Tính cấp thiết của đề tài Ở Việt Nam, Tập đoàn kinh tế đang đang được thí điểm thành lập, cácnghiên cứu về Tập đoàn kinh tế, Công ty tài chính đặc biệt là hoạt động của Công ty tài chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-Phạm Xuân Định
HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội – Năm 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-Phạm Xuân Định
HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.Trịnh Thị Hoa Mai
Hà Nội – Năm 2008
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 7
1.1 Tổng quan về Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 7
1.1.1 Tập đoàn kinh tế 7
1.1.2 Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 17
1.2 Hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 26
1.2.1 Huy động vốn 26
1.2.2 Điều hoà và quản lý vốn 27
1.2.3 Đầu tư tài chính 29
1.2.4.Tư vấn tài chính 31
1.3 Điều kiện phát triển các Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 34
1.3.1.Điều kiện về môi trường vĩ mô 34
1.3.2 Điều kiện về môi trường vi mô 36
1.4 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở một số nước trên thế giới 39
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Công ty tài chính trong mô hình Tập đoàn kinh tế ở các nước Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) 39
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Công ty tài chính trong mô hình Tập đoàn kinh tế ở các nước: Đức, Mỹ 43
1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với hoạt động của Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VIỆT NAM (Vinashin) 49
2.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 49
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Tập đoàn CNTT Việt Nam 49
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Tập đoàn CNTT Việt Nam 50
2.2 Hoạt động của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy (VFC) 54
2.2.1 Giới thiệu tổng quan về VFC 54
2.2.2 Các hoạt động chủ yếu của VFC 62
2.3 Đánh giá chung 91
2.3.1 Những kết quả đạt được 91
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 96
Trang 4CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
TRONG TẬP ĐOÀN CNTT VIỆT NAM 107
3.1 Khái quát về thị trường đóng tàu và cơ hội phát triển dịch vụ tài chính của VFC 107
3.1.1 Thị trường đóng tàu 107
3.1.2 Cơ hội phát triển dịch vụ tài chính của VFC 109
3.2 Định hướng phát triển của Tập đoàn CNTT Việt Nam 110
3.3.Định hướng phát triển của VFC 111
3.3.1.Vị trí của VFC trong mô hình mới 111
3.3.2.Mục tiêu chiến lược trong thời gian tới của VFC 112
3.4 Một số giải pháp nâng cao vai trò của VFC trong Vinashin 114
3.4.1 Nhóm giải pháp liên quan đến vấn đề huy động và điều hòa vốn 114
3.4.2 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò đầu tư tài chính 119
3.4.3 Nhóm giải pháp liên quan đến bộ máy tổ chức quản lý 122
3.4.4 Giải pháp khác 125
3.5 Một số kiến nghị 127
3.5.1 Kiến nghị với Nhà nước 127
3.5.2 Kiến nghị với Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam 130
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
CNTT Công nghiệp tàu thủy
VFCS Công ty chứng khoán công Vinashin finance company
AFTA Khu vực mậu dịch tự do Asean Asean free Trade areaWTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade OrganizationTĐKT Tập đoàn kinh tế
Trang 6CNOOC Tập đoàn dầu khí Quốc gia China National Offshore
HĐQT Hội đồng quản trị
CBCNV Cán bộ công nhân viên
HĐKD Hoạt động kinh doanh
i
Trang 7Bảng 2.10 Dư nợ cho vay theo nền kinh tế của VFC 73Bảng 2.11 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng của VFC 74Bảng 2.12 Dư nợ cho vay theo chất lượng nợ vay của VFC 75Bảng 2.13 Kết quả hoạt động đầu tư cổ phiếu của VFC 78
Bảng 2.17 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008 của 85
VFC
Bảng 2.20 Nhóm chỉ tiêu về sự tăng trưởng và phát triển 90
Trang 8ii
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Tên sơ đồ Trang
sơ đồ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn CNTT Việt Nam 50
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty tài chính CNTT 57
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ Trang biểu đồ
Biểu đồ 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006-2008 của VFC 86
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, Tập đoàn kinh tế đang đang được thí điểm thành lập, cácnghiên cứu về Tập đoàn kinh tế, Công ty tài chính đặc biệt là hoạt động của Công
ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế cũng là một vấn đề rất mới, nhất là khi ViệtNam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và chính thức ra nhập các tổ chứcquốc tế như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1995) kèm theo
là những cam kết tham gia khu vực mậu dịch tự do châu Á (AFTA) và đặcbiệt khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, các Tập đoàn kinh tế đã được thíđiểm thành lập với mô hình công ty mẹ - công ty con, Tập đoàn CNTT ViệtNam được thành lập theo quyết định 104/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006 vềviệc thành lập công ty mẹ- Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Quahơn 10 năm hoạt động theo mô hình tổng công ty và hơn 2 năm theo mô hìnhTập đoàn kinh tế, Vinashin đã có những bước phát triển nhảy vọt, thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia, phấn đấu đưa Việt Nam trởthành một nước mạnh về kinh tế biển
Để đáp ứng nhu cầu phát triển cũng như sử dụng hiệu quả của cácnguồn vốn, để tăng cường tiềm lực kinh tế nâng cao khả năng cạnh tranh trênthị trường, thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, Tổng
công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp tàu
thủy Việt Nam) đã thành lập Công ty tài chính công nghiệp tàu thủy, nhằm
mục đích kinh doanh các dịch vụ tài chính, giúp Tổng công ty tìm kiếm nguồnvốn trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, quản lý một cách tối ưu cácnguồn vốn đầu tư, hạn chế thấp nhất việc thất thoát vốn, bước đầu đã mở ramột triển vọng mới cho sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu củaViệt Nam Sự ra đời này là một xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển,
Trang 12đa dạng hoá các hình thức kinh doanh tài chính, tiền tệ, đa dạng hoá các sảnphẩm thông qua liên kết, liên doanh với các định chế tài chính khác
Một Tập đoàn kinh tế có phát triển mạnh hay không phụ thuộc vào nănglực tài chính của Tập đoàn, vì vậy cần thiết phải huy động và sử dụng hiệuquả các nguồn lực trong nội bộ Tập đoàn cũng như của các thành phần kinh
tế xã hội để đảm bảo đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn tín dụng - đầu tư.Mặt khác hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn Công nghiệp tàuthủy đóng vai trò quan trọng chiến lược phát triển kinh tế của Tập đoàn cũngnhư chiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia Đây không chỉ là vấn đềthời sự quan trọng mà còn mang tính chiến lược lâu dài được Chính phủ, cáccấp Bộ, Ngành và lãnh đạo Tập đoàn quan tâm Xuất phát từ thực trạng trên
tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hoạt động của Công ty tài chính
Công nghiệp tàu thủy trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam”.
- Luận án Tiến sỹ của tác giả Phạm Quang Trung - Trường Đại họcKinh tế quốc dân (2000) “Giải pháp toàn diện cơ chế quản lý tài chính trong Tậpđoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả đã hệ thống hóa và hoàn thiện một số vấn đề lý luận về cơ chếquản lý tài chính trong Tập đoàn kinh tế Phân tích và tổng hợp những xu thế phát triển mới của Tập đoàn kinh tế trên thế giới và khả năng ứng dụng vào
Trang 13Việt Nam Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
- Luận án TS của tác giả Trần Công Diệu – Học Viện Ngân hàng (2002)
“ Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển Công ty tài chính ở Việt
Nam”
Luận án đưa những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức vàhoạt động của Công ty tài chính trong nền kinh tế thị trường Phân tích, đánhgiá thực trạng tổ chức và hoạt động Công ty tài chính ở Việt Nam trong thờigian qua Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện
và phát triển mô hình Công ty tài chính ở Việt Nam Tuy nhiên luận án chưađưa ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như các giải pháptoàn diện cho sự phát triển của Công ty tài chính trong các Tổng công ty nhànước và của các Công ty tài chính cổ phần
- Luận án Tiến sỹ của tác giả Vũ Thị Xuân Hương- Trường Đại họcKinh tế quốc dân (2007) “Phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam”
Luận án đã khái quát được sự cần thiết thiết khách quan của phát triểndịch vụ tài chính trong Tập đoàn kinh tế, rút ra được những bài học kinhnghiệm về phát triển dịch vụ tài chính ở các nước trên thế giới, nghiên cứu,đánh giá thực trạng tại Tập đoàn bưu chính và đồng thời đưa ra một số giảipháp phát triển dịch vụ tài chính
- Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị của tác giả Đoàn VănHạnh – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005) “Tập đoàn kinh tế và
sự hình thành Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam”
Công trình đưa ra những quan điểm về sự hình thành và phát triển củaTập đoàn kinh tế, khái quát quá trình hình thành và phát triển, thực trạng hoạtđộng, các vấn đề về mô hình và cơ chế quản lý của Tổng công ty Công nghiệp
Trang 14tàu thủy Việt Nam Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp để phát triển Tổngcông ty Công nghiệp tàu thủy Việt nam, hình thành Tập đoàn CNTT Việt Nam,trong đó có đặc biệt có giải pháp về lành mạnh các quan hệ tài chính giữa cácđơn vị thành viên và đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong Tập đoàn Nhữngnghiên cứu về Công ty tài chính trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã là nguồn
tư liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu của tác giả, giúp tác giả vận dụngvào việc nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận trong hoạt động của Công tytài chính của trong Tập đoàn kinh tế, vận dụng đánh giá sự phát sự hoạt động củaCông ty tài chính Công nghiệp tàu thủy và đưa ra hệ thống các giải pháp có tínhkhả thi với điều kiện của Vinashin và Việt Nam Tuy nhiên những công trìnhnghiên cứu trên chưa đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cũngnhư các giải pháp toàn diện cho sự phát triển của Công ty tài chính trong cácTổng công ty nhà nước hay Tập đoàn kinh tế, chưa phân tích được các bài họckinh nghiệm về phát triển Công ty tài chính ở các nước phát triển hay chưa đánh
giá và làm rõ được những bất cập, hạn chế trong
hoạt động của Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống những lý luận chung về Tập đoàn kinh tế, công ty tài chình vàvai trò của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của Công ty tài chính CNTT
Trang 15- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Công ty tài chính trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Các hoạt của Công ty tài chínhtrong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, bao gồm: Hoạt động huyđộng vốn; hoạt động điều hòa và quản lý vốn; đầu tư tài chính; dịch vụ và tưvấn tài chính; hoạt động quản lý rủi ro
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu hoạt động của Công ty tài chínhCông nghiệp tàu thủy từ khi thành lập Tổng công ty CNTT Việt Nam (nay là Tậpđoàn CNTT Việt Nam) năm 1996 đến 2008
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư duy logic đượcvận dụng để phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Công tytài chính công nghiệp tàu thủy
- Phương pháp phán đoán, suy luận được áp dụng trong quá trình tổnghợp, phân tích, đánh giá về các vấn đề thực trang hoạt động của Công ty tài chínhCông nghiệp tàu thủy trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
- Hệ thống một số loại vấn đề lý luận chung về hoạt động của Công ty tàichính trong Tập đoàn kinh tế
Trang 16- Phân tích các bài học kinh nghiệm đối với hoạt của Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
- Đánh giá và làm rõ các nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong hoạt động của Công ty tài chính Vinashin
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Công ty tài chínhtrong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của Luận văn gồm 3 chương
Trang 17CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP
ĐOÀN KINH TẾ 1.1 Tổng quan về Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế
1.1.1 Tập đoàn kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và các hình thức chủ yếu của Tập đoàn kinh tế
a) Khái niệm về Tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế (TĐKT) là một hình thức tổ chức tiên tiến đại diện chotrình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế xã hội đang trởthành một hình thức phổ biến, có tác động mạnh mẽ làm thay đổi khuynhhướng sản xuất và tiêu dùng của thế giới Mặc dù có vai trò quan trọng nhưvậy nhưng hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về Tập đoàn kinh tế Tuỳtheo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau mà các nhà nghiên cứu
đã đưa ra những khái niệm khác nhau về Tập đoàn kinh tế Có quan điểm chorằng Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức, một loại hình tổ chức kinh tế.Lại có quan điểm cho rằng Tập đoàn kinh tế là “Một thực thể kinh tế thựchiện sự liên kết kinh tế giữa các thành viên là các doanh nghiệp có quan hệvới nhau về công nghệ và lợi ích đang được gọi bằng các tên khác nhau như:Hiệp hội, liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế theo mô hìnhTập đoàn, Tập đoàn kinh tế” [21, tr5].
Có nghiên cứu cho rằng “Tập đoàn kinh tế (hay các công ty: Group ofcompanics) là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thànhmột Tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều công ty hoặc chi nhánhgóp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm hơn1/2 vốn cổ phần” [14].
Mỗi quan niệm trên đều phản ánh cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhaucủa các nhà nghiên cứu về đặc điểm của Tập đoàn Quan điểm thứ nhất thiên
Trang 18về cấu trúc của Tập đoàn, quan điểm thứ hai lại thiên về mối quan hệ liên kếtgiữa các đơn vị thành viên trong Tập đoàn, quan điểm thứ ba lại thiên về cơcấu tổ chức và tư cách pháp nhân của Tập đoàn, tuy nhiên Tập đoàn kinh tế
b) Các hình thức chủ yếu của Tập đoàn kinh tế
Để hiểu được đầy đủ về bản chất của Tập đoàn kinh tế, chúng ta đi sâunghiên cứu những hình thức tồn tại của chúng trong thực tiễn và rút ra nhữngđặc điểm cơ bản về Tập đoàn kinh tế
Nghiên cứu các Tập đoàn kinh tế trên thế giới cho thấy rằng có thể phânchia Tập đoàn kinh tế căn cứ vào hình thức liên kết và tính chất của Tập đoànkinh tế [14, Tr 16-19]:
1/ Hình thức thứ nhất: Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối
lỏng lẻo thông qua các thỏa thuận hoặc các cam kết hợp tác
Trong hình thức này, các doanh nghiệp thành viên tham gia Tập đoàn chỉchịu sự ràng buộc tương đối lỏng lẻo, các thành viên có tính độc lập caothông thường cơ sở tồn tại của loại hình Tập đoàn này là các thoả thuận hoặchợp đồng tạo ra sự liên kết “mềm” giữa các thành viên để tăng thêm lợi thếcho nhóm các thành viên đó Hình thức liên kết này đã có từ rất sớm, phôi thai
từ đầu thế kỷ XIX, các loại hình Cartel là thuộc hình thức này Hình thức củaliên kết rất đa dạng, các doanh nghiệp có thể thoả thuận
Trang 19về một số mặt hợp tác trong một số lĩnh vực như: Chính sách giá cả, khốilượng sản phẩm cung cấp, tiêu chuẩn kỹ thuật, hợp tác về công nghệ, thịtrường tiêu thụ (phân chia, tránh cạnh tranh trực tiếp).
Một số loại Tập đoàn kinh tế điển hình cho hình thức này gồm:
Cartel: Là loại hình Tập đoàn kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành
viên hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực, thậm chí có cùng sản phẩmgiống nhau Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên trong Cartel chỉthuần tuý là sự cam kết đối với một số điều khoản nhất định nhằm tránh cạnhtranh trực tiếp với nhau, nhưng các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên
tư cách pháp nhân và tính độc lập của chúng
Cartel thường dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh và đi ngược lạinguyên tắc cơ bản của cơ chế thị trường là tự do cạnh tranh Bởi vậy, Chínhphủ nhiều nước ngăn cấm hoặc hạn chế hình thành dạng Tập đoàn này bằngcách dùng các đạo luật chống độc quyền
Syndicate: Đây là một dạng đặc biệt của Cartel Các doanh nghiệp thành
viên của Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tínhđộc lập về thương mại, vì trong Syndicate có một văn phòng thương mạichung được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả cácdoanh nghiệp thành viên phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của vănphòng này
Conglomerate: Đây là một Tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực, các doanh
nghiệp thành viên ít có mối quan hệ công nghệ sản xuất gần gũi, thậm chíkhông có mối quan hệ nào về mặt công nghệ sản xuất, chủ yếu ở đây là mốiquan hệ về mặt hành chính và tài chính Loại hình Tập đoàn này hình thànhbằng cách thu hút cổ phần của những công ty có lợi nhuận cao nhất, đặc biệt
là những công ty đang ở vào giai đoạn phát triển cao Trong Tập đoàn không
có ngành nào là chủ chốt Thông qua hoạt động mua bán
Trang 20chứng khoán trên thị trường, cơ cấu sản xuất của Tập đoàn có xu hướngchuyển đến ngành có lợi nhuận cao và nhờ hoạt động tích cực trên thị trườngchứng khoán, nó đã thôn tính dần các doanh nghiệp có lợi nhuận cao làm cho
cơ cấu sản xuất thay đổi nhanh chóng Đặc điểm của loại hình Tập đoàn này
là thu hút vốn từ thị trường vốn thông qua phát hành tín phiếu và trái phiếu,hoạt động chủ yếu nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát tài chính do đó nó cómối quan hệ rất chặt chẽ với ngân hàng
2/ Hình thức thứ hai: Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên rất
chặt chẽ, mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất cao, các đơn vị thành viên bị hạn chếtính độc lập
Với hình thức này, cơ sở kinh tế của sự liên kết là quyền sở hữu Mốiliên kết giữa các thành viên trong Tập đoàn rất chặt chẽ thông qua việc nắmgiữ cổ phiếu của nhau hoặc có một doanh nghiệp mạnh nhất đứng ra chi phối
cả Tập đoàn Về mặt cấu trúc có thể có 3 dạng khác nhau của hình thức này:Dạng thứ nhất: Các doanh nghiệp thành viên có sự liên kết dọc về côngnghệ và sử dụng sản phẩm đầu ra của nhau Ví dụ điển hình một Tập đoàngồm các công ty khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy và sản xuất cấu kiệnkim loại như Tập đoàn Mitsubishi
Dạng thứ hai: Tập đoàn có liên kết theo chiều ngang, trong loại này cácdoanh nghiệp có quan hệ với nhau về sản phẩm hay dịch vụ bổ trợ cho nhau hoặccác sản phẩm cho cùng một nhóm khách hàng hoặc cùng nhóm mục tiêu sửdụng Ví dụ trong Tập đoàn LG (Hàn Quốc) có doanh nghiệp sản xuất máy tính,doanh nghiệp sản xuất máy in, máy văn phòng, doanh nghiệp sản xuất giấy…các doanh nghiệp này có thể liên kết lại thành một tổ hợp để tạo lợi thế chung
Trang 21Dạng thứ ba: Kiểu liên kết hạt nhân, giữa các doanh nghiệp thành viên
có sự liên kết về công nghệ hoặc thị trường… nhưng xoay quanh một nhómsản phẩm mũi nhọn
Một số loại Tập đoàn kinh tế điển hình cho hình thức này gồm:
Concern: Concern không có tư cách pháp nhân, các doanh nghiệp thành
viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý nhưng giữa chúng có mốiquan hệ với nhau dựa trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung đó là phátminh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanhchặt chẽ, có hệ thống tài chính chung Trong Concern người ta thành lập công
ty mẹ điều hành hoạt động của Tập đoàn Doanh nghiệp này thực chất là mộtcông ty cổ phần nắm giữ cổ phần vốn góp của các doanh nghiệp thành viên,doanh nghiệp này điều hành các hoạt động tài chính của Tập đoàn mà khôngquan tâm tới lĩnh vực sản xuất
Các doanh nghiệp thành viên trong Concern liên kết lại với nhau nhằmtạo ra một thế lực tài chính lớn, phát triển kinh doanh và gây ảnh hưởng tớichính trị, xã hội nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanhcủa Concern Ngoài ra Concern còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực nhằm phân tánrủi ro, hỗ trợ mạnh mẽ trong việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học côngnghệ và phương thức quản lý hiện đại
Các doanh nghiệp thành viên trong Concern, hoạt động đa ngành, nhưngcác ngành này thường có mối quan hệ gần gũi với nhau về công nghệ sảnxuất và Concern thường có một ngành chủ chốt Trong quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh các doanh nghiệp thành viên luôn chú trọng tới lợi íchcủa mình và của “công ty mẹ” trên cơ sở các mối liên kết theo chiều dọc haychiều ngang thông qua những hợp đồng kinh tế, hiệp định hay các khoản chovay tín dụng Trong cơ cấu của Concern còn có cả một hệ thống các viện
Trang 22nghiên cứu, các trung tâm khoa học, phòng thí nghiệm, phòng thiết kế nhằmbảo đảm cho các thành viên luôn được sử dụng công nghệ tiên tiến.
Các doanh nghiệp thành viên trong Concern có mối quan hệ tài chính phụthuộc tương đối lớn vào Tập đoàn và phụ thuộc lẫn nhau, do vậy việc kiểmtra tài chính giữa chúng được thực hiện rất chặt chẽ Trong Tập đoàn thường
có một ngân hàng tham gia và thực hiện việc hỗ trợ đắc lực cho hoạt động đầu
tư kinh doanh của các thành viên thông qua việc huy động vốn từ công tythành viên khác và các tổ chức, cá nhân ngoài Tập đoàn
Trust: Là một trong những hình thức liên minh độc quyền của các tổ
chức sản xuất kinh doanh Loại hình Tập đoàn này tập hợp trong nó một loạtdoanh nghiệp công nghiệp và do một ban quản trị thống nhất điều khiển, vìvậy các doanh nghiệp này bị mất quyền độc lập về sản xuất và thương mại,các nhà tư bản tham gia Trust trở thành cổ đông Mục tiêu của việc thành lậpcác Tập đoàn loại này nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồnnguyên liệu và khu vực đầu tư
3/ Hình thức thứ ba: Tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính.
Do sự phát triển cao của thị trường tài chính và công nghệ thông tin cho phépmột doanh nghiệp chi phối một hoặc nhiều doanh nghiệp khác thông quaquyền sở hữu cổ phiếu Do đó, các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoànkhông nhất thiết có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật Tronghình thức này hạt nhân liên kết là công ty tài chính, được gọi là công ty mẹ.Thường thì với loại hình Tập đoàn này là những Tập đoàn đa ngành Tronghình thức này Consortium là một hình thức điển hình
Consortium: Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc
quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài
Trang 23nước hoặc tiến hành công việc buôn bán Đứng đầu Consortium thường làngân hàng lớn có vai trò điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này.
Ngoài ra còn có một hình thức khác của Tập đoàn kinh tế đó là Các Tập
đoàn kinh tế xuyên quốc gia là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà tư
bản có thế lực nhất, có quy mô mang tầm cỡ quốc tế, có hệ thống chi nhánhdày đặc ở nước ngoài hoạt động với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuậnthông qua việc bành chướng quốc tế Cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận đó làcông ty mẹ thuộc sở hữu của các nhà tư bản nước chủ nhà và một hệ thốngcác công ty chi nhánh ở nước ngoài Mối quan hệ giữa công ty mẹ và cácdoanh nghiệp thành viên là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về tài chính, côngnghệ kỹ thuật
Trên đây là các hình thức Tập đoàn điển hình đã tồn tại trong lịch sử pháttriển của các Tập đoàn trên thế giới Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện môi trườngpháp lý của từng nước, trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà các Tập đoànkinh tế ra đời dưới hình thức nào trên đây cho phù hợp quy mô và phạm vihoạt động của Tập đoàn
1.1.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế
Dù được hình thành dưới bất kỳ hình thức nào với các tên gọi khác
nhau thì các Tập đoàn kinh tế đều có những đặc điểm chung nhất sau đây:
- Quy mô vốn lớn
Tập đoàn kinh tế có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị
trường Nhiều Tập đoàn có chi nhánh văn phòng đại diện ở khắp các quốc giatrên thế giới, phạm vi hoạt động của Tập đoàn doanh nghiệp rất rộng không chỉtính phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu
- Cơ cấu tổ chức phức tạp
Đa số các Tập đoàn kinh tế là sự kết hợp của nhiều đơn vị thành viên Các doanh nghiệp thành viên chịu sự chi phối của công ty mẹ, thông qua việc
Trang 24công ty mẹ nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp thành viên về mặt tàichính và chiến lược phát triển, công nghệ, thị trường Tuy nhiên các doanhnghiệp thành viên cũng có thể nắm cổ phần của nhau tạo ra mối quan hệ đanxen, chi phối lẫn nhau và gắn kết chặt chẽ Thông thường sự chi phối nàychịu sự tác động của mức độ phát triển thị trường tài chính.
- Ngành nghề kinh doanh đa dạng
Đa số các Tập đoàn kinh tế đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vựchoặc phát triển từ đơn ngành lên đa ngành, chiến lược sản phẩm và hướng đầu
tư luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển của Tập đoàn và môi trường kinhdoanh, nhưng mỗi ngành đều có định hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọnvới những sản phẩm đặc trưng của Tập đoàn Bên cạnh những đơn vị sản xuấthoặc thương mại, các Tập đoàn doanh nghiệp mở rộng các hoạt động sang lĩnhvực khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu khoa học
Tập đoàn kinh tế hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là để phân tán rủi ro,mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau đảm bảo chohoạt động của Tập đoàn luôn được bảo toàn và hiệu quả Tuy nhiên, lại cóhạn chế là khó tập trung được năng lực mũi nhọn, thiếu tính chuyên sâu Đốivới Tập đoàn kinh tế đơn ngành thì có ưu thế là phát triển theo chuyên mônhoá sâu, khai thác được thế mạnh về chuyên môn, bí quyết về công nghệ, uytín trong ngành nhưng lại có hạn chế về phạm vi thị trường rễ bị rủi ro khingành đó bị khủng hoảng hay vì một lý do khách quan nào đó
- Tính đa dạng về tư cách pháp nhân
Các Tập đoàn kinh tế có tính đa dạng về tư cách pháp nhân Có nhữngTập đoàn kinh tế là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiềudoanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, tàichính trên quy mô lớn Có những Tập đoàn không phải là một pháp nhân kinh
Trang 25tế mà mỗi đơn vị thành viên là các pháp nhân độc lập Như vậy, tuỳ theo cáchthức thành lập mà Tập đoàn có thể có tư cách pháp nhân hoặc không [2], [20]
-Tính tập trung trong Quản lý và điều hành
Về mặt điều hành, các Tập đoàn kinh tế thường xây dựng một “Holdingcompany” hoặc một ngân hàng độc quyền lớn hoặc một công ty tài chính Do làdạng các công ty khống chế, nắm cổ phần chi phối với các công ty thành viênnên Tập đoàn kinh tế tiến hành hoạt động và quản lý tập trung vào một số mặtnhư: Điều hoà, huy động vốn, quản lý vốn, xây dựng chiến lược phát triển,chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư, đào tạo nhân sựcho Tập đoàn Các chiến lược này được soạn thảo từ cơ quan đầu não của Tậpđoàn và thực hiện thống nhất trong các công ty thành viên Việc thực hiện chiếnlược chung tổng quát vừa tạo ra sự năng động, linh hoạt của các công ty thànhviên trong việc lựa chọn chiến lược phát triển riêng cho mình và tự chủ trong sảnxuất kinh doanh vừa tạo ra sức mạnh tập trung [2], [16]
1.1.1.3 Công ty tài chính và Ngân hàng trong Tập đoàn kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, đặc biệt là với sựbùng nổ của thị trường chứng khoán trong vài năm trở lại đây, Công ty tàichính không còn là khái niệm xa lạ ở Việt Nam Tuy nhiên, trong thực tế, còn
có sự nhầm lẫn giữa Công ty tài chính với các công ty được thành lập theoLuật Doanh nghiệp nói chung hay ranh giới giữa tổ chức ngân hàng với công
ty tài chính Tuy nhiên có một số điểm khác biệt giữa Công ty tài chính vàngân hàng thương mại như sau:
chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có vốn huyđộng và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn
về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp
Trang 26luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửidưới một năm Trong khi đó, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đượcthực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác cóliên quan, cụ thể là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nộidung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng vàcung ứng các dịch vụ thanh toán Một điều rõ ràng là một ngân hàng có nguồngốc Tập đoàn sẽ phải đối phó thường xuyên với các áp lực ưu đãi tín dụng cólợi cho những mối quan hệ mang tính nội bộ Một khi đã có sự ưu đãi, thìnguồn tài nguyên tín dụng đã bị phân bổ một cách sai lệch Nguồn vốn lẽ raphải chảy theo những kênh có khả năng sử dụng nó một cách có hiệu quả nhất
đã chuyển sang các kênh nội bộ Xét ở khía cạnh nào đó, các Công ty tàichính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng Trongkhi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thìCông ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ Tập đoàn và nhóm công ty
Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các Công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ Tậpđoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi cácquan hệ kinh tế trong Tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thìkhả năng xảy ra rủi ro là không lớn
CTTC khác với Ngân hàng là không được thực hiện một số nghiệp vụcủa Ngân hàng như nghiệp vụ thanh toán, nhận tiền gửi dưới 1 năm của dân
cư, vay tiền của Ngân hàng trung ương, CTTC cổ phần không được pháthành cổ phiếu để tăng vốn tự có Tuy vậy, các Công ty tài chính hiện nay đãkhắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụnhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho
cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp Công ty tài chínhthực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại
Trang 27Rõ ràng, so với Ngân hàng thì CTTC có quy mô nhỏ bé hơn và hoạtđộng trong lĩnh vực chuyên sâu hơn nhiều CTTC chuyên về các nghiệp vụtrung và dài hạn hơn, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng thuê mua và linh hoạt hơntrong tín dụng trả góp và cho thuê tài chính Hơn nữa, CTTC chuyên khai thácnhững thị trường cho vay nhiều rủi ro, lãi lớn mà Ngân hàng thương mạikhông đủ năng lực để tham gia.
Như vậy, có thể thấy lợi ích của Công ty tài chính mang lại cho cácdoanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các Tậpđoàn lớn thường có ít nhất một công ty tài chính Công ty tài chính là công cụ
để Tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợinhất Trong phạm vi nội bộ Tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi íchgắn bó, Công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từcác công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạtđộng nghiệp vụ Công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớncho các dự án quan trọng trong nội bộ Tập đoàn
1.1.2 Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm
a) Công ty tài chính
Công ty tài chính là một tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng màhoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là :
- Thu hút vốn bằng cách nhận tiền gửi có kỳ hạn của dân chúng và các
tổ chức kinh tế, chủ yếu huy động vốn trung và dài hạn ; phát hành các chứngkhoán nợ hay vay của các tổ chức tín dụng
- Cho vay ngắn hạn, đặc biệt thích hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùng
- Thực hiện các hoạt động cho thuê tài sản
Trang 28- Thực hiện các hoạt động bao thanh toán
- Cung cấp các dụch vụ tài chính như kinh doanh vàng bạc, đá quý,mua bán chuyển nhượng chứng khoán ; cầm cố các loại hàng hóa, vật tư,ngoại tệ, dịch vụ bảo lãnh và các dịch vụ tư vấn tài chính…
Nghị định số 79/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/10/2002 về Tổ
chức và hoạt động của Công ty Tài chính, đã định nghĩa: Công ty tài chính là
loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch
vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm [4].
b) Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế
Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nói chung là một mô hình tổchức tài chính được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động như mộtđịnh chế tài chính trung gian, thu xếp và sử dụng các nguồn vốn, tham gia vàocác thị trường tiền tệ để tăng cường tiềm lực tài chính phục vụ cho yêu cầu đầu
tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các ngànhkinh tế trọng yếu Lợi nhuận của các Tập đoàn trên thế giới do hoạt động củaCTTC của Tập đoàn mang lại là khá lớn (khoảng 30-33%) thông qua hoạt độngtrên thị trường tiền tệ như: mua bán thương phiếu, cổ phiếu, trái phiếu, tiếnhành các dịch vụ đầu tư tài chính, cho vay và các dịch vụ khác mang tính chấtmôi giới đầu tư, tư vấn tài chính đầu tư cho toàn ngành
Ở Việt Nam, thực hiện chủ trương xây dựng các Tập đoàn kinh tế mạnh,
Nhà nước khuyến khích thành lập các CTTC trong các Tập đoàn kinh tế,Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước Điều 43, khoản 3 Luật DNNN đãghi:" Tuỳ theo quy mô và vị trí quan trọng, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tếNhà nước có hoặc không có CTTC là doanh nghiệp thành viên"
Trang 29Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Thực tiễn kinhnghiệm của các Tập đoàn trên thế giới khẳng định việc thành lập CTTC trongTập đoàn sẽ giúp Tập đoàn khai thác triệt để sức mạnh của mình để kinhdoanh trên thị trường tài chính tiền tệ, phát huy thế mạnh về nguồn lực tàichính, nguồn lực con người.
Hơn nữa, đối với nước ta đang trong quá trình phát triển, nhu cầu hìnhthành và phát triển một thị trường vốn là cấp bách Đồng thời với sự pháttriển thị trường vốn đó thì sự hình thành các định chế trung gian là tất yếu Vìthế, ngoài các tổ chức tài chính như: Ngân hàng thương mại, hợp tác xã tíndụng, công ty bảo hiểm thì cần thiết phải thành lập và đa dạng hoá hình thức
và hoạt động của các CTTC nhằm tận dụng mọi nguồn lực tài chính trong nềnkinh tế để đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng phát triển
1.1.2.2 Đặc điểm
a) Công ty tài chính
- Hoạt động của Công ty tài chính. CTTC thực hiện kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng, huy động vốn, tín dụng, mở tài khoản và dịch vụ ngânquỹ và các hoạt động CTTC chủ yếu là cho vay ngắn hạn và trung hạn phục
vụ các hoạt động mua bán vật tư, hàng hoá và dịch vụ đối với các tổ chứckinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
- Thời hạn hoạt động của Công ty tài chính tại Việt Nam không quá 50
năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động phải được Ngân hàng Nhànước chấp thuận Mỗi lần gia hạn không quá 50 năm
- Quản trị, điều hành và kiểm soát: Công ty tài chính được Ngân hàng
Nhà nước cấp Giấy phép có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Tổng giámđốc (Giám đốc) Trong Công ty tài chính, Hội đồng quản trị có chức năngquản trị công ty theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định
Trang 30khác của pháp luật; Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chínhcủa công ty, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán và hoạt động của hệthống kiểm tra, kiểm toán nội bộ của công ty; Tổng giám đốc (Giám đốc) chịutrách nhiệm trước Hội đồng quản trị điều hành hoạt động hàng ngày theonhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng vàcác quy định khác cuả pháp luật Đối với Công ty tài chính trực thuộc tổ chứctín dụng, việc quản trị, kiểm soát công ty do Hội đồng quản trị và Ban kiểmsoát của Tổ chức tín dụng quyết định [3], [4].
b) Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế
Tư cách pháp nhân: Công ty tài chính chịu sự quản lý của Tổng công
ty về chiến lược phát triển, về tổ chức và nhân sự, chịu sự quản lý của Ngân
hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vu CTTC có condấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, được TCT cấp vốnđiều lệ ban đầu Hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và tự chịu tráchnhiệm về kết quả kinh doanh Hoạt động theo luật doanh nghịêp và quy chếhoạt động của các tổ chức tín dụng
Về vai trò và nhiệm vụ: CTTC có nhiệm vụ huy động và cho vay đápứng nhu cầu của TCT và các đơn vị thành viên của về vốn Quan hệ giữa Công tytài chính với các đơn vị thành viên của TCT được thực hiện theo nguyên tắc cóvay có trả Trường hợp thực hiện việc cho vay đối với các tổ
chức đơn vị kinh doanh khác ngoài TCT, CTTC phải được sự đồng ý của Hộiđồng quản trị
Thời hạn hoạt động: Thời hạn hoạt động của Công ty tài chính khôngdưới 20 năm kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động, nhưng không được vượt quá thời hạn hoạt động của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế [3], [4].
Nguyên tắc tổ chức và điều hành:
Trang 31 Công ty tài chính chịu sự quản lý của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế
về chiến lược phát triển, về tổ chức và nhân sự, chịu sự quản lý của Ngân hàngNhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vụ
Điều hành hoạt động của Công ty tài chính là giám đốc do Hội đồngquản trị bổ nhiệm theo tiêu chuẩn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định
Công ty tài chính chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của mình
Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế chịu trách nhiệm trước pháp luật về cáckhoản cho vay các doanh nghiệp ngoài Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế do Hội đồngquản trị chấp thuận, cũng như các quyết định của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế cóliên quan đến hoạt động của công ty tài chính
1.1.2.3 Phân biệt công ty tà chính và Công ty tài chính trong Tập
đoàn kinh tế
Công ty tài chính trực thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Tập đoànkinh tế Nhà nước là một trung gian tài chính đặc biệt và là một mô hình quản
lý kinh doanh mới trong hoạt động kinh tế - tài chính tại Việt Nam Sự ra đời
và phát triển của loại hình doanh nghiệp này đã mang lại một luồng sinh khímới cho thị trường vốn nước ta Để làm rõ hơn vị trí của CTTC trong Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế, ta sẽ so sánh mô hình này với các CTTC thôngthường [3], [4].
CTTC thuộc Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có tất cả các tính chất củamột CTTC bình thường, là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thành lậpdưới hình thức là "công ty quốc doanh hoặc công ty cổ phần, hoạt động chủyếu là cho vay để mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn vốn của mình hoặcvay của dân cư"
Trang 32Bên cạnh những điểm chung đó, CTTC trong Tổng công ty, Tập đoànkinh tế còn có những điểm khác biệt lớn lao về tổ chức và nghiệp vụ so vớicác CTTC thông thường ở Việt Nam là:
Mục tiêu ra đời và hoạt động của CTTC trong Tổng công ty, Tập đoànkinh tế là cung cấp những dịch vụ về tài chính cho Tổng công ty, Tập đoànkinh tế và các thành viên trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, đặc biệt làmục tiêu huy động vốn, đầu tư tài chính và điều hoà vốn để đáp ứng nhu cầuhoạt động và phát triển của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế
- Về tổ chức, CTTC thuộc Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế là một thànhviên của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng công
ty, Tập đoàn kinh tế về chiến lược phát triển, về tổ chức nhân sự
- Về mặt nghiệp vụ, CTTC thuộc Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có những nghiệp vụ khác là:
+ Về nghiệp vụ uỷ thác: CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tếthực hiện việc nhận uỷ thác của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế (nhận uỷ thácvay vốn cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, nhận uỷ thác đầu tư vào các dự
án của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế) Thông qua việc quản lý những quỹtập trung của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế như quỹ khấu hao cơ bản đểphân phối, điều hoà vốn trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế theo cơ cấu đầu
tư toàn ngành
+ Về nghiệp vụ huy động vốn: CTTC trong Tổng công ty, Tập đoànkinh tế được phép nhận tiền gửi có kỳ hạn lớn hơn 1 năm của Tổng công ty,Tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp thành viên
- Về nghiệp vụ sử dụng vốn: CTTC thực hiện cho vay các công tythành viên trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế theo nguyên tắc có vay có trả,thực hiện chế độ lãi suất nội bộ do CTTC đề nghị và Tổng Giám đốc Tổng công ty,Tập đoàn kinh tế duyệt theo uỷ quyền của Hội đồng quản trị
Trang 33Do có những đặc điểm khác biệt trên nên CTTC thuộc Tổng công ty,Tập đoàn kinh tế có những ưu điểm và hạn chế so với các CTTC khác đó là:+ Thị trường và phạm vi hoạt động của CTTC bị giới hạn trong Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế Đây là một hạn chế lớn của CTTC trong Tổng công ty,Tập đoàn kinh tế Tuy nhiên, đây cũng là một lợi thế của các CTTC trong Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế so với các CTTC khác Vì thực tế của nền kinh tế ViệtNam trong khi thị trường trung và dài hạn của Việt Nam đầy rủi ro, bất trắc, cácCTTC khác không phát triển được nghiệp vụ trung và dài hạn, thì các CTTC có
ưu thế về thị trường vì các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế chính là thị trườngdịch vụ tài chính ngân hàng to lớn và ngày càng phát triển, ổn định và an toàn Đâychính là ưu điểm mà các CTTC khác không thể có được
+ Mặt khác, nghiệp vụ nhận tiền gửi có kỳ hạn của các thành viên trongTổng công ty, Tập đoàn kinh tế làm cho CTTC giống như một Ngân hàng nội bộcủa Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế và việc quản lý các quỹ tập trung của Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế, giúp Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có khả năng điềuhoà nguồn vốn nội bộ từ thành viên này đến các thành viên khác trong Tổng công
ty, Tập đoàn kinh tế một cách dễ dàng, đạt hiệu quả cao hơn Hơn nữa, lãi suất nội
bộ giúp cho CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế
cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác trong việc cung cấp các dịch vụ tàichính cho đơn vị trong ngành và các đơn vị cùng ngành kinh tế kỹ thuật Vìvậy, để Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế phát triền và lớn mạnh cần thiết phảithành lập CTTC để tận dụng những ưu điểm này Đó cũng là cơ sở của việc
ra đời CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế [6].
Tóm lại, qua đối chiếu so sánh với các CTTC thông thường thì vị trí củaCTTC trong TĐKT đã được xác định Tuy nhiên, để thấy được sự cần thiết
Trang 34thành lập các CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, chúng ta cần làm
rõ vai trò của CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế
1.1.2.4 Vị trí của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế
Trong các Tập đoàn ngày nay, bên cạnh các đơn vị sản xuất kinh doanhtruyền thống thường có các tổ chức Tài chính-Ngân hàng, Bảo hiểm và cácđơn vị nghiên cứu, đào tạo Các tổ chức Tài chính-Ngân hàng và nghiên cứuứng dụng ngày càng được coi trọng vì nó là đòn bẩy cho sự phát triển củaTập đoàn và là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời trong cơ cấu kinhdoanh của Tập đoàn
Khi nghiên cứu đặc điểm của các Tập đoàn kinh doanh ngày nay chúng
ta có thể thấy rõ sự cần thiết phải thành lập và phát triển tổ chức Tài Ngân hàng trong các Tập đoàn
chính-Thứ nhất, việc hình thành Tập đoàn xuất phát từ nguyên nhân kháchquan nhằm khắc phục sự hạn chế về vốn của từng thành viên cá biệt TrongTập đoàn việc huy động vốn từ các công ty thành viên để đầu tư một cách tậptrung vào các công ty, các dự án có hiệu quả kinh tế cao khắc phục tình trạngphân tán vốn chính là cơ sở cho việc thành lập công ty tài chính Vì thế, sự rađời Công ty tài chính sẽ tổng hợp sức mạnh tài chính của mọi thành viên trongTập đoàn, nâng cao khả năng cạnh tranh
Thứ hai, xu hướng của các Tập đoàn ngày nay là phát triển đa ngành, đalĩnh vực Do phát triển đa ngành, đa lĩnh vực với các quan hệ liên kết kinh tếdọc, ngang và liên kết kinh tế hỗn hợp dọc ngang rất phức tạp đòi hỏi phải có
sự chuyên môn hoá và hợp tác hóa giữa các doanh nghiệp thành viên trongTập đoàn Các Công ty tài chính (ngân hàng) được thành lập nhằm thực hiệnchức năng chuyên môn hoá trong quản lý tài chính do đó nâng cao hiệu quảhuy động và sử dụng nguồn vốn, tối đa hoá lợi nhuận
Trang 35Mặt khác trong các Tập đoàn kinh doanh, quan hệ tài chính giữa công ty mẹ
và công ty con là dựa trên mối quan hệ sở hữu, trong đó công ty mẹ đóng vai tròchi phối, kiểm soát công ty con về chiến lược và tài chính Bên cạnh đó, công ty
mẹ sẽ hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty thành viên vay vốn từ nguồnvốn cổ phần chung của Tập đoàn Quan hệ tín dụng này thường được thực hiệnthông qua công ty tài chính Công ty tài chính đảm bảo cho các công ty thànhviên vay vốn với lãi suất ưu đãi trong nội bộ Tập đoàn
Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, đặc biệt là thịtrường chứng khoán đã tạo điều kiện hình thành những Tập đoàn có hạt nhânliên kết là công ty tài chính: Công ty tài chính là công ty mẹ nắm giữ cổ phầnchi phối của các công ty con Trong trường hợp này, Công ty tài chính đóngvai trò chi phối cả Tập đoàn
Riêng đối với Việt Nam, việc thành lập các Công ty tài chính trong cácTổng công ty, Tập đoàn kinh tế nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh doanh
là rất cần thiết, nó bắt nguồn từ yêu cầu và điều kiện thực tế chứ không mangtính chủ quan, duy ý chí Phân tích các điều kiện thực tế của Việt nam và củacác Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có thể thấy rõ điều này
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh mạnh mẽ, Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt
là sự cạnh tranh với các Tập đoàn lớn trong khu vực và trên thế giới đòi hỏicác Tổng công ty phải thay đổi cơ cấu tổ chức, các quan hệ tài chính Vì thế,việc ra đời CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế là thích hợp với hoàncảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, là một giải pháp gắn kết kinh tế giữa cáccông ty thành viên, nhằm tận dụng sức mạnh về vốn và các mối quan hệ vớinước ngoài của mỗi Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế mà CTTC sẽ là chất xúctác đẩy mạnh sự phát triển công nghiêp, thông qua tư vấn và quan hệ để mở
Trang 36rộng xuất nhập khẩu, đồng thời nó còn tìm kiếm các đề án tài trợ với điều kiện
có lợi nhất cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế
Ngoài ra, cơ chế kinh tế mới đòi hỏi các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tếphải chủ động về tài chính và các hoạt động kinh doanh CTTC trong Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước được thành lập nhằm tạo những bướcbiến đổi về chất cho các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế trong việc tìm kiếmkhơi thông các nguồn vốn trong và ngoài nước, nhằm đáp ứng nhu cầu vốnlớn cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, thực hiện chuyên môn hoá trongquản lý vốn, quản lý danh mục đầu tư nâng cao sức cạnh tranh của cácTổng công ty, Tập đoàn kinh tế - là yếu tố rất cần thiết đối với các DNNNViệt Nam hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Hơn nữa, trong tương lai, khi thị trường chứng khoán Việt Nam pháttriển, CTTC với trình độ chuyên môn của mình, sẽ là đại diện cho Tổng công
ty, Tập đoàn kinh tế, các công ty thành viên tham gia thị trường chứng khoánvới vai trò là một nhà môi giới chứng khoán [14].
Qua phân tích trên, ta thấy các chức năng quan trọng của Công ty tàichính trong Tập đoàn là: Huy động vốn, điều hoà vốn, đầu tư tài chính, dịch
Trang 37tế, các nguồn này không đáp ứng đủ nhu cầu vốn phát triển của các Tập đoàn,đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn.
Trong điều kiện như vậy, các tổ chức tài chính của Tập đoàn có nhữnglợi thế nhất định trong việc tìm kiếm các nguồn vốn cung ứng cho các doanhnghiệp thành viên và các dự án của Tập đoàn Công ty tài chính sẽ là tổ chứcđại diện cho Tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên huy động đồng bộ cácnguồn vốn trong nội bộ Tập đoàn, trong dân chúng thông qua phát hành tráiphiếu, tín phiếu với mục đích đầu tư vào các dự án có chiều sâu, đổi mới thiết
bị sản xuất, xây dựng, phát triển cơ sở vật chất của các công ty thành viên.Với vị thế của mình, Công ty tài chính còn có thể vay vốn từ các tổ chức tíndụng để cung cấp cho các công ty thành viên, các dự án của Tập đoàn Ngoài
ra, các tổ chức tài chính trong Tập đoàn còn là kênh dẫn các nguồn vốn đầu
tư quốc tế cho các dự án đầu tư của Tập đoàn và của các công ty thành viên.Với trình độ chuyên môn cao và uy tín cuả mình, các tổ chức tài chính củaTập đoàn sẽ tư vấn cho các đối tác bên ngoài đầu tư vào Tập đoàn Nó chính
là " cầu nối" giữa Tập đoàn và các nhà đầu tư nước ngoài, giúp các nhà đầu
tư nước ngoài "sẵn sàng" đầu tư vốn vào các lĩnh vực của Tập đoàn Và khi
đó tổ chức tài chính trở thành người quản lý vốn đầu tư cho các đối tác nước
[26]
1.2.2 Điều hoà và quản lý vốn
"Điều hoà vốn" có thể được hiểu là toàn bộ những hoạt động nhằm phân
bổ nguồn vốn giữa các bộ phận trong một tổng thể để tạo ra một cơ cấu vốnhợp lý, có hiệu quả Cơ chế điều hoà vốn không có nghĩa là chuyển vốn mộtcách hành chính đơn thuần từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn mà bao gồm hệthống quan hệ tài chính dựa trên hoạt động tín dụng thực sự Cơ chế lãi suấthợp lý và những lợi ích chiến lược lâu dài sẽ có tác dụng duy trì sự liên kếtnội bộ bền vững của Tập đoàn
Trang 38Trong Tập đoàn, tại một khoảng thời gian nhất định, có những doanhnghiệp thiếu vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi đó cácdoanh nghiệp khác lại có vốn "nhàn rỗi" (tức là có vốn mà chưa có nhu cầuđầu tư Công ty tài chính đóng vai trò là trung gian tài chính trong cơ chế điềuhoà vốn của Tập đoàn Công ty tài chính huy động các nguồn vốn nhàn rỗicủa các đơn vị để hình thành một nguồn vốn tập trung và ổn định hơn.
Đây là chức năng đặc biệt chỉ có ở CTTC Việt Nam CTTC thay Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế điều hoà vốn: Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế giaocho CTTC quản lý các quỹ tập trung của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế;quản lý vốn của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế đầu tư vào các doanh ngiệpthành viên, các dự án, thực hiện huy động vốn và cho vay các doanh nghiệpthành viên theo chính sách, quy định của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế vàthông qua các hoạt động đó chi phối, điều hoà nguồn vốn toàn Tổng công ty,Tập đoàn kinh tế một cách hiệu quả hơn
Có thể nhận thấy rằng, cơ chế điều hoà vốn thông qua Công ty tài chínhcần phải kết hợp đồng bộ với cơ chế quản lý và sử dụng các quỹ của Tổngcông ty, Tập đoàn kinh tế cũng như của các doanh nghiệp thành viên Khôngnên để các quỹ chuyên dùng này trở thành một nguồn vốn "chết" mà cần thuhút bộ phận quỹ nhàn rỗi vào Công ty tài chính để cho vay
Thực hiện chức năng này, Công ty tài chính có các nghiệp vụ sau:
+ Cho vay tiêu dùng bằng các hình thức cho vay trả góp
- Chiết khầu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
Trang 39+ Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với cac tổ chức và cà nhân.
+ Công ty tài chính và các tổ chức tín dụng khác được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác của nhau
- Bảo lãnh : Công ty tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tàichính của mình đối với người nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh của Công ty tàichính phải được thực hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng vàhướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước
Ngoài ra Công ty tài chính còn được thực hiện các hoạt động khác theoqui định của Ngân hàng Nhà nước [26], [3], [4].
- xã hội, các quan hệ kinh tế quốc tế, tác động tới hoạt động đầu tư - kinhdoanh chứng khoán; phát hiện, dự đoán khuynh hướng phát triển và những biếnđộng có thể sảy ra đối với toàn bộ nền kinh tế - đặc biệt là đối với thị trường tàichính và triển vọng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể
Đồng thời, để tính toán khả năng sinh lời, triển vọng tăng trưởng, phân tíchrủi ro đối với từng danh mục đầu tư cụ thể
1.2.3.1 Mục tiêu đầu tư
Mục tiêu đầu tư được xác định và thiết lập trên cơ sở những kết quả nghiêncứu thị trường và phân tích lợi nhuận, rủi ro Đồng thời, phải xuất phát từ khảnăng tài chính, khả năng tham gia của các nhà đầu tư, những đặc điểm
Trang 40và mục tiêu hoạt động đầu tư của CTTC Trên cơ sở đó, phải xác định mụctiêu đầu tư là thu nhập, lãi vốn hay kết hợp cả hai mục tiêu này để hoạt độngđầu tư một cách hiệu quả nhất.
Mục tiêu đầu tư được thực hiện thông qua các chiến lược đầu tư.Nghĩa là, chiến lược đầu tư phải được thành lập trên cơ sở mục tiêu đầu tư.Căn cứ vào mục tiêu đầu tư chủ động xây dựng chiến lược đầu tư để xácđịnh cơ cấu tài sản (phân bố tài sản) và lựa chọn khoản mục đầu tư theohướng năng động hoặc theo cơ cấu ổn định Từ đó hình thành chiến lược đầu
tư mang tính chủ động hay thụ động hoặc sử dụng chiến lược hỗn hợp cả haithuộc tính này để hình thành danh mục đầu tư
1.2.3.2 Lĩnh vực đầu tư
Lĩnh vực (danh mục) đầu tư thể hiện một cách tổng thể mục tiêu, chiếnlược đầu tư, việc phân bố tài sản và lựa chọn khoản mục đầu tư không chỉđối với các loại hình chứng khoán, ngành, lĩnh vực mà CTTC quan tâm; màcòn thể hiện cả mục tiêu, phạm vi hoạt động của chúng trên thị trường tàichính thế giới Danh mục đầu tư của các CTTC không chỉ tập trung việc phân
bố tài sản và lựa chọn những khoản mục đầu tư ở các thị trường vốn pháttriển mà còn tranh thủ những cơ hội đầu tư vào những ngành, lĩnh vực đangphục hồi ở những công ty thực hiện việc chuyển đổi mô hình, cổ phần hoádoanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên đối với các CTTC trong các TĐKT thì ưutiên hàng đầu vẫn là đầu tư vào các ngành, lĩnh vực mà Tập đoàn đó có thếmạnh và ưu tiên phát triển
1.2.3.3 Cơ chế đầu tư Tài chính của Công ty tài chính
Công ty tài chính trong Tập đoàn là một mắt xích quan trọng để gắn kết,hợp tác giữa Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế và các đơn vị thành viên, với thịtrường tài chính tiền tệ Công ty tài chính trong Tập đoàn ra đời không phải vì