TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong điều kiện kinh tế hiện nay, công tác phân tích tài chính của các doanhnghiệp ngày càng được chú trọng bởi nó đem lại cho nhà quản lý, nhà đầu tư, các cổ đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-LÊ VĂN HƯNG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
VTC TRUYỀN THÔNG TRỰC TUYẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-LÊ VĂN HƯNG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
VTC TRUYỀN THÔNG TRỰC TUYẾN
Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS NGUYỄN THẾ HÙNG
Hà Nội – 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 7
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 7
1.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ và đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp .7
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp .7
1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 8
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính trong doanh nghiệp 12
1.1.4 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp 14
1.2 Cơ sở dữ liệu và các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 14
1.2.1 Cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân tích tài chính doanh nghiệp 14
1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 21 1.3 Nội dungphân tích tình hình tài chính 23
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính Công ty 23
1.3.2 Các nhóm hệ số tài chính 28
1.3.3 Các yếu tố tác động phi tài chính: 40
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VTC TRUYỀN THÔNG TRỰC TUYẾN 45
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến 45
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty 45
2.1.2 Tổ chức Bộ máy của Công ty 48
Trang 42.2 Phân tích tài chính của Công ty cổ phần VTC Truyền thông trực tuyến 54
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 54
2.2.2 Các nhóm hệ số tài chính 67
2.2.3 Các yếu tố tác động phi tài chính 86
2.3 Đánh giá chung về tình hình tài chính của Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến .89
2.3.1 Ưu điểm 89
2.3.2 Hạn chế 91
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VTC TRUYỀN THÔNG TRỰC TUYẾN 95
3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến95 3.2.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến trong thời gian tới 97
3.2.1 Cơ cấu lại danh mục đầu tư tài sản dài hạn 97
3.2.2 Phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ 97
3.2.3 Giảm chi phí đến mức tối đa 98
3.2.4 Nâng cao khả năng thanh toán 100
3.2.5 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản 101
3.2.6 Hoàn thiện bộ máy quản lý tài chính, nâng cao trình độ cán bộ 102
3.3 Một số kiến nghị 103
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
12345678910111213141516171819
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, công tác phân tích tài chính của các doanhnghiệp ngày càng được chú trọng bởi nó đem lại cho nhà quản lý, nhà đầu tư, các
cổ đông những cái nhìn xác thực về tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn tạidoanh nghiệp thông qua nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau Đồng thời, phân tích tàichính còn đóng vai trò dự báo tình hình tài chính trong tương lai làm căn cứ choviệc ra các quyết định quản lý, chiến lược kinh doanh và đầu tư Việc tổ chức huyđộng nguồn vốn kịp thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý
sẽ tạo điều kiện tối đa cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và
có lợi nhuận cao Bởi vậy, hoạt động phân tích tài chính là nhu cầu cần thiết, trướchết vì lợi ích của bản thân doanh nghiệp, lợi ích của chủ sở hữu vốn, của các nhàđầu tư trong và ngoài nước, cũng như lợi ích của các chủ nợ, và nhu cầu quản lýcủa Nhà nước Do đó, để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mìnhcác doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chínhdoanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính Từ đó, phát huy mặt tích cực, khắcphục mặt hạn chế trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tìm ra những nguyênnhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết
để cải tiến hoạt động tài chính tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thành lập từ tháng 04/2008, Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến(VTC Online) với sức trẻ, năng động và biết nắm bắt thời cơ đã dần khẳng địnhđược vị trí của mình trong lĩnh vực nội dung số tại Việt Nam Ngành kinh doanh tròchơi trực tuyến của Việt Nam tuy chỉ mới ở mức khởi đầu nhưng cũng đang trên đàphát triển khá nhanh Từ năm 2005 là năm đánh dấu sự bùng nổ của game online tạiViệt Nam Hiện nay có khá nhiều Công ty kinh doanh trong lĩnh vực truyền thôngcông nghệ như Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện Việt Nam VTC, Công tyCổphần Dịch vụ Phần mềm trò chơi Vina (Vina Gme), Công ty Cổ phần Viễn thông
Trang 9FPT, Đa số các Công ty này cho ra đời những game online thật sự mới lạ và hấpdẫn người chơi Tuy nhiên, ngành kinh doanh trò chơi trực tuyến chưa thật sự ổnđịnh bởi sự xuất hiện của khá nhiều loại game online (mà đa số là mua phiên bản từTrung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản ) tạo nên một cuộc chạy đua cạnh tranh khốcliệt giữa các Công ty kinh doanh lĩnh vực này không chỉ riêng về năng lực kỹ thuậtcông nghệ mà còn cả năng lực tài chính trong việc độc chiếm quyền phát hành cácphiên bản game đang có sức thu hút lớn trên thị trường Đặc biệt, các doanh nghiệpphải chi phí rất lớn cho các game trong khi “ vòng đời” của game lại rất ngắn, bìnhquân từ khoảng 3 đến 5 năm Do đó các doanh nghiệp cần phải đầu tư và quản lýhiệu quả các game của mình Cùng với những cơ hội và khó khăn thách thức, côngtác quản lý tài chính ở Công ty cổ phần VTC truyền thông trực tuyến giữ một vai tròhết sức to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công tácphân tích tài chính trở thành công cụ hữu ích phục vụ việc quản lý và sử dụng hiệuquả nguồn tài chính của doanh nghiệp; dự báo tình hình trong tương lai, đặc biệt lànhững rủi ro sắp xảy ra giúp doanh nghiệp đưa ra giải pháp trong công tác quản trị
và phát triển kinh doanh của đơn vị
Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính trong cácdoanh nghiệp nói chung và sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính Công ty
Cổ phần VTC Truyền thông Trực tuyến nói riêng trong giai đoạn hiện nay, tôi quyết
định chọn đề tài“ Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần VTC Truyền thông
Trực tuyến” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Về cơ sở lý luận của phân tích tài chính doanh nghiệp hiện nay đã có rất nhiềucác công trình nghiên cứu, cũng như các lý thuyết được trình bày trong các tài liệuxuất bản trong và ngoài nước như:
- TS Nguyễn Minh Kiều: Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB Thống kê
2010
Trang 10- Nguyễn Tấn Bình, Nguyễn Trần Huy: Phân tích quản trị tài chính, NXB
- Đề tài “Phân tích tài chính tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu kỹ thuật TECHNIMEX”, Luận văn Thạc sỹ của tác giả Lê Chí Thành viết năm 2010 đã đề
cập đến cơ sở lý luận và thực trạng tài chính của công ty
- Đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần VINACONEX 25”,
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Bùi Văn Lâm viết năm 2011 cũng đề cập đến thựctrạng phân tích tình hình tài chính của công ty
Các đề tài trên đã đề cập đến những vấn đề chung về thực trạng phân tích tàichính công ty hiện nay, và đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tàichính Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào phân tích về tình hình tài chính của một doanhnghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến cũng nhƣ của Công ty cổ phần VTCtruyền thông trực tuyến Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích tình hình tàichính về báo cáo tài chính mới nhất của Công ty cổ phần VTC truyền thông trựctuyến và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp là mộtviệc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với các bên quan tâm bên trong vàngoài doanh nghiệp
Trang 113 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
* Mục đích:
Luận văn tập trungnghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quanđến phân tích tài chính doanh nghiệp, nêu bật sự cần thiết của công tác tài chính đốivới doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, phân tích tình hình tài chính nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của công ty cổ phần …
* Nhiệm vụ
Trên cơ sở những mục đích nêu trên thì nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn là:
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của Công ty Cổ phần VTC Truyềnthông Trực tuyến trong những năm gần đây và chỉ ra những mặt làm được cũngnhư những hạn chế và nguyên nhân trong công tác phân tích tài chính của công ty.Ngoài ra giúp cho những doanh nghiệp nắm rõ những biến động tình hình tài chínhtrong tương lai gần của mình mà có biện pháp đối phó thích hợp
- Thông qua phân tích đánh giá tình hình tài chính của Công ty Cổ phầnVTC Truyền thông Trực tuyến, đề xuất một số kiến nghị các giải pháp cải thiện tìnhhình tài chính và hoàn thiện công tác phân tích tài chính nhằm nâng cao hiệu quảquản lý nhất là quản lý tài chính đối với Công ty Cổ phần VTC Truyền thông Trựctuyến
4 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
VTC Truyền thông Trực tuyến
* Phạm vi nghiên cứu: Phân tích và đánh giá tình hình tài chính của Công ty
Cổ phần VTC Truyền thông Trực tuyến trong giai đoạn 2010 - 2012
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở áp dụng các phương pháp:
Trang 12- Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu qua các báo cáo tài chính, tàiliệu của Công ty Cụ thể là Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Công ty quacác năm 2010, 2011, 2012 Cùng các bản công bố thông tin của Công ty về tình hìnhsản xuất kinh doanh cũng như kế hoạch trong năm 2013.
- Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu: Phân tích các số liệu thực tế thôngqua các báo cáo, tài liệu của Công ty So sánh, phân tích và tổng hợp các con số biếnđộng qua các năm qua đó có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệptrong những năm qua, trong hiện tại và cả những định hướng trong tương
lai Cụ thể như là so sánh ngang cùng một chỉ tiêu qua các năm, so sánh dọc các tỷ
lệ trong cùng một năm…
- Sử dụng phương pháp tổng hợp về thực trạng tài chính của các công ty trongcùng lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam để đề xuất phương hướng theo mục tiêu đãđịnh hướng
- Sử dụng phương pháp thống kê và phân tích để nghiên cứu vấn đề thực tiễn
- Các số liệu trong luận văn dựa trên các Báo cáo tài chính đã được kiểm toánbởi Công ty Kiểm toán Ernst & Young Việt Nam trong 3 năm gần nhất 2010, 2011,
2012 của Công ty Cổ phần VTC Truyền thông Trực tuyến; các giáo trình về tàichính doanh nghiệp, các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo; sách; luận án;các báo cáo hàng năm của Bộ Tài chính; các trang Web
6. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã chỉ ra thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần VTC Truyền thôngTrực tuyến Thông qua phân tích tình hình tài chính đề xuất được các giải pháp kiếnnghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động kinh doanh ở Công ty
Cổ phần VTC Truyền thông Trực tuyến
Qua đó đánh giá một cách khoa học những ưu điểm, hạn chế tình hình tàichính của Công ty Cổ phần VTC Truyền thông Trực tuyến qua sự biến động của cácchỉ số tài chính
Trang 13Đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công
ty Cổ phần VTC Truyền thông Trực tuyến
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được bố cục thành 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần VTC Truyền thông trực
tuyến thông qua công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Công ty cổ phần
VTC truyền thông trực tuyến
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ và đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp.
Để hiểu rõ phân tích tài chính doanh nghiệp là gì trước tiên ta tiếp cận với kháiniệm Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài chính.Tài chínhdoanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phânphối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh củadoanhnghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định
Như vậy sự di chuyển nguồn tài chính của doanh nghiệp tác động đến lợi íchkinh tế của các bên liên quan như chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người lao động,chính phủ Để đưa ra các quyết định kinh tế, quyết định quản lý chính xác , phùhợp thì mỗi bên phải tự phân tích tài chính doanh nghiệp dựa trên góc độ lợi ích củamình
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng tổng thể cácphương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính củadoanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và
an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chínhtrong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua đó,
đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ
Phân tích tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật phân tích vàgiải thích các báo cáo tài chính Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật này đòi hỏi phảithiết lập một quy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở cho việc raquyết định Dù cho đó là nhà đầu tư cổ phần vốn có tiềm năng, một nhà cho vaytiềm tàng, hay một nhà phân tích tham mưu của một Công ty đang được phân tích,
Trang 15thì mục tiêu cuối cùng đều như nhau - đó là cung cấp cơ sở cho việc ra quyết địnhhợp lý Các quyết định xem xét nên mua hay bán cổ phần, nên cho vay hay từ chốihoặc nên lựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay là chuyển sang một quytrình mới, tất cả phần lớn phụ thuộc vào các kết quả phân tích tài chính có chấtlượng Loại hình quyết định đang được xem xét sẽ là yếu tố quan trọng của phạm
vi phân tích, nhưng mục tiêu ra quyết định là không thay đổi
Phân tích tài chính doanh nghiệp thường tập trung vào các số liệu được cungcấp trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, kết hợp với các thông tin bổ sung
từ các nguồn khác nhau nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, đánh giárủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng vàtiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tàichính, quyết định quản lý phù hợp
1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cung cấpnhững thông tin cho các đối tượng có lợi ích liên quan đến hoạt động của doanhnghiệp, giúp những đối tượng này có khả năng dự báo được tình hình tài chính củadoanh nghiệp trong tương lai cũng như đánh giá mức độ rủi ro, chất lượng hoạtđộng của doanh nghiệp từ đó ra những quyết định tài chính, quyết định quản lý phùhợp nhất Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế, tài chínhcủa doanh nghiệp Mỗi đối tượng quan tâm theo góc độ và với mục tiêu khác nhau.Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm:chủdoanh nghiệp với vai trò người quản lý, người lao động, chủ đầu tư và Chính phủvới vai trò điều tiết dòng chảy kinh tế trong đó mỗi doanh nghiệp là một cá thể
Đối với người quản lý doanh nghiệp
Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, không ai khác hơn, chínhcác nhà quản lý trực tiếp doanh nghiệp là những người có nhu cầu cao nhất về phântích tình hình tài chính, nhằm bao quát một cách toàn diện về tình hình tài chính vàhiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kiểm soát chi phí và cải thiện khả năng sinhlời Nhà quản lý hiểu rõ nhất tài chính doanh nghiệp, do đó họ có nhiều thông tin
Trang 16phục vụ cho việc phân tích Phân tích báo cáo tài chính giúp nhà quản trị dự báo vàxác định những phương pháp, cách thức phù hợp để thực hiện các muc tiêu hiện tại,nhiệm vụ kỳ kế tiếp và các chiến lược dài hạn trong tương lai.
Phân tích tài chính cũng giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định tài chính liênquan đến cấu trúc vốn Một tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu như thế nào là phù hợp
và hạn chế được rủi ro tài chính; tỷ lệ nào có cho phép doanh nghiệp tiếp tục mởrộng kinh doanh hay thu hẹp mà không gặp phải trạng thái căng thẳng quá mức vềtình hình tài chính.Cụ thể phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhàquản lý nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn
đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán vàrủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp ;
- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tếcủa doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận ;
- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính;
- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà
dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tàichính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý sửdụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro Đó là những cổ đông, các cá nhân hoặc cácđơn vị, doanh nghiệp góp vốn khác Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến nhữngtính toán về giá trị của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia
và thặng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thuđược của doanh nghiệp Do đó đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ
là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và rủi ro Vì vậy họ cần các thông tin về điều kiệntài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm
Trang 17năng tăng trưởng của doanh nghiệp Trong thực tế, các nhà đầu tư thường tiến hànhđánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Câu hỏi chủ yếu phải làm rõ là: Tiềnlời bình quân cổ phiếu của doanh nghiệp là bao nhiêu? Các nhà đầu tư thườngkhông hài lòng trước món lời được tính toán trên sổ sách kế toán và cho rằng mónlời này chênh lệch rất xa so với tiền lời thực tế.
Các nhà đầu tư phải dựa vào những nhà chuyên nghiệp trung gian (chuyên giaphân tích tài chính, kiểm toán) nghiên cứu các thông tin kinh tế, tài chính, có nhữngcuộc tiếp xúc trực tiếp với ban quản trị doanh nghiệp, làm rõ triển vọng phát triểncủa doanh nghiệp và đánh giá các cổ phiếu trên thị trường tài chính
Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp
và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khảnăng sinh lời, phân tích các rủi ro trong kinh doanh mà nhà đầu tư có thể phải gánhchịu Những rủi ro này liên quan tới việc giảm giá cổ phiếu dẫn đến nguy cơ phá sảncủa doanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữamức độ rủi ro và lợi nhuận đạt được Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và
cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sứccoi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Một nguồn tài trợ với tỷtrọng nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanhnghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu.Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khiquyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy các yếu tố như tổng lợinhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổphiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổphiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhàđầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính
Đối với các nhà đầu tư tín dụng (chủ nợ của doanh nghiệp)
Các nhà đầu tư tín dụng là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứngnhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh Khi cho vay, họ phải biết chắc đượckhả năng hoàn trả tiền vay Thu nhập của họ là lãi suất tiền cho vay Do đó,
Trang 18phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay tín dụnglà nhằm xác định khảnăng hoàn trả nợ của khách hàng Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xemxét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Tuy nhiên, phân tích đối với nhữngkhoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khácnhau.Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng ngắn hạn đặcbiệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp Nói khác đi là khảnăng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả Đối với các khoản cho vaydài hạn, nhà cung cấp tín dụng dài hạn phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năngsinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi lại tuỳ thuộc vào khả năngsinh lời này Vì vậy họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thểchuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năngthanh toán tức thời của doanh nghiệp Bên cạnh đó các chủ ngân hàng và các nhàcho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này làkhoản tiền bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy kỹthuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ,nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâmđến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ bảo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp thì họphải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng haykhông? Họ cần phải biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trongthời gian tới
Đối với người lao động hưởng lương trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, ngườilao động được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tintài chính của doanh ngiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi người hưởng lương trongdoanh nghiệp là người lao động của doanh nghiệp, có nguồn thu nhập chính từ tiềnlương được trả Bên cạnh thu nhập từ tiền lương, một số lao động còn có một phầnvốn góp nhất định trong doanh nghiệp Vì vậy, ngoài phần thu nhập từ tiền lươngđược trả họ còn có tiền lời được chia Cả hai khoản thu nhập này phụ thuộc vào kết
Trang 19quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tình hìnhtài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt độngsản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tuỳ theo công việc được phân công.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nướcthực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinhdoanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chínhsách, chế độ và luật pháp quy định hay không, tình hình hạch toán chi phí, giáthành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một việc làm có ý nghĩaquan trọng trong công tác quản lý Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanhnghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan tới doanhnghiệp
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ của nhận thức các vấn đề liênquan đến tài chính doanh nghiệp, trong quá tình tiến hành, phân tích sẽ thực hiệncác chức năng: đánh giá, dự đoán và điều chỉnh tài chính doanh nghiệp
Chức năng đánh giá:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, các luồngvận động của những nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sửdụng các quỹ tiền tệ hoặc vốn hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêukinh doanh trong khuôn khổ pháp luật
Phân tích tài chính doanh nghiệp phải đưa ra câu trả lời cho các vấn đề: Cácluồng chuyển dịch giá trị, sự vận động của các nguồn tài chính nảy sinh và diễn ranhư thế nào? Tác động ra sao tới quá trình sản xuất kinh doanh? Có những yếu tốmang tính môi trường, yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài nào, tác động đến quátrình kinh doanh, sự vận động của các nguồn tài chính và các luồng chuyển dịch giátrị ra sao, gần với mục tiêu hay ngày càng xa rời mục tiêu kinh doanh của doanh
Trang 20nghiệp, có phù hợp với cơ chế chính sách và pháp luật hay không?
Thực hiện trả lời và làm rõ những vấn đề nêu trên là thực hiện chức năng đánhgiá của tài chính doanh nghiệp
Chức năng dự đoán:
Mọi quyết định của con người đều hướng vào thực hiện những mục tiêu nhấtđịnh Mục tiêu là đích hướng tới bằng những hành động cụ thể trong tương lai.Những mục tiêu này có thể là ngắn hạn hay dài hạn, nhưng nếu liên quan tới doanhnghiệp thì cần nhận thấy tiềm lực tài chính, diễn biến luồng chuyển dịch giá trị, sựvận động của vốn hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp
Những quyết định và hành động trong tương lai phụ thuộc vào diễn biến kinh
tế xã hội và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ diễn ra trong tương lai Ởmọi giai đoạn của chu kỳ phát triển, doanh nghiệp đều hướng tới những mục tiêunhất định Những mục tiêu này được hình thành từ nhận thức về điều kiện, năng lựccủa bản thân doanh nghiệp cũng như diễn biến của tình hình kinh tế quốc tế, trongnước, ngành nghề và các doanh nghiệp khác cùng loại, sự tác động của các yếu tốkinh tế xã hội trong tương lai dựa trên cơ sở dự đoán tình hình tài chính doanhnghiệp trong tương lai
tế tài chính có liên quan PTTC giúp doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm nhậnthức được điều này, đó là chức năng điều chỉnh của phân tích tài chính doanhnghiệp
Trang 211.1.4 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong tiến tình phânphối để tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệpdiễn ra như thế nào, kết quả kinh tế tài chính của sự vận động và chuyển hóa ra sao,
có phù hợp với mục tiêu mong muốn của các đối tượng quan tâm đến tài chínhdoanh nghiệp; việc đánh giá này là đối tượng nghiên cứu cụ thể của phân tích tàichính doanh nghiệp
Quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong tiến trìnhphân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp luôn chịu sự tácđộng của các nguyên nhân và nhân tố kinh tế xã hội Phân tích tài chính doanhnghiệp cần nghiên cứu mối quan hệ biện chứng, khách quan giữa các hiện tượng và
sự kiện kinh tế để quá trình tổ chức thực hiện các quyết định đặt ra không xa rờimục tiêu đã định hướng
Quá trình và kết quả tổ chức vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chínhcủa doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng những chỉ tiêu kinh tế cụ thể nhưngcũng có thể được thể hiện thông qua miêu tả cuộc sống kinh tế tài chính đang và sẽxảy ra Sự miêu tả cùng với nghiên cứu xem xét các chỉ tiêu kinh tế cụ thể, từ đó tìm
ra nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến các quan hệ phân phối dưới hình thứcgiá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trongquá trình kinh doanh và đưa ra đề xuất, biện pháp là đối tượng nghiên cứu của phântích tài chính doanh nghiệp
1.2 Cơ sở dữ liệu và các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân tích tài chính doanh nghiệp
+ Vai trò của các báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu,công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ
và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp
Trang 22các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kinh kế toántrong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệukhi phân tích tài chính doanh nghiệp.
Khác với hệ thống báo cáo kế toán quản trị - là những báo cáo liên quan đếnviệc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp - BCTC lànhững báo cáo dùng để công khai, liên quan chủ yếu đến các thành viên bên ngoàidoanh nghiệp Người sử dụng thông tin của BCTC quan tâm đến việc xem xét, đánhgiá hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để có quyết địnhthích ứng (đầu tư, cho vay, rút vốn, liên doanh, các khoản nghĩa vụ thuế…)
Có thể khái quát vai trò của Báo cáo tài chính trên các điểm sau:
- BCTC cung cấp chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết giúp cho việc kiểm tramột cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình thựchiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chủ yếu của doanh nghiệp, tình hình chấp hànhcác chế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp
- BCTC cung cấp số liệu cần thiết để tiến hành phân tích hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp nhằm đánh giá quá trình hoạt động, kết quả kinh doanhcũng như xu hướng vận động của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các kết luận đúngđắn và có hiệu quả Đồng thời, BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chínhchủ yếu về thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúpcho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốnvào sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
BCTC cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch đầu tư mở rộng hay thu hẹp phạm vi
- BCTC cung cấp thông tin cho các chủ doanh nghiệp, Hội đồng Quản trị, Bangiám đốc về tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình công nợ, tình hình thu chi tàichính, khả năng tài chính, khả năng thanh toán, kết quả kinh doanh để có quyết
Trang 23định về những công việc cần phải tiến hành, phương pháp tiến hành và kết quả có thể đạt được
- BCTC cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng, đại lý
và các đối tác kinh doanh về thực trạng tài chính, thực trạng sản xuất kinh doanh,triển vọng thu nhập, khả năng thanh toán, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp đểquyết định hướng đầu tư, quy mô đầu tư, quyết định liên doanh, cho vay hay thuhồi vốn
- BCTC cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước đểkiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp có đúng chính sách chế độ, đúngluật pháp không, để thu thuế và ra những quyết định cho những vấn đề xã hội
- BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiệnnhững khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định về quản lý,điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của chủ sởhữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp
- BCTC còn là căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch, kinh tế - kỹ thuật,tài chính của doanh nghiệp, là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biệnpháp xác thực nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp, không ngừng nâng cao hiệuquả sản xuất, kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Hệ thống báo cáo tài chính
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Quyết định số BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính), hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả cácdoanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nambao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:
15/2006/QĐ Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN);
- Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN);
- Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN);
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN)
Trang 24Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán được lập căn cứ vào số liệu của các sổ kế toán tổng hợp
và chi tiết (sổ cái và sổ chi tiết) các tài khoản có số dư cuối kỳ phản ánh tài sản,công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và bảng cân đối kế toán kỳtrước
Bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo kế toán quan trọng nhấttrong hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp Nó cũng cung cấp thôngtin về thực trạng tài chính và tình hình biến động về cơ cấu tài sản, công nợ vànguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Thông tintrình bày trên bảng cân đối kế toán phải luôn tuân thủ các nguyên tắc sau:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốnTài sản = Nợ phải trả + nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả
+ Nguyên tắc số dư: Theo nguyên tắc này, chỉ những tài khoản có số dư mớiđược trình bày trên bảng cân đối kế toán Những tài khoản có số dư là những tàikhoản phản ánh tài sản (Tài sản có) và những tài khoản phản ánh Nợ phải trả vànguồn vốn chủ sở hữu (Tài sản nợ) Các tài khoản không có số dư phản ánh doanhthu, chi phí làm cơ sở để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ không được trìnhbày trên bảng cân đối kế toán mà được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh.+ Nguyên tắc trình bày các khoản mục theo tính thanh khoản giảm dần: Theonguyên tắc này, các khoản mục tài sản Có của doanh nghiệp được trình bày và sắpxếp theo khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần
+ Nguyên tắc trình bày nợ phải trả theo thời hạn: Theo nguyên tắc này, cáckhoản nợ phải trả được trình bày theo nguyên tắc các khoản vay và nợ ngắn hạnđược trình bày trước, các khoản vay và nợ dài hạn được trình bày sau
Nhìn vào bảng cân đối kế toán nhà phân tích có thể nhận biết được loại hìnhdoanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán làmột tài liệu quan trọng nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cânbằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
Trang 25Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh được lập căn cứ vào số liệu của các sổ kế toántổng hợp và chi tiết các khoản phản ánh doanh thu, thu nhập và chi phí của doanhnghiệp trong một thời kỳ nhất định Cùng với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quảkinh doanh là một trong những báo cáo quan trọng nhất của hệ thống báo cáo tàichính kế toán của doanh nghiệp Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin vềkết quả kinh doanh và nghĩa vụ đối với Nhà nước trong một khoảng thời gian nhấtđịnh (thường là một kỳ) của doanh nghiệp Các thông tin trình bày trên báo cáo kếtquả kết quả kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
+ Nguyên tắc phân loại hoạt động: Báo cáo kết quả kinh doanh phân loại hoạtđộng theo mức độ thông dụng của hoạt động đối với doanh nghiệp Như vậy, cáchoạt động thông thường của doanh nghiệp sẽ được phân loại là hoạt động sản xuấtkinh doanh, kết quả hoạt động này tạo ra doanh thu của doanh nghiệp Các hoạtđộng liên quan đến đầu tư tài chính được phân loại là hoạt động tài chính, hoạtđộng không xảy ra thường xuyên sẽ được phân loại là hoạt động khác
+ Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí;
+Nguyên tắc phù hợp: Báo cáo kết quả kinh doanh trình bày các khoản doanhthu, thu nhập và chi phí của doanh nghiệp trong kỳ Vì vậy báo cáo kết quả kinhdoanh phải được trình bày theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.+Nguyên tắc thận trọng: Theo nguyên tắc này, một khoản chưa xác định chắcchắn sẽ đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp thì chưa được ghinhận là doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp và không được trình bày trên báo cáokết quả kinh doanh Ngược lại, một khoản lỗ trong tương lai chưa thực tế phát sinh
đã được ghi nhận là chi phí và được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay báo cáo dòng tiền mặt là một loại báo cáo tàichính được lập ra để trả lời các câu hỏi liên quan đến luồng tiền ra vào trong doanhnghiệp ở một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm)
Trang 26Một bảng dự báo dòng tiền mặt có thể là một công cụ kinh doanh rất quantrọng nếu nó được báo cáo của doanh nghiệp sử dụng hiệu quả.Lưu ý rằng đây làmột báo cáo động, do đó nhà quản trị cần thay đổi và điều chỉnh nó thường xuyên
để phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh, các khoản chi trả và nhu cầu của nhà cungcấp.Việc thay đổi bảng dự báo này cũng rất hữu ích, thay đổi các con số về doanh sốbán hàng, về mua sắm và chi phí nhân viên.Những thay đổi về luật pháp, lãi suất vàthuế cũng ảnh hưởng đến bảng dự báo này
Có một dự báo dòng tiền mặt chính xác sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có được
sự tăng trưởng ổn định mà không phải kinh doanh vượt mức Khi có đủ tài sản để
mở rộng kinh doanh và rất quan trọng nữa là khi cần phải củng cố việc kinhdoanh.Điều này giúp nhà quản lý doanh nghiệp đảm bảo cho nhân viên, khách hàng,nhà cung cấp đều hài lòng
Thuyết minh báo cáo tài chính
Là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Đượclập để cung cấp thêm các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tìnhhình tài chính doanh nghiệp chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, trình bàykhái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp,nội dung chế độ kế toán doanhnghiệp lựa chọn áp dụng, tình hình, lý do biến động của một số đối tượng tàisản,nguồn vốn và đối tượng quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu.Các báo cáo tài chính trong Doanh nghiệp có môì quan hệ mật thiết với nhau,mỗi sự thay đổi của một chỉ tiêu trong báo cáo này trực tiếp hay gián tiếp ảnhhưởng đến các báo cáo kia và trình tự đọc hiểu được các báo cáo tài chính, thôngqua đó giúp người đọc nhận biết và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quantrực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ
+ Cơ sở dữ liệu khác
Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộcvào nhiều yếu tố: Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài; có yếu tố chủ quan vàyếu tố khách quan Điều đó tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại các yếu tố ảnh hưởng
Trang 27Do đó, không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo biểu tài chính mà phảitập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp,như các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khoá, các thông tin về ngành kinh
tế của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp Cụ thể:
+ Các thông tin chung:Thông tin chung là những thông tin về tình hình kinh
tế chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu
tư, cơ hội về kỹ thuật công nghệ Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế cótác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin vềcác cuộc thăm dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh vàdịch vụ thương mại ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trongtừng thời kỳ
+ Các thông tin theo ngành kinh tế:Thông tin theo ngành kinh tế là nhữngthông tin mà kết quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tếnhư đặc điểm của ngành kinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹthuật cần tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quayvốn, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triển vọngphát triển
+ Các thông tin của bản thân doanh nghiệp:Thông tin về bản thân doanhnghiệp là những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của doanh nghiệptrong từng thời kỳ, thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp,tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán Những thông tin này được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua BCTC, báo cáo kế toán quản trị, báo cáo thống kê, hạch toán nghiệp vụ
Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính, trong các dữ liệu khác sử dụng để phântích hoạt động tài chính, có thể nói, hệ thống báo cáo kế toán quản trị được sử dụngnhiều nhất Không giống như hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị lànhững báo cáo nhằm phản ánh chi tiết hơn tình hình tài sản, nguồn hình thành tàisản theo từng đối tượng cụ thể, tình hình và kết quả từng hoạt động sản xuất, kinh
Trang 28doanh Báo cáo kế toán quản trị cung cấp thông tin chi tiết theo từng đối tượngquản lý cụ thể phục vụ cho nhu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp.
Do vậy, để có những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình phân tích tàichính, người làm công tác phân tích phải sưu tầm đầy đủ những thông tin thích hợpliên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Tính đầy đủ thể hiện thước đo số lượngcủa thông tin Sự thích hợp phản ánh chất lượng thông tin
1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tíchthường kết hợp sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ - kỹ thuật khác nhaunhư: so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp thay thế liên hoàn Như vậyphương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp thực chất bao gồm hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bêntrong và bên ngoài, các luồng chuyển dịch và biến đổi tình hình tài chính của doanhnghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, Về lý thuyết, có rất
nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Tùy vào đối tượng và mụctiêu phân tích cụ thể, người ta có thể chỉ sử dụng một số phương pháp, cũng có thểkết hợp sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau Cụ thể có thể nêu ra một sốphương pháp cơ bản thường được vận dụng trong quá trình phân tích tài chínhdoanh nghiệp như sau:
- So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích
- Phương pháp loại trừ: là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng lầnlượt từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằng cách: khi xác định sựảnh hưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác
- Phương pháp số chênh lệch: là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếpcủa từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
- Phương pháp thay thế liên hoàn: là tiến hành thay thế từng nhân tố theo mộttrình tự nhất định Nhân tố nào được thay thế nó sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của
Trang 29nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích Còn các chỉ tiêu chưa được thay thế phải giữ
nguyên kỳ kế hoạch, hoặc kỳ kinh doanh trước
- Phương pháp phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánhcác tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hayxấu đi của các tỷ số tài chính
- Phương pháp phân tích Dupont: Bản chất của phương pháp là tách một tỷ sốtổng hợp thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhaudựatrên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính, từ đó biến đổi một chỉ tiêutổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số.Điều đó cho phép phân tích ảnhhưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp.Thông qua quan hệ của một số chỉtiêu chủ yếu để phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan,
rõ ràng, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tàichính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các nhà quản lýdoanh nghiệp làm tối ưu hóa cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo
cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp
Chẳng hạn: tách hệ số khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích
số của chuỗi các hệ số có mối quan hệ mật thiết với nhau
Hình 1.1: Vận dụng phương pháp Dupont để phân tích ROE
SUẤT SINH LỢI CỦA
(ROE)
Trang 311.3 Nội dungphân tích tình hình tài chính
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính Công ty
Phân tích khái quát tình hình tài chính Công ty là phân tích đánh giá tổng quanthực trạng của hoạt động tài chínhnhằm nhận định sơ bộ thực trạng và sức mạnh tàichính của doanh nghiệp, biết được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng nhưnhững khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang phải đương đầu, xác địnhnguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, từ đó đề ra các biện pháp tíchcực nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.Từ đó, giúpcho các nhà quản lý nhìn nhận đúng đắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính củadoanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu
Với mục đích trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính chỉ dừng lại ởmột số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh những nét chung nhấtthực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp như: tình hìnhhuy động vốn, khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính được thực hiện dựa trên những dữ liệutài chính trong quá khứ và hiện tại để tính toán và xác định các chỉ tiêu phản ánhthực trạng và an ninh tài chính của doanh nghiệp… Bởi vậy, yêu cầu đặt ra khi đánhgiá khái quát tình hình tài chính là phải chính xác và toàn diện
Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chínhtrên các mặt chủ yếu của hoạt động tài chính cũng mang tính tổng hợp, đặc trưng.Việc tính toán những chỉ tiêu này cũng hết sức đơn giản, tiện lợi, dễ tính toán Dovậy để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích cần sửdụng các chỉ tiêu cơ bản như: Biến động của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí,lợi nhuân và biến động của dòng tiền
1.3.1.1 Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản và nguồn vốn
Cơ cấu tài sản và nguồn vốn là tỷ trọng của từng loại tài sản, từng loại nguồnvốn trong tổng số Thông qua tỷ trọng của từng tài sản, nguồn vốn chẳng nhữngđánh giá được chính sách tài chính của doanh nghiệp, mức độ mạo hiểm tài chínhthông qua chính sách đó mà còn cho phép thấy được khả năng tự chủ hay phụ thuộc
Trang 32về tài chính của doanh nghiệp Nếu tỷ trọng nguồn vốn của chủ sở hữu càng nhỏchứng tỏ sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại.
Mỗi loại nguồn vốn của doanh nghiệp lại gồm nhiều bộ phận khác nhau.Những bộ phận đó có ảnh hưởng không giống nhau đến mức độ độc lập hay phụthuộc và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với từng nguồn vốn ấy cũng không giốngnhau Chẳng hạn, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các khoản vay khác với cáckhoản chiếm dụng, yêu cầu quản lý đối với các khoản vay ngắn hạn khác với cáckhoản vay dài hạn, nguồn vốn kinh doanh khác các quỹ
Việc tổ chức huy động vốn trong kỳ của doanh nghiệp như thế nào, có đủ đápứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay không được phản ánh thông qua sự biếnđộng của nguồn vốn và chính sự biến động khác nhau giữa các loại nguồn vốn cũng
sẽ làm cơ cấu nguồn vốn thay đổi
Tổng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm 2 loại: Tài sản ngắn hạn (TSNH) vàtài sản dài hạn (TSDH) Trong từng loại tài sản đó lại bao gồm nhiều loại khácnhau, mỗi loại có tác động không giống nhau đến quá trình kinh doanh của mỗidoanh nghiệp Một cách chung nhất, tài sản doanh nghiệp đang quản lý và sử dụngthể hiện tổng số vốn của doanh nghiệp và việc phân bổ vốn để hình thành nên tàisản như thế nào Vốn nhiều hay ít, tăng hay giảm, phân bổ cho từng khâu, từng giaiđoạn hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh và tình hình tàichính của doanh nghiệp Phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn là để đánhgiá tình hình tăng, giảm vốn, phân bổ vốn như thế nào từ đó đánh giá việc sử dụngvốn của doanh nghiệp có hợp lý hay không
Như vậy, phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản và nguồn vốn gồmnhững nội dung như: Phân tích cơ cấu của tài sản, phân tích sự biến động của tàisản, phân tích cơ cấu nguồn vốn, phân tích sự biến động của nguồn vốn, phân tíchmối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản
Bên cạnh việc tổ chức, huy động vốn, các doanh nghiệp còn phải sử dụng số
Trang 33vốn đã huy động một cách hợp lý, có hiệu quả Sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quảkhông những giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí huy động vốn mà quantrọng hơn còn giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được số vốn đã huy động Điều
đó đồng nghĩa với việc tăng lượng vốn huy động vào kinh doanh Với cùng mộtlượng vốn đã huy động, nếu biết sử dụng hợp lý, doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu
tư cả về chiều rộng và chiều sâu cho kinh doanh Sử dụng hợp lý, có hiệu quả sốvốn đã huy động được thể hiện trước hết ở chỗ: số vốn đã huy động được đầu tưvào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sản nào Vì thế, phân tích tình hình sửdụng vốn bao giờ cũng được thực hiện trước hết bằng cách phân tích cơ cấu tài sản.Qua phân tích cơ cấu tài sản, các nhà quản lý sẽ nắm được tình hình đầu tư (sửdụng) số vốn đã huy động, biết được việc sử dụng số vốn đã huy động có phù hợpvới lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của doanhnghiệp hay không
Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và
so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộphận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếmtrong tổng số tài sản được xác định như sau:
Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếmtrong tổng số tài sản giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho phép các nhàquản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng lại khôngcho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Vìvậy, để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm được các nhân tố ảnhhưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản,cần kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tíchvới kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theotừng loại tài sản
Trang 34Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định nhucầu đầu tƣ, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn Doanh nghiệp cóthể huy động vốn cho nhu cầu kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau; trong đó, cóthể qui về hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ đóng góp banđầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh Ngoài ra, thuộc vốn chủ sở hữucòn bao gồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanhnhƣ: chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuếchƣa phân phối, các quĩ doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản
nợ nên doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán
Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đichiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh; do vậy, doanh nghiệp phải camkết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán Thuộc nợ phải trả cũng bao gồm nhiềuloại khác nhau, đƣợc phân theo nhiều cách khác nhau; trong đó, phân theo thời hạnthanh toán đƣợc áp dụng phổ biến Theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của doanhnghiệp đƣợc chia thành nợ phải trả ngắn hạn (là các khoản nợ mà doanh nghiệp cótrách nhiệm phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) và nợphải trả dài hạn (là các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toánngoài một năm hay một chu kỳ kinh doanh) Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốnchiếm trong tổng số nguồn vốn đƣợc xác định nhƣ sau:
=
Nhìn chung, trong quá trình phân tích phải đồng thời xem xét mối quan hệ cânđối giữa tài sản và nguồn vốn Mối quan hệ chặt chẽ này đƣợc thể hiện qua quan hệcân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ ngắn hạn, giữa tài sản dài hạn vànguồn tài trợ dài hạn Qua đó xem xét, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảm bảođƣợc cân bằng tài chính hay chƣa
Trang 351.3.1.2 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận
* Mục đích phân tích:
Cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý về kết quả, hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp trong kỳ, xu hướng biến động, nhân tố tác động đến kết quả kinhdoanh theo từng lĩnh vực hoạt động, từng phạm vi quản lý để các chủ thể quản lý cóquyết định quản lý phù hợp
* Chỉ tiêu phân tích:
- Các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh
- Các tỷ suất phản ánh mức độ sử dụng chi phí và kết quả kinh doanh
Doanh thu là một chỉ tiêu rất quan trọng, khi phân tích doanh thu ta cần sosánh giữa các chỉ tiêu biến động với doanh thu thuần để đánh giá hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp tăng hay giảm so với kỳ trước hoặc so với doanh nghiệpkhác là cao hay thấp Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm,mức sinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng so với kỳ gốc và so với cácdoanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳtăng lên và ngược lại mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng, mứcsinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm so với kỳ gốc và so với cácdoanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ làthấp đi
Chi phí tài chính của doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản nhưng thường gặpnhiều nhất là chi phí lãi vay, lỗ hoặc chênh lệch dự phòng giảm giá các khoản đầu
tư tài chính
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của quá trình sảnxuất kinh doanh Việc phân tích lợi nhuận giúp ta đánh giá được số lượng và chấtlượng hoạt động của doanh nghiệp, kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất về tiền vốn,lao động, vật tư Khi so sánh lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch hay so với kỳtrước ta thấy được sự tăng giảm của lợi nhuận từ các hoạt động
* Phương pháp phân tích:
Phương pháp so sánh: so sánh các chỉ tiêu kỳ này với kỳ trước
Trang 36Căn cứ vào kết quả so sánh cả về số tuyệt đối và tương đối của các chỉ tiêu,căn cứ vào trị số của các tỷ suất phản ánh mức độ sử dụng chi phí và kết quả kinhdoanh để đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
* Đánh giá: Căn cứ vào bảng phân tích xem xét khái quát sự biến động của cácchỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận Sau đó đi sâu phân tích, giải thích nguyên nhânlàm thay đổi kết quả kinh doanh của doanh nghiệp theo các lĩnh vực hoạt động, cácnhóm nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh: doanh thu, chi phí của từng loạihoạt động, công tác quản lý chi phí thông qua độ lớn và sự biến động của các tỷ suấtchi phí…
1.3.1.3 Biến động của dòng tiền
Phân tích dòng tiền là cách cơ bản chỉ ra luồng tiền dịch chuyển của dòng tiềnthông qua việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cótác dụng rất quan trọng trong việc phân tích, đánh giá khả năng tạo ra tiền, khả năngđầu tư, thanh toán tiềm lực thực sự của doanh nghiệp trong xu hướng phát triển, mởrộng hay đi xuống, thấy được năng lực quản lý dòng tiền của doanh nghiệp Đểquản trị tốt dòng tiền doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích và hoạch địnhdòng tiền thông qua phân tích thực tế dòng tiền thu - chi - cân đối thu chi
1.3.2 Các nhóm hệ số tài chính
1.3.2.1 Nhóm hệ số về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho biết năng lực tài chính trước mắt
và lâu dài của doanh nghiệp.Doanh nghiệp thường xuyên phải xem xét khả năngthanh toán để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán Tính thanh khoản của tàisản phụ thuộc vào mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt mà không phátsinh thua lỗ lớn.Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng Về cơ bản, các hệ
số về khả năng thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán của một doanh nghiệp
“Khả năng thanh toán” là số tiền có thể dùng để thanh toán, còn “ Nhu cầuthanh toán” là số tiền phải, cần được thanh toán Hệ số khả năng thanh toán phảnánh mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp,
là cơ sở để đánh giá tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Trang 37Khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán =
Nhu cầu thanh toán
Cụ thể, hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:
*Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trangtrải được các khoản nợ phải trả hay không Nếu trị số chỉ tiêu “Hệ số khả năngthanh toán tổng quát” của doanh nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khảnăng thanh toán tổng quát và ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảođảm được khả năng trang trải các khoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toántổng quát” càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán
Tổng số tài sản
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng số nợ phải trả
*Hệ sốkhả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho biết khả năng hoàn trả các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tài sản ngắn hạn hiện có Hệ số này càng lớn thìkhả năng hoàn trả nợ ngắn hạn càng tốt, ngược lại hệ số này nhỏ hơn giới hạn chophép sẽ cảnh báo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đang gặp khókhăn, tiềm ẩn rủi ro không trả được nợ đúng hạn
Tính hợp lý của độ lớn hệ số thanh toán nợ ngắn hạn phục thuộc vào ngànhnghề kinh doanh Với những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực mà tàisản lưu động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại Nếu
hệ số này cao điều đó chứng tỏ doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ
và ngược lại Tuy nhiên, hệ số này quá cao sẽ cho thấy sự kém hiệu quả trong sửdụng và luân chuyển vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, có thể doanh nghiệp đãđầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn, và không hiệu quả Việc quản trị tài sản lưuđộng của doanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, có nhiềuhàng tồn kho hay có quá nhiều nợ phải đòi… Do vậy, khi xem xét hệ số này cần
Trang 38phải so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành và căn cứ vào tính chất ngành nghề kinhdoanh Mặt khác, các hệ số này cũng cần được xem xét trong mối quan hệ với các
hệ số năng lực hoạt động tài sản như vòng quay hàng tồn kho và phải thu
Tổng tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Tổng nợ ngắn hạn
*Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tương ứng vớitiềm lực của những khoản có thể nhanh chóng quy đổi ra tiền để thanh toán.Hệ số khảnăng thanh toán nhanh cũng tương tự như hệ số khả năng thanh toán hiện hành, nhưng
là số đo thanh khoản chặt chẽ hơn vì nó loại trừ tồn kho ra tài sản lưu động hiệnhành.Nói chung, hệ số này thường biến động trong khoảng gần bằng 1 thì khả năngthanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt Hệ số này lớn hơn 1 nghĩa là tình hìnhthanh toán nhanh tương đối khả quan Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tức làtình hình thanh toán đang gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể phải bán gấp sản phẩm,hàng hóa để trang trải các khoản nợ Tuy nhiên, để kết luận hệ số thanh toán nhanh làtốt hay xấu ở một doanh nghiệp cụ thể còn cần xét đến bản chất kinh doanh và điềukiện kinh doanh của doanh nghiệp đó.Ngoài ra, khi phân tích cũng cần xem xét đếnphương thức thanh toán mà khách hàng được hưởng; kỳ hạn thanh toán nhanh haychậm cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tổng nợ ngắn hạn
* Hệ số thanh toán tức thời
Là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán tức thời (thanh toánngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngânhàng, tiền đang chuyển) và các khoản tương đương tiền Hệ số này đo lường khảnăng thanh toán của doanh nghiệp một cách hữu hiệu nhất, nó cho biết khả năng
Trang 39thanh toán bằng nguồn tiền hiện có của doanh nghiệp để trang trải cho các khoản nợđến hạn phải thanh toán.
Tùy thuộc vào từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhưng thực tế cho thấynếu hệ số này >0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn <0.1 thì doanhnghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ Do đó doanh nghiệp cóthể phải bán gấp hàng hóa, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán Tuynhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiềnquá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Tiền và tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Tổng nợ ngắn hạn
1.3.2.2.Nhóm hệ số phản ánh về hiệu quả sử dụng tài sản
Các tỷ lệ về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụngnguồn vốn của doanh nghiệp.Nguồn vốn của doanh nghiệp được đầu tư cho cácloại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phântích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn
mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn củadoanh nghiệp
Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này nhằmtính tốc độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tài chính ngắn hạn.Các tỷ lệ này cho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức độ cân bằng tài chính
và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp
Nhóm hệ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chúngcho biết các tài sản được báo cáo trên bảng cân đối tài sản có hợp lý không hay là quácao hoặc quá thấp so với doanh thu Nếu doanh nghiệp đầu tư vào tài sản quá nhiềudẫn đến dư thừa tài sản và vốn hoạt động sẽ làm cho dòng tiền tự do và giá cổ phiếugiảm Ngược lại, nếu doanh nghiệp đầu tư quá ít vào tài sản khiến cho không đủ tàisản để hoạt động sẽ làm tổn hại đến khả năng sinh lời, từ đó sẽ làm giảm dòng tiền tự
do và giá cổ phiếu.Vậy, doanh nghiệp nên đầu tư vào tài sản ở mức độ
Trang 40hợp lý như thế nào? Chúng ta có thể biết được điều này thông qua việc phân tích các hệ số sau:
* Vòng quay tiền:
Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp.Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợithế như chủ động trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiếtkhấu, ngoài ra khi vật tư hàng hoá rẻ doanh nghiệp có thể dữ trữ với lượng lớn tạođiều kiện giảm chi phí sản xuất Tuy nhiên, tiền được lưu giữ ở mức không hợp lý
có thể gây ra nhiều bất lợi Thứ nhất, điều kiện thiếu vốn đang phổ biến ở các doanhnghiệp thì việc giữ quá nhiều tiền sẽ gây ứ đọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vàocác tài sản khác, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm Thứ hai, do cógiá trị theo thời gian và do chịu tác động của lạm phát, tiền sẽ bị mất giá Vì vậy,cần quan tâm đến tốc độ vòng quay tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhấtcho doanh nghiệp
Vòng quay tiền
Việc dự trữ hàng hóa rất quan trọng, vì nó đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuấttuy nhiên tỷ trọng hàng tồn kho lớn cũng là mối lo ngại ít nhiều với nhà quản trị dotính chất tồn lâu, chôn vốn, và các chi phí phát sinh liên quan hàng tồn kho Dự trữ
và tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động của doanh nghiệp.Vìvậy, một mặt ta phải giới hạn mức dự trữ này ở mức tối ưu, mặt khác tăng vòngquay của chúng.Do vậy qua việc đánh giá hàng tồn kho ta có thể biết được hiệu quảsản xuất kinh doanh, hiệu quả của công tác bán hàng tại doanh nghiệp Số vòngquay hàng tồn kho càng lớn cho biết tốc độ lưu thông của hàng hoá càng lớn Do đóhiệu quả kinh doanh và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp càng cao Nếu mức quayvòng hàng tồn kho quá thấp, chứng tỏ lượng hàng tồn quá mức, sản phẩm bị tíchđọng hoặc tiêu thụ không tốt sẽ là một biểu hiện xấu trong kinh doanh