nhiên
Về góc độ kinh doanh thương mại, nhà ở là tài sản có giá trị, là mộthàng hóa của hoạt đồng đầu tư kinh doanh
Theo Luật Nhà ở (2014), nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để
ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân
Nhìn chung, có thể hiểu nhà ở là tài sản có giá trị, được xây dựng để ở
và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân Như vậy, khi doanh nghiệp đầu tư xây dựng các dự án nhà ở và bán lại cho các hộ gia đình, cá nhân để ở thì lúc này nhà ở trở thành một hàng hóa của hoạt động đầu tư kinh doanh.
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2012/BXD về nguyên tắcphân loại, phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đôthị, nhà ở được phân loại như sau:
1) Nhà chung cư
- Chung cư cao tầng;
- Chung cư nhiều tầng;
- Chung cư thấp tầng;
- Chung cư mi ni;
- Chung cư hỗn hợp (chức năng ở kết hợp với văn phòng và các dịch vụ
công cộng khác);
2) Nhà ở riêng lẻ
- Biệt thự: biệt thự đơn lập, biệt thự song lập, biệt thự cao cấp, biệt thự
du lịch;
Trang 24- Nhà ở liên kế: nhà liên kế mặt phố (nhà phố), nhà liên kế có sânvườn;
- Nhà ở nông thôn truyền thống;
Khái niệm sự hài lòng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này
Hiểu một cách đơn giản, sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái hoặc cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ sau khi
đã sử dụng dịch vụ đó (Terrence Levesque và Gordon H.G McDougall, 1996).
Zeithaml và Bitner (1996) cho rằng, sự hài lòng là quá trình nhận xét,đánh giá của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ mà sản phẩm hay dịch vụnày có đáp ứng được các nhu cầu và sự kỳ vọng của họ hay không
Cụ thể hơn, Kotler và Keller (2006) cho rằng sự hài lòng được xác địnhtrên cơ sở so sánh giữa kết quả nhận được từ dịch vụ và mong đợi của kháchhàng được xem xét dựa trên ba mức độ là:
- Khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng nếu kết quả nhận được ít hơn mong đợi
- Khách hàng sẽ hài lòng nếu kết quả nhận được giống như mongđợi
- Khách hàng sẽ rất hài lòng và thích thú nếu kết quả nhận được nhiều hơn mong đợi
Như vậy, sự hài lòng khách hàng có thể được hiểu là mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của họ Với việc so sánh giữa kỳ vọng
của khách hàng và tính đáp ứng nhu cầu của sản phẩm cho ta thấy sự hài lòngcủa khách hàng được thể hiện ở ba cấp độ, đó là:
- Thứ nhất, sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu khách hàng tạo ra
sự thất vọng hay không hài lòng
- Thứ hai, sản phẩm đáp ứng đúng như kỳ vọng của khách hàng trước khi
Trang 259
Trang 26- Thứ ba, sản phẩm vượt quá kỳ vọng của khách hàng, tạo lên sự thích thú hay sản phẩm có chất lượng hoàn hảo.
Từ khái niệm sản phẩm nhà ở và sự hài lòng khách hàng đã trình ở trên,
trong phạm vi luận văn này, ta có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở là mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được với những kỳ vọng trong quá trình sử dụng nhà
đã mua để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của họ.
1.2.2 Đặc điểm và ý nghĩa của sản phẩm nhà ở
1.2.2.1 Đặc điểm sản phẩm nhà ở
- Nhà ở không thể di dời được, nó gắn liền với đất, được xây dựng trênđất, điều này chỉ vị trí của nó được phân bố ở đâu Vị trí nhà ở gắn liền với sựthuận tiện về mặt giao thông di chuyển tới nơi mong muốn cũng như là điều kiệnmôi trường sống, hạ tầng kỹ thuật, tiện nghi và khả năng sinh lời, bởi vậy vị trícủa nhà đất có tính chất quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất tới giá trị tài sản
- Nhà ở là một tài sản có tính bền vững, thời gian sử dụng dài, hao mònchậm Điều này có nghĩa nhà ở là một sản phẩm đầu tư an toàn và lâu dài, cóthể coi như của để dành, là tài sản thừa kế đối với nhiều người dân có thunhập thấp và trung bình
- Nhà ở là tài sản có giá trị lớn so với thu nhập của đa số người dân
- Nhà ở rất phong phú và đa dạng cả về số lượng, chất lượng Điều nàymột mặt là do nhu cầu sử dụng của mỗi người dân, do sự quy hoạch phát triển
đô thị của chính phủ và sự khác nhau bởi khí hậu, địa hình, mức độ phát triểnkinh tế giữa các vùng miền trên cả nước
Trang 27như tài chính ngân hàng, vật liệu xây dựng, khai thác đá, cát … cung cấp thiết
bị, công nghệ xây dựng Chất lượng và quy mô nhà ở đô thị sẽ góp phần kíchthích hay hạn chế nhu cầu của dân cư đô thị với các loại hàng hoá như: dụng
cụ gia đình, hàng điện tử điện lạnh, trang trí nội thất Cùng với chính sách củaNhà nước thì chất lượng và quy mô nhà ở ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụsản phẩm, hệ thống Ngân hàng, phân bố dân cư và nguồn lao động
Nền kinh tế thị trường phát triển khi nó phát triển đồng bộ các thị trường,trong đó thị trường bất động sản là một bộ phận có thể tác động mạnh mẽ đếnnền kinh tế và có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều vấn đề của xã hội Điển hình nhưtình trạng bong bóng bất động sản, sự đóng băng của thị trường dẫn tới nợ xấucủa các ngân hàng, làm giảm khả năng huy động vốn của và nguy cơ mất vốn khicho vay đối với các dự án mà chủ đầu tư không có đủ tiềm lực tài chính Đôi khi
có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế đối với cả nước
-Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất trọng yếu tái sản xuất sức lao động Môi trường cư trú, điều kiện sinh hoạt của nơi ở, nơi làm việc, ảnhhưởng rất lớn tới tái sản xuất sức lao động và tâm sinh lý của người lao động,tới quá trình sản xuất, hiệu quả của nền kinh tế Đối với nơi ở có cảnh quantốt, cơ sở hạ tầng dịch vụ đầy đủ, giao thông thuận tiện sẽ khiến con ngườicảm thấy thoải mái, tiết kiệm thời gian di chuyển tới nơi làm việc và được đápứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt một cách nhanh nhất
- Nhà ở đô thị là điều kiện vật chất ảnh hưởng tới sinh hoạt xã hội vàđiều chỉnh quan hệ xã hội
Nhà ở không những là tài sản có giá trị, có tầm quan trọng đặc biệt đối vớimỗi gia đình, mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, mức sống dân cư của quốc gia Thực tế là một ngôinhà có thể cho ta biết được phong tục tập quán, đời sống vật chất tinh thần củanhững người đang sống ở đó Sự hình thành và phát triển các khu dân cư và quá
Trang 28trình phát triển đô thị luôn gắn liền với phát triển nhà ở Đi kèm là sự đa dạng vềkiến trúc nhà ở, thể hiện ở phong cách xây dựng, vật liệu xây dựng, thiết kế, bộc lộ quan điểm tôn giáo, thẩm mỹ.
1.2.3 Các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng
Mô hình Teboul
Mô hình Teboul thể hiện một cái nhìn đơn giản về sự hài lòng kháchhàng, trong đó, sự hài lòng khách hàng được thể hiện ở phần giao nhau giữakhả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của khách hàng Sự hài lòng của kháchhàng thể hiện ở phần chung của hai hình, phần chung càng lớn thì sự hài lòngcàng cao (xem hình 1.1)
Hình 1.1 Mô hình về sự hài lòng khách hàng của Teboul
(Nguồn: James Teboul, 1991)
Tuy nhiên, mô hình này chỉ định nghĩa cho chúng ta hiểu được sự thỏamãn của khách hàng nói chung khi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của doanhnghiệp mà chưa nêu nên được các nhân tố nào tác động đến sự hài lòng kháchhàng và mối quan hệ nhân quả giữa chúng như thế nào
Trang 29Mô hình Kano
Mô hình Kano về sự hài lòng của khách hàng đã phân loại thuộc tínhsản phẩm dựa trên sự nhận biết của khách hàng và các tác động của sự nhậnbiết này đến mức độ hài lòng của khách hàng Điều này rất hữu ích trong việchướng dẫn các quyết định thiết kế sản phẩm, dịch vụ theo cách làm thế nào đểmột sản phẩm vừa đủ tốt và làm thế nào để làm tốt hơn nữa (xem hình 1.2)
Hình 1.2 Mô hình các mức độ hài lòng khách hàng
(Nguồn: Kano, N., Seraku, N., Takahashi, F & Tsuji, S.,1984) Mô hình Kano
đưa ra được các cấp bậc mong đợi của khách hàng Trên cơ sở đó, các doanh
nghiệp sẽ có giải pháp để đưa ra sản phẩm đáp ứng cáccấp bậc mong đợi, nâng cao mức độ hài lòng khách hàng Theo đó, mô hìnhnày phân chia thuộc tính hàng hóa ra 3 loại: định mức, chính và kích thích.Một sản phẩm cạnh tranh phải đáp ứng được thuộc tính định mức, tối đa hóađược thuộc tính chính và càng nhiều thuộc tính kích thích mà nó có thể có ởmột mức chi phí thị trường chấp nhận
- Thuộc tính định mức: là thuộc tính cơ bản phải có Thuộc tính nàykhông tạo nên sự khác biệt sản phẩm Mọi cố gắng làm tăng các thuộc tínhnày có khuynh hướng làm cho lợi tức giảm dần về độ hài lòng của khách
Trang 30hàng Tuy nhiên, nếu thuộc tính này không có và việc thực hiện kém thuộc tính này sẽ mang đến sự bất mãn của khách hàng.
- Các thuộc tính chính: là thuộc tính mà càng nhiều càng tốt và sẽ manglại mức độ hài lòng của khách hàng càng cao Nếu thuộc tính chính này không
có hoặc kém sẽ làm giảm mức độ hài lòng của khách hàng Người tiêu dùng
có khuynh hướng nói cho người khác nghe về tính chất tốt/ xấu và như vậy cóthể có tác động lan tỏa trên diện rộng
- Các thuộc tính kích thích: là những thuộc tính không được đòi hỏi vàkhông kỳ vọng bởi khách hàng, nhưng nó có thể mang lại mức độ hài lòngkhách hàng cao Tuy nhiên, nếu không có các thuộc tính này cũng không dẫnđến tình trạng bất mãn của khách hàng và thậm chí khách hàng không hề haybiết Thuộc tính này thường làm hài lòng nhu cầu tiềm tàng - nhu cầu thực màkhách hàng hiện nay không nhận biết được Chính vì vậy, thuộc tính này sẽlàm cho khách hàng ngạc nhiên, hứng thú
Mô hình Zeithaml và Bitner
Các doanh nghiệp thường cho rằng, chất lượng dịch vụ chính là mức độhài lòng của khách hàng Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chất lượng dịch vụ và
sự hài lòng của khách hàng là hai khái niệm phân biệt (Zeithaml và Bitner,1996) Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát, thể hiện sự hàilòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ Trong khi đó, chất lượng dịch vụ chỉtập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithaml và Bitner, 1996)
Trang 31Hình 1.3 Mô hình mối quan hệ giữa sự chấp nhận chất lượng và sự hài
lòng của khách hàng
(Nguồn: Zeitheml và Bitner, 1996)
Theo đó, chất lượng dịch vụ tác động lên sự hài lòng khách hàng và môhình này có thể được biểu hiện thành phương trình:
Sự hài lòng = b1X1 + b2X2 + + bnXnTrong đó: - bn là các tham số
- Xn biểu hiện thành phần chất lượng dịch vụ thứ n
Như vậy, sự hài lòng khách hàng là một khái niệm rộng, bao gồm cácnhân tố tác động từ cảm nhận của khách hàng: chất lượng dịch vụ, chất lượngsản phẩm, giá, các nhân tố tình huống và các nhân tố cá nhân (xem hình 1.3)
- Chất lượng dịch vụ: là sự đánh giá của khách hàng hiện tại về cácdịch vụ kết hợp như: dịch vụ khách hàng, các điều kiện thể hiện sản phẩm,lĩnh vực của sản phẩm, dịch vụ
- Chất lượng sản phẩm: là sự đánh giá của người tiêu dùng hiện tại về sản phẩm
- Giá: là số tiền chi trả để nhận được sản phẩm, dịch vụ
- Các nhân tố tình huống: gồm một số nhân tố không điều khiển được
như: kinh nghiệm tiêu dùng, sự đánh giá của khách hàng về doanh nghiệp,
Trang 32- Các nhân tố các nhân như: các nhân tố tâm lý, tình cảm của khách hàng,
Hình 1.4 Mô hình chỉ sô hài lòng khách hàng của Mỹ
(Nguồn: Anderson, E W and Fornell, C., 2000) Mô hình này đã chỉ ra các
nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi tiêu dùng một sản phẩm,
dịch vụ nói chung và mối quan hệ giữachúng Tuy nhiên, nó có nhược điểm là vẫn chưa chỉ ra sự khác biệt giữa tínhnăng, giá trị của sản phẩm mà khách hàng nhận được so với tính năng, giá trịcủa sản phẩm mà khách hàng đã kỳ vọng trước khi mua
Mô hình CSI của Fornelletal (ACSI)
Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng (Customer Satisfaction Index CSI) của Mỹ (ACSI) được dùng để đo lường sự thõa mãn của khách hàng vớicác ngành, các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển Xây dựng và ứngdụng chỉ số CSI của các ngân hàng giúp cho việc xây dựng hệ thống dữ liệuthông tin về sự hài lòng của khách hàng, làm cơ sở cho các việc hoạch địnhchiến lược cạnh tranh, tiếp thị, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mạinhằm gia tăng năng lực cạnh tranh Chỉ số ACSI thường ứng dụng cho lĩnhvực công (xem hình 1.4)
Trang 33-Hình 1.5 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của EU
(Nguồn : Martensen A., Gronholdt, L and Kristensen, K., 2000) Trong mô
hình này, giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong
đợi của khách hàng Khi đó, sự mong đợi của khách hàng cótác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận Thực tế, khi mong đợi càng cao,
có thể tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng với sản phẩm càngcao Do vậy, yêu cầu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho kháchhàng cần phải đảm bảo và được thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ Sựhài lòng khách hàng được tạo thành trên cơ sở chất lượng cảm nhận, sự mongđợi và giá trị cảm nhận, nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mongđợi sẽ tạo nên lòng trung thành của khách hàng, ngược lại thì sẽ là sự phànnàn hay sự than phiền về sản phẩm, dịch vụ
Mô hình chỉ số hài lòng của Châu Âu (ECSD)
Mô hình chỉ số hài lòng châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất địnhvới ACSI về hình ảnh sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sựmong đợi khách hàng Khi đó, sự hài lòng khách hàng là sự tác động tổng hòa
Trang 34hữu hình và vô hình Chỉ số ECSI thường áp dụng để đo lường các sản phẩm, các ngành (xem hình 1.5).
1.2.4 Sự hài lòng của khách hàng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở
Như đã trình bày ở trên, sau quá trình tổng quan tình hình nghiên cứu sựhài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở và xem xét các mô hình về sựhài lòng cho thấy mô hình của Zeithaml và Bitner được xem là có nhiều điểmphù hợp để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt ra trong đề tài luận văn.Bên cạnh đó, kết hợp với những đặc thù của sản phẩm nhà ở, ta có thể thấy đượccác nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ởbao gồm: Chất lượng sản phẩm nhà ở, Chất lượng dịch vụ kèm theo, Nhân tố giá
cả, Vị trí, Cảnh quan và sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật Với mỗi một nhân tốảnh hưởng, mức độ hài lòng của khách hàng đối với mỗi nhân tố đó phản ánhmức độ hài lòng đối với một tính chất của sản phẩm Khi khách hàng hài lòngđối với hầu hết các yếu tố đặc trưng này của sản phẩm nhà ở, có nghĩa là kháchhàng hài lòng chung đối với sản phẩm Có thể nói, mức độ hài lòng đối với từngnhân tố là từng cấu phần của mức độ hài lòng chung đối với sản phẩm
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát những đánh giá và mức độ hài lòng củakhách hàng đối với những nhân tố này, dựa vào kết quả thu được và tổng hợpphân tích, tác giả sẽ đưa ra mức độ hài lòng chung của khách hàng đối với sảnphẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà ở và đô thị
1.2.5.1 Chất lượng sản phẩm nhà ở
Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với các đặc tính sản phẩm Cácthuộc tính vốn có của sản phẩm tạo ra sự kỳ vọng cho khách hàng về các tínhnăng của sản phẩm có thể thỏa mãn các nhu cầu của họ Đối với sản phẩmhữu hình khách hàng có thể biết trước được chất lượng sản phẩm qua cácthông số kỹ thuật Điều này giống như trong kinh tế học thông tin,các thông
Trang 35số này là các tín hiệu tạo lên sự kỳ vọng của khách hàng Mặt khác việc đápứng các kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm chính là tạo ra sự hài lòng củakhách hàng hàng đối với sản phẩm Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng sảnphẩm được sinh ra từ kỳ vọng của khách hàng và các thuộc tính vốn có củasản phẩm Sự hài lòng khách hàng là việc đáp ứng các nhu cầu, kỳ vọng của
họ Vì vậy, có thể xem chất lượng sản phẩm như một nguyên nhân tạo lên sựhài lòng khách hàng về sản phẩm
Đối với sản phẩm nhà ở, chất lượng là những yêu cầu về mức độ hoànthiện, các loại vật liệu, thiết bị được sử dụng để xây dựng, lắp đặt, quá trình xâydựng phải đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng vàtiêu chuẩn an toàn Do đó, trong phạm vi luận văn này, sự hài lòng của kháchhàng đối với sản phẩm nhà ở sẽ được xem xét thông qua các nhân tố gồm:
- Diện tích căn nhà đáp ứng được các nhu cầu không gian tối thiểu (phòng khách - ăn - ngủ - vệ sinh)
- Vật liệu xây dựng, trang thiết bị, tiện nghi trong nhà (điện, nước, vệ
sinh, gạch nền, bếp, điều hòa, ) phù hợp
- Căn nhà có chất lượng xây dựng tốt, tường không bị nứt, trần không
bị thấm
- Căn nhà có thiết kế các phòng hợp lý, đảm bảo về thông gió và chiếusáng Bên cạnh đó, theo quan niệm truyền thống về phong thủy mà người ViệtNam rất tín ngưỡng thì căn nhà được thiết kế theo hướng nam sẽ được đánh giácao hơn các hướng khác Ngoài ra, hướng tây nam và hướng tây bắc cũng quantrọng đối với ngôi nhà Theo phong thủy, hướng tây nam là hướng của người phụ
nữ, người mẹ trong gia đình nếu ở hướng này có một cái kho, hay một phòng tắm, chủ nhà sẽ gặp khó khăn trong hôn nhân Và hướng tây nam là hướng của trời, dương khí ở những hướng này rất mạnh nên không bao giờ được phép có ngọn lửa
do đó, không được bố trí phòng bếp theo hướng này, Chính vì vậy, một
Trang 36trong những tiêu chí đánh giá thiết kế của căn nhà là có phạm phải những cấm
kỵ này trong phong thủy không?
- Kiến trúc bên ngoài của căn nhà phù hợp, có tính thẩm mỹ cao Việcquyết định mua của khách hàng và việc định giá bán của của chủ đầu tư cũng
sẽ phụ thuộc nhiều vào kiến trúc phù hợp với thị hiếu của khác hàng
1.2.5.2 Chất lượng dịch vụ kèm theo
Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòngcủa họ khi tiêu dùng một sản phẩm dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ làquan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ Khi đó, chất lượng dịch vụ kèmtheo của các dự án nhà ở được xác định bởi nhiều nhân tố khác nhau, từ các dịch
vụ thiết yếu như gửi xe, chiếu sáng công cộng, khu vui chơi trẻ em, vệ sinh môitrường, đến các tiện ích vượt trội như bể bơi, phòng tập gym, spa, trung tâmthương mại, hệ thống trường học tiêu chuẩn quốc tế, bệnh viện quốc tế,… sẽ làmột trong những nhân tố quyết định của sự hài lòng của khách hàng Chất lượngdịch vụ tốt là luôn đảm bảo được sự hài lòng và là ưu tiên lựa chọn trong cácgiao dịch mua bán nhà của khách hàng Chính vì vậy, khi nhu cầu sử dụng cácdịch vụ tiện ích của người dân ngày càng cao thì các doanh nghiệp phải đầu tưxây dựng các dự án nhà ở với đầy đủ các dịch vụ đi kèm
1.2.5.3 Nhân tố giá cả
Giá là thông tin bên ngoài về chất lượng Giá cả tạo ra sự hấp dẫn hayđẩy lùi khách hàng khỏi sản phẩm, đặc biệt khi giá là một chức năng tạo lênchất lượng sản phẩm Trong một môi trường kinh doanh cạnh tranh, kháchhàng luôn thực hiện việc so sánh giá giữa các nhà cung cấp Điều này càng trởlên quan trọng đối với các sản phẩm có tính chất tiêu chuẩn hóa rõ ràng Nếukhông tạo được sự khác biệt về sản phẩm thì khách hàng sẽ có xu hướng lựachọn sản phẩm có giá thấp hơn Bên cạnh đó, các sản phẩm nhà ở nói riêng vàbất động sản nói chung có khả năng mang lại thu nhập hay khả năng sinh lời
Trang 37Khả năng sinh lời trong tương lai sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến giá của bấtđộng sản đó Khi khả năng sinh lời càng lớn thì giá trị của nó càng cao Do
đó, giá sản phẩm nhà ở được xem là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
sự hài lòng khách hàng, cảm nhận tốt về giá sẽ tạo ra sự hài lòng của kháchhàng Nói cách khác giá sản phẩm là nguyên nhân, sự hài lòng là kết quả
1.2.5.4 Vị trí
Khả năng sinh lời do nhân tố vị trí mang lại càng cao thì giá trị cànglớn Căn nhà nằm tại trung tâm đô thị hay một vùng nào đó sẽ có giá trị lớnhơn nhà cùng loại nằm ở các vùng ven trung tâm (được gọi là vị trí tươngđối) Nhà ở tại trục đường lớn, giao thông thuận tiện, đối diện công viên haysông, hồ, tại góc ngã tư sẽ có giá trị cao hơn nhà ở cùng loại nằm ở vị trí khác(được gọi là vị trí tuyệt đối) Bên cạnh đó, địa hình nơi căn nhà tọa lạc caohay thấp so với các bất động sản khác trong vùng lân cận cũng có tác độngđến giá trị căn nhà Ở những khu vực cao sẽ ít bị ảnh hưởng bởi ngập lụt khimưa bão Bên cạnh đó, người Việt Nam rất coi trọng tư tưởng của người ÁĐông xưa và theo quan niệm truyền thống về phong thủy thì một căn nhà có
vị trí tốt là căn nhà phải nằm ở chỗ cao, hướng nhà là hướng chính nam, Vìvậy, việc xem xét đánh giá ưu thế về vị trí nhà ở là cực kỳ quan trọng, baogồm các yếu tố như:
- Vị trí: là vị trí của bất động sản đất – nơi căn nhà được xây dựng trên
đó và được xem ở góc độ thế đất (địa hình nơi căn nhà tọa lạc) và hình dángcủa khu đất (hình dáng đẹp nhất là hình vuông, hình chữ nhật) Đối với căn hộchung cư thì có thêm yếu tố vị trí tầng – yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đếnviệc định giá căn hộ thông qua Hệ số tầng, tầng càng cao thì Hệ số tầng càngthấp và kéo theo đó giá sẽ càng giảm;
- Hướng nhà: là hướng của ra vào chính của căn nhà, người Á Đông nóichung và người Việt Nam nói riêng đặc biệt coi trọng yếu tố này vì lý do
Trang 38phong thủy, hợp tuổi Có rất nhiều trường hợp khách hàng quyết định có hoặckhông mua vì không hợp hướng của ngôi nhà hoặc thửa đất.
1.2.5.5 Cảnh quan và sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật
Một trong các nhân tố quan trọng nữa để thúc đẩy sự phát triển vàthành công của các dự án nhà ở đó chính là cơ sở hạ tầng kỹ thuật như mạnglưới điện, nước, cảnh quan và môi trường xung quanh, hệ thống giao thông,trường học, bệnh viện, Quy hoạch phát triển không gian chỉ được thực hiệnhiệu quả khi hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộ, cảnh quan và môitrường xanh, sạch, đẹp, không ồn ào, Ngày nay, việc thiết kế cảnh quan khu
đô thị, dự án nhà ở ngày càng được quan tâm hơn, xuất phát bới nhu cầu thực
tế của khách hàng khi lựa chọn mua nhà đều mong muốn được sinh sốngtrong một môi trường cảnh quan sạch đẹp, ngôi nhà không đơn thuần chỉ lànơi để ở mà còn là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn
Chính vì thế, các doanh nghiệp khi đầu tư cần quan tâm tới vị trí dự ánnhà ở, cũng như việc xây dựng và quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt
là cảnh quan dự án
Trang 39tư kinh doanh bất động sản Chính vì vậy, các nhà quản trị cần thiết phải phảixác định những nhân tố nào tác động đến sự hài lòng khách hàng và các kháchhàng hiện tại có hài lòng về sản phẩm, dịch vụ của công ty mình hay không?
Chương 1 đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản nhất về sự hài lòngcủa khách hàng đối với sản phẩm nhà ở Trong đề tài này, tác giả sẽ đi sâu vàotập trung nghiên cứu nhà ở như là tài sản có giá trị, được xây dựng để ở vàphục vụ các nhu cầu sinh hoạt và có thể trở thành một hàng hóa của hoạt đồngđầu tư kinh doanh Với đặc thù của sản phẩm nhà ở như vậy, sự hài lòng củakhách hàng đối với sản phẩm nhà ở sẽ được xem xét với 5 nhân tố: Chấtlượng sản phẩm, Chất lượng dịch vụ kèm theo, Nhân tố giá cả, Vị trí, Cảnhquan và sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật
Từ cơ sở lý thuyết trên sẽ áp dụng vào việc xây dựng phương phápnghiên cứu cũng như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng củakhách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và
đô thị trong chương 2 và phân tích, đánh giá mức độ sự hài lòng của kháchhàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty trong chương 3
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Quy trình nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu
2.1.1 Quy trình nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về
Kết quả nghiên cứu
Hình 2.1 Quy trình tiến hành nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Xuất phát từ cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đã được trình
bày ở trên và tình hình thực tế tại Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô