Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” để hoàn thành luận văn
Trang 1KHOA KINH TẾ
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM MAY MẶC VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, 2006
Trang 2KHOA KINH TẾ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM MAY MẶC VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN HÙNG
HÀ NỘI, 2006
Trang 31.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế
1.1.3 Các loại hình cạnh tranh
1.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.2.1 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.2.3.1 Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm
1.2.3.2 Thị phần của sản phẩm
1.2.3.3 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm về kiểu cách, mẫu mã
1.2.3.4 Chất lượng và giá cả của sản phẩm
1.2.3.5 Tỷ suất lợi nhuận
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 4MAY MẶC VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
2.1 Khái quát chung về cơ cấu sản phẩm, năng lực sản xuất và thị
trường tiêu thụ sản phẩm may mặc Việt Nam
2.1.1 Cơ cấu sản phẩm
2.1.2 Năng lực sản xuất
2.1.3 Thị trường tiêu thụ
2.1.3.1 Thị trường xuất khẩu
2.1.3.2 Thị trường nội địa
57
575760606364
656568
727276
34343841415334
Trang 52.2.1 Phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc Việt Nam trong thời gian qua
2.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm
2.2.1.2 Thị phần
2.2.1.3 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm về kiểu cách, mẫu mã
2.2.1.4 Chất lượng và giá cả của sản phẩm
2.2.1.5 Tỷ suất lợi nhuận
2.2.2 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc Việt Nam
2.2.2.1 Các nhân tố khách quan
2.2.2.2 Các nhân tố chủ quan
2.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc Việt Nam
2.3.1 Đánh giá năng lực cạnh tranh tuyệt đối
2.3.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh tương đối
Trang 6PHẨM MAY MẶC VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 3.1 Dự báo về thị trường sản phẩm may mặc, những định hướng
phát triển sản phẩm may mặc Việt Nam:
3.1.1 Dự báo thị trường sản phẩm may mặc
3.1.1.1 Thị trường trong nước
3.1.1.2 Thị trường khu vực và thế giới
3.1.2 Định hướng phát triển sản phẩm may mặc Việt Nam
3.1.2.1 Thị trường
3.1.2.2 Đầu tư công nghệ để phát triển sản xuất và xuất khẩu
3.1.2.3 Đầu tư phát triển nguyên liệu
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
3.2.1 Các doanh nghiệp tham gia ngành
3.2.1.5 Giải pháp thực hiện chiến lược đầu tư thích hợp
3.2.1.6 Giải pháp hướng tới khách hàng
Trang 7KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Hiệp định về sản phẩm mayHiệp định Thương mại song phương
Certificate of Origin (Giấy chứng nhận xuất xứ)
Cổ phầnLiên minh Châu Âu
Hệ thống ưu đãi thuế quan
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn
Tổ chức hàng dệt may quốc tếNăng lực cạnh tranh
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thứcQuan hệ công chúng
Hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế
Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơTrách nhiệm hữu hạn
Đô la MỹThuế giá trị gia tăngTổng công ty dệt may Việt NamDiễn đàn Kinh tế Thế giới
Tổ chức Thương mại Thế giới
Xã hội chủ nghĩa
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một yêu cầu tất yếu củaquá trình phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế
có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hóa thương mại, đưa cácdoanh nghiệp tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế Trong bối cảnh toàn cầuhóa đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt ở khắp mọinơi và ở mọi cấp độ Một quốc gia muốn hội nhập thành công phải xác địnhđược một cơ cấu kinh tế hợp lý, chú trọng phát triển mạnh các ngành kinh tếmũi nhọn có khả năng cạnh tranh cao Các doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển không có cách nào khác là phải xác định được chiến lược kinh doanh,đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường có tính cạnh tranh ngày càng cao.Với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước côngnghiệp, chúng ta cần phát triển những ngành có lợi thế cạnh tranh Vì vậy, cầnphải có một cơ cấu kinh tế hợp lý và phải có chiến lược phát triển, nâng caokhả năng cạnh tranh của các ngành, các sản phẩm trọng điểm
Ngành dệt may, với các sản phẩm làm ra chủ yếu là các sản phẩm maymặc được xem là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn,đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế Là ngành có kim ngạchxuất khẩu lớn của đất nước, dệt may góp phần quan trọng vào việc xóa đóigiảm nghèo vì đây là ngành tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn nhâncông lao động Bên cạnh đó, một loạt các ngành nghề phụ trợ như: trồngbông, trồng dâu nuôi tằm, thêu đan, sản xuất bao bì, có cơ hội phát triển
Dệt may Việt Nam là một ngành kinh tế đa thành phần bao gồm: cácdoanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (100% vốn
và liên doanh), các công ty TNHH, các công ty cổ phần, công ty tư nhân, các
tổ hợp, các hợp tác xã Hầu hết các sản phẩm may mặc được sản xuất theo
Trang 11hình thức gia công, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều Do đó, phát triển sảnphẩm có chất lượng cao để đảm bảo cho cạnh tranh là điều hết sức khó khăn.
Những năm 2001-2003, được coi là thời kỳ thịnh nhất của xuất khẩumay mặc Việt Nam khi Hiệp định song phương về hàng dệt may giữa ViệtNam và Hoa Kỳ được ký kết Tuy nhiên, liệu Việt Nam có chỗ đứng vữngchắc trên các thị trường này không khi sắp tới phải đương đầu với một loạtcác thử thách như: việc chấm dứt Hiệp định ATC, gia nhập WTO - nơi diễn racuộc cạnh tranh gay gắt giữa nền kinh tế các quốc gia, các công ty lớn, bé Mặt khác, trong bối cảnh Trung Quốc, một đối thủ cạnh tranh khổng lồ vềhàng may mặc, đã tham gia WTO, cũng gây khó khăn không nhỏ cho xuấtkhẩu may mặc Việt Nam trong những năm tới
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” để hoàn thành luận văn thạc sỹ với hy vọng sẽ có
những đóng góp thiết thực và ý nghĩa đối với quá trình công nghiệp hóa củangành may mặc nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung trong bối cảnh hộinhập kinh tế khu vực và quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập là những vấn
đề mang tính cấp thiết không chỉ của riêng ngành may mặc mà của cả toànngành kinh tế nói chung Đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu quantâm đến “năng lực cạnh tranh” trong quá trình hội nhập Mặc dù phần lớn cácnghiên cứu mới chỉ dừng lại ở sự bao quát trong từng ngành nghề kinh tế,song ở một vài các đề tài đã nêu ra được cơ hội, thách thức cũng như các giảipháp khắc phục ở một mức độ nhất định
Trong những công trình đó có các tác phẩm đã được xuất bản thànhsách như:
Trang 12- Trần Văn Tùng (2004), Cạnh tranh kinh tế, NXB Thế Giới.
Ngoài ra, rất nhiều các xuất bản phẩm viết về chủ đề năng lực cạnh tranh được in trên các báo, tạp chí:
- Đỗ Thị Phi Hoài (2005), “Ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam
trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”, tạp chí Nghiên cứu tài chính
kế toán,(01).
- Lê Thị Thanh Huyền (2004), “Thách thức của ngành dệt may Việt
Nam trong thế kỉ mới”, tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán,(11).
- Nguyễn Thị Hường (2004), “Phân biệt sức cạnh tranh của hàng hóa,của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế”, tạp chí Kinh tế và phát triển, (83).
- Nguyễn Anh Tuấn, TS Diệp Thị Mỹ Hảo (2005), “ Giải pháp cho
ngành dệt may Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Kinh Tế, (323).
Các công trình nghiên cứu này đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau vềcạnh tranh, năng lực cạnh tranh của các ngành, nghề trong nền kinh tế giaiđoạn đổi mới Một số đề tài đi vào nghiên cứu sâu hơn về năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm, hàng hoá đặc biệt là sản phẩm may mặc, những thách thức phảitrải qua trong cạnh tranh thời kỳ hội nhập, từ đó xây dựng các giải pháp khắcphục nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh với các nước trong khuvực và thế giới
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh, từ đó đềxuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 13* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc
- Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc Việt Nam trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm maymặc Việt Nam trước xu thế hội nhập
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc
- Các yếu tố cấu thành và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc
* Phạm vi nghiên cứu
Sản phẩm may mặc của Việt Nam khá đa dạng và phong phú về chủngloại, cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu sang các thị trườngnước ngoài Do lĩnh vực nghiên cứu của đề tài là rất rộng, đề tài tập trungnghiên cứu năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm may mặc chính là: áo sơ
mi, áo jacket, áo khoác, áo vest, quần âu của các doanh nghiệp Việt Namtrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích,thống kê, tổng hợp, lập luận logic các vấn đề để tìm ra các luận cứ, số liệuminh họa tạo sự rõ ràng cho vấn đề phân tích Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụngphương pháp so sánh nhằm đưa ra được những nét đặc thù trong cạnh tranhcủa từng ngành kinh tế
Trang 146 Những đóng góp của đề tài
Tác giả hy vọng đề tài sẽ có những đóng góp cơ bản sau:
Thứ nhất, tổng quan về mặt lý luận năng lực cạnh tranh nói chung và
năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc nói riêng trong thời kỳ hội nhậpkinh tế quốc tế
Thứ hai, cung cấp những số liệu mới nhất về tốc độ tăng trưởng của
sản phẩm may mặc Việt Nam trong tiến trình hội nhập
Thứ ba, nhận định được những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến năng
lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Nam từ đó có chiến lược phát triểnnâng cao vị thế cạnh tranh cho ngành
Thứ tư, qua tham khảo kinh nghiệm hoạch định chiến lược về sản
phẩm may mặc của một vài quốc gia đi trước trong tiến trình hội nhập, đề tàiđưa ra những đánh giá sát thực về cơ hội, thách thức cũng như khả năng cạnhtranh sản phẩm may mặc Việt nam trên trường quốc tế
Thứ năm, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm may mặc Việt Nam
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục đề tàiđược chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩmChương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩmmay mặc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM 1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh * Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, gắn
liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá Nhà kinh tế học
người Anh, Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoànchỉnh về cạnh tranh Luận thuyết của ông dựa trên ý tưởng về vai trò của “bàn tay vô hình” qua sự điều chỉnh biến động của giá cả thị trường và đượcthể hiện rõ qua mô hình cạnh tranh hoàn hảo Trong môi trường cạnh tranhhoàn hảo, mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, của người tiêudùng là tiện ích được đáp ứng (chất lượng sản phẩm, giá cả, ) Thị trường sẽphân bổ tối ưu các nguồn lực khan hiếm vốn có theo nghĩa “không thể có cáchphân bổ khác có lợi hơn cho ai đó trong xã hội mà không làm hại đến ngườinào khác” [17] Tuy nhiên trong thực tế, hầu như không tồn tại tất cả nhữnggiả thuyết về nhân tố hoàn hảo Do đó mô hình cạnh tranh hoàn hảo là không
lý tưởng
Đến những năm 20 của thế kỷ 20, các nhà kinh tế học người Anh và
Mỹ đã đưa ra những nghiên cứu đầy đủ hơn về cạnh tranh - mô hình cạnhtranh mang tính độc quyền Theo đó, xuất hiện cạnh tranh bằng sản phẩmmới, kỹ thuật mới, dẫn đến giảm giá, tăng chất lượng hàng hoá cũng như sựhợp lý trong sản xuất
Trước đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C Mác đã đề cập tớivấn đề cạnh tranh của các nhà tư bản Theo C Mác: “Cạnh tranh tư bản chủnghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật
Trang 16những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuậnsiêu ngạch” [9] Ở đây, C Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội tưbản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất Do vậy, theo quan niệm này thì sự cạnh tranh có nguồn gốc
từ chế độ tư hữu Cạnh tranh được xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau đểtồn tại Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực Ngàynay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranhvừa là môi trường, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Do vậy,cạnh tranh có thể hiểu như sau:
Cạnh tranh trong kinh doanh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt,quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hànghoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó màđạt được những lợi ích kinh tế nhất định
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực như:làm cho hàng hóa có chất lượng cao hơn, giá thành rẻ hơn, dịch vụ chăm sóckhách hàng tốt hơn, tất cả đều hướng tới việc nâng cao đời sống con người
Như vậy, cạnh tranh là một xu thế tất yếu và là đặc trưng cơ bản củanền kinh tế thị trường Trên đà phát triển và hội nhập như ngày nay, quá trìnhcạnh tranh cũng luôn được thúc đẩy phát triển bởi các đối tượng tham gia trênthị trường luôn tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trước các đốithủ cạnh tranh khác nhằm đạt vị thế cao hơn trên thị trường
* Năng lực cạnh tranh
Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủthể kinh doanh trên thị trường thì cạnh tranh bao gồm: cạnh tranh giữa các cánhân, các doanh nghiệp, các ngành và cạnh tranh giữa các nền kinh tế Trongquá trình cạnh tranh, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụngtổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị
Trang 17trường hay nói một cách khác, đó là năng lực cạnh tranh của chủ thể đó trênthị trường.
Trong thực tế, tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnhtranh, được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng: sáchbáo chuyên môn, giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chínhkhách, các nhà kinh doanh Nhiều khi khái niệm về năng lực cạnh tranh vừa
tỏ ra phổ biến lại vừa hết sức mơ hồ
Những khái niệm về năng lực cạnh tranh từ các góc độ khác nhau cũng
có sự khác biệt Nguyên nhân ở đây là:
Một là, do phạm vi quá lớn để có thể tiếp cận từ nhiều khía cạnh, năng
lực cạnh tranh có thể là của doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực hoặc quốc gia vàbao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thị trường như các chínhsách, cơ cấu thị trường và nghiệp vụ kinh doanh về thương mại, đầu tư và cácquy định
Hai là, không có sự rõ ràng khi trả lời câu hỏi ai là người cạnh tranh,
các nước hay công ty Do đó, việc nhận biết và phân loại những khái niệmnăng lực cạnh tranh khác nhau là rất cần thiết khi nghiên cứu về cạnh tranhtrong hội nhập quốc tế
- Khái niệm năng lực cạnh tranh từ phạm vi quốc gia
Khái niệm về năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia theo nghĩa rộng nhất,
là sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô Có nhiều khái niệm vềnăng lực cạnh tranh của một quốc gia Theo WEF, năng lực cạnh tranh quốcgia là khả năng đạt được và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở cácchính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác [28]
Mặc dù, khái niệm về năng lực cạnh tranh dựa trên tốc độ tăng trưởngkinh tế của quốc gia khá đơn giản Nhưng nó chỉ nói lên được khía cạnh tiền
tệ của nền kinh tế mà không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia
Trang 18tăng, chẳng hạn sự tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ, những vấn
đề được coi là quan trọng đối với tiềm năng tăng trưởng của một quốc gia.Đồng thời, nó cũng không phản ánh được nguyên nhân tạo ra năng lực cạnhtranh và kết quả của cạnh tranh
Một số nhà kinh tế khác đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh củamột nước dựa vào năng suất lao động Theo M PORTER (1990), khái niệmchỉ có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất laođộng Mở rộng khái niệm này thì tính cạnh tranh ở cấp quốc gia gần hơn với
lí thuyết về lợi thế so sánh [18, 23]
Ngay như trong lí thuyết tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có khảnăng cạnh tranh hơn các quốc gia khác bởi sự vượt trội về một hay một vàithuộc tính Ông cho rằng, khả năng cạnh tranh của một nước là một hệ thốnggồm nhiều yếu tố liên quan đến nhau, có tác động qua lại và bổ sung cho nhau[19] Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữ vai trò quyếtđịnh cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnhvực cụ thể
Fagerberg (1988) đã định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc tế của mộtnước như “khả năng của một đất nước trong việc nhận thức rõ mục đích củachính sách kinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm,
mà không gặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán” [16]
Những khái niệm trên chỉ là một số khái niệm lí thuyết về năng lựccạnh tranh ở tầm quốc gia
- Khái niệm về năng lực cạnh tranh từ phạm vi của ngành, doanh nghiệp
Phần chung nhất cho hầu hết các khái niệm năng lực cạnh tranh xét từphạm vi của ngành, doanh nghiệp là sức mạnh cạnh tranh dựa trên cơ số chiphí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao hoặc là tổ hợp của các yếu tố này Mộtnhà sản xuất thường được gọi là nhà sản xuất cạnh tranh nếu có khả năng
Trang 19cung ứng một sản phẩm có chất lượng cao với mức giá thấp hơn
Đầu tiên, trong lý thuyết tổ chức công nghiệp, khái niệm năng lực cạnhtranh được áp dụng ở phạm vi xí nghiệp Một xí nghiệp được xem là có sứcmạnh cạnh tranh khi xí nghiệp đó duy trì được vị thế của mình trên thị trườngcùng với các nhà sản xuất khác với các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thịtrường các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hoặc cung cấp các sảnphẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng, dịch vụ ngang bằng hoặc caohơn
Ưu thế cạnh tranh của một nhà sản xuất so với các đối thủ cạnh tranhtrong một ngành công nghiệp được thể hiện trên hai mặt: ưu thế cạnh tranhbên trong (ưu thế về chi phí) và ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về mức
độ khác biệt hóa)
+ Ưu thế cạnh tranh bên trong (ưu thế về chi phí) là ưu thế được thểhiện trong việc làm giảm các chi phí sản xuất, chi phí quản lý của nhà sảnxuất và tạo ra sản phẩm có giá thành thấp hơn so với giá thành của các đối thủcạnh tranh nguy hiểm nhất Ưu thế cạnh tranh bên trong của nhà sản xuất cóđược là do khả năng hạ thấp chi phí và do đó, nhà sản xuất này có hiệu quảcao hơn và có khả năng vững chắc để chống lại sự giảm giá trên thị trường dobiến động của các yếu tố thị trường hoặc do cạnh tranh
+ Ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về khác biệt hoá) là ưu thế dựavào chất lượng khác biệt của sản phẩm mà nhà sản xuất tạo ra so với các sảnphẩm của các đối thủ cạnh tranh, chất lượng khác biệt của sản phẩm phụthuộc vào năng lực marketing của nhà sản xuất Chất lượng khác biệt của sảnphẩm tạo nên giá trị cho người mua, thể hiện qua việc giảm chi phí khi sửdụng sản phẩm Ưu thế cạnh tranh bên ngoài tạo cho nhà sản xuất “quyền lựcthị trường” ngày càng tăng
Trang 20M.Porter (1982) đã đưa khái niệm cạnh tranh mở rộng theo đó cạnhtranh trong một ngành công nghiệp phụ thuộc vào 5 lực lượng: các đối thủtiềm năng, sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh
đa ngành Trong đó, 4 lực lượng đầu là các lực lượng cạnh tranh bên ngoài.Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trong một ngành công nghiệp được xem làcạnh tranh trực tiếp và là vấn đề cốt lõi của phân tích cạnh tranh [31]
Như vậy, ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của xí nghiệp, doanhnghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì vàcải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cáchlâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp củamình
Năng lực cạnh tranh còn được xem xét trên góc độ sản phẩm, tức lànăng lực cạnh tranh của sản phẩm Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luậnvăn này là nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may mặc, vì vậynhững vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm sẽ được đi sâunghiên cứu trong mục 1.2
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế
Cạnh tranh có vai trò rất to lớn và quan trọng đối với sự phát triển củanền kinh tế nói chung và với bản thân mỗi doanh nghiệp nói riêng Bất kỳ mộtnền kinh tế nào cũng cần thiết phải duy trì sự cạnh tranh
Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà nhà nước
sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọnđược những sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả rẻ Chính vì vậy, duy trì sựcạnh tranh là nhằm bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Đứng ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh sẽ là điều kiện thuận lợi để mỗidoanh nghiệp tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường, tự hoàn thiện bảnthân để vươn lên giành ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác
Trang 21Trên thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là cuộc cạnh tranhkhốc liệt nhất nhằm giành giật người mua, chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, tạo
ưu thế về mọi mặt cho doanh nghiệp nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất Cạnhtranh buộc các doanh nghiệp phải sản xuất và cung ứng những hàng hoá vàdịch vụ mà thị trường cần để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phongphú của khách hàng Cạnh tranh thực chất là một cuộc chạy đua không cóđích, là quá trình các doanh nghiệp đưa ra các biện pháp kinh tế tích cực vàsáng tạo nhằm đứng vững trên thương trường và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo
ra ưu thế về sản phẩm, giá bán và tổ chức tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệpmuốn tạo ra ưu thế về sản phẩm và giá bán thì phải tăng chất lượng sản phẩm
và giá bán phải rẻ Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm và dịch vụ, bên cạnh đó, phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào của sản xuất
để giảm tối đa giá thành sản phẩm Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp nàocung cấp hàng hoá dịch vụ với chất lượng tốt mà giá thành rẻ nhất thì sẽ chiếnthắng Chính vì vậy, cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí caotrong sản xuất kinh doanh và khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanhnghiệp có chi phí thấp vươn lên
Để tham gia vào thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ quy luật đàothải chọn lọc Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự nâng cao chất lượngcủa mình, nâng cao trình độ kiến thức về kinh doanh Do đó, cạnh tranh tranh
là điều kiện rất tốt để để đào tạo ra những nhà kinh doanh giỏi
Cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách tối ưunhất lợi ích của các doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của
xã hội Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cạnh tranh đượccoi là cá lớn nuốt cá bé, do đó không được khuyến khích Song hiện nay, cạnhtranh đã được nhìn nhận theo xu hướng tích cực, tác dụng của nó thể hiện rất
rõ ở sự phá sản của một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả và sự phát
Trang 22triển vượt bậc của những doanh nghiệp khác biết sử dụng hiệu quả các yếu tốcủa quá trình kinh doanh.
Tóm lại, cạnh tranh là động lực phát triển của mỗi quốc gia nói chung vàcủa từng doanh nghiệp nói riêng, là công cụ hữu hiệu để điều tiết hoạt độngkinh doanh trên thương trường
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại hànghóa và dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính, loại bỏ lẫnnhau Những doanh nghiệp mạnh giành phần thắng sẽ có cơ hội mở rộngphạm vi thị trường hoạt động, nâng cao thị phần của doanh nghiệp mình.Ngược lại, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ bị thu hẹp phạm vi hoạt độngkinh doanh cũng như thị phần
* Xét theo mức độ cạnh tranh
- Cạnh tranh hoàn hảo
Là hình thức cạnh tranh mà ở đó các đối thủ cạnh tranh cùng cung ứng một loại sản phẩm và dịch vụ Vì không có cơ sở tạo sự khác biệt cho sản
Trang 23phẩm nên giá cả sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh là như nhau Nhữngngười bán trên thị trường này hưởng những mức lợi nhuận khác nhau tùythuộc vào chi phí sản xuất hay phân phối của họ.
Cạnh tranh hoàn hảo là trạng thái thị trường ưu việt nhất Các doanhnghiệp được tự do gia nhập và rút khỏi thị trường Trong thị trường này, ngườitiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ tốt nhất với mứcgiá hợp lý Lợi ích của xã hội luôn được đảm bảo do có sự phân bổ hợp lý cácnguồn tài nguyên Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay khó tìm thấy loại hìnhcạnh tranh này
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trường phổ biến nhấthiện nay Sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh lớn Các doanh nghiệp trên thị trường này kinh doanh những loại hànghóa và dịch vụ khác nhau Sự khác biệt giữa các loại hàng hóa này đó là sứcthu hút thị trường bởi uy tín của nhãn hiệu sản phẩm Trên thị trường, cónhững loại hàng hoá dịch vụ chất lượng như nhau song sự lựa chọn của ngườitiêu dùng lại căn cứ vào uy tín của nhãn hiệu sản phẩm Cạnh tranh khônghoàn hảo có 2 hình thức:
+ Độc quyền tập đoàn: Là loại thị trường mà ở đó nhu cầu về một số loại
hàng hoá và dịch vụ đều do một vài doanh nghiệp lớn đáp ứng Những doanhnghiệp này rất nhạy cảm với hoạt động kinh doanh của nhau, họ phụ thuộc lẫnnhau trong việc định giá và số lớn hàng hoá bán ra Các doanh nghiệp đềumuốn cung cấp hàng hoá dịch vụ với giá rẻ nhằm thu hết khách hàng song nếu
họ có ý định giảm giá xuống thấp thì sau một thời gian sẽ có doanh nghiệpkhác giảm giá xuống mức thấp hơn Trong thị trường này các doanh nghiệpcũng không thể tự ý tăng giá vì nếu tăng giá trong khi giá của các doanhnghiệp khác không tăng thì sẽ rất có hại, khách hàng sẽ tìm đến những doanhnghiệp cung cấp với giá rẻ hơn
Trang 24Cạnh tranh mang tính độc quyền với mức độ rất khác nhau Số lượngdoanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường này tương đối lớn Sảnphẩm của các doanh nghiệp là khác nhau thể hiện qua bao bì, nhãn hiệu sảnphẩm, mẫu mã, quy cách, chủng loại,…Giá cả của mỗi doanh nghiệp là dochính doanh nghiệp đó đặt ra, tuy nhiên không thể hoàn toàn theo ý mình.Mức độ cạnh tranh ở thị trường cạnh tranh không hoàn hảo giảm hơn sovới thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
+ Độc quyền: Thị trường cạnh tranh độc quyền là loại thị trường mà ở
đó có một doanh nghiệp duy nhất kiểm soát hoàn toàn số lượng hàng hoá,dịch vụ bán ra trên thị trường Trên thị trường này, các doanh nghiệp khôngthể tự do gia nhập vì họ phải bảo đảm rất nhiều yếu tố như vốn đầu tư, côngnghệ kỹ thuật,…Giá cả trên thị trường do doanh nghiệp đặt ra, người muaphải chấp nhận giá Vì vậy, để kiếm được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp độcquyền đã tạo ra sự khan hiếm hàng hoá để nâng mức giá lên cao Nhiều nướctrên thế giới đã có luật chống độc quyền, tuy nhiên độc quyền cũng có nhiềumặt tích cực bởi vì doanh nghiệp độc quyền có khả năng bỏ vốn lớn để nghiêncứu phát triển công nghệ hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất do đó giảm đượcchi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm
Trong điều kiện hiện nay, ở tất cả các nước trên thế giới hầu như khôngtồn tại trạng thái thị trường cạnh tranh hoàn toàn và độc quyền hoàn toàn Ởnước ta, thị trường độc quyền chỉ tồn tại dưới dạng ít bị cạnh tranh như ngànhxăng dầu, bưu chính viễn thông, Nhà nước ta cho phép một số doanh nghiệptrong nước và nước ngoài kinh doanh trong một số lĩnh vực lớn để phá vỡ độcquyền, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng
1.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Trước hết cần định nghĩa năng lực cạnh tranh của sản phẩm là gì? Nănglực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi
thế so sánh đối với sản phẩm cùng loại Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao
Trang 25hàm các yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên như năng lực sản xuất, chi phísản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm, Khinói sản phẩm A do doanh nghiệp B sản xuất có năng lực cạnh tranh hơn sảnphẩm A do doanh nghiệp C sản xuất, là nói đến những lợi thế vượt trội củasản phẩm do doanh nghiệp B sản xuất, như doanh nghiệp này có năng lực sảnxuất lớn hơn, có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn, sảnphẩm có chất lượng cao hơn, có dung lượng thị trường được chiếm lĩnh lớnhơn, Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thếđược thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm vàmột phần không nhỏ là tâm lý tiêu dùng.
Như vậy có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm là mộtkhái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cảmôi trường vi mô và vĩ mô Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là
có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn khảnăng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế
Điều đó có nghĩa năng lực cạnh tranh của sản phẩm là tính hiệu quảhơn của quá trình khai thác các lợi thế cạnh tranh hay ưu thế đặc điểm nào đócủa sản phẩm đang nghiên cứu so với sản phẩm cùng loại trên cùng một thịtrường, một khoảng thời gian xác định
Lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không phải là lợi thế so sánh nào cũngtrở thành lợi thế cạnh tranh và cũng không có nghĩa lợi thế cạnh tranh nàocũng là lợi thế so sánh Một sản phẩm có lợi thế so sánh nhưng không đượckhai thác có hiệu quả sẽ không tạo nên năng lực cạnh tranh, trong khi đó mộtsản phẩm khác tuy lợi thế so sánh kém hơn so với lợi thế cạnh tranh nhưngnhờ có chính sách hỗ trợ hợp lý của chính phủ hoặc môi trường thương mạithuận lợi nên vẫn có thể có lợi thế cạnh tranh Và lợi thế này chuyển hoá
Trang 26thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm Vấn đề là ở chỗ, để một sản phẩm cónăng lực cạnh tranh trên thị trường nhất là trong môi trường thương mại quốc
tế hiện nay, cả doanh nghiệp và chính phủ cần phải phát hiện, nuôi dưỡng vàphát huy các lợi thế so sánh, khai thác có hiệu quả và luôn tìm cách tạo ra cáclợi thế mới hơn là chỉ tác động vào những mặt sai biệt của nó, có như vậy sảnphẩm mới ngày càng có vị thế cạnh tranh trên thị trường
1.2.1 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.2.1.1 Chất lượng
Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất mà người tiêu dùng sẽquyết định nên lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp nào? Chất lượng sảnphẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm làm thỏa mãnnhu cầu của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm không chỉ được xem xét ởdạng vật chất theo chức năng, tính hữu dụng của vật thể, độ bền, mà ngàynay người ta còn quan tâm nhiều đến yếu tố phi vật chất, tính hấp dẫn nhưnhãn hiệu, bao bì, mẫu mã, tính đa năng của sản phẩm
Trong những nền kinh tế khan hiếm hàng hóa và những thị trường gầnnhư độc quyền, các công ty không phải mất nhiều công sức để làm vui lòngkhách hàng Người tiêu dùng ở thời điểm này phải xếp hàng để mua đồ, cácthiết bị mua được chất lượng tồi tàn, sự hài lòng của khách hàng ở giai đoạnnày về hàng hóa và dịch vụ là không có
Ngược lại, trên các thị trường người mua khách hàng có thể tha hồ lựachọn với số lượng hàng hóa và dịch vụ được trưng bày la liệt Ở đây, ngườibán phải đảm bảo chất lượng sản phẩm có thể chấp nhận được, nếu không họ
sẽ mất ngay khách hàng vào tay các đối thủ cạnh tranh Ngay cả chất lượng vàmức độ dịch vụ ngày hôm nay có thể chấp nhận được thì ngày mai đã khôngcòn chấp nhận được nữa Người tiêu dùng ngày nay có trình độ học vấn vàyêu cầu cao hơn nhiều về chất lượng cũng như dịch vụ về sản phẩm, hiểu biết
Trang 27về sản phẩm dịch vụ mà họ quan tâm Do vậy, để có thể cạnh tranh được vềchất lượng sản phẩm bắt buộc các doanh nghiệp phải đầu tư nghiên cứu, cảitiến công nghệ kỹ thuật sản xuất, tạo ra sự khác biệt thông qua tính năng tácdụng của sản phẩm Sản phẩm muốn cạnh tranh được phải có những nét đặcsắc riêng, điều này cũng ảnh hưởng tới vị trí của sản phẩm trên thị trường.Đảm bảo chất lượng sản phẩm luôn là phương châm kinh doanh đồng thời là
vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả của nhiều doanh nghiệp trên thế giới
Nhà sản xuất ô tô Mercedes - Benz của CHLB Đức khi được hỏi: Bí quyếtthành công ở đâu? Họ đã trả lời rằng ở chất lượng của hàng hoá và dịch vụ.Công ty này đã luôn coi chất lượng là lòng tin Chính vì vậy, khi nền kinh tếcủa các nước trên thế giới gặp khó khăn, các loại ô tô bị ứ đọng thì ô tôMercedes - Benz đã trở thành món hàng tiêu thụ được trên thế giới Tục ngữ
có câu: “Không sợ không biết hàng hoá, chỉ sợ hàng hoá đối địch với hànghoá” Do đó, cải tiến và nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ là cơ sởquan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1.2 Giá cả
Sức mua của sản phẩm chịu ảnh hưởng lớn bởi yếu tố giá cả Nhu cầu
và thị hiếu của người tiêu dùng là đa dạng, bên cạnh việc chú ý đến chấtlượng, mẫu mã sản phẩm thì giá bán sản phẩm cũng là yếu tố được kháchhàng quan tâm Do đó, trước khi định giá cho sản phẩm, chúng ta cần nghiêncứu rõ thị trường mà doanh nghiệp, ngành muốn theo đuổi, để từ đó có nhữngđịnh hướng về sản phẩm sao cho phù hợp từ chất lượng đến giá cả Có nhưvậy, mới giúp cho sản phẩm cạnh tranh nâng cao được vị thế cạnh tranh củamình
1.2.1.3 Kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm
Kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm là những đặc điểm bên ngoài của sảnphẩm như hình dáng, đường nét và màu sắc Kiểu dáng sản phẩm thu hút sự
Trang 28chú ý của khách hàng ở bước đầu tiếp xúc, khi mà chất lượng sản phẩm chưađược kiểm chứng qua sử dụng Vì thế, phát triển sản phẩm mới, thay đổi kiểudáng, mẫu mã sản phẩm thường xuyên cũng là vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả.Đối với các sản phẩm may mặc, thì kiểu dáng, mẫu mã là một trong nhữngyếu tố quyết định tới việc lựa chọn của khách hàng, làm tăng năng lực cạnhtranh của sản phẩm.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm
Chúng ta biết rằng, yêu cầu bao trùm khi gia nhập WTO và tham giakhu vực mậu dịch tự do (AFTA) là tiến hành từng bước mở cửa thị trườnghàng hóa trong nước thông qua các cam kết cắt giảm thuế quan và tuân thủcác nguyên tắc thương mại về không phân biệt đối xử, rõ ràng, minh bạch,…đối với các biện pháp, chính sách trong nước Việc bảo hộ cho sản phẩm sảnxuất trong nước chỉ được thực hiện thông qua các biện pháp thuế quan vàkhông được phép duy trì các biện pháp bảo hộ phi thuế quan
Do đó, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế được ta nhìn nhận ở hai góc độ:
1.2.2.1 Các nhân tố khách quan
Đây là những nhân tố tác động từ bên ngoài doanh nghiệp, dù muốnhay không muốn, các doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận sự tác động này, tìmmọi cách khai thác những điểm thuận lợi và tránh những yếu tố bất lợi ảnhhưởng tới nhu cầu cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của doanhnghiệp nói riêng Các nhân tố ảnh hưởng đó là: môi trường kinh tế; môitrường pháp luật, chính trị, xã hội (hay gọi chung là môi trường kinh doanh).Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp Vì vậy, để có thể tiến hành các hoạt động kinh doanhđạt hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp,
Trang 29các doanh nghiệp cần phải có sự hiểu biết nhất định về môi trường kinh
doanh mình đang hoạt động
* Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh dù ở phạm vi, mức độ, quy mô, như thế nàocũng đều đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những hoạt động phân tích để xácđịnh được ảnh hưởng của những chính sách kinh tế của một quốc gia đối vớihoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, xây dựng được các chiến lượckinh doanh phù hợp với các chính sách kinh tế nước chủ nhà và nước sở tại
Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mộtquốc gia, của các quốc gia trong khu vực và thế giới nói chung có tác độngtrực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệptrên thị trường nước ngoài Tính ổn định về kinh tế đó là: ổn định nền tàichính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát Đây là điều mà các doanhnghiệp rất quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của doanhnghiệp trên thương trường
Trong nền kinh tế thị trường, các nguồn tài nguyên được phân phối vàquản lý bởi khách hàng Ở đây có hai chủ thể đóng vai trò rất quan trọng là cánhân và doanh nghiệp, trong đó cá nhân sở hữu các nguồn và tiêu dùng sảnphẩm, còn doanh nghiệp sử dụng các nguồn và sản xuất ra các sản phẩm Sựbiến động của giá cả, số lượng các nguồn tài nguyên và sản phẩm ảnh hưởngtrực tiếp đến cơ cấu và dung lượng thị trường
Bên cạnh đó, sự hội nhập của nền kinh tế mỗi quốc gia vào các liên kếtkhu vực ở mỗi cấp độ khác nhau đang có tác động rất mạnh đối với hoạt độngkinh doanh quốc tế Sự hình thành các khối thương mại chính là sự dàn xếpkinh tế và thực hiện ưu đãi giữa các nước Những hình thức này bao gồm khuvực thương mại tự do, đồng minh hải quan, thị trường chung, đồng minh tiền
tệ, liên minh kinh tế
Trang 30* Môi trường luật pháp, chính trị, xã hội
Luật pháp quốc tế và luật pháp của từng quốc gia có ảnh hưởng trực tiếpđến tình hình và kết qủa hoạt động của các doanh nghiệp Nói một cách kháiquát, luật pháp quy định và cho phép những lĩnh vực, hình thức kinh doanh
mà doanh nghiệp được hoạt động Do đó, trước khi nghiên cứu hình thức hoạtđộng cho doanh nghiệp, các nhà quản lý cần nắm được môi trường luật pháp
mà doanh nghiệp đang hoạt động là như thế nào?
Môi trường chính trị đã và đang tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp kinh doanhquốc tế Tính ổn định chính trị ở từng quốc gia cũng như mối quan hệ tốt vềchính trị giữa các quốc gia đang tạo ra điều kiện, môi trường kinh doanhthuận lợi cho các doanh nghiệp Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không
có điều kiện để ổn định về kinh tế Trong những điều kiện cụ thể, hoạt độngkinh doanh quốc tế hoàn toàn tùy thuộc vào sự đối đầu hoặc hòa nhập về lợiích giữa các bên Một ví dụ khá điển hình về sự can thiệp của Chính phủ tớimục đích chính trị hơn mục đích kinh tế là: việc đưa ra lệnh cấm vận hoặclệnh hạn chế các hoạt động kinh doanh của các công ty, của một số quốc gianào đó Sự can thiệp này dẫn đến các dòng chảy về thương mại và đầu tưgiảm sút, quan hệ giữa một số quốc gia trở nên căng thẳng hơn
Môi trường văn hóa xã hội như: tập quán, lối sống, tôn giáo, ngôn ngữ,thị hiếu, trình độ văn hóa,…là những nhân tố được coi là “hàng rào chắn” cáchoạt động giao dịch kinh doanh Mỗi nước, thậm chí trong từng vùng, từngmiền khác nhau của đất nước có những dân tộc khác nhau sinh sống, mỗi dântộc có những tập quán sản xuất, kinh doanh tiêu dùng, lối sống và ngôn ngữriêng Do đó, hiểu được hoàn cảnh sống, tôn giáo của từng quốc gia là mộtthuận lợi cho việc mở rộng khối lượng cầu tiêu thụ sản phẩm, giúp sản phẩm
Trang 31có thể “lặn lội” vào tất cả các dạng thị trường nâng cao năng lực cạnh tranhcho sản phẩm.
Có thể nói rằng, môi trường luật pháp rõ ràng, nền chính trị ổn định làmôi trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham giacạnh tranh và tạo một sân chơi thông thoáng Trên cơ sở đó, cạnh tranh giữacác doanh nghiệp có cơ hội để phát triển thúc đẩy khả năng cạnh tranh củamỗi doanh nghiệp
1.2.2.2 Các nhân tố chủ quan
Đây là yếu tố thực lực bên trong của doanh nghiệp, là điều kiện tạo nên
sự khác biệt giữa các doanh nghiệp với nhau Hay nói cách khác, nó chính làyếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: năng lực tàichính; năng lực về nguồn nhân lực; năng lực quản lý và điều hành; năng lực
về thiết bị sản xuất và nguyên phụ liệu; năng lực hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, thể hiện tiềm năng thực lực trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
* Năng lực tài chính
Năng lực tài chính khẳng định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường Năng lực tài chính của doanh nghiệp được hiểu là quy mô tài chính củadoanh nghiệp, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như: tổng tài sản, nguồn vốn, khảnăng thanh toán, lợi nhuận, các hệ số hoạt động, cơ cấu nguồn vốn,
Doanh nghiệp không thể có năng lực cạnh tranh mạnh trên thị trường nếu nókhông có một năng lực tài chính vững chắc
Nguồn vốn được xem là yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Nguồn vốn ở đây có thể lànguồn vốn của bản thân doanh nghiệp, cũng có thể là nguồn vốn do huy độngđầu tư mà có Song dù xuất phát điểm ở đâu, nhưng nó cũng chứng tỏ rằngdoanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả
Trang 32Năng lực tài chính là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sảnxuất kinh doanh Một doanh nghiệp có tiềm lực vững chắc về tài chính sẽ cóđiều kiện đầu tư đổi mới trang thiết bị máy móc và công nghệ, đầu tư nguyênphụ liệu cho sản xuất, tiềm lực kinh tế mạnh giúp doanh nghiệp tìm đượcnhiều đối tác làm ăn Đây là những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh củasản phẩm doanh nghiệp trên thị trường.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp maymặc, nhu cầu vốn là rất lớn trong khi nguồn vốn chủ sở hữu có hạn Vì vậy,bài toán cần thiết phải có biện pháp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, tăng khả năng huy động vốn để nâng cao năng lực tài chính
* Năng lực nguồn nhân lực
Khi xây dựng hay định vị một doanh nghiệp, thông thường các yếu tốvốn và công nghệ được xem là mấu chốt của chiến lược phát triển, trong khi
đó yếu tố nhân sự thường không được chú trọng lắm, nhất là trong giai đoạnkhởi đầu
Sự thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đối với yếu tố nhân
sự có thể dẫn đến tình trạng "hụt hơi" hay bị loại khỏi "vòng chiến", một khimức độ cạnh tranh tăng đột biến về chiều rộng và chiều sâu
Xét cho cùng, nhân lực là tác nhân chính tạo ra vốn và đề xuất những ýtưởng mới, đồng thời cũng đảm nhận vai trò chọn lựa và ứng dụng các côngnghệ tiên tiến và thực thi các chỉ tiêu nhằm nâng cao thành tích của doanhnghiệp Trong nhiều trường hợp, vốn và công nghệ có thể huy động và thựchiện nhưng để xây dựng được một đội ngũ nhân sự nhiệt tình, tận tâm, có khảnăng thích hợp và làm việc có hiệu quả thì phức tạp và tốn kém hơn nhiều Vìthế, để có thể tồn tại trong trường kỳ, một công ty (bất luận lớn hay nhỏ) cầnphải tập trung tăng cường và phát huy khả năng đáp ứng của nguồn nhân lựcqua tất cả các giai đoạn của chu kỳ sinh trưởng của doanh nghiệp
Trang 33Theo Michael Porter, lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp “làkhả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó” [10] Theo quan niệm này, ngànhnào có khả năng đổi mới và sáng tạo thì ngành đó có khả năng cạnh tranh cao.Hơn nữa, để có khả năng cạnh tranh cao, các ngành không chỉ cần nhữngnguồn lực phát triển có tính chất truyển thống như: nguồn đất đai sẵn có,nguồn nhân lực cơ bắp mà phải là những nguồn lực tiên tiến và tinh hoa nhưđội ngũ chuyên gia đầu ngành, đội ngũ các nhà khoa học và công nhân có taynghề kỹ thuật cao mà cả sự phẩn bổ hợp lý các nguồn lực vào các ngành.Nguồn lực tinh hoa này không phải có sẵn mà phải được xây dựng thông quamột hệ thống đào tạo đạt trình độ phát triển cao và có chất lượng cao Kinhnghiệm quản lý cho thấy một doanh nghiệp chỉ có thể tạo được ưu thế cạnhtranh khi có giải pháp sử dụng các nguồn nhân lực khác nhau một cách hợp lýcho mỗi yêu cầu về quản lý nhân sự.
* Năng lực quản lý và điều hành
Năng lực quản lý và điều hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongviệc góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanhnghiệp kinh doanh có cách quản lý điều hành hợp lý sẽ giúp tiết kiệm đượcnguồn tài chính đáng kể để tận dụng vào việc phát triển các nguồn lực còn yếukém trong doanh nghiệp
Theo kết quả điều tra, có 40,6% doanh nghiệp đã áp dụng thành tựukhoa học kỹ thuật trong quản lý, giảm tối đa biên chế quản lý là 48,4%, tiếtkiệm các chi phí gây lãng phí 73,7%, việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ độngtrong việc xây dựng qui trình công tác cho từng lao động và mối quan hệ dâychuyền giữa các lao động và bộ phận công tác nhằm hợp lý hóa sản xuất vàquản lý, giảm biên chế hành chính, góp phần giảm chi phí quản lý, hạ giáthành sản phẩm Tuy nhiên, việc thuê chuyên gia và đào tạo để ứng dụng ISO
Trang 34có thể đòi hỏi một số chi phí tương đối lớn ban đầu, coi như một khoản đầu tư
để cải tiến quản lý
* Năng lực về thiết bị sản xuất và nguyên phụ liệu
Một trong những yếu tố rất quan trọng cho việc phát triển năng lựccạnh tranh của sản phẩm đó là yếu tố về “tư liệu sản xuất và nguyên phụ liệu”bởi:
Thiết bị sản xuất là yếu tố tạo nên chất lượng cho sản phẩm Thiết bịsản xuất có tốt, hiện đại mới làm ra được các sản phẩm tốt, hoàn chỉnh.Nguyên phụ liệu hiện nay của sản phẩm dệt may Việt Nam như: bông, tơ, sợitổng hợp, hóa chất, thuốc nhuộm,… đa phần vẫn phải nhập khẩu Chúng takhông có nguyên phụ liệu tự làm ra phục vụ kịp thời cho sản xuất mà phảiphụ thuộc vào nhập khẩu nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm, giá
cả cạnh tranh cao và đặc biệt là thời gian giao hàng Những yếu tố rất quantrọng để đảm bảo cho một sản phẩm có năng lực cạnh tranh trên thị trường
Một hệ thống khoa học kĩ thuật hiện đại với công nghệ tiên tiến phùhợp với quy mô của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp lên rất nhiều và với một hệ thống cơ sở vật chất như vậy, thìchất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao hơn, cùng với nó là chi phí sản xuấtgiảm, kéo theo giá thành sản phẩm giảm cho nên nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp trên thị trường rất nhiều
* Năng lực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong phần này, đề tài tập trung đi vào nghiên cứu hai hoạt động chính,
đó là:
- Hoạt động nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu và đánh giá toàn bộ thị trường trước những cơ hội mới,thách thức mới để từ đó xây dựng phương hướng, chiến lược hoạt động kinhdoanh cho doanh nghiệp là một trong những yếu tố nhằm quyết định năng lực
Trang 35cạnh tranh của doanh nghiệp Để làm được điều này, cách hiệu qủa nhất làtiến hành phân tích ma trận SWOT trong công việc kinh doanh của bạn Hãy
sử dụng một cái đầu có tầm bao quát, “một cái bút và một tờ giấy” để lập ramột bảng biểu trong đó nêu bật được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơđối với công ty của bạn Đồng thời qua đó, bạn thấy rõ được vị trí của mìnhtrong “bảng xếp hạng” Điều này sẽ giúp bạn xác định được những điều bạncần cải thiện, và những đặc điểm nào của công ty mà bạn cần tận dụng đểdành được nhiều khách hàng hơn
- Chiến lược phân phối
Là một trong 4 biến số của Marketing Mix, chiến lược phân phối đượcxem như yếu tố quyết định đầu ra cho sản phẩm, giúp doanh nghiệp vươn tớicác thị trường mục tiêu của mình
Chúng ta thấy rằng, các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ
là chủ yếu đã làm hạn chế tầm hoạt động và mạng lưới phân phối Nhiềudoanh nghiệp vẫn áp dụng hình thức các kênh phân phối qua các trung gianthương mại nên chưa thiết lập được hệ thống phân phối hàng hóa đến đại lýhoặc người tiêu dùng cuối cùng Với phương thức này, các doanh nghiệp ViệtNam không thể kiểm soát được quá trình phân phối và tiêu thụ sản phẩm của
họ và không thể nắm bắt trực tiếp những thông tin phản ánh tình hình thịtrường Hiện nay, có một số doanh nghiệp đã tận dụng được các đại lý đểphân phối bán lẻ, mà chưa chú trọng đến việc nghiên cứu đặc điểm của thịtrường gồm đặc tính của các tập khách hàng (cá nhân, tổ chức, khách hàngmục tiêu, tiềm năng, đối thủ cạnh tranh,…), đặc tính của sản phẩm (tính dễ hưhỏng, tính mùa vụ, đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm, ), đặc điểm môi trường(điều kiện kinh tế, khả năng quản lý, quy định ràng buộc về pháp lý, điều kiệnđịa lý, giao thông, vận chuyển, ) Xác lập hệ thống này còn mang tính chất
“phi vụ” chứ chưa hình thành được chiến lược về kênh phân phối chuẩn Do
Trang 36đó, sử dụng biến số phân phối hữu hiệu sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh chodoanh nghiệp.
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Ngày nay, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,việc xác định và đo lường năng lực cạnh tranh quốc tế ngày càng thu hút sựquan tâm của các nhà kinh tế, đặc biệt là trong phân tích quốc tế Do tínhphức tạp, đa chiều của lĩnh vực nghiên cứu cho nên khó có thể thống nhấttrong cách đo lường, phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm
Chúng ta có thể đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm thông quanhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm các tiêu chí định tính và các tiêu chí địnhlượng
Trong phạm vi của đề tài này, các tiêu chí được đề cập đó là:
1.2.3.1 Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm
Việc đánh giá tốc độ tăng trưởng là nhấn mạnh đến các biến động củasản phẩm từ kỳ này sang kỳ khác Nó được vận dụng để so sánh số liệu quathời gian Kết quả tính được thường được thể hiện bằng số tương đối, phảnánh xu hướng của sự việc Có thể xác định theo tốc độ tăng trưởng liên hoànhoặc tốc độ tăng trưởng kiểu cố định gốc
Tốc độ tăng trưởng kiểu liên hoàn là việc xác định các biến động bằngcách so sánh số liệu kỳ sau so với số liệu kỳ trước liền đó
Tốc độ tăng trưởng kiểu cố định gốc là việc xác định các biến độngbằng cách chọn một kỳ gốc làm cố định (có thể là kỳ kinh doanh hoặc kỳbước ngoặt) Lấy số liệu của kỳ khác so sánh với số liệu của kỳ gốc đó Theocách tính này, ta sẽ thu được một chuẩn mực các kết quả phản ánh tính xuhướng của sự việc đang xem xét
Để đánh giá tốc độ tăng trướng sản phẩm người ta thường dựa trên chỉtiêu về doanh thu hàng bán
Trang 37Sự so sánh tốc độ tăng trưởng của doanh thu cho biết mức tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh ra sao trong cùng mộtngành hàng Chỉ tiêu này thuận lợi hơn so với chỉ tiêu thị phần là doanhnghiệp không xác định tổng mức tiêu thụ của toàn thị trường, đặc biệt khi thịtrường là quá rộng lớn Hơn nữa, khi thị phần của doanh nghiệp là rất nhỏhoặc không đáng kể trên thị trường thì chỉ tiêu này lại không nhiều ý nghĩa, vàtrong tình huống này việc so sánh tốc độ tăng trưởng doanh thu so với các đốithủ cạnh tranh trở nên ý nghĩa hơn.
1.2.3.2 Thị phần của sản phẩm
Thị phần của sản phẩm trên thị trường nó đánh giá khả năng chiếm lĩnhthị trường của sản phẩm đó Thị phần càng lớn có nghĩa là khả năng cạnhtranh của sản phẩm đó càng mạnh Thị phần sản phẩm của một doanh nghiệphay quốc gia tăng lên hay giảm đi cho biết năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp và quốc gia đó trước các đối thủ cạnh tranh
Thị phần của sản phẩm trên một thị trường cụ thể được xác định thôngqua công thức:
Trang 38những giải pháp để nâng cao thị phần của sản phẩm trước các đối thủ cạnhtranh
1.2.3.3 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm về kiểu cách, mẫu mã
Tính độc đáo, sức hấp dẫn về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm là một yếu
tố quan trọng tác động lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm Trong hầu hếtnhững tiêu chí lựa chọn khi mua một sản phẩm, lựa chọn cho kiểu dáng hầunhư được chú ý hơn cả, ngay cả khi chưa biết chất lượng của sản phẩm đó.Đối với sản phẩm may mặc thì tiêu chí này càng đặc biệt quan trọng vì nhucầu thẩm mĩ của người tiêu dùng ngày càng được coi trọng, họ lựa chọn sảnphẩm theo xu hướng mốt thời trang nên sản phẩm đó có khi chỉ được sử dụngtrong một khoảng thời gian nhất định, vì thế mà yếu tố kiểu cách được đặt nênhàng đầu Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu của phần đông người tiêudùng, trong từng khâu của quá trình sản xuất cần được kiểm duyệt khắt khe để
có được các sản phẩm hoàn thiện cả về chất lượng lẫn tính hấp dẫn của nó
Trong thị trường xuất khẩu tiêu chí này còn được biểu hiện dưới dạngcác chủng loại sản phẩm
1.2.3.4 Chất lượng và giá cả của sản phẩm
Chất lượng là sự thỏa mãn về yêu cầu kỹ thuật Chất lượng của sảnphẩm biểu hiện ở: chỉ tiêu về công dụng, chỉ tiêu công nghệ, độ an toàn,…Đối với sản phẩm may mặc nó được thể hiện qua chất liệu sản phẩm, chấtlượng gia công sản phẩm
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ được áp dụng
và hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm Ngày nay, với những thành tựukhoa học tiến tiến, yếu tố chất lượng càng phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tốcông nghệ
Giá cả (theo định nghĩa Marketing) là biểu tượng giá trị của sản phẩmtrong hoạt động trao đổi, mua bán Vì thế, giá cả có ảnh hưởng lớn đến quyếtđịnh của doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh trên thị trường
Trang 39Giá cả chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: doanh thu, chi phí, lợi nhuận,chất lượng sản phẩm,…Do đó, để nâng cao được vị thế cạnh tranh, các doanhnghiệp cần phải giảm thiểu các chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mình, bởi đó chính là các yếu tố làm tăng giá thành của sản phẩm
Rõ ràng chất lượng và giá cả là hai tiêu thức quan trọng trong việc nângcao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp, nó quyết định sức muacủa thị trường số đông người tiêu dùng Nhu cầu và khả năng mua của ngườitiêu dùng là khác nhau Do đó, một mức giá hợp lý sẽ hấp dẫn được ngườitiêu dùng ở các khúc đoạn thị trường khác nhau Hơn nữa, chất lượng sảnphẩm là thước đo cho uy tín thương hiệu của doanh nghiệp
1.2.3.5 Tỷ suất lợi nhuận
Mục tiêu của kinh doanh là sinh lời, mục đích của việc thành lập doanhnghiệp trước hết và chủ yếu là để tìm kiếm lợi nhuận, hoạt động vì lợi nhuận
Do đó, lợi nhuận là chỉ số đo hiệu quả sức cạnh tranh rõ nhất của doanhnghiệp
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các khoảnchi phí phải bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh Để đánh giá trình độquản lý kinh doanh người ta dùng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh trong một thời kỳ nhất địnhdoanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thubán hàng thuần
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Lợi nhuận của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận =
Doanh thu của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,trình độ năng lực quản lý của nhà quản trị Bởi nếu chỉ tiêu này thấp thì mức
độ cạnh tranh trên thị trường là rất gay gắt, có quá nhiều doanh nghiệp trong
Trang 40khu vực thị trường này, khiến cho các đối thủ đều phải hạ giá sản phẩm đểgiành giật thị trường Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì có nghĩa là thị trườngtiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đang khá thuận lợi, mức độ cạnh tranhtrên thị trường lúc này không cao.
Có thể nói rằng, tỷ suất lợi nhuận là một tiêu chí giúp phản ánh khá rõnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, các doanh nghiệp trong quátrình hoạt động cần phải liên tục cải tiến công nghệ, hạ giá thành sản xuất, giữgiá bán ổn định để duy trì năng lực cạnh tranh cho sản phẩm, đề phòng cácđối thủ cạnh tranh có thể thâm nhập thị trường bất cứ lúc nào
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Cạnh tranh được coi là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế thị trường
Để tồn tại và phát triển được thì các doanh nghiệp phải chấp nhận tham giacạnh tranh Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh là con dao hai lưỡi, một mặt
nó đào thải các doanh nghiệp yếu kém không đủ năng lực cạnh tranh để đứngvững trên thị trường, mặt khác nó lại là điều kiện để tạo đà phát triển chodoanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt hơn, làm ăn có hiệu quả hơn
Mike Moore, cựu Tổng giám đốc WTO, trong chuyến thăm Việt Nam11/4/2005 đã từng nói: “WTO sẽ tạo ra môi trường kinh doanh minh bạchhơn, dễ tiên đoán hơn và hạn chế tham nhũng cho bản thân các nước thànhviên Kinh nghiệm 50 năm qua đã chứng minh rằng những nước có mức sốngcao nhất là những quốc gia theo đuổi chính sách tự do hoá thương mại Môitrường kinh doanh lành mạnh sẽ tạo ra những doanh nhân sẵn sàng đối mặtvới cạnh tranh chứ không phải kiếm lời từ sự trợ giúp của chính phủ hay lợidụng những hạn chế, bảo hộ của nhà nước” [23]
Quả là đúng như vậy, WTO là "sân chơi' chung trên phạm vi toàn cầu,WTO mang lại một cơ hội toàn diện về thị trường hàng hoá, thị trường dịch