1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành thép việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

145 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 336,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tácgiả đã khẳng định, chiến lược phát triển CNHT của Việt Nam trong các nămtới, thay vì cung ứng trực tiếp cho các nhà lắp ráp, sẽ là các bước đi để doanhnghiệp nội địa từng bước tham gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

DƯƠNG KIỀU HOA

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT

Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ANH DŨNG

Hà Nội – 2013

Trang 2

MỤC LỤC

Danh mục ký hiệu viết tắt i

Danh mục bảng ii

Danh mục hình vẽ iv

Danh mục hộp thông tin v

Mở đầu 1

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển CNHT ngành thép trong bối cảnh hội nhập KTQT 9

1.1 Lý luận chung về CNHT 9

1.1.1 Khái niệm CNHT 9

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của CNHT 11

1.1.3 Thành phần của CNHT và mối quan hệ giữa CNHT với công nghiệp chính 15

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT 16

1.2 Khái quát về ngành thép và CNHT ngành thép 20

1.2.1 Khái quát về ngành thép 20

1.2.2 Công nghiệp hỗ trợ trong ngành thép 23

1.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam 28

1.3.1 Kinh nghiệm về phát triển CNHT ngành thép 28

1.3.2 Bài học cho Việt Nam 31

Chương 2: Thực trạng CNHT ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT 33

2.1 Tổng quan về ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT 33

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành thép Việt Nam 33

2.1.2 Thực trạng ngành thép VN trong bối cảnh hội nhập KTQT 36

2.2 Thực trạng phát triển CNHT ngành thép Việt Nam 42

Trang 3

2.2.1 Nhu cầu sử dụng các sản phẩm của CNHT cho ngành thép Việt Nam 42 2.2.2 Tình hình sản xuất sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ ngành thép Việt

Nam hiện nay 46

2.3 Phân tích SWOT CNHT ngành thép Việt Nam 61

2.3.1 Phân tích điểm mạnh – điểm yếu CNHT ngành thép Việt Nam 61

2.3.2 Phân tích cơ hội – thách thức đối với CNHT ngành thép Việt Nam 64

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển CNHT ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT 66

3.1 Định hướng phát triển CNHT ngành thép trong thời gian tới 66

3.1.1 Quan điểm phát triển ngành thép và CNHT ngành thép Việt Nam 66

3.1.2 Mục tiêu phát triển ngành thép và CNHT ngành thép Việt Nam 68

3.1.3 Nội dung quy hoạch 69

3.2 Giải pháp phát triển CNHT ngành thép Việt Nam 71

3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 71

3.2.2 Giải pháp từ phía Hiệp hội thép Việt Nam 77

3.2.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 78

Kết luận và kiến nghị 82

Danh mục tài liệu tham khảo 84 Phụ lục

Trang 4

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC BẢNGSTT

1234

567

Trang 7

15 Bảng 3.1

16 Bảng 3.2

17 Bảng 3.3

iii

Trang 9

iv

Trang 10

DANH MỤC HỘP THÔNG TIN

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay các nhà tập đoàn lớn trên thế giới xu thế giữ các hoạt độngnhư: nghiên cứu & triển khai (R&D), xúc tiến thương mại, phát triển sảnphẩm Đối với các công đoạn sản xuất – những phần công việc trước đây nằmtrong dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh hầu hết được giao cho các doanhnghiệp bên ngoài Điều đó có nghĩa là, các sản phẩm công nghiệp không cònđược sản xuất tại một không gian, một địa điểm và được phân chia thànhnhiều công đoạn, ở nhiều địa điểm và nhiều quốc gia khác nhau Thuật ngữcông nghiệp hỗ trợ (CNHT) là cách tiếp cận sản xuất trong bối cảnh mới

CNHT là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở các nước Đông Nam

Á, nhưng mới chỉ được sử dụng chính thức từ năm 2004 ở Việt Nam thôngqua chỉ thị, công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ số 47/2004/CT-TTGngày 22/12/2004 Nó được xem như công việc giúp cho việc lắp ráp các sảnphẩm cuối cùng thông qua cung cấp các bộ phận, chi tiết, linh kiện sản phẩmhàng hóa trung gian khác và ở Việt Nam CNHT đóng góp khoảng 80% - 95%giá trị gia tăng của sản phẩm Bên cạnh đó, CNHT có vai trò rất lớn trong việcthu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam Trong bối cảnh hội nhậpkinh tế với sự đánh dấu vào việc Việt Nam tham gia vào tổ chức thế giớiWTO thì hơn lúc nào hết vai trò của ngành CNHT lại càng trở nên quan trọng

Tuy nhiên, thực trạng chỉ ra rằng CNHT tại Việt Nam đang còn non trẻvới sự phát triển ì ạch đã là một lực cản rất lớn với các ngành công nghiệpmũi nhọn nói riêng cũng như ngành công nghiệp Việt Nam nói chung Sự pháttriển đơn giản quy mô sản xuất nhỏ lẻ, giá trị gia tăng thấp, chênh lệch vềnăng lực phụ trợ giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nội địa Việt Namvới các yêu cầu của hãng sản xuất Kết quả cho thấy của Viện chiến lược

1

Trang 12

nghiên cứu chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) chỉ ra tỉ lệ gia tăngtrong giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp năm 1995 đạt 42,5%, đếnnăm 2000 giảm xuống còn 38,45%, năm 2005 là 29,63% và năm 2007 còn26,3%.

Bên cạnh đó, nếu tính đến trước ngày 31/7/2007 thời điểm Quy hoạchphát triển CNHT tới năm 2010 tầm nhìn 2020 được Bộ Công Thương phêduyệt, thì hầu như không có một chính sách, ưu tiên khuyến khích cụ thể nàocho việc phát triển ngành công nghiệp tiền đề này Việc đưa ra các chính sáchđúng đắn và cụ thể là một yếu tố rất quan trọng trong phát triển ngành CNHTtrong tương lai

Theo những số liệu mà Bộ Công thương cung cấp, CNHT trong nướcvẫn phụ thuộc đến 80% vào nguyên liệu nhập khẩu và tỷ lệ nội địa hoá linhkiện của Việt Nam mới chỉ bằng một nửa so với các nước trong khu vực Pháttriển CNHT càng trở nên cấp thiết hơn, bởi lẽ đến năm 2015, mọi hàng ràothuế quan giữa các nước ASEAN sẽ được xoá bỏ

Tháng 2/2011, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 12 vềchính sách phát triển một số ngành CNHT Tháng 7/2011, Bộ Tài chính cũng

đã ban hành Thông tư 96/2011/TT-BTC nhằm hướng dẫn quyết định này.Theo đó từ ngày 18/8/2011, các dự án đầu tư vào CNHT sẽ được hưởng nhiều

ưu đãi về thuế nhập khẩu, miễn giảm tiền sử dụng đất Nhiều chuyên giakinh tế cho rằng, việc ban hành những chính sách này sẽ tạo nên động lực lớncho ngành CNHT

Thép là một vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp,xây dựng và quốc phòng Đặc biệt với mục tiêu phấn đấu của đất nước đếnnăm 2020 thì ngành thép càng trở lên quan trọng trong sự nghiệp CNH –HĐH Chính điều này đòi hỏi Nhà nước cần có sự quan tâm với ngành thép

Trang 13

Ngành thép là ngành công nghiệp nền tảng, sản xuất tư liệu sản xuất đểđảm bảo đáp ứng nhu cầu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác Đặc biệt

là khi các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu phát triển, nhu cầu vềthép ngày càng tăng Phát triển các ngành này đòi hỏi ngành thép cũng phảiphát triển và khi ngành thép phát triển sẽ kích thích các ngành công nghiệpnày phát triển theo Những điều trên chứng tỏ ngành thép là cần thiết trong cơcấu ngành công nghiệp Việt Nam Và điều đang được Nhà nước quan tâmhiện nay là tình hình không ổn định của thị trường thép

Để ngành thép có thể tồn tại, đứng vững và cạnh tranh trên thị trườngtrong nước và nước ngoài thì việc đảm bảo nguồn cung ứng nguyên liệu chongành thép là công việc cần thiết phải xem xét Quyết định số 145/2007/QĐ-TTG ngày 04/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch pháttriển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025 đã nêulên yêu cầu cần có giải pháp đảm bảo nguồn nguyên, nhiên liệu chính để chongành thép phát triển bền vững

Trước tình hình như vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ” để nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu

* Tình hình nghiên cứu trên thế giới

(1) Năm 1990, “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” đã được M Porter nhắc đến

trong “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia” (The competitiv advantage of

nations, Harvard business review 1990) Trong đó cụm từ này đã được phântích như là một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của mộtquốc gia

(2) Tuy nhiên, các nghiên cứu về CNHT nhiều nhất vẫn là ở các quốc giaĐông Á, đặc biệt là Nhật Bản, nơi ra đời khái niệm CNHT Tình hình thuê

3

Trang 14

ngoài và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã

được phân tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở châu Á”

(Japanese - Affiliated Manufactures in Asia), JETRO thực hiện năm 2003; và

“Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on overseas business operations by Japanese

manufacturing companies) do JBIC xuất bản năm 2004

(3) Năm 2002, Tổ chức Năng suất Châu Á (Asian productivtity

Orgnisation)

đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT trong cuốn “Đẩy mạnh CNHT: các

kinh nghiệm của Châu Á” (Strengthening of supporting Industries: Asian

Experiences) Đây là tài liệu hữu ích cho các nước đang phát triển về chínhsách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Cácchính sách này tập trung vào một số điểm chính: thu hút đầu tư nước ngoàivào phát triển CNHT, quy định tỷ lệ nội địa hóa và các hỗ trợ mạnh mẽ hiệuquả từ Chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp, như là điều kiện tiên quyết

để phát triển CNHT

* Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

(1) Báo cáo nghiên cứu điều tra “Xây dựng và đẩy mạnh CNHT ở Việt

Nam”

thực hiện vào tháng 3 năm 2004 do Ichikawa (JETRO Vietnam) tiến hành,được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá về các ngành CNHT tại Việt Nam Tácgiả đã khẳng định CNHT tại Việt Nam đã bắt đầu được hình thành mặc dùnhận thức của các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp Nhà nước thời điểm đócòn thấp

(2) Trên tạp chí kinh tế phát triển, GS Nguyễn Kế Tuấn với “Phát triển công

nghiệp phụ trợ trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” đã đề cập

tổng quát: khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, đềxuất một số chính sách chủ yếu về phát triển CNHT, đặc biệt là quan điểm để

Trang 15

4

Trang 16

(3) Trần Văn Thọ trong “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công

nghiệp Việt Nam” đã phân tích con đường phát triển công nghiệp Việt Nam

theo hướng toàn cầu hóa, thông qua phát triển CNHT như là lĩnh vực của hệthống DNVVN

(4) Phan Đăng Tuất, trong “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp

Nhật Bản – Con đường nào cho Việt Nam” tại hội thảo về CNHT của JETRO

đã khẳng định vai trò quan trọng của CNHT đối với nền kinh tế, yêu cầu về DNVVN và sự hợp tác với Nhật Bản trong phát triển CNHT tại Việt Nam.(5) Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT Việt nam đến

năm

2010, tầm nhìn đến 2020, do Bộ Công nghiệp (cũ) soạn thảo Theo quy hoạch

này, các giải pháp: tạo dựng môi trường đầu tư; phát triển khoa học côngnghệ; phát triển cơ sở hạ tầng cho CNHT; đào tạo nguồn nhân lực; và liên kếtdoanh nghiệp đã được đề xuất cho ngành Điện tử tin học

(6) Ohno với “Xây dựng các ngành CNHT ở Việt Nam” chủ biên đã trình bày

các kết quả khảo sát về CNHT ở Việt Nam trong chương 1 “CNHT Việt Namdưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”, Nguyễn Thị Xuân Thúy đãtổng kết lịch sử ra đời của CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam trongchương 2 “CNHT, Tổng quan về khái niệm và sự phát triển”, Mori đã đề xuấtviệc xây dựng cơ sở dữ liệu CNHT ở chương IV “Thiết kế cơ sở dữ liệu choCNHT” [21]

(7) “Phát triển CNHT trong ngành công nghiệp điện tử gia dụng ở Việt Nam”,

Trương Chí Bình, là luận án Tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam viết về CNHT Tácgiả đã khẳng định, chiến lược phát triển CNHT của Việt Nam trong các nămtới, thay vì cung ứng trực tiếp cho các nhà lắp ráp, sẽ là các bước đi để doanhnghiệp nội địa từng bước tham gia vào các lớp hỗ trợ của các tập đoàn đaquốc gia MNCs, đảm bảo thực hiện thành công việc cung ứng cho cácDNVVN quốc tế đang sản xuất hỗ trợ cho các MNCs

Trang 17

(8)Luận văn Thạc sỹ “Đề xuất mô hình liên kết trong phát triển CNHT ngành

điện tử ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Hạnh, đã đề cập đến mô hình liên kết trong

phát triển CNHT Tác giả đã đánh giá được thực trạng liên kết của các doanhnghiệp CNHT cho ngành điện tử và đưa ra các chương trình hỗ trợ liên kếtgiữa doanh nghiệp nội địa với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) và MNCs, theo mô hình khu CNHT bao gồm các khu CNHT,cụm liên kết ngành, và các vườn ươm doanh nghiệp

Những công trình nghiên cứu trên đây đã phản ánh được nhiều mặt bứctranh về CNHT và phát triển CNHT tại Việt Nam Đây đều là những tài liệu

có giá trị tham khảo cao, song chưa có một công trình nào nghiên cứu mộtcách đầy đủ và hệ thống về vấn đề CNHT của toàn ngành thép Việt Namtrong bối cảnh hội nhập KTQT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Luận văn nhằm phân tích và làm rõ thực trạng CNHT ngành thép trongbối cảnh hội nhập KTQT Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát triểnCNHT ngành thép Việt Nam trong thời gian tới

Với các mục đích nghiên cứu trên, vấn đề đặt ra cần giải quyết là:

(1) Thực trạng CNHT ngành thép Việt Nam là như thế nào?

(2) Việt Nam phát triển CNHT ngành thép theo hướng nào và giải pháp làgì?

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

(1) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CNHT nói chung và CNHTtrong ngành thép nói riêng

(2) Phân tích và đánh giá hoạt động của CNHT ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

(3) Đề xuất các giải pháp phát triển CNHT ngành thép Việt Nam

6

Trang 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

CNHT là khu vực rộng, gồm 2 phần cứng là phần cứng: là các sơ sởsản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp; và phần mềm: là các cơ sởsản xuất thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công nghiệp vàmarketing Ngoài các còn có các dịch vụ hỗ trợ: đào tạo nguồn nhân lực, xâydựng cơ sở hạ tầng, cung cấp hỗ trợ tài chính, vận tải và giao nhận hàng hóa,xúc tiến thương mại …

Do đó, đối tượng đề tài tập trung nghiên cứu là hoạt động sản xuất củamột số nguyên phụ liệu hỗ trợ chính của ngành thép Việt Nam trong bối cảnhhội nhập KTQT

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp CNHT trong ngành thépViệt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổchức thương mại thế giới WTO cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính khoa học và tính khả thi, đề tài sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau đây

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Luận văn sử dụng kết quả nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Làm sáng tỏ những khái niệm về CNHT, bản chất, thành phần và các nhân

Trang 19

7

Trang 20

- Làm rõ nguyên nhân CNHT ngành thép Việt Nam chưa phát triển, và triển vọng phát triển CNHT ngành thép Việt Nam.

- Đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm đẩy mạnh và phát triển CNHT ngành thép của Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục đề tài được kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển CNHT ngành thép trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2: Thực trạng CNHT ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển CNHT ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CNHT NGÀNH THÉP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KTQT

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

Dưới tác động của nền kinh tế thị trường và sức ép của các nhà đầu tưnước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản, trong thời giangần đây CNHT được nhắc đến khá nhiều và vấn đề phát triển CNHT tại ViệtNam đã được đặt ra một cách nghiêm túc và bức thiết Các cơ quan quản lýNhà nước và các doanh nghiệp cũng đã nhận thức được tầm quan trọng củaCNHT đối với việc phát triển các ngành công nghiệp và coi CNHT là độnglực của quá trình CNH – HĐH đất nước

Mặc dầu vậy, ở các hội nghị - hội thảo cũng như trên các phương tiệnthông tin đại chúng, còn nhiều ý kiến khác nhau trong nhận thức và khái niệm

về CNHT Bởi vì khái niệm CNHT mới được biết đến ở Việt Nam trong thờigian gần đây và bản thân thuật ngữ CNHT vẫn còn là một thuật ngữ mơ hồ,chưa có một định nghĩa nào cụ thể Nó có thể mang tính học thuật hoặc mangtính thực hành và thay đổi theo thời gian ở từng nơi, từng giai đoạn phát triển

1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ

Bộ Công Thương Nhật Bản (MITI, hiện nay là Bộ Kinh tế, Côngnghiệp và Thương mại - METI) lần đầu tiên nhắc đến cụm từ SupportingIndustry (CNHT) trong “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” [32] nhưngkhông đưa ra định nghĩa cụ thể Phải đến năm 1993, họ mới chính thức đưa rađịnh nghĩa về CNHT trong Chương trình hành động phát triển CNHT Châu Ánhư sau: “Ngành CNHT là ngành sản xuất những vật dụng cần thiết nhưnguyên vật liệu, phụ tùng và linh kiện cơ bản cho công nghiệp lắp ráp (baogồm ô tô, điện tử và điện gia dụng…)” [11, trang 14]

9

Trang 22

Đến nay, sau gần 30 năm hình thành và phát triển, định nghĩa về CNHT

đã được các quốc gia nhìn nhận tương đối thống nhất, ví dụ:

- Thái Lan, quốc gia thành công trong việc phát triển CNHT cho ngành côngnghiệp ô tô và điện tử đã định nghĩa : “CNHT là ngành công nghiệp cung cấpcác linh kiện, phụ tùng, máy móc và các dịch vụ đóng gói, kiểm tra cho cácngành công nghiệp cơ bản” [11, trang 15]

- Nhật Bản, sau nhiều năm phát triển CNHT, các nhà hoạch định chính sáchgần đây đã ra định nghĩa mới: “CNHT là một thuật ngữ định hướng chínhsách, chỉ một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp đầu vào trung giangồm phụ tùng linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng linh kiện đó chocác ngành công nghiệp lắp ráp, chế biến” [11, trang 15]

- Ở Việt Nam, trong Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ về chính sách phát triển một số ngành CNHT, Bộ Công Thương đã đưa rađịnh nghĩa: “CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đếngia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thànhphẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng

là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” [11, trang 15]

Sản xuất các sản phẩm CNHT đối với các ngành công nghiệp khácnhau cũng có nhiều lớp, thứ bậc khác nhau và giữa các nhà sản xuất – lắp rápvới các nhà sản xuất các sản phẩm CNHT cũng hình thành nhiều quan hệ hợptác kinh doanh có thứ bậc khác nhau Chính vì thế mà sự hình thành và pháttriển CNHT ở các nước khác nhau cũng khác nhau Tùy vào chiến lược pháttriển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, tùy vào năng lực nội tại và bối cảnhphát triển mà khu vực CNHT hay công nghiệp lắp ráp sẽ được chú trọng ưutiên phát triển trước để kéo theo khu vực kia phát triển tương ứng Thường ởcác nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc Liên minh Châu Âu,CNHT hình thành trước hoặc đồng thời với ngành công nghiệp sản xuất chính

Trang 23

yếu, có vai trò quyết định tới sự thành công và uy tín của các sản phẩm côngnghiệp cuối cùng Đối với Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây là Trung Quốc,CNHT thường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuấtcác sản phẩm công nghiệp cuối cùng Còn đối với các nước đang phát triểnnhư các nước trong ASEAN và Việt Nam, do thiếu vốn, công nghệ, thị trườngtiêu thụ, thông thường công nghiệp lắp ráp phát triển trước, CNHT hình thànhtheo sau với tiến trình nội địa hóa các sản phẩm được các tập đoàn, công ty cóvốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và sau đó, tùytheo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở sảnxuất, có thể vươn xa ra xuất khẩu các sản phẩm CNHT sang các thị trườngkhác [11, trang 15 – 16].

Tóm lại, CNHT là ngành công nghiệp sản xuất các nguyên liệu đầuvào, linh phụ kiện, các sản phẩm trung gian góp phần cấu thành nên sản phẩmcuối cùng của các ngành công nghiệp khác Tuy nhiên định nghĩa CNHTkhông nên tách ra thành mảng riêng mà phải được hiểu gắn liền với từngngành công nghiệp cụ thể

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp hỗ trợ

1.1.2.1 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ

Khái niệm về ngành CNHT là một khái niệm rộng và mang tính tươngđối, tuy nhiên nó có một số đặc điểm sau:

-CNHT phát triển gắn kết với ngành công nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp

cụ thể (đối tượng hỗ trợ) và có nhiều tầng cấp tích hợp theo cả chiều ngang vàchiều dọc

- CNHT xuất hiện trong các hình thức tổ chức công nghiệp theo kiểu thầuphụ, nằm trong một mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và cótính hợp tác cao giữa các doanh nghiệp chủ đạo và các doanh nghiệp hỗ trợ(mối liên kết công nghiệp)

11

Trang 24

- CNHT có tác động thúc đẩy những ngành công nghiệp, sản phẩm công

nghiệp chính phát triển, cung cấp đầu vào theo hợp đồng hoặc theo kế hoạchcho sản xuất chính và thu hút đầu ra của các cơ sở sản xuất hỗ trợ cấp dướitheo kế hoạch sản xuất chính hoặc theo hợp đồng

- Đối với một ngành công nghiệp hay một sản phẩm công nghiệp cụ thể nào

đó, các tổ chức hoạt động trong các ngành CNHT thường có quy mô vừa vànhỏ với mức độ chuyên môn hóa sâu, dễ thay đổi mẫu mã, dải sản phẩm hẹp,

có sức sống và tính cạnh tranh cao

1.1.2.2 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

* CNHT là nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế

CNHT thường được ví như chân núi, tạo phần cứng để hình thành nênthân núi và đỉnh núi chính là ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp sản phẩmcông nghiệp[4, trang 23 - 25], [11, trang 17 - 20] Do đó, CNHT có một số vaitrò như sau:

-Bảo đảm tính chủ động cho nền kinh tế: Việc cung ứng nguyên vật liệu, linhkiện, các bán thành phẩm ngay trong nội địa làm cho nền công nghiệp chủđộng, không bị lệ thuộc vào nước ngoài và các biến động của nền kinh tế toàncầu CNHT không phát triển làm cho các ngành công nghiệp chính thiếu sứccạnh tranh và phạm vi phát triển cũng giới hạn

- Hạn chế nhập siêu: Hầu hết các quốc gia đang phát triển rơi vào tình trạngnhập siêu do luôn phải nhập khẩu nguyên liệu và các bán thành phẩm cho sảnxuất lắp ráp trong nước Phát triển CNHT sẽ giúp cho các quốc gia đang pháttriển giải quyết căn bản tình trạng nhập siêu của nền kinh tế, bảo đảm cânbằng cán cân thương mại

- Tăng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính: Phát triển CNHT, cácquốc gia bên cạnh việc chủ động trong nguồn cung ứng, chi phí của sản phẩmcông nghiệp cũng giảm đáng kể do cắt giảm chi phí vận chuyển, lưu kho, tận

Trang 25

dụng nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu ngay tại nội địa Phát triển các ngànhCNHT một cách hợp lý sẽ tạo ra các sản phẩm có đặc thù riêng của quốc gia,

có sức cạnh tranh hơn hẳn các sản phẩm chỉ được lắp ráp bởi các linh kiện vànguồn cung ứng toàn cầu CNHT thuộc khu vực hạ nguồn (thương hiệu,marketing, chuỗi tiêu thụ, bán hàng ) đặc biệt gia tăng giá trị cho các sảnphẩm công nghiệp, đây là điểm quan trọng làm cho hàng hoá của quốc gia cósức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

- Phát triển hệ thống DNVVN: Ở hầu hết các quốc gia, CNHT do hệ thống

DNVVN đảm nhiệm, đây là khu vực doanh nghiệp tạo nhiều việc làm, là nềntảng sáng tạo của quốc gia Phát triển hệ thống DNVVN là một trong các biệnpháp hữu hiệu đối phó với khủng hoảng kinh tế, là đối trọng để cân bằng vớicác tập đoàn kinh tế khổng lồ hay bị tác động nhanh và mạnh nhất của cáckhủng hoảng kinh tế toàn cầu

*Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công

nghiệp Mỗi sản phẩm có thể chia thành ba giai

đoạn chính:

-Thượng nguồn gồm các công đoạn nghiên cứu - triển khai, thiết kế, sản xuất các bộ phận linh kiện chính;

- Trung nguồn là công đoạn lắp ráp, gia công;

- Hạ nguồn là thương hiệu, tiếp thị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác

và tiếp cận thị trường

Giá trị

tạo ra

R&D Thiết kế Sản xuất Phân phối Marketing sản phẩm lắp ráp

(Nguồn: Phan Đăng Tuất, 2008)

Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi giá trị

Trang 26

13

Trang 27

Theo hình 1.1, các giai đoạn thượng nguồn và các hạ nguồn là khu vựctạo ra giá trị gia tăng cao - đây chính là công đoạn của các ngành CNHT.Trong khi khu vực trung nguồn với các hoạt động lắp ráp, gia công là khu vực

ít tạo ra giá trị gia tăng nhất Như vậy, một quốc gia chỉ có thể tạo ra giá trị giatăng của các sản phẩm công nghiệp khi khu vực thượng nguồn như nguyênliệu, phụ liệu, linh kiện, các bán thành phẩm… được cung ứng ngay trong nộiđịa Tương tự như vậy, đối với các sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tàinguyên, ví dụ như hải sản xuất khẩu, hạt điều, dầu mỏ… nếu phần hạ nguồnđược thực hiện ngay trong nước, sản phẩm được mang thương hiệu của quốcgia thì giá trị thu về từ sản phẩm cao gấp nhiều lần so với sản phẩm xuất khẩungay từ khâu nguyên liệu thô hoặc sơ chế

Phát triển CNHT, vì vậy góp phần hiệu quả trong việc khai thác cácnguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu, hạn chế xuất khẩu tàinguyên và các sản phẩm chế biến thô Do vậy, phát triển CNHT cũng là giảipháp quan trọng để cân bằng cán cân xuất nhập khẩu, kiểm soát và kiềm chếhiệu quả tình trạng nhập siêu thương mại của quốc gia

* Tăng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

CNHT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công

ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu

Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng

vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm, phí lưu kho bãi, ứđọng vốn cho việc nhập khẩu và lưu kho làm tăng chi phí đầu vào Đó làchưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu CácMNCs sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý chuỗi cung ứng nếu phải nhập khẩuphần lớn linh kiện, bộ phận, và các sản phẩm CNHT khác Việc cung ứng hỗtrợ trong các ngành công nghiệp là vấn đề được các MNCs cân nhắc rất nhiềutrước khi quyết định đầu tư vào một quốc gia Do đó, nền kinh tế với

14

Trang 28

các ngành CNHT mạnh và có thể đáp ứng nhu cầu cho các nhà lắp ráp sẽ làmột trong các nhân tố tác động mạnh đến thu hút đầu tư nước ngoài vào pháttriển các ngành công nghiệp [4, trang 24 - 25]

Nhìn chung, đối với các quốc gia công nghiệp trẻ, ngành CNHTthường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuất các sảnphẩm công nghiệp cuối cùng Còn đối với các nước đang phát triển, do thiếuvốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ, thông thường công nghiệp lắp ráp pháttriển trước, ngành CNHT hình thành theo sau với tiến trình nội địa hoá cácsản phẩm Quá trình này được các tập đoàn, công ty có vốn đầu tư nước ngoàithực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và tuỳ theo trình độ phát triển và khảnăng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở sản xuất hỗ trợ, có thể vươn ra xuấtkhẩu các sản phẩm hỗ trợ sang các thị trường khác

1.1.3 Thành phần của công nghiệp hỗ trợ và mối quan hệ giữa công nghiệp

hỗ trợ với công nghiệp chính

CNHT có thể được chia thành hai phần chính [4, trang 16], [5, trang 9]là: Phần cứng: là các sơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp;Phần mềm: là các cơ sở sản xuất thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch

vụ công nghiệp và marketing

Xét về quy mô thì CNHT là một khu vực công nghiệp rộng lớn, baogồm nhiều ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp và chiếm phần chủ yếu củagiá trị gia tăng sản xuất công nghiệp Có đến 95% số doanh nghiệp côngnghiệp không sản xuất ra sản phẩm cuối cùng cho sản xuất và đời sống màhoạt động trong khu vực CNHT Các ngành CNHT có thể khác nhau nhưngsản phẩm của chúng (loại phụ tùng linh kiện nhựa, kim loại, ốc vít…) có thể

sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp lắp ráp khác nhau như ngành sản xuất

ô tô, xe máy, điện tử, điện gia dụng… và một số ngành công nghiệp lắp ráp,

Trang 29

chế biến khác CNHT được ví như chân núi cho nền công nghiệp bền vững,

còn công nghiệp hoàn thiện, lắp ráp được coi như phần ngọn

Hình 1.2: Quan hệ giữa các ngành CNHT với các ngành công nghiệp khác

Ngoài các ngành CNHT nêu trên, các nhà đầu tư còn xếp các công việc

sau đây vào danh mục các dịch vụ hỗ trợ: đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng

cơ sở hạ tầng, cung cấp hỗ trợ tài chính, vận tải và giao nhận hàng hóa, xúc

tiến thương mại…

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT

1.1.4.1 Vai trò của Chính phủ

* Lựa chọn quan điểm phát triển

Với xu thế toàn cầu hóa nền KTQT, các quan hệ liên kết KTQT ngày

càng mở rộng, việc đảm bảo quan hệ giữa khu vực hỗ trợ và các ngành sản

xuất công nghiệp không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, mà cần

được thực hiện trong phạm vi khu vực và toàn cầu Điều này đòi hỏi mỗi quốc

gia phải cân nhắc thận trọng việc quyết định mức độ đầu tư vào khu vực

CNHT trong nước Vì thế, việc lựa chọn quan điểm phát triển CNHT đặc biệt

quan trọng tới phát triển CNHT của quốc gia và của các ngành

16

Trang 30

* Chính sách phát triển công nghiệp

Từ việc lựa chọn quan điểm phát triển công nghiệp, các chính sách liênquan đến CNHT sẽ được Chính phủ quyết định Các chính sách đó có thể kểđến: Chính sách nội địa hóa; Chính sách thuế đánh vào nhập khẩu và sản xuấtcác bán sản phẩm, linh phụ kiện; Mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiêncứu khoa học công nghệ ở khu vực CNHT; Luật, các tiêu chuẩn và các quyđịnh được ban hành cho các ngành, các loại sản phẩm thuộc CNHT … cácchính sách này tạo điều kiện hay kìm hãm phát triển CNHT là do quan điểmđịnh hướng phát triển của Chính phủ về vấn đề này

1.1.4.2 Năng lực của mỗi quốc gia trong phát triển CNHT

* Năng lực nội địa hóa

Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, sự kết hợp hợp lý giữa nộiđịa hóa và nhập khẩu là hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm vàgiảm chi phí sản xuất cũng như chi phí hậu cần kinh doanh Nội địa hóa có thểtồn tại dưới ba mức độ, song song với lộ trình gia tăng năng lực sản xuất nộiđịa [4, trang 33 - 36]: Sản xuất nội bộ trong khuôn khổ các công ty lắp ráp;Đặt hàng, cung ứng từ doanh nghiệp FDI hoạt động tại quốc gia đó; Đặt hàng,cung ứng từ các nhà sản xuất và cung cấp tại địa phương

Nhập khẩu

1 Bắt đầu

Trang 31

17

Trang 32

Đứng trên quan điểm công nghiệp quốc gia, mức độ nội địa hóa thứ ba

là tốt nhất, sau đó là mức độ thứ hai với điều kiện là các công ty FDI sẵn sàngchia sẻ một phần kỹ năng và công nghệ thông qua đào tạo Tuy nhiên, mức độnội địa hóa thứ nhất thường tồn tại khi các công ty lắp ráp mới được thành lập

và chưa có sự hiểu biết đầy đủ về các nhà cung cấp địa phương, hoặc do nănglực quốc gia nước sở tại quá thấp không đáp ứng được yêu cầu Chính vì vậy,

ở các quốc gia đang phát triển, Chính phủ thường có các nỗ lực để gia tăng tỷ

lệ nội địa hóa

* Tích tụ công nghiệp và lợi thế cạnh tranh quốc gia

Agglomeration – tích tụ công nghiệp là quá trình tập trung các hoạtđộng sản xuất tại một khu vực địa lý nhất định, dẫn đến việc mở rộng thươngmại, liên kết đầu tư giữa các doanh nghiệp trong khu vực [4,10] Tích tụ côngnghiệp mở ra khả năng mới cho liên kết cả ở hạ nguồn và thượng nguồn Cácdoanh nghiệp lớn cũng tập trung sản xuất của mình tại một số nước nhằm khaithác lợi thế nhờ quy mô và xuất khẩu sản phẩm hoặc linh kiện sang các nướckhác Chiến lược cạnh tranh này của các MNCs bao gồm việc tìm kiếm nguồnlực chiến lược và nguồn lực do vị trí của công ty con của họ ở nước ngoài tạo

ra Do đó các công ty con cũng ngày càng trở nên độc lập để khai thác tối đanguồn lực tại nước sở tại, xuất khẩu nhiều hơn sản phẩm của mình và có thểcung ứng cho toàn bộ mạng lưới của tập đoàn

Marshall (1890), đã chỉ ra các yếu tố hình thành tích tụ công nghiệp là:tập trung thị trường lao động, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực[32] Ngày nay, ngoài ba yếu tố truyền thống kể trên, thì còn phải kể đến cácyếu tố như: cơ sở hạ tầng, các chính sách thu hút đầu tư, môi trường kinhdoanh, thị trường cung ứng, thị trường tiêu thụ, khả năng R&D,… Đây cũngchính là các điểm làm nên lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia, do đó khi xây

Trang 33

dựng chiến lược phát triển CNHT phải nghiên cứu đánh giá kỹ lưỡng trên cơ

sở tích tụ công nghiệp

* Sự phát triển các cụm liên kết ngành

“Industrial Cluster – Cụm liên kết ngành là khu vực tập trung cácDNVVN cùng ngành, cùng một khu vực địa lý, cùng sản xuất và bán các loạihàng hóa hỗ trợ hay có liên quan với nhau và do đó gặp các khó khăn vàthuận lợi tương tự nhau” [4] Cụm liên kết ngành bao gồm các doanh nghiệpsản xuất và cả các doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu thô, cung cấp máymóc, các nhà thầu phụ, người mua, người xuất khẩu tạo nên một chuỗi giá củasản phẩm Bên cạnh đó, còn rất nhiều tổ chức hỗ trợ, các cơ quan luật pháp,các nhà tư vấn, các hiệp hội, các doanh nghiệp vận tải và cung ứng dịch vụkhác trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuấtcủa cụm

Sự hình thành các cụm liên kết ngành tạo điều kiện cho các doanhnghiệp trong cụm:

19

Trang 34

Điều này xây dựng thông qua các liên minh, các hiệp định kỹ thuật, các thỏathuận về hợp tác nghiên cứu, marketing, các chương trình hợp tác quản lý,…

Các MNCs đầu tư ở đâu thường kéo theo các công ty con, các nhà máysản xuất linh kiện hỗ trợ, hay các nhà cung ứng cho chính hãng Như vậy,MNCs không chỉ giúp hiện đại hóa một ngành kinh tế mà còn tạo ra lợi thếcạnh tranh cho quốc gia đó bên cạnh những đóng góp cho xã hội

Thép là vật liệu cơ bản và không thể thiếu trong ngành công nghiệp bởi

vì nó có những đặc tính riêng ưu điểm so với các vật liệu khác: độ mềm, độcứng, dễ gia công, dễ tái sinh, có thể từ hóa và có tính kinh tế cao Nhờ cácđặc tính này mà thép được sử dụng rất rộng rãi ở các ngành công nghiệp như:

ôtô, xe máy, thiết bị điện, đóng tàu, giao thông, các ngành sản xuất hàng tiêudùng có tuổi thọ cao Ở các nước, công nghiệp thép được coi là bộ phận quantrọng của nền kinh tế

1.2.1.2 Quy trình sản xuất thép

Quy trình sản xuất thép hoàn chỉnh được thực hiện thông qua 6 côngđoạn cơ bản: (1) thiêu kết, (2) luyện cốc, (3) luyện gang, (4) luyện thép, (5)đúc thép, (6) cán thép Ba công đoạn đầu tiên của quy trình sản xuất thépthường tạo ra những sản phẩm tương đối đồng nhất Từ công đoạn thứ tư trở

đi, các sản phẩm sẽ bắt đầu được phân nhánh theo 2 nhóm chủ yếu là các sảnphẩm dài và các sản phẩm dẹt với những tính năng khác nhau tùy thuộc vào

kỹ thuật luyện thép

Trang 35

(1) Thiêu kết : là công đoạn đầu tiên của quy trình sản xuất thép (không kểhoạt động khai thác quặng) Ở công đoạn này, quặng sắt, các phối liệu trợdung và than cốc được xử lý ở nhiệt độ cao để tạo ra khối vật liệu giàu sắtthích hợp cho việc sử dụng làm nguyên liệu lò cao.

(2) Luyện cốc : Than mỡ trong điều kiện yếm khí (không có không khí) của lò

luyện cốc, tăng nhiệt độ lên 950 – 1050%C, trải qua các quá trình khô, nhiệtgiải, nóng chảy, kết dính, đông cứng, co ngót cuối cùng tạo ra vật chất màuxám bạc có nhiều vân và lỗ khí gọi là than cốc Quá trình luyện cốc gọi là quátrình luyện cốc ở nhiệt độ cao hay trưng khô ở nhiệt độ cao

(3)Luyện gang : hỗn hợp cốc (sản phẩm của công đoạn luyện cốc), quặng sắt

đã thiêu kết (sản phẩm của công đoạn thiêu kết), đá vôi và các chất trợ dungkhác Trong quá trình này, các chất cặn bã bị loại ra thành xỉ và thu được gangsạch ở dạng thỏi

(4) Luyện thép : gang thỏi, gang xốp (sản phẩm của công đoạn luyện gang)hoặc sắt phế liệu được nung chảy trong các lò cao (lò cao BOF, lò cao hồquang điện EAF hoặc lò phản xạ Martin) Hiện nay lò cao BOF được sử dụngphổ biến nhất Trong quá trình này, người ta dùng oxy và các chất trợ dung đểđiều chỉnh hàm lượng cacbon trong gang nóng chảy ở tỷ lệ phù hợp để tạo racác loại thép nóng chảy khác nhau

(5) Đúc (đúc thỏi và đúc liên tục) : thép nóng chảy (sản phẩm của giai đoạnluyện thép) được đổ vào các khuôn có kích thước khác nhau với trọng lượng

từ vài trăm kg đến 25 tấn Sản phẩm ở giai đoạn này là thép thô

(6) Cán và gia công thép : các thỏi thép sẽ tạo thành sản phẩm qua hai giaiđoạn: (a) cán thành các sản phẩm trung gian như phôi, thỏi và tấm Thép cóthể được cán nóng hoặc cán nguội; (b) gia công các sản phẩm trung gianthành các tấm dày, tấm mỏng, dài, thanh, hình dạng kết cấu theo yêu cầu sửdụng

21

Trang 36

Các nhà máy thép có thể được xây dựng với một, một số hoặc toàn bộcác công đoạn Nhà máy thép với đầy đủ công đoạn nói trên được gọi là nhàmáy thép liên hợp Chi phí đầu tư cho những công đoạn thượng nguồn caohơn rất nhiều so với các công đoạn hạ nguồn Theo các chuyên gia trongngành thép, để có một dây chuyền sản xuất 100000 tấn phôi/năm, doanhnghiệp cần đầu tư khoảng 300 triệu USD, trong khi chỉ cần 200 tỷ đồng là đãxây dựng được một nhà máy cán thép có công suất 200000 tấn/năm.[26]

Ở các nước đang phát triển, ngành công nghiệp thép được bắt đầu từcác công đoạn hạ nguồn, sau đó mở rộng lên các công đoạn thượng nguồn.Những nước giàu tài nguyên cũng có thể bắt đầu phát triển ngành công nghiệp

từ công đoạn khai thác quặng Việc lựa chọn công đoạn phát triển trong mỗithời kỳ được thực hiện trên cơ sở đánh giá về nhu cầu thị trường, tiềm năngnguyên liệu, hiệu quả sản xuất của từng công đoạn, khả năng huy động vốn vànhững ràng buộc khác liên quan đến hoạt động đầu tư Các nhà đầu tư tựquyết định công đoạn để đầu tư nhưng Nhà nước cũng có thể ảnh hưởng đến

sự lựa chọn của nhà đầu tư thông qua việc ban hành và thực thi chính sáchphát triển ngành công nghiệp này này

1.2.1.3 Vị trí của ngành thép trong nền kinh tế

Thép được coi là nguyên vật liệu cốt lõi cho các ngành công nghiệpkhác nhau như đóng tàu, phương tiện vận chuyển, xây dựng nhà máy và sảnxuất máy móc thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm phục vụđời sống con người Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hếtcác quốc gia đã dành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép Vớimục tiêu đưa đất nước trở thành nước CNH - HĐH, Việt Nam đã coi ngànhsản xuất thép là ngành công nghiệp trụ cột của các ngành công nghiệp khác vàtăng cường xuất khẩu

Trang 37

- Nhu cầu sắt thép luôn tăng hàng năm theo hàm số mũ công nghiệp hóa vàphát triển kinh tế Vì vậy, phát triển ngành thép nội địa sẽ cho phép các quốcgia tiết kiệm được ngoại tệ từ việc cắt giảm nhập khẩu và cải thiện các cânthanh toán.

- Phát triển ngành công nghiệp thép sẽ góp phần hình thành và thúc đẩyphát

triển các ngành công nghiệp khác mà thép là loại nguyên liệu chủ yếu của các ngành này

- Phát triển công nghiệp thép cho phép khai thác và sử dụng triệt để cáctiềm

năng sản xuất thép trong nước

- Tạo cơ hội việc làm bằng cách thúc đẩy phát triển các ngành có liên quanđến công nghiệp gang thép như giao thông vận tải, sữa chữa và bảo dưỡng,các lĩnh vực kỹ thuật liên quan

1.2.2 Công nghiệp hỗ trợ trong ngành thép

1.2.2.1 Khái niệm và vai trò của CNHT trong ngành thép

* Khái niệm

CNHT ngành thép là ngành sản xuất, cung cấp các sản phẩm hỗ trợnhư: các nguyên liệu (quặng sắt, phôi thép, than cốc, thép phế, năng lượng);

và các chất trợ dung (đá vôi, vôi bột, đôlômít, sa huỳnh, sa thạch…) và các cơkiện, máy móc, thiết bị phụ vụ cho ngành thép

* Vai trò của công nghiệp hỗ trợ trong ngành thép

(i) Là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao giá trị gia tăngcủa ngành Thép

CNHT không phát triển sẽ làm cho các doanh nghiệp sản xuất sảnphẩm thép phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Cho dù những sản phẩm này cóthể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài, nhưng do đặc điểm của các sảnphẩm hỗ trợ thép là rất đa dạng về chủng loại, chi phí vận chuyển lớn, cùngvới nhiều loại chi phí khác như: chi phí bảo hiểm, chi phí lưu kho, chi phí bốc

Trang 38

23

Trang 39

dỡ… sẽ làm gia tăng nhanh chóng chi phí đầu vào của sản phẩm Thép Việcnhập khẩu quá nhiều nguyên phụ liệu từ bên ngoài vô hình chung đã biến quátrình sản xuất sản phẩm Thép của trong nước thành khâu gia công sản phẩm,

mà đây lại là khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị của ngànhThép Đó là chưa kể đến sự phụ thuộc gần như hoàn toàn vào phía nhà cungcấp về khối lượng cũng như thời gian giao nhận hàng nhập khẩu Cũng donguyên nhân phải nhập khẩu đầu vào nên quá trình sản xuất của các doanhnghiệp không ổn định, thực hiện kế hoạch sản xuất không theo tiến độ thờigian định trước, việc làm và thu nhập của người lao động cũng bị ảnh hưởng

Vì vậy, khi các ngành sản xuất các sản phẩm hỗ trợ Thép phát triển sẽđảm bảo cho các doanh nghiệp Thép trong nước chủ động trong việc sản xuất

và nâng cao giá trị giá trị sản phẩm của mình

(ii) Góp phần khai thác nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu và máy móc cho ngành Thép

Các sản phẩm hỗ trợ thép rất phong phú và đa dạng từ những sản phẩmđơn giản đến những sản phẩm đòi hỏi công nghệ phức tạp Vì thế có thể thuhút nhiều đối tượng tham gia sản xuất, từ các cơ sở nhỏ, làng nghề sản xuấtnhững sản phẩm đơn giản không đòi hỏi vốn lớn, đến những công ty có trangthiết bị hiện đại sản xuất những sản phẩm phức tạp Việt Nam lại có điều kiệnthuận lợi về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, các nguồn lực sản xuất trong khu

tư nhân còn khá nhiều, chưa được khai thác hết Việc phát triển CNHT trongnước cùng với các ngành khác sẽ góp phần khai thác những nguồn lực nàycủa đất nước

Mặt khác, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hầu hết các sản phẩm hỗtrợ thép đều phải nhập khẩu Khi CNHT thép trong nước phát triển, tỷ lệ nộiđịa hóa trong các sản phẩm sản phẩm thép sẽ được nâng lên, điều đó cũng

24

Trang 40

đồng nghĩa với việc giảm nhập khẩu các đầu vào cho ngành Thép Các sảnphẩm nhập khẩu được thay thế bằng các sản phẩm sẩn xuất trong nước.

(iii) Mở rộng khả năng thu hút FDI vào phát triển công nghiệp thép

Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường tiêu thụ là yếu tố quantrọng nhất để thu hút sự chú ý của họ Bởi dung lượng thị trường lớn là nhân

tố cần thiết để giảm chi phí sản xuất nhờ lợi thế về quy mô và đảm bảo hiệuquả của đầu tư Cũng giống như nhiều ngành công nghiệp khác, ngành ThépViệt Nam đang tích cực kêu gọi đầu tư nước ngoài Thị trường tiêu thụ rộnglớn và ngày càng được mở rộng đang là ưu thế của ngành Hàng năm ViệtNam xuất khẩu hàng trăm triệu sản phẩm Thép vào các thị trường lớn như:Nhật Bản, Trung Quốc, EU.[26]

Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay thì đây khôngphải là lợi thế của riêng Việt Nam Ngày nay, khi các công ty này lựa chọn địađiểm đầu tư, thì ngoài yếu tố thị trường và lợi thế về chi phí nhân công rẻ, họcòn họ còn tính đến các lợi thế so sánh khác Trong khí đó, ngoài yếu tố môitrường chính trị ổn định, nguồn lao động rẻ, các yếu tố khác của ngành ThépViệt Nam đều kém hẳn so với nhiều nước như: Trung Quốc hay Nhật Bản.Nhưng thứ yếu nhất của ngành Thép Việt Nam lại là không chủ động đượcnguồn nguyên phụ liệu và máy móc thiết bị Vì vậy, nếu giải quyết được khâuyếu nhất, tức là khi CNHT thép phát triển, các công ty thép không những chủđộng được nguồn nguyên phụ liệu mà còn không phải bỏ thêm chi phí vậnchuyển, chi phí lưu bãi…, các MNCs dễ dàng hơn trong việc quản lý hệ thốngcung cấp các sản phẩm CNHT Như vậy, CNHT phát triển sẽ cung cấp cáchàng hóa trung gian ngay trong nước, giúp giảm thiểu chi phí cho các doanhnghiệp FDI Nói cách khác, CNHT thép phát triển sẽ tạo môi trường đầu tưhấp dẫn hơn, từ đó góp phần mở rộng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vàongành công nghiệp thép

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w