Thực tế đãchứng minh, sự phát triển các làng nghề đã góp phần to lớn trong thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, phát huy được các nguồn lựctại địa phương, theo đó, thú
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU i
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 8
1.1 Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội 8
1.1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề 8
1.1.2 Vai trò của làng nghề 12
1.2 Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 15
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 15
1.2.2 Nội dung phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 20
1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 24
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề theo hướng bền vững 28
1.3 Kinh nghiệm phát triển làng nghề theo hướng bền vững của một số địa phương và bài học cho các làng nghề ở Hà Tĩnh 36
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở các địa phương 36
1.3.2 Bài học rút ra cho các làng nghề ở Hà Tĩnh 40
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 42
2.1 Chính sách phát triển làng nghề ở Hà Tĩnh 42
2.2 Tình hình phát triển làng nghề theo hướng bền vững tại Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay 43
2.2.1 Tổng quan sự phát triển các làng nghề theo hướng bền vững 43
Trang 42.2.2 Tác động của làng nghề đến sự phát triển kinh tế - xã hội và môi
trường 56
2.3 Đánh giá chung về tính bền vững trong phát triển làng nghề 72
2.3.1 Những thành tựu chủ yếu 72
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 73
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH HÀ TĨNH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 78
3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững đến năm 2020 78
3.1.1 Mục tiêu 78
3.1.2 Định hướng phát triển 78
3.2 Một số giải pháp chủ yếu tiếp tục phát triển các làng nghề theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh đến năm 2020 80
3.2.1 Hoàn thiện quy hoạch phát triển theo hướng gắn quy hoạch không gian làng nghề với bảo vệ môi trường 80
3.2.2 Tăng cường trang bị công nghệ hiện đại, công nghệ xanh cho các làng nghề 83
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trong các làng nghề 86
3.2.4 Đa dạng hóa loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh đi đôi với lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp và hiệu quả 90
3.2.5 Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tạo thu nhập cao và ổn định cho người lao động 92
3.2.6 Tăng cường kiểm soát tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường tại các làng nghề 94
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành nghề nông thôn nói chung và các làng nghề nói riêng đóng vaitrò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Thực tế đãchứng minh, sự phát triển các làng nghề đã góp phần to lớn trong thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, phát huy được các nguồn lựctại địa phương, theo đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nângcao đời sống của người dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về phát triểngiữa thành thị và nông thôn, đẩy nhanh sự nghiệp xây dựng nông thôn mới Vìvậy, sự phát triển làng nghề vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa văn hóa
- xã hội sâu sắc
Theo thống kê của hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện nay, cả nước có khoảng 2790 làng nghề, riêng ở Hà Tĩnh có khoảng 44 làng nghề Làng nghề
ở Hà Tĩnh có lịch sử phát triển từ hàng chục năm, trong đó, nhiều làng nghề
có bề dày lịch sử đến hàng trăm năm như làng nghề chiếu cói, nón lá… đã tạo
ra nhiều sản phẩm tiêu dùng cần thiết cho xã hội và tham gia xuất khẩu, tạonên giá trị kinh tế và văn hóa ở khu vực nông thôn, đặc biệt là tại các làngquê Theo đó, sự phát triển các làng nghề cũng đã thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, tạo thêmcông ăn việc làm cho lao động nông nhàn và những vùng đất chật người đông,góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho bộ phậndân cư nông thôn
Cùng với những đóng góp tích cực trên, các làng nghề Việt Nam nóichung, ở Hà Tĩnh nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong sựphát triển bền vững Một số làng nghề thiếu vốn và thiếu nguyên liệu trầmtrọng, thị trường tiêu thụ không ổn định, thậm chí có làng nghề thủ côngtruyền thống đã bị mai một Những làng nghề còn tồn tại được thì quy mô nhỏ
Trang 8bé, phân tán và tự phát Sản phẩm của các làng nghề còn ít và đơn điệu, chấtlượng chưa cao vì vậy sức vươn của sản phẩm nghề còn thấp Nguyên nhânchủ yếu của tình trạng đó là do thiết bị công nghệ thiếu và lạc hậu, trình độquản lý thấp, thiếu thông tin về thị trường Đặc biệt, vấn đề ô nhiễm môitrường tại các làng nghề đang gây bức xúc xã hội rất lớn.
Mặc dù Hà Tĩnh đã có Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thônnhưng đến nay sự phát triển của các làng nghề vẫn chưa xứng với tiềm năng
và thiếu tính bền vững Đặc biệt, hầu hết các làng nghề vẫn chưa xây dựngđược hệ thống xử lý rác thải cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường, màđiều này lại ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân địa phương.Nguyên nhân chủ yếu là do tỉnh chưa có nhiều biện pháp hữu hiệu cũng nhưcác giải pháp mang tính đột phá để các làng nghề có điều kiện phát triển theohướng bền vững
Vậy vấn đề đặt ra cho sự phát triển các làng nghề theo hướng bền vững
ở Hà Tĩnh hiện nay là gì? Tỉnh và các làng nghề cần phải thực hiện giải pháp
gì để nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo tính bền vững trong phát triển
của các làng nghề? Đó là những câu hỏi nghiên cứu mà đề tài luận văn: “Phát
triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững” phải giải đáp.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Làng nghề và phát triển làng nghề Việt Nam là vấn để được quan tâmnhiều hiện nay Phát triển làng nghề vừa mục đích phát triển kinh tế vừa bảo
vệ làng nghề Việt Nam như nét văn hóa đặc trưng lâu đời của dân tộc Nhữngtác phẩm, tài liệu nghiên cứu về làng nghề và phát triển làng nghề đã công bốliên quan đến đề tài luận văn có thể kể đến như:
+ Đề án phục hồi làng nghề truyền thống Việt Nam của Th.S Bùi Văn
Vượng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002
Trang 9Tác phẩm đưa ra cách nhìn tổng quan về làng nghề Việt Nam, các mặtcòn hạn chế, những yếu kém, manh mún trong phát triển làng nghề truyềnthống Từ đó, tác giả đưa ra đề án phục hồi làng nghề truyền thống, các giảipháp nhằm phục hồi các làng nghề truyền thống đã bị mai một như là: Tạo lậpthị trường cho các làng nghề, đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực Tuy nhiên, tác phẩm này chỉ xoay quanh những làng nghềtruyền thống, chưa tổng quát thành các làng nghề Việt Nam nói chung, trongkhi hiện nay, các làng nghề mới đang xuất hiện ngày càng nhiều và có sự pháttriển khá mạnh.
+ Làng nghề Việt Nam và môi trường, của nhóm tác giả Đặng Kim Chi,
Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh, NXB Khoa học - kỹ thuật, 2005
Tác phẩm đưa ra các phân tích, đánh giá ảnh hưởng qua lại giữa sự pháttriển làng nghề và môi trường, các làng nghề càng phát triển thì càng sử dụngnhiều nguồn nguyên liệu từ tự nhiên, đồng thời quá trình sản xuất tạo ra nhiềuchất thải, nước thải độc hại, gây ô nhiễm môi trường vì vây, nhóm tác giảnghiên cứu định hướng sự phát triển làng nghề theo hướng thân thiện môitrường, các làng nghề phát triển phải song hành với quá trình bảo vệ, tái tạolại môi trường Tuy nhiên, tác phẩm này mới chỉ phân tích một trong nhữngkhía cạnh ảnh hưởng tới phát triển làng nghề đó là khía cạnh môi trường, chưanêu tổng quan được các mặt ảnh hưởng khác như khía cạnh kinh tế, văn hóa,
xã hội
+ Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển,
của các tác giả Vũ Quốc Tuấn (chủ biên), Nguyễn Vi Khải, Bùi Văn Vượng,NXB Hà nội, 2010
Tác phẩm nêu lên những đặc điểm của làng nghề, phố nghề của Hà Nội,nét văn hóa đặc trưng của các làng nghề, phố nghề nằm giữa lòng thủ đô, hay cácthành phố lớn và những thách thức đối với làng nghề, phố nghề Hà Nội trong
Trang 10tiến trình hội nhập, phát triển Khi nền kinh tế phát triển sôi động, nhất là ởthủ đô hay các thành phố lớn, việc gìn giữ, phát huy nét truyền thống của mộtlàng nghề, phố nghề là rất khó khăn Tuy nhiên, chưa có các giải pháp cụ thể
để phát triển các làng nghề theo hướng bền vững làng nghề, phố nghề
+ Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế của TS Nguyễn Văn Hiến đăng trên Tạp chí
Phát triển và Hội nhập Số 4, Tháng 5-6/2012
Tác phẩm phân tích những đóng góp của làng nghề đối với phát triểnkinh tế, trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, làng nghề cóvai trò đặc biệt quan trọng, bởi nhờ có làng nghề, hàng triệu người lao động
đã được tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập.Tuy nhiên,tác giả cũng cho rằng làng nghề đang đứng trước những thách thức đặt ratrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như: Đầu ra cho các sản phẩm, đàotạo nghề cho người lao động, ô nhiễm môi trường làng nghề… Từ đó, tácphẩm đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghề theo hướng bền vững, cácgiải pháp đưa ra xoay quanh các vấn đề khắc phục về môi trường, lấy tiêu chímôi trường là trọng tâm đánh giá mức độ phát triển theo hướng bền vững củalàng nghề như là quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường, tăng cườngcông tác quản lý môi trường tại các làng nghề Tuy nhiên, phát triển làngnghề bền vững có nhiều yếu tố, cần thiết phải phối hợp đồng bộ nhiều giảipháp để thực hiện
+ Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, của PGS.TS Nguyễn Trường Sơn,
Tạp chí Kinh tế và Phát triển Số 176, tháng 02 năm 2012
Tác phẩm xây dựng hệ thống tiêu chí đầy đủ hơn để đánh giá phát triểntheo hướng bền vững tại các làng nghề Hệ thống tiêu chí được đề xuất vớicác chỉ tiêu cụ thể để đánh giá cả 3 khía cạnh của sự phát triển bền vững, kinh
Trang 11tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, tác phẩm mới chỉ dừng lại ở khía cạnhđưa ra các tiêu chí đánh giá, chưa đưa ra được định hướng, giải pháp để thựchiện các tiêu chí đó.
Các tác phẩm trên đã nghiên cứu làng nghề gắn liền với các vấn đề liênquan có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển làng nghề, và quá trình tác độngngược lại của làng nghề đến môi trường trong quá trình phát triển Đó lànguồn tài liệu quý giá để luận văn sử dụng, kế thừa và phát triển Tuy nhiên,các tác phẩm này mới chỉ nghiên cứu các khía cạnh tác động riêng biệt, cụ thể
là khía cạnh môi trường chứ chưa nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện
sự phát triển làng nghề trên cả ba trụ cột: Kinh tế, văn hóa - xã hội và môitrường Một số công trình tuy có nghiên cứu tính bền vững của sự phát triểnlàng nghề nhưng chỉ dừng lại ở việc đưa ra định hướng, chứ chưa có các giảipháp toàn diện để phát triển làng nghề theo hướng bền vững Đặc biệt, sự pháttriển các làng nghề ở Hà Tĩnh theo hướng bền vững thì cho đến nay, theonhững gì mà tác giả đọc được, thì chưa có một công trình nào nghiên cứu toàndiện và hệ thống
Luận văn này sẽ nghiên cứu, giải quyết các vấn đề còn dang dở của cácnghiên cứu trên Luận văn tiếp cận nghiên cứu từ thực tiễn làng nghề Hà Tĩnhgiai đoạn 2008 đến nay Nghiên cứu một cách tổng quan làng nghề tại HàTĩnh, phân tích thực trạng và đánh giá các mặt thành tựu, hạn chế của làngnghề Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm đạt được các tiêu chí và hoàn thànhđịnh hướng phát triển làng nghề theo hướng bền vững
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là dựa vào những thành tựu và hạn chế rút ra từphân tích thực trạng phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh từnăm 2008 đến nay, tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó và
Trang 12đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện Hà Tĩnh, nhằm đưa các làng nghềtiếp tục phát triển theo hướng bền vững.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của phát triển làng nghềtheo
hướng bền vững, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững
- Phân tích thực trạng phát triển làng nghề và tính bền vững trong sựphát triển làng nghề tại Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay, từ đó, đánh giá nhữngthành tựu đạt được và những mặt còn tồi tại, hạn chế trong phát triển làng nghề theo hướng bền vững
- Tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất những giải
pháp phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh trong giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phát triển của các làng nghề,bao gồm cả các làng nghề truyền thống và làng nghề mới cả trên phương diện
lý thuyết và thực tiễn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các làng nghề trênđịa bàn Hà Tĩnh, các làng nghề truyền thống và làng nghề mới Bên cạnh đó,luận văn cũng có tham khảo kinh nghiệm phát triển bền vững các làng nghềcủa một số tỉnh khác
Phạm vi thời gian: từ năm 2008 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử, phương pháp thống kê so sánh, phân tích, tổng hợp… về các tài
Trang 136
Trang 14nghiên cứu làng nghề trong trạng thái luôn phát triển và xem xét làng nghềtrong mối quan hệ với kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, từ đó đưa ra cácphân tích, đánh giá Bên cạnh đó, tác giả đã sử dụng các số liệu thống kê thuthập được, phân tích số liệu, so sánh sự phát triển qua các thời kỳ, tổng hợplại để đưa ra kết luận quan trọng cho bài viết.
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp chuyên gia Tác giả đã
sử dụng các ý kiến chuyên gia am hiểu về làng nghề, sự phát triển làng nghề, cũng như các nghệ nhân tại các làng nghề để hoàn thiện bài luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề lý luận về phát triển làng
nghề nói chung và phát triển bền vững các làng nghề nói riêng
- Đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề ở Hà Tĩnh hiện nay theomức độ đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững làng nghề Đề xuất các giảipháp, nhằm phát triển làng nghề ở Hà Tĩnh theo hướng bền vững đến năm 2020
- Luận văn cung cấp số liệu về thực trạng phát triển làng nghề ở Hà
Tĩnh, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quản lý các làng nghề phát triển theo hướng bền vững trên địa bàn Hà Tĩnh từ nay đến năm 2020
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về phát triển làng nghề theo hướng bền vững
Chương 2 Thực trạng phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở tỉnh
Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay
Trang 157
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1 Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội
1.1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề
1.1.1.1 Khái niệm làng nghề
Làng nghề được cấu tạo bởi hai yếu tố là “làng” và “nghề” Vì thế khái niệm
về làng nghề cũng được hiểu thông qua phân tích khái niệm “làng” và “nghề”.
Làng - theo Từ điển tiếng Việt, là một khối người quần tụ ở một nơinhất định trong nông thôn Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là mộttập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnhthổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sảnxuất
Hiện nay, do tác động của quá trình đô thị hóa, khái niệm làng có thể đượchiểu một cách tương đối Có một số cách gọi khác với làng đó là phố, khối phố,
tổ dân phố, khóm Tuy là cách gọi có thể khác đi nhưng về bản chất của cộngđồng dân cư đó nếu gắn với nông thôn thì vẫn được xem như là làng
Như vậy, làng nghề là một làng ở nông thôn nhưng ngoài việc làm nôngnghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) còn có hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp,sản phẩm làm ra của họ ngoài việc đáp ứng nhu cầu bản thân, gia đình còndùng để trao đổi, buôn bán, sản phẩm từ làng nghề phải là hàng hóa
Còn “nghề” có thể được hiểu là công việc mà người dân làm để kiếmsống hàng ngày Các nghề trong hoạt động của làng nghề thường là thủ công,tiểu thủ công nghiệp, vì thế những sản phẩm làm ra luôn mang đậm dấu ấncủa chủ nhân làm ra nó
Các nghề thủ công ở làng quê ban đầu chỉ xuất hiện dưới dạng là nghềphụ, chủ yếu được bà con nông dân làm vào thời kỳ nông nhàn Nhưng sau
Trang 17này, do sự phân công lao động mà các ngành nghề thủ công tách dần khỏi sảnxuất nông nghiệp nhưng vẫn phục vụ trực tiếp cho hoạt động nông nghiệp Vàlúc đó, những người thợ thủ công ở làng nghề có thể là không còn làm nôngnghiệp nhưng họ vẫn gắn liền với làng quê mình Cho tới khi nghề thủ côngphát triển mạnh, những người làm nghề thủ công và sống nhờ nghề này tănglên nhanh chóng Đó chính là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của các làng nghề
ở nông thôn cho đến ngày nay
Thông qua những lí luận đó mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiềukhái niệm khác nhau về làng nghề như:
- “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), cùnglàm một nghề tiểu thủ công nghiệp mà các hộ đó có thể sinh sống bằng nghề
đó, thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ Ngoài ragiá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa
- “Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân
và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề, giữa các hộ sản xuất có sự liên kết hỗtrợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội” [29, tr.2] Quan niệmnày chưa phản ánh được đầy đủ tính chất, đặc điểm của làng nghề, nó vẫnchưa thể hiện được sự khác biệt giữa làng nghề ở nông thôn với những trungtâm sản xuất thủ công nghiệp ở thành thị, trị trấn
- “Làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên cùng một địa
bàn nông thôn Trong làng đó, có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinhsống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ; trong đó có
Trang 189
Trang 19hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỉtrọng lớn so với thu nhập dân cư tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân
cư đó” [5, tr.5]
- Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra khái niệm làng nghề như sau:
“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có cáchoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [4, tr.2]
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: “Làng nghề là làng(thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trởthành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân sốngtrong làng Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35% đến 40% số hộ trởlên có tham gia hoạt động ngành nghề, thu nhập từ ngành nghề chiếm từ 50%tổng thu nhập của các hộ gia đình, và giá trị sản lượng của ngành nghề chiếmtrên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương” [3, tr.1]
- Tại Hà Tĩnh làng nghề được xác định: “Làng nghề là một hoặc nhiềucụm dân cư, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các đểm dân cư tương
tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sảnxuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [23, tr.2] Trong phạm vinghiên cứu của luận văn, làng nghề sẽ được xem xét theo cách hiểu này
1.1.1.2 Phân loại làng nghề
Làng nghề được phân loại thành hai nhóm chính: làng nghề truyềnthống và làng nghề mới Làng nghề truyền thống là làng nghề có truyền thốngđược hình thành từ lâu đời Đó là những thôn làng làm nghề thủ công cótruyền thống lâu năm, thường là nhiều thế hệ, ít nhất cũng là hàng chục năm.Nhiều làng nghề thậm chí đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước, tạo ra đượcnhững sản phẩm có tính độc đáo, có độ tinh xảo cao, đã được tiêu thụ tại
Trang 20nhiều nơi khác nhau trên thế giới Dù nghề thủ công được du nhập vào làngbằng con đường nào thì sự phát triển cũng diễn ra dưới hình thức có tồn tạimột số hạt nhân (nghệ nhân, gia đình, dòng họ…) làm nòng cốt, từ đó mởrộng ra phạm vi cả làng Theo quy định của UBND tỉnh Hà Tĩnh, làng nghềtruyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.
“Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí: Nghề đãxuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Nghề tạo ra những sản phẩm mangbản sắc văn hóa dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhânhoặc tên tuổi của làng nghề” [23, tr.2]
Ngày nay khi nền kinh tế càng phát triển các làng nghề mới hình thànhngày một nhiều Chúng được hình thành do sự lan tỏa của các làng nghềtruyền thống và sự ra đời của các ngành nghề mới Các làng nghề mới ra đờiban đầu nhằm giải quyết lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn lúc nôngnhàn Sau này, một số làng nghề phát triển mạnh tách dần khỏi nông nghiệp,tạo thành các làng nghề mới
Bên cạnh đó, các làng nghề ở Việt Nam có thể được chia thành 5 nhóm,
đó là:
- Nhóm thứ nhất: Bao gồm các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm, sứ, sơn mài, thêu ren, khảm, chạm khắc gỗ, đá…
- Nhóm thứ hai : Là các ngành nghề sản xuất công cụ như rèn đúc, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền…
- Nhóm thứ ba: Là các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêudùng thông thường như: làm lược, dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt
Trang 21- Nhóm thứ năm: Bao gồm các ngành nghề chế biến lương thực, thựcphẩm như: xay xát, làm bánh, làm bún, đường, mật, làm tương, đậu phụ, nấurượu, chế biến hải sản các loại…
Ngoài ra còn có thể phân lo ại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trungbình); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; theo licḥ sử phát triển ;theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theotiềm năng tồn tại và phát triển…
Nhiều làng nghề nổi tiếng phát triển mạnh làm giàu từ hiện đại hóacông nghệ truyền thống, nắm bắt nhu cầu của thị trường, nhờ đó các sản phẩmlàng nghề đã tìm được đầu ra, nhiều làng nghề đứng vững và phát triển Đờisống của người lao động tại các làng nghề này ổn định, thu nhập từ làng nghềcao hơn từ 4 - 5 lần so với làm nông nghiệp “Trong những năm gần đây, số
hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ
8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng
tăng lên Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo
việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5
lao động thời vụ Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có
Trang 22thể thu hút 200 - 250 lao động” [12, tr.39-40] Thu nhập của người dân tại các
làng nghề cao gấp 3 - 4 lần so với những nơi thuần nông, không phát triểnlàng nghề Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói,giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nôngnhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người laođộng
1.1.2.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa
Bảo tồn và phát triển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Hiện nay, các làng nghề phân bổ rộng khắp cả nước nhưng không đồngđều “Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề VN, đến năm 2012, nước ta có2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề Làng nghề nước ta phân
bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miềnTrung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%)” [12, tr.39] Sự phát triểncủa làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cácđịa phương Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa X về nông nghiệp,nông dân, nông thôn, các tỉnh tập trung phát triển các cụm công nghiệp, làngnghề để giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, thuhút tối thiểu 50% lao động trong nông thôn vào làm việc tại các cụm côngnghiệp và làng nghề Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch
vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% Số lượng, tỷ
trọng hộ hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản ngày càng giảm, lĩnhvực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng Số hộ hoạt động tronglĩnh vực nông lâm thuỷ sản là 9,53 triệu hộ, giảm 248 nghìn hộ so với năm
2006 Số hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và hộ dịch vụđạt 5,13 triệu hộ, tăng 1,67 triệu hộ so với năm 2006 Nếu xét về cơ cấu, năm
Trang 232011 tỷ trọng hộ nông, lâm, thủy sản giảm nhanh, chỉ còn 62,2% so với 71,1%
so với năm 2006 Tính chung trong giai đoạn 2001 - 2011, số hộ nông, lâm,thủy sản cứ qua 5 năm lại giảm đi khoảng từ 9% đến 10%.trong khi đó 2 khuvực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ lại tăng lên: khu vực công nghiệp, xâydựng tăng ở mức 4,5 - 5%, khu vực dịch vụ tăng chậm hơn ở mức từ và 3,5 -4,5% Do việc thực hiện đúng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nôngthôn dẫn đến cơ cấu lao động trong các lĩnh vực ngành nghề có sự thay đổi rõrệt Tính đến 2011, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 59,6%,giảm đáng kể so với mức 70,4% của năm 2006 và 79,6% của năm 2001; Tỷtrọng lao động công nghiệp, xây dựng lần lượt ở các năm 2011, 2006 và 2001
là 18,4%, 12,5% và 7,4%; tỷ lệ lao động dịch vụ là 20,5%, 15,9% và 11,9% ở
3 năm tương ứng Các làng nghề phát triển nở rộ, đến năm 2011, khu vựcnông thôn có 961 xã có làng nghề, chiếm 11% tổng số xã (tỷ lệ tương ứng củacác năm 2001 và 2006 lần lượt là 6% và 8%)
1.1.2.3 Tạo kim ngạch xuất khẩu, góp phần tích lũy vốn cho nền kinh tế
Những thay đổi trong xu thế hội nhập kinh tế vừa mang lại những thuận
lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghề trong quá trình phát triển Mởcửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình vớikhách nước ngoài Theo thống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước tanhư thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ đã có mặt ở hơn 100 nước trên thếgiới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng Nếu như năm 2008 kim ngạchxuất khẩu chỉ đạt hơn 776 triệu USD thì trong năm 2010, kim ngạch xuấtkhẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt hơn 1,5 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm
2008 Đến năm 2012, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tăng lên1,8 tỷ USD, đóng góp xuất khẩu đạt 2,2 tỷ đồng Các làng nghề tạo kim ngạchxuất khẩu ngày càng tăng, góp phần to lớn trong việc tích lũy vốn cho nềnkinh tế
Trang 241.1.2.4 Góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
Do hầu hết các làng nghề có khởi nguồn từ sáng tạo của dân cư địaphương nên trong sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều có nhữngdấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địa phương Lịch sử phát triển củacác làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc Nhiềusản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, trong đó thể hiện những sắcthái riêng của mỗi làng nghề Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thốngchính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùngnhững bí quyết nghề quý giá và thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo củabản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và của các địa phương nói riêng trongcộng đồng quốc tế
Ngoài việc tạo sản phẩm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá,nhiều làng nghề đã hình thành việc liên kết có tính cộng đồng theo từng nhómlàng nghề, duy trì các truyền thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề Thông quaviệc tạo ra các sản phẩm của làng nghề, cộng đồng dân cư trở nên gắn bó hơntrong cuộc sống, góp phần hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực của văn hoángoại lai, không lành mạnh Với vai trò quan trọng của làng nghề trong pháttriển kinh tế - xã hội, việc định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề trong xuthế hội nhập kinh tế quốc tế là việc làm cần thiết hiện nay
Trang 25khác, nhất là thiên nhiên Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một pháttriển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thểcạn kiệt là một phát triển không bền vững.
Phát triển theo hướng bền vững được hiểu là: “Một sự phát triển thỏamãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đápứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” [15, tr.2] Phát triển theo hướng bềnvững được cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội
và bền vững về môi trường
Từ khái niệm phát triển theo hướng bền vững có thể đưa ra khái niệmphát triển các làng nghề theo hướng bền vững Khái niệm này được đặt ratrong khuôn khổ quan niệm về phát triển theo hướng bền vững của đất nước
và mang yếu tố đặc thù của các làng nghề Theo đó, phát triển các làng nghềtheo hướng bền vững được hiểu là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổnđịnh, có hiệu quả cao trong các làng nghề, nâng cao đời sống gắn liền với việckhai thác hợp lý, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống và đảm bảo
sự ổn định, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn có làng nghề.
Việc phát triển các làng nghề theo hướng bền vững thể hiện trước hết ởviệc duy trì tính chất bền vững và hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh
và dịch vụ trong bản thân các làng nghề Cụ thể:
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động của làng nghề để đảmbảo tái sản xuất: quy mô, tốc độ gia tăng giá trị sản lượng, trình độ công nghệ,giải quyết được lao động việc làm, thay đổi thu nhập bình quân đầu người,phát triển hoạt động sản xuất theo hướng tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu
- Duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của các làng nghề Khả năng
cạnh tranh nói lên tính chất vượt trội trong quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác có cùng tiêu chí so sánh như môi trường pháp lý và hành
Trang 26chính, cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ sản xuất, thị trường, nguồn nhân lực, đặc điểm sản phẩm.
- Đảm bảo chất lượng môi trường trong nội bộ làng nghề, cũng nhưmôi trường sống nói chung Để có thể duy trì tính bền vững trong các làngnghề thì phải luôn đặt sự phát triển của làng nghề với quá trình phát triển kinh
tế nói chung và phát triển các làng nghề trong khu vực
1.2.1.2 Sự cần thiết phát triển các làng nghề theo hướng bền vững Phát
triển bền vững các làng nghề là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia
và các vùng lãnh thổ Điều đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, do yêu cầu của sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làng nghềcũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địaphương Ở các nước phát triển cũng có những mô hình như “mỗi làng một sảnphẩm” ở Nhật Bản, Thái Lan, “Mỗi phố một sản phẩm” ở Thượng Hải, TrungQuốc; “trở về làng quê” của Indonexia… và những mô hình này ra đời từ rấtsớm và phát triển mạnh mẽ Sự phát triển các mô hình đó cũng cho thấy sựphát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triểnnền công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của mỗi quốc gia
Sự phát triển của làng nghề cùng với các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạtầng, các loại hình dịch vụ tiểu thủ công nghiệp sẵn có trên địa bàn và sự liênkết hợp tác một cách rộng lớn giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề thì sẽtạo bước chuyển biến lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.Phát triển theo hướng bền vững các làng nghề sẽ tạo điều kiện cho sự trao đổimua bán sản phẩm cũng như các hoạt động dịch vụ khác ngay trong nội bộlàng nghề Điều đó sẽ có tác dụng làm giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi cơ sở và từ đó nâng cao hiệu quả hoạtđộng của làng nghề Phát triển theo hướng bền vững góp phần
Trang 27chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở chỗ nó tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hợp
lí và hiện đại ở nông thôn Ngoài ra, sự phát triển của làng nghề cũng gópphần mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất cũng như tạo ra nguồn sản phẩmphong phú đa dạng cho xã hội
Sự phát triển của làng nghề cũng sẽ lan tỏa tác động sang các vùngkhác, thu hút lao động từ các vùng khác khi hoạt động sản xuất kinh doanhđược mở rộng, từ đó sẽ góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triểnkinh tế - xã hội của các địa phương
Ngoài ra ta cũng thấy được rằng, hoạt động làng nghề chủ yếu là quy
mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động cũng không lớn, trong khi đó, một khi hoạtđộng sản xuất kinh doanh được phát triển mở rộng thì nhu cầu vốn cũng nhưlao động cần được huy động ngày càng lớn, mà nguồn vốn như thế này lại cóthể huy động trực tiếp từ dân cư Do vậy, đó sẽ là điều kiện thuận lợi để thuhút nguồn vốn còn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh củalàng nghề
Thứ hai, do yêu cầu tạo công ăn việc làm đầy đủ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.
Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững sẽ tạo công ăn việc làmcho một số lượng khá lớn người lao động Việc phát triển làng nghề sẽ thu hútthêm lao động tham gia vào làm việc, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nôngthôn, đồng thời cũng sẽ tăng thêm đội ngũ những người làm dịch vụ phục vụtại các làng nghề Từ đó sẽ góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện cuộc sốngcho lực lượng lao động ở nông thôn và nó còn có tác động lan tỏa kéo theo sựhình thành và phát triển các ngành nghề khác ở nông thôn Hơn nữa, còn cónhững làng nghề mà người lao động hoàn toàn làm việc phục vụ làng nghềchứ không còn tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp nữa Điều này sẽ làmcho người lao động ở địa phương yên tâm vào ổn định cuộc sống ở làng quê
Trang 28mà không còn ham muốn ra thành thị kiếm việc làm để cải thiện cuộc sốngnữa Cũng nhờ sự phát triển của làng nghề như thế mà bộ phận dân cư không
có hoặc có rất ít ruộng đất cũng sẽ có điều kiện nhận thêm ruộng đất để canhtác, từ đó sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
Thứ ba, do yêu cầu sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường
Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững cũng có tác động lớn tớicông tác hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở địa phương.Nhất là đối với hoàn cảnh ở nước ta, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn cònchưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của quá trình phát triểnkinh tế - xã hội thì để có thể phát triển làng nghề, cần phải chú trọng hoànthiện hơn hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật để có thể phục vụ tốt hơn cho sựnghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi làng nghề cũng như là của đất nước
Nếu làng nghề phát triển theo hướng bền vững có nghĩa hoặc là các cơ
sở sản xuất sẽ tập trung vào một khu vực chung, không còn nhỏ lẻ như trước;hoặc là cũng có thể phân tán các hộ gia đình riêng lẽ (trường hợp các làngnghề chế biến thực phẩm) Thông qua đó, hoạt động sản xuất kinh doanh củacác hộ, các doanh nghiệp sẽ quan tâm chú trọng vào các công tác xử lý chấtthải, nước thải và các hoạt động bảo vệ môi trường khác Đó sẽ là điều kiệnthuận lợi để có thể quy hoạch phát triển làng nghề một cách cụ thể và có hiệuquả, phục vụ mục tiêu phát triển theo hướng bền vững
Thứ tư, do yêu cầu gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Ngoài ra, phát triển các làng nghề theo hướng bền vững sẽ là cơ hội để
có thể quảng bá hình ảnh riêng có của địa phương nói riêng và của dân tộcViệt Nam nói chung Thông qua các sản phẩm độc đáo của mỗi làng nghề,cũng thể hiện được nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa lâu đờicủa dân tộc, qua các thế hệ phát triển, các giá trị văn hóa này sẽ được gìn giữ,bảo tồn và không ngừng phát triển Thông qua “Thương hiệu” riêng của làng
Trang 29nghề mà địa phương sẽ được nhiều vùng khác, nơi khác biết đến Cũng từ đây,tạo điều kiện cho sự phát triển ngành du lịch, vì nếu làng nghề càng phát triển,điều kiện kinh tế càng phát triển thì sẽ thu hút du khách đến tham quan, giảitrí để tìm hiểu, thỏa mãn những nhu cầu của mình.
Sự phát triển theo hướng bền vững của hệ thống các làng nghề sẽ đóngvai trò, vị trí nhất định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tùythuộc vào mức độ phát triển của mỗi làng nghề sẽ xác định một ý nghĩa nhấtđịnh của mình Qua quá trình phát triển của các làng nghề ở nước ta thời gianqua, chúng ta cũng thấy rõ được rằng, hệ thống làng nghề đã đóng góp đáng
kể vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và đấtnước nói chung, góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp nông thôn cũng như chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.2 Nội dung phát triển các làng nghề theo hướng bền vững
Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững là sự phát triển về mọimặt trong hiện tại mà vẫn bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa.Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững phải bảo đảm có sự phát triểnkinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Chiếnlược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã ghi rõ: “ Phát triển theo hướngbền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh kinhtế Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Pháttriển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường” Cụthể, để phát triển các làng nghề theo hướng bền vững cần thực hiện các nộidung chủ yếu sau:
1.2.2.1 Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế làng nghề cao và ổn định
Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững nhằm giữ vững ổn địnhkinh tế, đảm bảo an ninh kinh tế của địa phương nói riêng, cả nước nói chung
Trang 30Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đồi mô hình tăng trưởng tại cáclàng nghề, coi chất lượng năng suất, hiệu quả sức cạnh tranh từ các làng nghề
là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế trithức nghĩa là gắn sự sáng tạo lao động tích cực vào hoạt động kinh tế hàngngày Các sản phẩm từ làng nghề ngày càng được cải tiến, nâng cao chấtlượng, mẫu mã đa dạng, bền và đẹp, đáp ứng thị hiếu của thị trường ngườitiêu dùng trong hiện tại và tạo nền tảng phát triển sản phẩm trong tương lai.Tích cực tạo lập thị trường mới, mở rộng thị trường của các sản phẩm ra cáctỉnh trong nước và xuất khẩu quốc tế tạo ra tốc độ tăng trưởng ổn định về kinh
tế, đảm bảo cân bằng cơ cấu kinh tế Phát triển các làng nghề theo hướng bềnvững về kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ,công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Từ đó, cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng của các làng nghề theo hướng:Chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và đầu tư vốn lớnsang mô hình dựa trên các yếu tố tăng trưởng không chỉ dựa vào việc khaithác các lợi thế sẵn có (lao động và tài nguyên) để thực hiện tăng trưởngnhanh trong ngắn hạn sang mô hình tăng trưởng dựa trên cơ sở nâng cấp cáclợi thế, tạo dựng lợi thế mới dựa trên các tiêu chí nâng cao năng suất, hiệu quảcao, sức cạnh tranh lớn; chuyển từ mô hình tăng trưởng có dấu hiệu vi phạmnguyên tắc bảo vệ môi trường và có những tiêu cực về xã hội sang mô hìnhtăng trưởng mang tính bền vững trong dài hạn với mục tiêu thân thiện với môitrường và vì sự phát triển của con người Người lao động có công việc ổnđịnh, mức thu nhập đảm bảo chất lượng cuộc sống, tạo sự gắn bó mật thiếtgiữa người lao động - nghề - làng nghề
1.2.2.2 Tăng việc làm và thu nhập cho người lao động trong các làng nghề
Văn hóa - xã hội hiện hữu trong tất cả mọi mặt của đời sống con người, nó là
những gì do con người và vì con người Văn hóa - xã hội là nền tảng
Trang 31tinh thần cho sự phát triển, là yếu tố làm nên giá trị ổn định, lâu bền của mộtquốc gia, hình thành bản sắc riêng của một dân tộc Phát triển các làng nghềtheo hướng bền vững về xã hội là phải phát triển về mặt xã hội ngang tầm vàhài hòa với phát triển kinh tế Cần phát triển các làng nghề theo hướng toàndiện, đồng bộ các lĩnh vực, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, củacác làng nghề từ xa xưa, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại Pháttriển các làng nghề theo hướng bền vững về xã hội là nền tảng, động lực pháttriển kinh tế Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về xã hội nhằmgiữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước, con người quacác sản phẩm của làng nghề.
Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về mặt xã hội nhằm tạoviệc làm và tăng thu nhập cho người lao động, gắn tăng trưởng với xóa đóigiảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của những người lao động tronglàng nghề Người lao động có thể sống với nghề, tạo ra kinh tế ổn định chongười lao động
1.2.2.3 Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên cho phát triển làng nghề
Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên làng nghề thể hiện ở việc sử dụng
có hiệu quả, hợp lý các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên môi trường làngnghề và các vùng xung quanh Việc khai thác, sử dụng tài nguyên của làngnghề không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu củanhiều thế hệ Bên cạnh đó trong quá trình phát triển, tác động của làng nghềđến môi trường phải được hạn chế đi đôi với những đóng góp cho các nỗ lựccải tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường Điều đó được thể hiện:
Phát triển bền vững làng nghề nhằm bảo vệ môi trường sống không bị ônhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp
Phát triển bền vững làng nghề phải gắn liên tái tạo tài nguyên, có ý thứcnâng cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề
Trang 32Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy hoạch vùngnguyên liệu cho làng nghề Hoặc làng nghề phải tự nỗ lực nghiên cứu, hướngtới sử dụng nguyên liệu nhân tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu.
1.2.2.4 Hiện đại hóa công nghệ sản xuất trong các làng nghề
Được hình thành tự phát trên cơ sở thiết bị công nghệ truyền thống, một
số người lao động, hộ thủ công đã tách ra chuyên sửa chữa, cải tiến một sốcông đoạn cho hiệu quả hơn Hoặc một số hộ có số vốn dồi dào chuyển sangbuôn bán máy móc, thiết bị trong phạm vi làng Vì vậy, nhìn chung thị trườngcông nghệ cho làng nghề còn nhỏ hẹp, chắp vá chưa đáp ứng nhu cầu hiệu đạihóa làng nghề Đặc thù nghề thủ công truyền thống đòi hỏi công nghệ tùythuộc từng công đoạn làm sản phẩm mà áp dụng cho phù hợp để hạn chế ảnhhưởng môi trường, tăng năng suất, công nghệ hóa sản xuất, giảm bớt tính laođộng nặng nhọc nhưng phải đảm bảo tính độc đáo, tinh xảo của sản phẩm.Công nghệ trong các làng nghề đặc biệt trong vấn đề tiêu hao năng lượng sẽtác động trực tiếp đến năng suất lao động, giá thành sản phẩm, năng lực cạnhtranh trên thị trường Áp dụng công nghệ tiên tiến giúp làng nghề tăng năngsuất, hạ giá thành, đáp ứng được những đơn hàng lớn, đa dạng hóa sản phẩm,doanh thu tăng
1.2.2.5 Giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường
Phát triển các làng nghề theo hướng bền vững về môi trường nghĩa làcác cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạchhoặc trang bị các thiệt bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sởsản xuất kinh doanh tại các làng nghề hiện có phải đạt chuẩn về về môitrường Các làng nghề cần có khu xử lý nước thải tập trung, chất thải cần phảiđược xử lý đạt tiêu chuẩn Các làng nghề cần cải thiện, phục hồi môi trườngtại các khu vực sản xuất kinh doanh bị ô nhiễm nặng, hạn chế các tác hại củathiên tai đến hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề Tăng cường phát
Trang 33triển khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất tại các làng nghề nhằm sửdụng nguồn tài nguyên một các hợp lý, khoa học, đạt hiệu quả cao Trong quátrình phát triển các làng nghề theo hướng bền vững cần đổi mới kỹ thuật vớiyêu cầu đặt ra là khởi điểm kỹ thuật phải cao, phải lựa chọn công nghệ kỹthuận tiêu hao ít nguyên, vật liệu, ít ô nhiễm hiệu quả cao, chú trọng phát triểncác làng nghề thân thiện với môi trường.
1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển các làng nghề theo hướng bền vững
Tốc độ tăng trưởng =
Chỉ số này càng cao chứng tỏ sự phát triển các làng nghề càng nhanh vàngược lại Các làng nghề phát triển có bền vững hay không thì trước hết phảixét xem trong quá trình phát triển, các làng nghề đạt được mức tăng trưởngcao hay thấp, có đạt được chỉ tiêu đề ra hay không hay trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình đạt được mức lợi nhuận là bao nhiêu Đó chính là
sự tăng lên không ngừng qua các năm về số lượng và giá trị sản phẩm của mỗilàng nghề Có như vậy mới thể hiện được rằng số lượng sản phẩm từ làngnghề vẫn đang được duy trì và phát triển
b Tỷ lệ thu nhập từ ngành nghề so với tỷ lệ thu nhập của làng ( hay hộ)
Trang 34Chỉ số này cho biết thu nhập từ ngành nghề chiếm bao nhiêu phần trăm
so với tổng thu nhập của làng (hay hộ gia đình) Công thức tính:
Tỷ lệ thu nhập từ ngành nghề =
Chỉ số này càng cao chứng tỏ thu nhập từ ngành nghề chiếm tỷ lệ caotrong tổng thu nhập của làng ( hay hộ gia đình) Chỉ số này tăng qua các nămthể hiện sự phát triển của ngành nghề tạo ra thu nhập cao và ổn định, khả năngphát triển của ngành nghề ngày càng mạnh mẽ trong tương lai Ngành nghề có
xu hướng trở thành ngành nghề chính, thiết yếu của làng ( hay hộ gia đình)
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về văn hóa - xã hội
a Tỷ lệ lao động làng nghề trong tổng số lao động xã hội
Chỉ số này cho biết số lượng lao động làng nghề chiếm bao nhiêu phần trăm so với tổng số lao động trong xã hội Đối với từng làng nghề, chỉ số này được tính là số lao động tham gia hoạt động sản xuất trong các cơ sở sản xuất
so với tổng số lao động trong làng nghề Công thức tính:
Tỷ lệ lao động làng nghề =
Chỉ số này càng cao chứng tỏ lao động làng nghề chiếm tỷ trọng lớntrong tổng số lao động xã hội Chỉ số này tăng qua các năm chứng tỏ sự pháttriển lớn mạnh về số lượng lao động làng nghề Điều này cũng thể hiện sựphát triển làng nghề đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều lao động, gián tiếpthể hiện sự phát triển về quy mô làng nghề
Trang 35b Thu nhập bình quân của người lao động trong các làng nghề
Thu nhập của lao động làm việc trong làng nghề cũng là một chỉ tiêuquan trọng đánh giá mức độ phát triển bền vững của làng nghề Thu nhập làyếu tố quan trọng để người lao động xác định lựa chọn nghề và sống nhờ vàonghề đó Nếu mức thu nhập bình quân của người lao động đủ đảm bảo trangtrải cho những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của người lao động cũng nhưgia đình họ, đồng thời mức thu nhập đó nếu cao hơn mức thu nhập từ sản xuấtnông nghiệp thì người lao động sẽ chọn làm việc ở làng nghề và gắn bó hơnvới nghề đó Thu nhập bình quân của người lao động trong các làng nghề tănglên qua các năm chứng tỏ làng nghề ngày càng phát triển, thị trường đượcđảm bảo Người lao động có thể an tâm gắn bó với nghề, làng nghề
c Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc
Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương là yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống, tiêu dùngcủa dân cư Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố quan trọng quá trìnhphát triển các làng nghề theo hướng bền vững Làng nghề là một bộ phậnquan trọng trong kho tàng văn hóa dân tộc, là nơi lưu giữ truyền thống mộtcách cụ thể nhất Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua các sản phẩm thủcông, nó thể hiện giá trị thẩm mỹ trước, sau đó mới đến giá trị kinh tế, kỹthuật Trong quá trình hội nhập hiện nay, người ta coi sản phẩm của làngnghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống là di sản văn hóa vật thể của dântộc trên thế giới Vì vậy phát triển làng nghề chính là gìn giữ văn hóa vật thểcho đất nước, nhân loại Đây là chỉ tiêu định tính nhưng quan trọng để pháttriển các làng nghề theo hướng bền vững về văn văn hóa
1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu về môi trường
a Tỷ lệ làng nghề ( hay hộ nghề) sử dụng nguyên liệu và công nghệ sảnxuất đạt tiêu chuẩn môi trường
Trang 36Chỉ tiêu này là chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ phát triển bền vữngcủa làng nghề (hộ nghề) về môi trường Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa
số làng nghề (số hộ nghề) sử dụng nguyên liệu và công nghệ sản xuất đạt tiêuchuẩn môi trường với tổng số làng nghề trên cả nước (tổng số hộ nghề tronglàng nghề)
Công thức tính:
Tỷ lệ LN sử dụng nguyên liệu và
CNSX đạt tiêu chuẩn môi trường =
Chỉ số này càng cao chứng tỏ số làng nghề ( hộ nghề) sử dụng nguyênliệu và công nghệ sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường càng cao Điều này, đảmbảo sự phát triển lâu dài, bền vững cho các làng nghề (hộ nghề) này, và sựphát triển chung cho các làng nghề (hộ nghề) trên cả nước Chỉ số này tăngqua các năm chứng tỏ sự phát triển có quy hoạch, có ý thức của các làng nghềtrong vấn đề sử dụng nguyên liệu và công nghệ sản xuất đạt tiêu chuẩn môitrường Chỉ số này tăng ổn định đảm bảo sự phát triển bền vững cho các làngnghề trong tương lai
b Tỷ lệ hộ sản xuất làng nghề có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêuchuẩn môi trường
Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển bền vững cáclàng nghề về môi trường Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa số hộ sảnxuất làng nghề có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường với tổng
số hộ sản xuất làng nghề
Trang 37Công thức tính:
Tỷ lệ hộ SX LN có hệ thống xử lý chất
thải đạt tiêu chuẩn môi trường
Chỉ số này càng cao chứng tỏ số hộ sản xuất làng nghề có hệ thống xử
lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường càng cao Điều này đảm bảo môi trườnglàng nghề không bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi sự phát triển nhanh chóng củalàng nghề Chỉ số này tăng qua các năm chứng tỏ càng nhiều hộ sản xuất làngnghề quan tâm, đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường Chỉ
số này càng tăng cao đảm bảo khả năng phát triển bền vững của các làng nghề
về khía cạnh môi trường
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề theo hướng bền vững.
1.2.4.1 Quy hoạch phát triển làng nghề
Quy hoạch làng nghề là quá trình sắp xếp, bố trí các làng nghề vào mộtkhông gian nhất định nhằm đạt được các mục tiêu của kế hoạch đề ra
Việc quy hoạch phát triền làng nghề của các địa phương sẽ tạo nên sự pháttriển làng nghề một cách có hệ thống, có định hướng và có sự hỗ trợ của địaphương, hỗ trợ cả về nguồn vốn cũng như là xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹthuật tại khu vực có làng nghề hoạt động Việc quy hoạch mặt bằng tập trung sảnxuất sẽ góp phần giải quyết được vấn đề môi trường, đưa ra được các biện phápbảo vệ môi trường cũng như xử lý ô nhiễm môi trường một cách có hệ thống.Quy hoạch phát triển làng nghề sẽ định hướng phát triển, khôi phục, phát triểncác cơ sở ngành nghề nông thôn, các làng nghề truyền thống và thực hiện chínhsách “mỗi làng một nghề” của nhà nước Việc quy hoạch phát triển làng nghềcũng sẽ tạo điều kiện phát triển các ngành nghề có lợi thế về nguyên
Trang 38liệu tại chỗ, có thị trường tiêu thụ ổn định, và thông qua đó sẽ gắn kết các mụctiêu kinh tế - xã hội và môi trường với nhau.
Sự phát triển của hệ thống đô thị tạo nên một nền văn minh đô thị, quy
mô và chức năng đô thị, không gian quy hoạch và kiến trúc của đô thị, cơ sở
hạ tầng đô thị, kinh tế đô thị… Sự phát triển của hệ thống đô thị có vai tròquan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng nhưđịa phương, vùng lãnh thổ, và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế -
xã hội nói chung
Quá trình đô thị hóa cũng có những tác động ngược chiều đối với sựtồn tại phát triển của hệ thống các làng nghề Trước hết, về mặt tích cực, quátrình đô thị hóa sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn, góp phầnlàm tăng nguồn thu nhập, nâng cao đời sống của dân cư ở làng nghề cũng nhưvùng lân cận Khu vực thành thị chính là những đối tượng có thu nhập caohơn, qua đây sẽ có điều kiện tăng tiêu dùng những sản phẩm từ làng nghề phùhợp, đặc biệt là những sản phẩm mang đậm dấu ấn thủ công mỹ nghệ, có tínhtrang trí, lụa tơ tằm, sản phẩm thêu ren, thảm len và từ đó tạo nên thị trườngtiêu thụ rộng lớn hơn Ngoài ra, quá trình đô thị hóa cũng sẽ tạo điều kiện chongười dân vùng làng nghề nâng cao dân trí, trình độ để có thể tiếp cận mộtcách tốt hơn với sự phát triển của khoa học công nghệ mới, từ đó họ có thểbiết cách áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, nângcao năng suất lao động của mỗi cơ sở làng nghề
Tuy nhiên, ngoài tác động tích cực thì quá trình đô thị hóa cũng manglại không ít những tác động không tốt cho mỗi làng nghề Trước hết, quá trình
đô thị hóa sẽ đi đôi với sự thu hẹp các diện tích đất nông nghiệp, đất trồngnguyên liệu cũng như là đất đai phục vụ nhà xưởng gây ảnh hưởng không tốtđến hoạt động của làng nghề Đô thị hóa nhanh chóng cũng sẽ tác động đếnlối sống cũng như cách nhìn nhận của người làm nghề, họ sẽ có những thay
Trang 39đổi trong phong cách làm sao để phù hợp với hoàn cảnh mới Như vậy, quátrình đô thị hóa ngoài những ảnh hưởng mang tính tích cực thì cũng cần phảichú ý đến những ảnh hưởng xấu của nó để có thể có những biện pháp khắcphục nhằm đảm bảo cho sự phát triển của mỗi làng nghề mang tính bền vững.
Bên cạnh quá trình đô thị hóa thì sự phát triển của hệ thống kết cấu hạtầng cũng là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển theo hướng bền vững của làngnghề Nếu hệ thống cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là hệ thống giao thôngngày càng phát triển và được hoàn thiện thì sẽ tạo điều kiện cho mỗi làngnghề có thể mở rộng quy mô sản xuất
Ngoài hệ thống giao thông ở khu vực làng nghề thì hệ thống điện, cấpthoát nước, thông tin liên lạc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thựchiện ứng dụng các loại máy móc thiết bị hiện đại vào hoạt động sản xuất, gópphần làm tăng năng suất lao động cũng như là nâng cao sức cạnh tranh củasản phẩm trên thị trường, chống ô nhiễm môi trường… Hệ thống thông tinliên lạc đặc biệt là trong thời điểm bùng nổ Internet như hiện nay cũng sẽ giúpcho các hộ sản xuất nhanh chóng cập nhật các thông tin cần thiết cũng như là
có thể tìm kiếm những nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho hoạt động sảnxuất của mình, đồng thời qua đó cũng có thể thực hiện các hoạt động quảng
bá sản phẩm, giới thiệu một cách rõ hơn về làng nghề mình để sản phẩm củalàng nghề được mọi nơi, mọi đối tượng biết đến
1.2.4.2 Nguồn vốn sản xuất
Nguồn vốn cho phát triển sản xuất cũng là một yếu tố đầu vào quan trọng,
có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp
và cơ sở sản xuất Trong điều kiện phát triển như ngày nay thì nguồn vốn cũngchính là điều kiện cần thiết không thể thiếu cho các làng nghề
Ngày nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi nênkinh tế thị trường ngày càng phát triển thì nhu cầu về vốn để mở rộng sản
Trang 40xuất ngày càng gia tăng Cuộc điều tra do tổ chức ILO và SIDA thực hiện chothấy có 65,7% ý kiến ở nông thôn cho rằng thiếu vốn là nguyên nhân quantrọng nhất cản trở hoạt động của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinhdoanh Theo số liệu nghiên cứu của CIEM thì hệ thống tài chính chính thứcchỉ đáp ứng được 25,6% nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp dân doanh Điềunày gây khó khăn rất lớn cho việc mở rộng quy mô và ứng dụng công nghệhiện đại trong các làng nghề.
Trước đây, quy mô của các làng nghề thường nhỏ bé, và quy mô vốncủa các hộ kinh doanh ở đây cũng rất nhỏ bé, chủ yếu là vốn tự có của giađình hay của bà con họ hàng Vì vậy rất khó khăn cho các hộ gia đình trongviệc mở rộng quy mô sản xuất Hầu hết các hộ sản xuất, các doanh nghiệplàng nghề đều có quy mô nhỏ và vừa, lại thuộc vào thành phần kinh tế dândoanh nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng cũng gặp rất nhiềukhó khăn Do đó, khi các hộ sản xuất nông nghiệp với vốn đầu tư không lớnthì có xu hướng chuyển sang sản xuất làng nghề nhiều hơn, tức là vừa làmnông nghiệp vừa có thể tham gia đầu tư để làm nghề hay cung cấp dịch vụphục vụ làng nghề, phục vụ sản xuất nông nghiệp Việc này sẽ kéo theo việcgia nhập ngày càng nhiều hơn số hộ gia đình và số lao động vào làng nghề
Như vậy, để có thể phát triển các làng nghề theo hướng bền vững thìđòi hỏi phải đảm bảo được nguồn lực đầu vào về số lượng cũng như chấtlượng, và phải mang tính ổn định lâu dài Nếu nguồn lực đầu vào không ổnđịnh, không đủ mạnh thì đó là yếu tố gây nên sự không bền vững của sự pháttriển làng nghề
1.2.4.3 Trình độ của đội ngũ lao động
Nói đến nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất thì không thể khôngnói đến nguồn lao động, đó là nguồn lực đầu vào không thể thiếu được trongquá trình phát triển kinh tế của tất cả các ngành, lĩnh vực chứ không riêng gì