SXKD của Công ty, tìm ra nguyên nhân hạn chế, để trên cơ sở đó xác định các giảipháp nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty là cần thiết.Với mong muốn giúp Công ty đánh giá đúng thực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy.
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đaịhocc̣ Quốc gia HàNôị.
Trước hết , tôi xin chân thành cảm ơn đến quýthầy cô trường Đại học Kinh tế, đã tận tình hướng dâñ, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Hồi đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực , tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quýthầy cô và các bạn.
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT BIA – RƯỢU – NƯỚC GIẢI KHÁT 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 4
1.1.1 Về sách và giáo trình 4
1.1.2 Các luận án, luận văn sau đại học 4
1.2 Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các yếu tố chi phối hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát7 1.2.1 Đặc thù của lĩnh vực sản xuất kinh doanh bia – rượu – nước giải khát 7
1.2.2 Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát 10
1.2.3 Các yếu tố chi phối hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia - rượu – nước giải khát 13
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK có thể chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp và nhóm yếu tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp 13
1.2.4 Tiêu chí đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát 19
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Phương pháp luận 29
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 29
Trang 62.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu, tài liệu sơ cấp và thứ cấp 29
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu 30
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI – NGHỆ AN 32
3.1 Khái quát chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần bia Hà Nội – Nghệ An 32
3.1.1 Giới thiệu chung về Công ty 32
3.1.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của CTCP bia Hà Nội – Nghệ An 40
3.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty 43
3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp 43
3.2.2 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản 46
3.2.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng nguồn vốn 53
3.2.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí 54
3.2.5 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động 56
3.2.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 57
3.3 Đánh giá chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần bia Hà Nội – Nghệ An 59
3.3.1 Những mặt đạt được 59
3.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 60
3.3.3 Phân tích SWOT đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần bia Hà Nội – Nghệ An 62
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI – NGHỆ AN 64
4.1 Phương hướng triển ngành bia Việt Nam và của Công ty cổ phần bia Hà Nội – Nghệ An 64
4.1.1 Phương hướng phát triển của ngành bia Việt Nam 64
4.1.2 Phương hướng phát triển của Công ty bia Hà Nội – Nghệ An trong thời gian tới 65
Trang 74.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
cổ phần bia Hà Nội – Nghệ An 65
4.2.1 Nhóm giải pháp tiết kiệm chi phí 65
4.2.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho Công ty 68
4.2.3 Giải pháp về nâng cao năng suất lao động 72
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Trang 9DANH MỤC BẢNG STT
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng phảithường xuyên quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả SXKD, nhằm đạt mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận Chỉ có như vậy, doanh nghiệp mới có thể trụ vững, phát triểntrong cơ chế thị trường và giành ưu thế trong cạnh tranh Để có thể đạt được mụctiêu này, các doanh nghiệp phải triệt để khai thác các cách thức, phương phápSXKD để không ngừng tăng doanh thu, hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm CTCP bia Hà Nội – Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà Nội là công
ty có quy mô sản xuất vừa, có chức năng và nhiệm vụ chính là sản xuất và kinhdoanh các sản phẩm bia Trong thời gian vừa qua, Công ty rất quan tâm đến việcnâng cao hiệu quả SXKD và đạt được kết quả nhất định cả về hiệu quả kinh tế vàhiệu quả xã hội, như: tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương, đóng gópvào ngân sách nhà nước tăng dần qua các năm góp phần vào đẩy mạnh phát triểnkinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh Nghệ An nói riêng, v.v Tuy nhiên,hiệu quả SXKD của Công ty trong thời gian gần đây có biểu hiện giảm sút, như :các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời trên doanh thu, khả năng sinh lời trên tổngtài sản và khả năng sinh lời trên VCSH của Công ty đều sụt giảm; tốc độ tăng củadoanh thu chậm hơn tốc độ tăng của chi phí, v.v Tình hình đó ảnh hưởng đến sựphát triển bền vững của công ty trong hiện tại và tương lai Trong thời gian tới,Công ty không chỉ phải lo cạnh tranh với các thương hiệu bia trong nước đang pháttriển, mà còn đứng trước những thách thức cạnh tranh ngày càng gay gắt với cáchãng bia có thương hiệu mạnh trên thế giới khi nước ta thực hiện các cam kết vớiWTO, với các hiệp định FTA song phương và đa phương đã và sẽ có hiệu lực, gắnliền với việc xóa bỏ chính sách bảo hộ đối với việc đầu tư vào lĩnh vực sản xuất bia
Vì thế, để Công ty có thể trụ vững và phát triển trong bối cảnh nước ta hội nhậpkinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, Công ty phải sớm khắc phục những nguyên nhândẫn đến sụt giảm hiệu quả SXKD Do vậy, việc đánh giá đúng thực trạng hiệu quả
Trang 12SXKD của Công ty, tìm ra nguyên nhân hạn chế, để trên cơ sở đó xác định các giảipháp nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty là cần thiết.
Với mong muốn giúp Công ty đánh giá đúng thực trạng hiệu quả SXKD củamình về những mặt đạt đƣợc, hạn chế và nguyên nhân hạn chế; các biện pháp nâng
cao hiệu quả SXKD trong thời gian tới, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần bia Hà Nội – Nghệ An thuộc Tổng Công ty Cổ phần bia – rượu – nước giải khát Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp trong lĩnh vực B - R - NGK
- Phân tích thực trạng hiệu quả SXKD tại CTCP bia Hà Nội – Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả SXKD của CTCP bia
Hà Nội – Nghệ An trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả SXKD tại CTCP bia Hà Nội– Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả SXKD tại CTCP bia Hà Nội – Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà Nội
Trang 132
Trang 14- Về thời gian: Luận văn hoàn thành trong năm 2041, vì vậy thực trạng hiệuquả SXKD tại CTCP bia Hà Nội – Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà
Nội được tính trong giai đoạn 2010 - 2013
4 Đóng góp mới của luận văn
- Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả SXKD tại CTCP bia Hà Nội –Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà Nội giai đoạn 2010 – 2013; chỉ rõnhững ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc nâng cao hiệu quảSXKD tại CTCP bia Hà Nội – Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả SXKD củaCTCP bia Hà Nội – Nghệ An thuộc Tổng CTCP B - R - NGK Hà Nội trong thờigian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung Luận văn được kết cấu thành 4 chương, gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và những vấn đề lý
luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất B
-R – NGK
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần bia
Hà Nội - Nghệ An
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần bia Hà Nội - Nghệ An
3
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT BIA – RƯỢU –
NƯỚC GIẢI KHÁT
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề nâng cao hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Thời gian qua, đã
có một số công trình nghiên cứu vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau
1.1.1 Về sách và giáo trình
Đáng chú ý có: Nguyễn Ngọc Huyền (2014), Giáo trình quản trị kinh doanh, Nxb Đại học kinh tế Quốc dân, tái bản lần 7; Phạm Văn Dược (2004), Giáo trình
phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống Kê, Thành phố Hồ Chí Minh; Phạm
Thị Gái (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống Kê, Hà Nội.
Trong các giáo trình này, các tác giả đã nêu tổng quát các yếu tố ảnh hưởng đếnhiệu quả SXKD của doanh nghiệp, như: năng lực tài chính, chất lượng lao động,năng lực quản trị, thị trường, v.v; đồng thời, chỉ ra hệ thống các chỉ tiêu phân tích,đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, trong đó có các chỉ tiêu đánh giá hiệuquả tổng hợp, chỉ tiêu đánh giá cụ thể hệ quả sử dụng TSNH, TSDH, sử dụng laođộng, v.v Bên cạnh đó, các giáo trình cũng chỉ ra những giải pháp xét ở khía cạnh
lý luận chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, như: vốn,nguyên vật liệu, lao động…trong SXKD, giúp doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối
đa Đây là những cứ liệu rất bổ ích cho học viên tham khảo xây dựng cơ sở lý luậncủa luận văn
1.1.2 Các luận án, luận văn sau đại học
Liên quan đến đề tài mà luận văn học viên nghiên cứu, đáng chú ý có một sốluận văn thạc sỹ kinh tế đã bảo vệ
Trang 16Thứ nhất, nhóm luận văn bàn về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, có: Nguyễn Thị Nga (2012), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
tại Công ty cổ phần Viễn thông Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Bưu
chính viễn thông, Hà Nội; Đoàn Thúy Vân (2012), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh tại Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, Luận văn Thạc sĩ kinh tế,
Đại học Ngoại Thương, Hà Nội; Phạm Đăng Ninh (2014), Giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông,
Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh doanh và công nghệ, Hà Nội Các luận vănnày tập trung bàn vấn đề nâng cao hiệu quả của một yếu tố đầu vào trong quá trìnhSXKD của doanh nghiệp là vốn, chứ không bàn đến nâng cao hiệu quả toàn bộ quátrình SXKD của doanh nghiệp Hơn nữa, các luận văn này bàn đến hoạt độngSXKD của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực viễn thông, sản xuất bóng đèn, phíchnước, hay kinh doanh chứng khoán, mà không bàn đến loại hình doanh nghiệp sảnxuất trong lĩnh vực B – R – NGK Tuy nhiên, các luận văn này cũng có thể làm tàiliệu tham khảo bổ ích cho học viên, nhất là khi các luận văn bàn đến các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả vốn nói chung; các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, liênquan đến chất lượng nguồn nhân lực, đến năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp
và các biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của đồng vốn
Thứ hai, nhóm các luận văn nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD
của doanh nghiệp, có: Trương Thị Thu Hồng (2013), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ kinh
tế, Học Viện Bưu chính viễn thông, Hà Nội; Trần Duy Long (2013), Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần cảng Nam Hải,
Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Hàng hải, Hải Phòng Hai luận văn này tập trungđánh giá thực trạng hiệu quả SXKD của 2 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực viễn thông
và kinh doanh cảng, mà không nghiên cứu vấn đề hiệu quả SXKD của doanh nghiệpsản xuất B – R – NGK Tuy nhiên, các tác giả của hai luận văn này cũng đã đề cậpđến một số vấn đề lý luận chung về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp nói chung;đồng thời, cũng gợi mở những biện pháp có thể áp dụng chung cho nhiều
5
Trang 17loại hình doanh nghiệp khi tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của mình,như: nâng cao năng lực tài chính, nâng cao năng lực quản trị và nguồn nhân lực,đẩy mạnh bán hàng để tăng doanh thu, giảm chi phí, v.v Đó là những kiến thức màhọc viên có thể tham khảo trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn của mình.
Thứ ba, nhóm luận văn nghiên cứu vấn đề nâng cao hiệu quả SXKD của
doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK, đáng chú ý có: Trần Huy Bình (2008), Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty Bia NADA, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Tác giả luận
văn này đã đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệpsản xuất B – R – NGK; đồng thời, tập trung đề xuất một số biện pháp nhằm nângcao hiệu quả SXKD của Công ty bia NADA; trong đó, có các biện pháp về thịtrường, tài chính, giá cả, đổi mới thiết bị kỹ thuật, nâng cao chất lượng người laođộng… là những giải pháp mà học viên có thể tham khảo trong quá trình triển khailuận văn thạc sĩ của mình
Tóm lại, đã có một số giáo trình, luận văn thạc sĩ kinh tế đề cập đến một số
vấn đề lý luận về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, đưa ra các gợi ý về giải phápnâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích thực trạng SXKDcủa các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trìnhnghiên cứu nào trực tiếp nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả SXKD tại Công ty
cổ phần bia Hà Nội - Nghệ An Mặc dù vậy, những thông tin mà các công trình đãcông bố nói trên rất bổ ích, mà học viên có thể kế thừa để triển khai nghiên cứu đềtài “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần bia Hà Nội - Nghệ
An thuộc Tổng Công ty cổ phần bia – rượu – nước giải khát Hà Nội”
Từ khảo sát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố nói trên và từ
mục đích nghiên cứu đặt ra, thì câu hỏi cho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận văn của học viên là: thực trạng hiệu quả SXKD của CTCP bia Hà Nội –
Nghệ An như thế nào? đâu là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của Công ty? Phải bằng những giải pháp cơ bản nào
để nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty trong thời gian tới?
Trang 181.2 Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các yếu tố chi phối hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát
1.2.1 Đặc thù của lĩnh vực sản xuất kinh doanh bia – rượu – nước giải khát
Sản xuất kinh doanh B - R - NGK là lĩnh vực sản xuất ra đồ uống với rấtnhiều mặt hàng có số lượng lớn; có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống xãhội, gắn liền với sức khỏe của người tiêu dùng thế hệ hôm nay và mai sau Bêncạnh những đặc điểm giống như các ngành kinh doanh khác, sản xuất kinh doanh B
- R - NGK có những điểm đặc thù riêng:
Thứ nhất, đó là yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cao; bởi ngành sản
xuất B - R - NGK là một ngành công nghiệp chế biến từ những nguyên liệu đầu vào,như: nước, hoa quả, đại mạch để sản xuất ra các sản phẩm B - R - NGK phục vụnhu cầu về đồ uống cho con người Sản phẩm của ngành là những thực phẩm, do đóchất lượng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng Vì vậy, đảmbảo các tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là yêu cầu hàng đầu đốivới sản xuất B - R - NGK
Ở Việt Nam, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm B
-R - NGK đã được quy định trong Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (số
12/2003/PL-UBTVQH11, ban hành ngày 26 tháng 07 năm 2003) và một số tiêuchuẩn cụ thể đối với từng sản phẩm, như: tiêu chuẩn cho sản phẩm nước khoángthiên nhiên đóng chai, nước tinh lọc hay đối với các loại bia, rượu, v.v Để đảm bảotiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, cần đảm bảo các điều kiện từ khâu sản xuấtđến phân phối, tiêu dùng
Thứ hai, do B - R - NGK là những thực phẩm chế biến nên có thời hạn sử dụng
không dài Các sản phẩm bia tươi, bia hơi chỉ sử dụng được trong vòng một đến hai
tuần; bia lon, bia chai, nước hoa quả, nước uống bổ dưỡng thường có thời hạn sửdụng 6 tháng; nước khoáng, nước tinh lọc thì trong khoảng một năm Từ đặc tính nàycủa sản phẩm mà việc sản xuất B - R - NGK phải đặc biệt chú trọng gắn kết với hoạtđộng phân phối và tiêu thụ sản phẩm Việc chậm tiêu thụ các sản phẩm
7
Trang 19bia không chỉ làm tăng chi phí lưu kho, mà còn có nguy cơ phải hủy bỏ sản phẩm
đã sản xuất ra do chất lượng sản phẩm hết thời hạn sử dụng; kết cục là làm tăng chiphí sản xuất
Thứ ba, sản phẩm rượu, bia phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; bởi đây là
những sản phẩm Nhà nước hạn chế sử dụng Rượu, bia là những đồ uống có cồn,
mà việc lạm dụng sử dụng chúng có thể dẫn đến những tác dụng tiêu cực, dễ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng và trật tự an toàn xã hội
Theo thông tin từ Hội thảo: “Chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng chính sáchquốc gia phòng, chống tác hại của sử dụng rượu bia” do Viện Chiến lược và chínhsách y tế tổ chức ngày 18/3/2009 tại Hà Nội, thì lạm dụng sử dụng rượu, bia đứnghàng thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu Không chỉ thế,lạm dụng rượu, bia còn khiến cho con người không làm chủ được hành vi, lànguyên nhân trực tiếp của nhiều vấn đề xã hội như: nghèo đói, tai nạn giao thông,bạo lực, tội phạm, v.v Chi phí do lạm dụng rượu, bia tạo gánh nặng không chỉ choriêng từng gia đình, mà cả cho xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển Theo sốliệu thống kê ở nhiều nước, phí tổn khắc phục hậu quả do lạm dụng rượu, bia gây
ra thường chiếm từ 2% đến 8% GDP của quốc gia Bởi vậy, cũng như nhiều quốcgia khác, Nhà nước ta hạn chế việc lạm dụng các sản phẩm này và thông qua đánhthuế tiêu thụ đặc biệt để định hướng tiêu dùng Trong những năm vừa qua, thuế tiêuthụ đặc biệt đánh vào rượu, bia ở Việt Nam nằm trong khoảng 20% đến 75% giá trịsản phẩm Do đó, ngành SXKD bia, rượu là một trong những ngành nộp thuế tiêuthụ đặc biệt nhiều nhất cho Nhà nước Chẳng hạn, năm 2007 Tổng công ty B – R –NGK Sài Gòn (SABECO) năm nộp ngân sách 2.976 tỷ đồng, Tổng công ty B – R –NGK Hà Nội (HABECO) cũng nộp vào ngân sách 1.445 tỷ đồng; các tập đoàn lớnkhác, như: Nhà máy Bia Đông Nam Á, Tập đoàn Bia Châu Á - Thái Bình DươngViệt Nam, Bia Việt Hà… trong năm 2007 cũng nộp vào ngân sách 2.500 tỷ đồng.Như vậy, chỉ tính có 3 - 4 tập đoàn lớn của ngành này, cũng đã đóng góp trên 80%tổng số thuế tiêu thụ đặc biệt của toàn ngành Đồ uống
Trang 20Thứ tư, công nghệ sản xuất, các nguyên liệu đầu vào có ý nghĩa quyết định đối với
chất lượng sản phẩm; qua đó, ảnh hưởng đến sức tiêu thụ của sản phẩm sản xuất ra.
Cũng như các ngành sản xuất khác, công nghệ tiên tiến, hiện đại thường tiếtkiệm nguyên, nhiên liệu, có công suất lớn hơn và sản xuất ra sản phẩm có chấtlượng ổn định hơn Tuy nhiên, đối với sản xuất B – R – NGK, thì sự phát triển củacông nghệ thường cho phép sản xuất ra những sản phẩm an toàn hơn do loại bỏđược nhiều chất độc hại trong các khâu chế biến Hơn nữa, quy trình sản xuất có thể
là bí quyết riêng để tạo ra một sản phẩm Điều này đúng cho cả những loại bia rượutruyền thống cũng như hiện đại Do đó, công nghệ sản xuất có vai trò quyết địnhđối với chất lượng sản phẩm làm ra Ngoài ra, công nghệ sản xuất B – R – NGKhiện đại còn góp phần hạn chế làm ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất
Là một ngành chế biến nên nguyên liệu đầu vào có vai trò rất quan trọngtrong việc quyết định chất lượng đầu ra của sản phẩm, đặc biệt đối với ngành B – R– NGK Tính chất của các nguyên liệu đầu vào có thể mang lại những đặc trưngriêng cho sản phẩm bia, rượu Điều đáng chú ý là các yếu tố nguyên liệu đầu vào để
sản xuất bia cơ bản phụ thuộc nhập khẩu Nguyên liệu chính trong sản xuất bia là
malt bia, houblon và các enzym đều nhập khẩu trực tiếp ở nước ngoài vì vậy giáthành các nguyên liệu này ảnh hưởng lớn đến chi phí sản xuất bia
Thứ năm, sức tiêu thụ bia có tính mùa vụ; bởi bia là một loại đồ uống giải
khát Mùa nắng, nóng thì người ta uống bia nhiều hơn; mùa mưa, lạnh thì uống íthơn Tính thời vụ thể hiện khá rõ ở những nơi có sự phân biệt rõ ràng giữa mùanóng và mùa lạnh, như các tỉnh phía bắc nước ta Bên cạnh đó, tính thời vụ của nhucầu về bia không chỉ liên quan đến điều kiện địa lý và khí hậu, mà còn chịu ảnhhưởng bởi các sinh hoạt truyền thống của dân cư Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, mặc
dù thời kỳ Đông Xuân hằng năm, thời tiết còn lạnh giá, nhưng đây lại là thời kỳ córất nhiều các lễ hội truyền thống, như: các ngày lễ, Tết, hội làng, cưới hỏi nên biacũng được tiêu thụ mạnh
Thứ sáu, công nghiệp sản xuất bia là một trong những ngành công nghiệp
đặc trưng có nguy cơ ô nhiễm cao, gây ra các tác động xấu nhất định đối với môi
9
Trang 21trường xung quanh và sức khoẻ cộng đồng; bởi lượng nước thải sản xuất bia lớn,
có chứa nhiều các chất ô nhiễm hữu cơ protein và cacbonnateous với hàm lượng
cao Mặt khác, việc sản xuất bia chai thường dùng xút (NaOH) để rửa chai Ðiềunày không những làm tăng lượng nước cấp và nước thải mà còn làm độ pH củanước thải cao, gây hạn chế cho hiệu quả xử lý Chính đặc trưng có nguy cơ gây ônhiễm cao đòi hỏi các cơ sở sản xuất bia phải chú trọng sử dụng công nghệ sản xuấthiện đại để hạn chế tác động xấu đến môi trường; đồng thời, đòi hỏi sự đầu tư lớnvào hệ thống xử lý nước thải, làm tăng chi phí sản xuất Ngay hệ thống xử lý nướcthải của Công ty bia Hà Nội – Nghệ An có công suất xử lý 1.000 m3/ngày đêm cũngtiêu tốn số vốn đầu tư khoảng 13 tỷ đồng [8]
Tóm lại, các điểm đặc thù nói trên trong lĩnh vực sản xuất B – R – NGK,
nhất là trong sản xuất bia, sẽ ảnh hưởng quan trọng đến vốn đầu tư và tốc độ chuchuyển của sản phẩm làm ra; do đó ảnh hưởng đến chi phí, doanh thu và lợi nhuậncủa các doanh nghiệp trong ngành sản xuất này Nhận thức rõ các đặc điểm đó để cóchiến lược kinh doanh đúng đắn, các doanh nghiệp trong ngành này mới có thể cóđược những giải pháp chính xác nhằm đem lại hiệu quả cao trong SXKD
1.2.2 Quan niệm về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, như nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp đểđạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với tổng chi phí thấpnhất; hay làm giảm chi phí các yếu tố đầu vào và tăng hiệu quả đầu ra của doanhnghiệp.v.v
Khái niệm về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực B - R – NGK: là nói đến nâng cao hiệu quả hiệu suất, năng suất lao
động, hiệu suất sử dụng vốn, được đánh giá bằng cách giảm số lượng thời gian và hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm B - R - NGK, tăng số lượng sản phẩm
Trang 22đó được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian; nâng cao lãi suất, lợi nhuận trên một đơn vị vốn đầu tư, v.v.
Trong các hoạt động xã hội phi lợi nhuận, thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đối vớidoanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là hết sức quan trọng, nóquyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏikhông ngừng nâng cao trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình SXKD, cơ
sở để đánh giá sự tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu về kinh tế của doanhnghiệp trong từng thời kỳ nhất định
Hiệu quả SXKD của doanh nghiệp được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kếtquả SXKD với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó; thể hiện qua công thức dưới đây:
Kết quả SXKD
Chi phí đầu vàoTheo đó, hiệu quả SXKD tỷ lệ thuận với kết quả SXKD và tỷ lệ nghịch vớichi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Kết quả SXKD được biểu hiện ra cả ở khía cạnhhiện vật và giá trị Trong kinh tế thị trường, người ta quan tâm đến kết quả SXKDtrước hết ở khía cạnh giá trị của nó, cụ thể là quan tâm đến số tiền thu được về quamột kỳ SXKD, biểu hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp Có 4 cách để nâng cao hiệuquả SXKD của doanh nghiệp, đó là:
Thứ nhất, giảm chi phí đầu vào, giữ nguyên kết quả đầu ra;
Thứ hai, giữ nguyên chi phí đầu vào, tăng kết quả đầu ra;
Thứ ba, giảm chi phí đầu vào, đồng thời tăng kết quả đầu ra;
Thứ tư, cả chi phí đầu vào và kết quả đầu ra đều tăng, nhưng tốc độ tăng kết
quả đầu ra lớn hơn tốc độ tăng chi phí đầu vào
Các yếu tố tác động tới chi phí đầu vào đó là: giá thành nguyên liệu; Tiềnlương cho người lao động; Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và cácyếu tố khác
11
Trang 23Các yếu tố tác động tới kết quả đầu ra cụ thể là hệ thống kênh tiêu thụ; Sảnphẩm (chất lượng, mẫu mã uy tín, giá thành) và Quảng cáo, xúc tiến bán hàng.
Trong thực tế SXKD, để tăng hiệu quả, các doanh nghiệp thường vận dụngtất cả cách thức nói trên tùy thuộc vào từng trường hợp và từng thời kỳ cụ thể củaquá trình SXKD; trong đó, cách thứ ba được xem là tốt nhất
Để trụ vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thịtrường hiện đại, các doanh nghiệp kinh doanh đều phải đặt mục tiêu phát triển bềnvững; do đó, trong khi quan tâm đến việc tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệpđều luôn chú ý đến trách nhiệm xã hội của mình Vì thế, nói đến hiệu quả SXKDcủa doanh nghiệp ngày nay, người ta thường quan niệm có hai nội dung gắn bó chặtchẽ với nhau, đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Cũng giống như mọi doanh nghiệp SXKD trong điều kiện kinh tế thị trường,
hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK cũng là phạm trù phản
ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp để đạt được các mụctiêu kinh tế trong một thời kỳ nào đó Nó là hệ số giữa kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp, như: doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản lượng, hiệu suất sử dụng vốn,hiệu suất sử dụng lao động… với chi phí các nguồn lực đầu vào để có kết quả kinhdoanh đó
Còn hiệu quả xã hội của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK là phạm trù
phản ánh trình độ doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực đầu vào trong quá trìnhSXKD nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định Mục tiêu xã hội mà các doanhnghiệp sản xuất B – R – NGK thường được tính đến là: khả năng giải quyết việclàm cho xã hội; mức độ cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần cho người lao động của doanh nghiệp; đảm bảo sức khỏe cho người tiêudùng; khả năng đóng góp vào ngân sách nhà nước để thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội của quốc gia nói chung, của địa phương nơi doanh nghiệp tọa lạc nói riêng;mức độ cải thiện những tác động ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái do các hoạtđộng SXKD của doanh nghiệp gây ra, v.v Với đặc trưng là ngành sản xuất loại đồuống, hàng hóa phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, nên sự đóng góp của doanh nghiệp
Trang 24B – R – NGK vào ngân sách Nhà nước thường lớn và yêu cầu về trách nhiệm xãhội
đối với sức khỏe của người tiêu dùng là rất cao; đồng thời, với đặc trưng là ngànhsản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao trong quá trình SXKD, nên bêncạnh việc thực hiện 2 mục tiêu đầu tiên giống như nhiều doanh nghiệp khác, cácdoanh nghiệp SXKD trong lĩnh vực B – R – NGK phải rất coi trọng thực hiện 3mục tiêu sau cùng đã nói ở trên, bởi đây là những mục tiêu luôn được xã hội quantâm theo dõi, giám sát
Hoạt động trong lĩnh vực đồ uống, đòi hỏi yêu cầu cao về vệ sinh an toànthực phẩm, gắn với yêu cầu rất cao về bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng, nêntrong quá trình SXKD, các doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK luôn phải có nhậnthức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hộitrong mục tiêu chung là hiệu quả SXKD của mình Theo đó, khi doanh nghiệp cóhiệu quả kinh tế cao, thì trước tiên là doanh nghiệp sẽ đóng góp vào ngân sách nhànước nhiều Tiếp theo đó là doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, đầu tưthêm máy móc, công nghệ hiện đại để tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nhândân, đảm bảo tốt hơn về môi trường sinh thái và đảm bảo tốt hơn về vệ sinh an toànthực phẩm cho người tiêu dùng Ngược lại, nếu không đạt được hiệu quả kinh tế,thì doanh nghiệp không thể có được những đóng góp đáng kể cho xã hội Mặt khác,nếu không quan tâm thực hiện các mục tiêu xã hội, doanh nghiệp sẽ không thể cóđược hiệu quả kinh tế bền vững; chẳng hạn như: việc xả thải làm ô nhiễm môitrường trong quá trình sản xuất bia, sẽ không tránh khỏi sự phản đối của dân cư địaphương, có khi đẩy doanh nghiệp đến đình trệ sản xuất, làm thiệt hại đến lợi íchkinh tế của chính doanh nghiệp, v.v
1.2.3 Các yếu tố chi phối hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia - rượu – nước giải khát
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B – R– NGK có thể chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố ảnh hưởng bên trong doanh
nghiệp và nhóm yếu tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp
13
Trang 251.2.3.1 Nhóm yêu tố bên trong doanh
nghiệp Trước hết là lực lượng lao
động.
Con người lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu; đóng vai trò quyết địnhviệc kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tiến hành quá trình sản xuất Tuynhiên, hiệu quả của quá trình SXKD của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGKkhông phụ thuộc một cách thuần túy vào số lượng lao động, mà quan trọng hơn làvào chất lượng của lực lượng lao động Điều đó được quy định bởi quy luật lợinhuận cận biên giảm dần, khi tăng mãi số lượng người lao động mà các yếu tố đầuvào khác không đổi Một số lượng lao động hợp lý sẽ đảm bảo sự cân đối giữa yếutố lao động và tư liệu sản xuất, cho phép tạo ra giá thành sản phẩm hợp lý Điều đógóp phần vào việc nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng khảnăng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, dẫn đến đảm bảo tính hiệu quả SXKD củadoanh nghiệp Trong khi đó, chất lượng của lực lượng lao động cho phép tiếp thu
và làm chủ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, chất lượngsản phẩm; hoặc sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới, cách thức làm ăn mới, nhờ đó
mà rút ngắn chu kỳ kinh doanh, giảm thiểu sử dụng nguồn lực, góp phần giảm chiphí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Chính chất lượng của lực lượng lao động mới
là yếu tố đảm bảo tính bền vững của việc nâng cao hiệu quả SXKD Vì thế, để nângcao hiệu quả SXKD, doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK không chỉ quan tâm đếnyếu tố số lượng, với cơ cấu phù hợp, mà quan trọng hơn là trình độ chuyên môn củangười lao động
Hai là trình độ kỹ thuật – công nghệ
Trong lĩnh vực sản xuất B – R – NGK, trình độ công nghệ quyết định chấtlượng sản phẩm Mặt khác, trình độ kỹ thuật – công nghệ là một yếu tố góp phầnnâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nên đây là một yếu tố gópphần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm B – R – NGK, tăng vòng quaycủa vốn lưu động, tăng lợi nhuận đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng cho doanhnghiệp sản xuất B – R – NGK Ngược lại, trình độ công nghệ thấp không nhữnglàm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn làm giảm lợi nhuận, kìm
Trang 26hãm sự phát triển Vì thế, trình độ kỹ thuật - công nghệ là mooti yếu tố cho phépdoanh nghiệp nâng cao hiệu quả SXK của mình.
Ba là trình độ quản trị doanh nghiệp
Trong SXKD hiện đại, yếu tố quản trị doanh nghiệp đóng vai trò ngày cànglớn trong việc nâng cao hiệu quả SXKD của mọi doanh nghiệp, mà doanh nghiệpsản xuất B – R – NGK không phải là ngoại lệ Kết quả và hiệu quả hoạt động quảntrị doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhàquản trị, cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chứcnăng và thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng đó
Phẩm chất và tài năng của các nhà quản trị, đặc biệt là các nhà quản trị caocấp, lãnh đạo doanh nghiệp, có vai trò quan trọng mang tính quyết định tới sự thànhcông của một doanh nghiệp; bởi họ là người quyết định chiến lược kinh doanh,quyết định lựa chọn trình độ công nghệ sản xuất, cũng như lựa chọn mô hình vàcông nghệ quản lý Người quản trị doanh nghiệp có năng lực tốt sẽ đề ra đượcchiến lược kinh doanh đúng đắn trên cơ sở đánh giá đúng đối tượng cạnh tranh vàkhách hàng của mình; có khả năng lựa chọn và vận hành mô hình quản lý phù hợp;
có tầm nhìn chiến lược, biết phát hiện ra “thị trường ngách” để đầu tư, kinh doanh;đồng thời, có khả năng quyết đoán, khi có cơ hội, v.v Người quản trị giỏi sẽ xâydựng được tập thể lao động trong doanh nghiệp thành một khối đoàn kết, phát huyđược tính năng động, sáng tạo của người lao động để hoàn thành các mục tiêu kinh
tế và xã hội của doanh nghiệp một cách vững chắc và ổn định; nhờ đó, doanhnghiệp sẽ đạt được hiệu quả SXKD cao
Bốn là tình hình tài chính doanh nghiệp
Tình hình tài chính của bất kể loại hình doanh nghiệp nào, trong đó có cácdoanh nghiệp trong lĩnh vực B – R – NGK, đều có ảnh hưởng tác động rất mạnh tớihiệu quả SXKD của doanh nghiệp; bởi trước hết nó phản ánh quy mô của doanhnghiệp và uy tín của doanh nghiệp Tình hình tài chính tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến khả năng giảm chi phí, hạ giá thành do không phải phụ thuộc lớn vào các khoản
15
Trang 27vay tín dụng với lãi suất cao Do đó, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chủ độngSXKD, đổi mới công nghệ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nói đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước hết là nói đến tiềm lực
về vốn; bởi đây là nguồn lực chính và quan trọng nhất để duy trì hoạt động củadoanh nghiệp Thiếu vốn cho SXKD, sẽ làm giảm hiệu quả SXKD do doanh nghiệpphải phụ thuộc vào vốn đi vay làm gia tăng chi phí sản xuất, không tận dụng đượccác thời cơ, cơ hội
Tình hình tài chính thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp cả về tốc độ, tiềmlực, mức độ rủi ro Một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt có thể thu hút nhiềunhà đầu tư trên thị trường, các nhà cung cấp uy tín và cả những khách hàng khótính Việc duy trì tình hình tài chính ổn định hay linh hoạt tùy theo những quyếtđịnh sản xuất của công ty Mỗi kế hoạch tài chính đều có những tác động nhất địnhvào việc phát triển thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút đầu tư… gópphần vào nâng cao hiệu quả SXKD
Năm là vật tư, nguyên vật liệu và việc quản trị vật tư, nguyên vật liệu của
doanh nghiệp.
Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả SXKD của doanhnghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất bia; bởi các nguyên vậtliệu cho sản xuất bia, như: malt bia, houblon, đại mạch và các enzym đều phải nhập khẩu.Theo đó, kế hoạch SXKD của doanh nghiệp sản xuất bia có thể thực hiện thắng lợi haykhông, phần lớn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu được đảm bảo có đủ về số lượng, đúng
về chất lượng, ổn định về thời gian, giá cả… hay không? Do đó, quản trị vật tư, nguyênvật liệu luôn là một bài toán khó đối với tất cả các doanh nghiệp, trong đó có các doanhnghiệp sản xuất bia Sử dụng hợp lý nguồn nguyên, vật liệu đồng nghĩa với việc cắt giảmchi phí đầu vào, nhờ đó mà đem lại lợi nhuận cũng như hiệu quả SXKD cao Tất nhiên,việc này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như: máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, trình độngười lao động, quy mô SXKD của doanh nghiệp, v.v
Sáu là hệ thống trao đổi, xử lý thông tin
Trang 28Thông tin được coi là yếu tố không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp trongmôi trường kinh tế thị trường Để đạt được thành công trong điều kiện cạnh tranhngày càng gay gắt, các doanh nghiệp B - R - NGK cần nhiều thông tin chính xác vềcung – cầu thị trường hàng hóa, về công nghệ sản xuất, về khách hàng, về đối thủcạnh tranh, v.v Ngoài ra, doanh nghiệp cũng rất cần các thông tin về kinh nghiệmthành công hay thất bại của doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần cậpnhập thông tin sự thay đổi chính sách kinh tế của Nhà nước và các cơ quan khác cóliên quan đến mặt hàng B - R - NGK.
Trong kinh doanh biết mình biết ta, hiểu thấu đáo được đối thủ cạnh tranhthì mới có đối sách thích hợp, có chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp Kinhnghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp là nắm được thông tin cần thiết và biết
sử dụng thông tin kịp thời để ra quyết định chính xác, có tính thực thi cao Nhữngthông tin hữu ích, kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xây dựng chiếnlược phát triển lâu dài
1.2.3.2 Nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Một là, các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh.
Trước hết là đối thủ cạnh tranh, bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng
tiêu thụ các sản phẩm đồng nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêuthụ những sản phẩm có khả năng thay thế) Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnhtranh thì việc nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn, nhất làkhi doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh Kinh doanh trong lĩnh vực B – R –NGK, các doanh nghiệp sản xuất bia tại Việt Nam không chỉ phải cạnh tranh với cácthương hiệu nội của Tổng công ty cổ phần B – R – NGK Sài Gòn (SABECO) vàTổng công ty cổ phần B – R – NGK Hà Nội (HABECO), như: bia Sài Gòn, bia 333,bia SaiGon Special, bia SaiGon Export, bia Hà Nội…; cùng các nhãn hiệu khác,như: Halida, San Miguel, Huda, Festival, Việt Hà, Nada, Bến Thành…; mà còn phảicạnh tranh với các thương hiệu mạnh của nước ngoài, như: Tiger, Heineken,Carlsberg… ngay trên thị trường nội địa
17
Trang 29Tuy nhiên, chính yếu tố này lại tạo động lực cho sự phát triển của doanhnghiệp SXKD bia; bởi nó đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đếnnâng cao hiệu quả SXKD thông qua cải tiến kỹ thuật, công nghệ, quản lý để nângcao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sảnphẩm, tăng doanh thu, tăng vòng quay vốn, v.v.
Thứ hai là thị trường Thị trường ở đây bao gồm thị trường đầu vào và thị
trường đầu ra của doanh nghiệp Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuât mởrộng của doanh nghiệp Thị trường đầu vào cung cấp các yếu tố cho quá trình sảnxuất, như: lao động, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… nên nó tác động trực tiếpđến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình SXKD Thị trườngđầu ra quyết định tốc độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp; do đó, quyết địnhdoanh thu, tốc độ vòng quay vốn của doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quảSXKD của doanh nghiệp Điều đáng chú ý đối với các doanh nghiệp SXKD mặthàng bia là thị trường các nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị sản xuất đầu vào cơbản là ở nước ngoài, nên chi phí cho các yếu tố đầu vào này phụ thuộc rất lớn vàođối tác và vào sự biến động của tỷ giá Còn thị trường đầu ra đối với các doanhnghiệp sản xuất bia của Việt Nam cơ bản chỉ là thị trường nội địa, vốn đã có nhiềuđối thủ cạnh tranh nội, lại còn phải cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài có
ưu thế về chất lượng, giá cả, mẫu mã và công nghệ bán hàng
Hai là môi trường chính trị - pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật… Mọi quy địnhpháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hiệu quả SXKD của bất
kỳ loại hình doanh nghiệp nào, trong đó bao gồm cả các doanh nghiệp SXKD B – R– NGK Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi doanh nghiệp sẽ làmcho môi trường cạnh tranh được lành mạnh Điều đó buộc mọi doanh nghiệp đềuphải chú ý phát triển nội lực, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và khoa họcquản trị tiên tiến để nâng cao hiệu quả SXKD của mình
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạtđộng SXKD của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được coi là một tiền đề quan
Trang 30trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trườngchính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìmhãm sự phát triển của nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại Mức độ hoàn thiện,
sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng lớn đến việchoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Ba là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thốngthông tin liên lạc, điện nước… đều là yếu tố tác động mạnh mẽ tới hiệu quả SXKDcủa mọi doanh nghiệp; bởi nó cho phép tiết kiệm chi phí sản xuất Doanh nghiệpkinh doanh ở khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, điện nước đầy đủ, dân cưđông đúc, sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sảnphẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí kinh doanh… và do đó thuận lợi nhiều trongviệc nâng cao hiệu quả SXKD của mình Ngược lại, ở nhiều vùng nông thôn, miềnnúi hải đảo, cơ sở hạ tầng kém, không thuận lợi cho hoạt động vận chuyển, mua bánhàng hóa… thì gây nên nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình nângcao hiệu quả hoạt động của mình Với doanh nghiệp sản xuất bia, ngành côngnghiệp sử dụng nhiều nước cả đầu vào và đầu ra, sản phẩm lại không thể để lâu,nên yếu tố cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với nâng cao hiệu quả SXKDcủa doanh nghiệp
Tóm lại, hiệu quả SXKD của doanh nghiệp trong lĩnh vực B – R – NGK chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố thuộc bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Tuy nhiên,yếu tố nội lực bao giờ cũng là yếu tố có vai trò quyết định sức cạnh tranh của mọidoanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK, nên để nâng cao hiệu quảSXKD của mình, các doanh nghiệp này cần tập trung tác động vào các yếu tố bêntrong doanh nghiệp
1.2.4 Tiêu chí đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rượu – nước giải khát
Để có cơ sở đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, cần có những thước
đo làm tiêu chí đánh giá Với các doanh nghiệp trong lĩnh vực B – R – NGK, người
19
Trang 31ta thường dựa vào những tiêu chí dưới đây đê đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội của doanh nghiệp
1.2.4.1 Tiêu chí đo hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, người ta dựa vào 5 chỉ tiêuđánh giá: về hiệu quả kinh doanh tổng hợp, hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả sửdụng vốn, hiệu quả sử dụng chi phí và hiệu quả sử dụng lao động
Một là, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp Chỉ tiêu này được xem xét với các thông số sau đây:
Thứ nhất, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
LNST
Tỷ suất sinh lời trên VCSH =
VCSH bình quânChỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng VCSH sẽ có bao nhiêu đồng lời nhuậnđược sinh ra Chỉ tiêu này càng cao có nghĩa là doanh nghiệp đang sử dụng hiệuquả VCSH Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm, vì có thể giúp doanhnghiệp thu hút nguồn vốn để gia tăng phạm vi hoạt động kinh doanh
Thứ hai, tỷ suất sinh lời trên tài sản.
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng tài sản doanh nghiệp bỏ ra thì có baonhiêu đồng LNST thu về Chỉ tiêu này thể hiện mức độ hiệu quả trong việc phânchia sử dụng nguồn tài sản của doanh nghiệp
LNST
Tỷ suất sinh lời của tài sản =
Tài sản bình quân
Thứ ba, tỷ suất sinh lời trên doanh thu.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu được tính dựa trên LNST và doanh thu thuần.Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thì thu được bao nhiêu đồngLNST Chỉ tiêu này cho thấy được hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp
LNST
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu thuần
Trang 32Hai là, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản Áp dụng chỉ tiêu này,
người ta thường tính toán các thông số sau:
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng tổng tài sản, gồm: sức sản xuất tổng tài sản và
suất hao phí của tổn tài sản
Doanh thu thuần(1) Sức sản xuất tổng tài sản =
Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
(2) Suất hao phí của tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng tài sản để tạo ra một đồng doanh thu thuần
Thứ hai, hiệu quả sử dụng TSNH, được thực hiện thông qua 7 thông số:
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSNH sử dụng bình quân trong kỳ đã tạo ra
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ cần baonhiêu đồng TSNH
Lợi nhuận sau thuế
(3) Suất sinh lời của TSNH =
TSNH bình quânChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đầu tư 1 đồng TSNH thì tạo ra bao nhiêuđồng LNST Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH tốt
Giá vốn hàng hóa(4) Số vòng quay của hàng tồn kho =
Hàng hóa tồn kho bình quân
Trang 3321
Trang 34Chỉ tiêu này cho biết hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu nàycàng cao chứng tỏ hàng tồn kho vận động không ngừng Đó là nhân tố góp phầntăng doanh thu, tăng lợi nhuận.
Thời gian của kỳ phân tích
=
của hàng tồn kho
Số vòng quay của hàng tồn khoChỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của hàng tồn kho hết bao nhiêu ngày.Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho vận động càng nhanh, góp phần tăngdoanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp
(6) Số vòng quay khoản
=phải thu khách hàng
Doanh thu thuần
Khoản phải thu khách hàng bình quânChỉ tiêu này phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Chỉtiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khảnăng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanhnghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưuđộng trong sản xuất
(7) Thời gian thu nợ
=trung bình
Thời gian của kỳ phân tích (365 ngày)
Số vòng quay khoản phải thu khách hàngChỉ tiêu này cho biết thời gian thu nợ của công ty Thời gian thu nợ ngắn làmtăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Thứ ba, hiệu quả sử dụng TSDH, gồm 6 thông số:
Doanh thu thuần(1) Sức sản xuất TSDH =
TSDH bình quânChỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản dài hạn trong kỳ tạo ra bao nhiêu doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao
TSDH bình quân(2) Suất hao phí TSDH =
Doanh thu thuần
22
Trang 35Chỉ tiêu này phản ánh có một đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp phải bỏ
ra bao nhiêu TSDH
LNST(3) Suất sinh lời TSDH =
TSDH bình quânChỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị TSDH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị LNST
Doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá TSCĐ bình quân đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng TSCĐ hiệu quả
Nguyên giá TSCĐ bình quân(5) Suất hao phí TSCĐ =
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh để sản xuất ra một đồng doanh thu thì cần mấy đồng nguyên giá TSCĐ bình quân
LNST(6) Suất sinh lời TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quânChỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá TSCĐ bình quân đem lại bao nhiêuđồng LNST
Ba là, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Áp dụng chỉ tiêu này, người ta
thường tính toán hiệu quả sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn cố định
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng vốn lưu động được tính bằng công thức:
Doanh thu thuầnSức sản xuất của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định một đồng vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 36Thứ hai, hiệu quả sử dụng vốn cố định được tính bằng công thức:.
Doanh thu thuầnSức sản xuất của vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định một đồng vốn cố định sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Bốn là, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí Áp dụng chỉ tiêu này,
người ta thường tính toán 4 thông số: tỷ suất sinh lời trên tổng chi phí, tỷ suất sinhlời trên chi phí bán hàng, tỷ suất sinh lời trên chi phí quản lý và tỷ suất sinh lời củagiá vốn hàng bán
Thứ nhất, tỷ suất sinh lời trên tổng chi phí đánh giá mức độ tiết kiệm chi phí
dựa vào độ lớn của lợi nhuận đối với tổng chi phí, được tính bằng công thức:
Thứ hai, tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng cho biết với mỗi 100 đồng chi
phí bỏ ra phục vụ cho hoạt động bán hàng, thì doanh nghiệp thu được bao nhiêuđồng lợi nhuận, được tính bằng công thức:
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Tỷ suất sinh lời của chi phí
=
bán hàng
Chi phí bán hàng
Thứ ba, tỷ suất sinh lời của chi phí QLDN cho biết cứ 100 đồng chi phí
QLDN bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, được tính bằng công thức:
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Tỷ suất sinh lời của chi phí
=
QLDN
Chi phí QLDN
Thứ tư, tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán cho biết trong kỳ doanh nghiệp
đầu tư 100 đồng giá vốn hàng bán thì thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp
Trang 37Năm là, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động Chỉ tiêu này cho biết
bình quân một lao động trong một kỳ kinh doanh sẽ có khả năng đóng góp sức mìnhvào sản xuất để thu lại được bao nhiêu giá trị doanh thu cho doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp, người ta thường
dùng 2 chỉ tiêu: năng suất lao động và sức sinh lời bình quân của lao động
Thứ nhất, năng suất lao động được tính theo công thức sau:
(1) Năng suất lao động
Thứ hai, lợi nhuận bình quân của lao động, được tính theo công thức:
Tóm lại, để đánh giá hiệu quả kinh tế trong SXKD của doanh nghiệp, có thể
sử dụng nhiều chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu phản ánh một góc độ nhất định về tính hiệu quảcủa doanh nghiệp trong SXKD Việc lựa chọn số lượng chỉ tiêu phụ thuộc vào mụctiêu phân tích hiệu quả SXKD của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định
1.2.4.2 Tiêu chí đo hiệu quả xã hội
Do yêu cầu của sự phát triển bền vững trong nền kinh tế quốc dân, trong quátrình SXKD của mình, ngoài việc phải phấn đấu đạt mục tiêu hiệu quả kinh tế đểtồn tại và phát triển, các doanh nghiệp trong lĩnh vực B – R NGK còn phải quan tâmđạt được hiệu quả về mặt xã hội Chỉ tiêu đo hiệu quả xã hội bao gồm:
Một là, mức độ thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Mọi doanh
nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nhiệm vụ nộp thuếcho ngân sách nhà nước dưới hình thức các loại thuế: thu nhập doanh nghiệp, thuếVAT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), v.v Mức độ thực hiện nghĩa vụnày không chỉ thể hiện ở số lượng tiền nộp vào ngân sách, mà còn thể hiện ở việcchấp hành về thời gian và chấp hành nộp đủ các loại thuế mà pháp luật quy định Làngành sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở mức cao, việc thực hiệnnghiêm túc nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK sẽ làmột đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của cả nước cũng như vào sự phát
Trang 38triển của địa phương, nơi doanh nghiệp đứng chân Do vậy, đây là một tiêu chí quantrọng đánh giá hiệu quả xã hội của doanh nghiệp B – R – NGK trong quá trìnhSXKD.
Hai là, mức độ tạo công ăn, việc làm cho người lao động, nhất là người lao
động tại chỗ
Bất cứ một doanh nghiệp nào ra đời cũng là một hình thức tạo công ăn việclàm cho người lao động Vấn đề là mức độ tạo ra bao nhiêu chỗ làm việc, thu hútđược bao nhiêu lao động Nếu quy mô doanh nghiệp nhỏ, hiệu quả SXKD củadoanh nghiệp hạn chế, thì khả năng tạo việc làm của doanh nghiệp không nhiều;thậm chí, do hiệu quả SXKD kém, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dẫn đến sathải lao động Ngược lại, nếu hiệu quả SXKD của doanh nghiệp cao, doanh nghiệp
sẽ có điều kiện để mở rộng sản xuất; từ đó mà thu hút thêm lao động Trên cơ sở đó,góp phần quyết các vấn đề xã hội, như: làm giảm tệ nạn xã hội, góp phần ổn định
xã hội Vì thế, vấn đề hiệu quả SXKD của doanh nghiệp với mức độ tạo việc làmcho người lao động luôn có mối quan hệ với nhau; đồng thời, mức độ tạo việc làmcho người lao động được xem là một trong các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội của cácdoanh nghiệp trong quá trình hoạt động của mình
Trong quá trình SXKD, các doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK không chỉ thuhút trực tiếp lao động của địa phương vào các dây chuyền sản xuất của mình, mà còngián tiếp tạo công ăn việc làm cho lao động ở các ngành nghề liên quan Chẳng hạn,sản phẩm B – R - NGK thường được đóng lon, đóng chai và không ngừng thay đổi vềmẫu mã đã kích thích sự gia tăng lao động trong ngành công nghiệp sản xuất bao bì,nhãn mác Mặt khác, hoạt động phân phối và tiêu thụ sản phẩm trong ngành B
– R – NGK được đặc biệt chú trọng, nên hoạt động này tạo thêm việc làm cho laođộng ở các ngành dịch vụ khác, như: giao thông vận tải, ăn uống, thương mại bánbuôn và bán lẻ, v.v Đó là những chỉ tiêu cần được tính đến trong quá trình đánh giáhiệu quả SXKD của các doanh nghiệp trong lĩnh vực B – R – NGK
Ba là, mức độ nâng cao đời sống người lao động.
26
Trang 39Đây cũng là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội của doanh nghiệp; bởimức độ nâng cao đời sống của người lao động với hiệu quả SXKD của doanhnghiệp có quan hệ mật thiết với nhau Hiệu quả SXKD thấp, chứng tỏ mức sinh lợi
từ lao động không cao Điều đó dẫn đến doanh nghiệp không có điều kiện để nângcao thu nhập, cải thiện các phúc lợi xã hội cho người lao động của doanh nghiệp.Tình hình sẽ ngược lại, khi hiệu quả SXKD của doanh nghiệp đạt cao
Mức độ nâng cao đời sống của người lao động trong doanh nghiệp được thểhiện ở mức tăng thu nhập của người lao động, mức tăng trưởng phúc lợi xã hội dànhcho người lao động của doanh nghiệp, việc chấp hành các chế độ bảo hộ lao động, nộpbảo hiểm xã hội, mua thẻ bảo hiểm y tế của doanh nghiệp cho người lao động, v.v
Bốn là, mức độ giảm thiểu tác động xấu đến môi trường sinh thái.
Ngành công nghiệp sản xuất B – R – NGK là ngành công nghiệp có nguy cơgây ô nhiễm môi trường tương đối cao, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cũng nhưmôi trường sống của con người Do đó, phấn đấu giảm đến mức thấp nhất các tácđộng ấu đến môi trường sinh thái trong quá trình SXKD là một trong những chỉ tiêuquan trọng đánh giá hiệu quả xã hội nói riêng, hiệu quả SXKD của doanh nghiệptrong lĩnh vực B – R – NGK nói chung
*
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại trong cạnh tranh và đạt mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận, mọi doanh nghiệp kinh doanh đều phải coi trọng việcnâng cao hiệu quả SXKD Đó là quá trình sử dụng hợp lý các nguồn lực đầu vào đểđạt được kết quả sản xuất cao nhất (lợi nhuận) với chi phí ít nhất
Với tính đặc thù của ngành sản xuất Đồ uống, bên cạnh việc coi trọng đạtđược hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực B – R – NGK phải đặc biệtchú trọng đến hiệu quả xã hội Đó là 2 nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhautrong phạm trù hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
Trang 40Hiệu quả SXKD của doanh nghiệp B - R - NGK chịu sự chi phối của nhiềuyếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; trong đó, các yếu tố bên trong giữ vaitrò quyết định Do vậy, để nâng cao hiệu quả SXKD, các doanh nghiệp cần tậptrung tác động vào các yếu tố bên trong; trước hết là yếu tố lao động, công nghệ sảnxuất, năng lực quản trị, năng lực tài chính… là những yếu tố nằm trong tiềm năngcủa mỗi doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, người ta sử dụng nhiều chỉtiêu Mỗi chỉ tiêu đánh giá có những ưu thế và ý nghĩa nhất định, nên tùy từngtrường hợp, hoặc theo yêu cầu phân tích cụ thể, số lượng chỉ tiêu cụ thể sẽ đượcquan tâm lựa chọn sử dụng Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, đánhgiá hiệu quả SXKD của một doanh nghiệp cụ thể, nhất là doanh nghiệp trong lĩnhvực B – R – NGK, thì cần coi trọng cả chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế và chỉ tiêuđánh giá hiệu quả xã hội Đây chính là cơ sở lý luận để khảo sát đánh giá thực trạnghiệu quả SXKD của CTCP bia Hà Nội - Nghệ An trong thời gian qua
28