Từ những căn cứ trên có thể đưa ra khái niệm quản lý chất lượng như sau: Quản lý chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 31.1.4 Chức năng của quản lý chất lượng
1.1.4.1 Cơ sở khoa học của quản lý chất lượng
1.2.2.2 Các nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp:
1.2.3 Các phương thức quản lý chất lượng sản phẩm
1.2.3.1 Kiểm tra chất lượng (Inspection)
1.2.3.2 Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC)
1.2.3.3 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance- QA)
1.2.3.4 Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control TQC)
Trang 41.2.3.5 Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management TQM)
-1.2.4 Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm.
1.2.4.1 Kiểm soát các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất.
1.2.4.2 Kiểm soát quá trình sản xuất.
1.2.4.3 Kiểm soát chất lượng sản phẩm nhập kho.
1.2.4.4 Thực hiện không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm 1.3 Một số mô hình quản lý chất lượng.
1.3.1 Quản lý chất lượng theo ISO-9000
1.3.1.1.Giới thiệu sơ lược về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2000
1.3.1.2 Kết cấu của bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000
1.3.1.3 Lợi ích của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2000
1.3.2 Mô hình quản lý chất lượng theo TQM.
1.4.5 Mô hình Ishikawa ( mô hình xương cá ).
1.4.6 Luật số lớn và nguyên lý khách quan, khoa học:
Chương 2 : Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng sản phẩm bao bì ở Công ty cổ phần bao bì PP
2.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần bao bì PP ( HAIPAC ) 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ở HAIPAC.
2.1.2 Sơ đồ tổ chức quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh ở HAIPAC.
Trang 52.2 Tình hình chất lượng sản phẩm của công ty.
2.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng sản phẩm của công ty.
2.3.1 Công tác quản lý chất lượng vật tư
2.3.2 Công tác quản lý thiết bị.
2.3.3 Công tác chuẩn bị sản xuất
2.3.4 Kiểm tra, kiểm soát và đánh giá chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất.
2.3.5 Kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm nhập kho.
2.3.6 Hệ thống thông tin phản hồi từ phía khách hàng.
2.3.7 Mối quan hệ các bộ phận trước khi sản phẩm được nhập kho.
2.3.8 Tay nghề người lao động.
Chương 3- - Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý chất lượng sản phẩm ở Công ty Cổ phần bao bì PP.
3.1 Đầu tư đổi mới công nghệ có trọng điểm, thay thế dần máy móc thiết bị lạc hậu và đã cũ, đồng bộ hóa dây truyền sản xuất 3.2 Nâng cao trình độ tay nghề, ý thức tổ chức cho người lao động và thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi và công nhân có tay nghề cao.
3.3 Tiến hành củng cố và hoàn thiện lại hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000-2000 đang áp dụng tại công ty.
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo.
Trang 6MỞ ĐẦU.
Hiện nay xu thế hội nhập về kinh tế và quốc tế hoá đang trở thành xu thế
cơ bản của nền kinh tế thế giới Từ xu thế này khiến cho hàng hoá tràn ngập thịtrường, các hàng hoá này có nguồn gốc từ rất nhiều nước khác nhau trên thếgiới Đồng thời cùng với nó là sự xuất hiện của rất nhiều khối liên minh, liênkết kinh tế Giữa các khối hay trong cùng một khối đều có những ưu đãi vàcác quy định rõ ràng về sản phẩm xuất nhập khẩu hay nói cách khác là các quyđịnh về chất lượng sản phẩm đem ra trao đổi giữa các nước Khi các công cụhạn ngạch, thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang bị bãi bỏ dần thì
để hạn chế hàng nhập khẩu các nước sử dụng công cụ quan trọng đó là tiêuchuẩn về chất lượng sản phẩm Các sản phẩm hiện nay đều có những tính năngtiên tiến, hiện đại, kiểu dáng đa dạng, phong phú thì các doanh nghiệp sẽ cạnhtranh với nhau bằng chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm ngày càng giữvai trò quan trọng, là mục tiêu hướng tới của các doanh nghiệp nhằm nâng caonăng lực cạnh tranh Việt Nam đã gia nhập WTO và ngày càng hội nhập vàonên kinh tế chung của thế giới đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp ViệtNam nhằm nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Tuy nhiên cũng cókhông ít thách thức với doanh nghiệp trong nước bởi các doanh nghiệp ViệtNam hiện nay năng lực cạnh tranh còn chưa cao đòi hỏi các doanh nghiệp phảitìm ra hướng đi đúng đắn để có thể hoà nhập vào nền kinh tế Thế giới vớinhững cạnh tranh gay gắt, khốc liệt
Do đó tôi có chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm ở Công ty cổ phần Bao bìPP Hải Phòng “ để làm luận văn thạc sĩ tốt
Trang 7Từ việc nghiên cứu quản lý chất lượng sản phẩm ở công ty cổ phần bao
bì PP Hải Phòng với phạm vị nghiên cứu là sản phẩm bao bì phục vụ đóng góicho ngành xi măng, hóa chất, phân bón, thức ăn gia súc, nông sản thông quaphương pháp thống kê số liệu về tỷ lệ sản phẩm sai hỏng, năng suất lao động,bằng phương pháp phân tích theo biểu đồ xương cá Để từ đó tôi muốn đánhgiá lại toàn bộ những ưu và nhược điểm trong quản lý chất lượng của công ty
Cổ phần bao bì PP Hải Phòng hiện tại Từ những nhược điểm thông qua phântích tôi muốn đưa ra những kiến nghị để nhằm năng cao hiệu quả quản lý chấtlượng sản phẩm ở Công ty cổ phần bao bì PP Hải Phòng
Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài: Khái quát hóa cơ sở lý luận
về chất lượng, Phân tích thực trạng quản lý chất lượng sản phẩm tại Công ty Cổphần bao bì PP Hải Phòng, Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩmdựa trên mô hình xương cá, Mục tiêu và phương thức thực hiện giải pháp
Với hi vọng góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng sảnphẩm của công ty, góp phần xây dựng công ty ngày một phát triển trong thời kỳnên kinh tế Việt nam trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới
Để có được những lý luận và thực tiễn của việc quản lý chất lượng trongcác doanh nghiệp nước ta hiện nay, cụ thể tại Công ty Cổ phần bao bì PP HảiPhòng là nhờ vào sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong Khoa Quản trị kinhdoanh nói riêng và các thầy cô trong Trường Đại học Kinh tế nói chung, cùngBan lãnh đạo và các đồng nghiệp trong Công ty Cổ phần bao bì PP Hải Phòng
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Trương Minh Đức đã hướng
dẫn nhiệt tình và giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn thạc sĩnày
Do hạn chế về thời gian, nên luận văn thạc sĩ này không tránh khỏinhững sai sót, khuyết điểm Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các
Trang 8Thầy Cô, cũng như ý kiến của các đồng nghiệp trong Công ty để luận văn thạc
sĩ của tôi được hoàn thiện và có tính thiết thực hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ GỒM 3 CHƯƠNG :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản
phẩm
Chương 2 : Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng sản phẩm bao
bì ở Công ty cổ phần bao bì PP Hải Phòng
Chương 3 : Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất
lượng sản phẩm ở Công ty Cổ phần bao bì PP Hải Phòng
Trang 9Chương 1 : Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm.
1.1 Các khái niệm về chất lượng, quản lý chất lượng và vai trò của quản lý chất lượng.
1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm.
Khái niệm chất lượng đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sử dụng phổbiến trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của con người Tuynhiên, hiểu như thế nào là chất lượng sản phẩm lại là vấn đề không đơn giản.Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợpcác nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội
Do tính phức tạp đó nên hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chấtlượng sản phẩm Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát
từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường
Theo quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩmđược phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đo Quan niệm này
đã đồng nghĩa sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm Tuynhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được ngườitiêu dùng đánh giá cao
Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo vàphù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quycách đã được xác định trước Chẳng hạn, chất lượng được định nghĩa là tổnghợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn nhữngyêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Quan niệmnày cũng giống quan niệm xuất phát từ sản phẩm ở chỗ chất lượng sản phẩmphản ánh đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của sản xuất, mới chủ phản ánh mối quan
Trang 10tâm của người sản xuất đến việc đạt được những chỉ tiêu chất lượng đặt ra màchưa tính đến nhu cầu đích thực của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, đã có nhiều quan niệm khác nhau về chấtlượng sản phẩm Những khái niệm này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với cácyếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả,
Xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng được định nghĩa là sự phù hợpcủa sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng Trong cuốn” chấtlượng là thứ cho không” Philip Crosby định nghĩa: “ Chất lượng là sự phù hợpvới yêu cầu” Theo Jospb Juran: “ Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc
sự sử dụng”, hay theo Armand Feigenbaum: “ Chất lượng là những đặc điểmtổng hợp của sản phẩm, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụđáp ứng được mong đợi của khách hàng ”
Xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ lệgiữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt đượclợi ích đó Theo quan niệm này, nhiều định nghĩa được đưa ra như: “ Chấtlượng là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ ở giá mà khách hàng chấp nhận”,hoặc: “ Chất lượng là cái mà khách hàng phải trả đùng với cái họ nhận được ”
Những quan niệm hướng theo thị trường được nhiều nhà nghiên cứu vàcác doanh nghiệp tán đồng vì nó phản ánh đúng nhu cầu của người tiêu dùng,giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thỏa mãn khách hàng, đạt được thànhcông trong kinh doanh
Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ( ISO ) định nghĩa: “ Chấtlượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính vốn có của một sảnphẩm, hệ thống hoặc quá trình đối với các yêu cầu của khách hàng và các bên
có liên quan ” Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm
ẩn Định nghĩa này được chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinhdoanh quốc tế hiện nay
Trang 111.1.2 Khái niệm quản lý chất lƣợng.
Chất lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không phải là một kết quảngẫu nhiên, nó là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặtchẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý tốt cácyếu tố này Hoạt động quản lý định hướng vào chất lượng được gọi là quản lýchất lượng
Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liêntục, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất chất tổng hợp, phức tạp của vấn đềchất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường kinh doanhmới
Hiện nay, quản lý chất lượng đã mở rộng tới tất cả các hoạt động, từ sảnxuất đến cung cấp dịch vụ và trong toàn bộ chu trình sản phẩm Có nhiều kháiniệm về quản lý chất lượng được đưa ra, tuy nhiên một khái niệm đầy đủ sẽphải đề cập đến những vấn đề cơ bản của quản lý chất lượng: Mục tiêu củaquan lý chất lượng là gì? Phạm vi bao trùm của nó và mối quan hệ với môitrường bên ngoài như thế nào? Chức năng của quản lý chất lượng là gì? Nhiệm
vụ của quản lý chất lượng là gì? và quản lý bằng những phương tiên, biện phápnào? Từ những căn cứ trên có thể đưa ra khái niệm quản lý chất lượng như sau:
Quản lý chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản
lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thựchiện chúng bằng các biện pháp hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lương,đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chấtlượng
Như vậy, trước hết quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động củachức năng quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát, điều chỉnh và cải tiếntoàn bộ các hoạt động, quá trình thực hiện và kết quả của hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Đó chính là việc xác định mục tiêu, đề ra nhiệm
Trang 12vụ, tìm con đường đạt tới và giải quyết có hiệu quả những mục tiêu chất lượng
đã đề ra Vì vây, có thể nói quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý
Mục tiêu của quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảochất lượng sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu.Hiệu quả quản lý chất lượng của doanh nghiệp được đánh giá trên hai tiêuchuẩn cơ bản: Sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thỏa mãn những đòi hỏi củakhách hàng như thế nào? Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ có hiệuquả đến dâu?
Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp quản lýhành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tâm lý Quản lý chất lượng làtrách nhiệm của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp, nó phải được thựchiện ở mọi cấp, mọi khâu, mọi quá trình Quản lý chất lượng vừa có ý nghĩachiến lược, vừa mang tính tác nghiệp
Quản lý chất lượng phải được thực hiện thông qua một cơ chế nhấtđịnh, bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chẩn đặc trưng kinh tế - kỹ thuật biểuthị mức độ thỏa mãn nhu cầu thị trường, một hệ thống tổ chức điều khiển, một
hệ thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng và quy trình, tráchnhiệm
Quản lý chất lượng được thực hiện trong suốt chu trình sống của sảnphẩm từ thiết kế, chế tạo đến sử dụng sản phẩm Trách nhiệm cảu doanh nghiệpkhông dừng lại ở khâu bán sản phẩm mà còn có trách nhiệm cả khi sản phẩm
đã đến tay khách hàng
Quản lý chất lượng là một quá trình mang tính hệ thống, thể hiện sự gắn
bó chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài: Quản lý chất lượng tập trung trướctiên vào quản trị quá trình, đảm bảo toàn bộ quá trình được kiểm soát Các công
cụ thống kê được sử dụng rộng rãi để phát triển nguyên nhân và khắc phụcnhững vấn đề chất lượng
Trang 13Nhiệm vụ của quản lý chất lượng trong sản xuất là duy trì và cải tiếnchất lượng của doanh nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng theo những tiêu chuẩn
đã được quy định (theo thiết kế, theo tiêu chuẩn ngành, quốc gia, ) và phải đápứng ngày càng tốt hơn những đòi hỏi của khách hàng
1.1.3 Các nguyên tắc quản lý chất lượng
Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng
Chất lượng sản phẩm và dịch vụdo khách hàng xem xét quyết định Cácchỉ tiêu chất lượng sản phẩm và dịch vụmang lại giá trịcho khách hàng và làmcho khách hàng thoảmãn và phải là trọng tâm của hệthống chất lượng Chấtlượng định hướng vào khách hàng là một yếu tốchiến lược, dẫn tới khả năngchiếm lĩnh thịtrường, duy trì và thu hút khách hàng, nó đòi hỏi phải luôn nhạycảm với yêu cầu của thị trường, nó cũng đòi hỏi ý thức phát triển công nghệ,khả năng đáp ứng mau chóng và linh hoạt các yêu cầu của thị trường
Theo nguyên tắc này, doanh nghiệp phải
- Hiểu nhu cầu và mong đợi của khách hàng;
- Thông tin các mong đọi và nhu cầu này trong toàn bộdoanh nghiệp;
- Đo lường sự thoảmãn của khách hàng và có các hành động cải tiến cókết quả;
- Nghiên cứu các nhu cầu của cộng đồng; và
- Quản lý các mối quan hệ của khách hàng và cộng đồng
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo
Lãnh đạo thiết lập sựthống nhất đồng bộgiữa mục đích, đường lối và môitrường nội bộtrong doanh nghiệp Hoạt động chất lượng sẽ không có hiệu quảnếu không có sựcam kết triệt đểcủa lãnh đạo Lãnh đạo doanh nghiệp phải cótầm nhìn cao, xây dựng những giá trị rõ ràng, cụ thểvà định hướng vào kháchhàng Lãnh đạo phải chỉ đạo và tham gia xây dựng chiến lược, hệthống và vàcác biện pháp huy động sựtham gia và tính sáng tạo của mỗi nhân viên để xây
Trang 14dựng, nâng cao năng lực của doanh nghiệp và đạt kết quảtốt nhất có thể
được Để thực hiện nguyên tắc này, lãnh đạo doanh nghiệp phải
- Hiểu biết và phản ứng nhanh với những thay đổi bên trong và bênngoài;
- Nghiên cứu nhu cầu của tất cảnhững người cùng chung quyền lợi;
- Nêu được viễn cảnh trong lai của doanh nghiệp;
- Nêu rõ vai trò, vịtrí của việc tạo ra giá trị ởtất cảcác cấp của doanhnghiệp;
- Xây dựng lòng tin và sựtín nhiệm của mọi thành viên;
- Trao quyền bằng cách tạo cho họchủ động hành động theo trách nhiệm đồng thời phải chịu trách nhiệm;
- Gây cảm hứng và cổvũ thừa nhận sự đóng góp của mọi người;
- Thúc đẩy quan hệ cởi mở, trung thực;
- Giáo dục, đào tạo và huấn luyện;
- Thiết lập các mục tiêu kích thích;
- Thực hiện chiến lược và chính sách để đạt được mục tiêu này
Nguyên tắc 3: Sựtham gia của mọi thành viên
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của mọi doanh nghiệp và sựtham gia đầy đủvới những hiểu biết và kinh nghiệm của họcó thể được sử dụngcho lợi ích của của doanh nghiệp Thành công trong cải tiến chất lượng, côngviệc phụ thuộc rất nhiều vào kỹnăng, nhiệt tình hăng say trong công việc củalực lượng lao động Do đó những yếu tố liên quan đến vấn đềan toàn, phúc lợi
xã hội của mọi thành viên cần phải gắn với mục tiêu cải tiến liên tục và cáchoạt động của doanh nghiệp
Khi được huy động đầy đủ, nhân viên sẽ
- Giám nhận công việc, nhận trách nhiệm đểgiải quyết các vấn đề;
- Tích cực tìm kiếm các cơhội đểcải tiến, nâng cao hiểu biết, kinh
Trang 15nghiệm và truyền đạt trong nhóm;
- Tập trung nâng cao giá trịcho khách hàng;
- Đổi mới và sáng tạo đểnâng cao hơn các mục tiêu của doanh nghiệp;
- Giới thiệu doanh nghiệp cho khách hàng và cộng đồng;
- Thoả mãn nhiệt tình trong công việc và cảm thấy tự hào là thành viên của doanh nghiệp;
Nguyên tắc 4: Phương pháp quá trình
Kết quảmong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quảkhi các nguồn và cáchoạt động được quản lý nhưmột quá trình Quá trình là tập hợp các hoạt động
có liên quan với nhau hoặc tương tác để biến đổi đầu vào thành đầu ra Lẽ dĩnhiên, đểquá trình có ý nghĩa, giá trịcủa đầu ra phải lớn hơn đầu vào, có nghĩa
là, quá trình làm gia tăng giá trị Trong một doanh nghiệp, đầu vào của quá trìnhnày là đầu ra của một quá trình trước đó Quản lý các hoạt động của một doanhnghiệp thực chất là quản lý các quá trình và các mốí quan hệ giữa chúng
Để đảm bảo nguyên tắc này, cần phải có các biện pháp :
- Xác định quá trình để đạt được kết quảmong muốn;
- Xác định các mối quan hệtương giao của các quá trình với các bộ phậnchức năng của doanh nghiệp;
- Quy định trách nhiệm rõ ràng đểquản lý quá trình;
- Xác định khách hàng, người cung ứng nội bộvà bên ngoài quá trình;
- Xác định đầu vào và đầu ra của quá trình;
- Nghiên cứu các bước của quá trình, các biện pháp kiểm soát, đào tạo, thiết bị, phương pháp và nguyên vật liệu để đạt được kết quả mong muốn;
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống
Không thể giải quyết bài toán chất lượng theo từng yếu tố riêng lẻ màphải xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến chất lượng một cách hệ thống vàđồng bộ, phối hợp hài hoà các yếu tố này Hệthống là tập hợp các yếu tố có liên
Trang 16quan hoặc tương tác với nhau Phương pháp hệ thống của quản lý là cách huyđộng, phối hợp toàn bộ nguồn lực để thực hiện mục tiêu chung của doanhnghiệp Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liênquan tương tác lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanhnghiệp.
Theo nguyên tắc này doanh nghiệp phải
- Xác định một hệthống các quá trình bằng cách nhận biết các quá trình hiện có hoặc xây dựng quá trình mới có ảnh hưởng đến các mục tiêu đề ra;
- Lập cấu trúc của hệ thống để đạt được mục tiêu một cách hiệu quảnhất;
- Hiểu sự phụ thuộc lẫn nhau trong các quá trình của hệ thống;
- Cải tiến liên tục thông qua việc đo lường và đánh giá;
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là hoạt động lặp lại để nâng cao khả năng thực hiện cácyêu cầu
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọidoanh nghiệp Muốn có được khảnăng cạnh tranh và mức độchất lượng caonhất, doanh nghiệp liên tục cải tiến Cách thức cải tiến cần phải “ bám chắc”vào công việc của doanh nghiệp
Để thực hiện cải tiến doanh nghiệp phải
- Cải tiến liên tục sản phẩm, quá trình và hệthống là mục tiêu của từng người trong doanh nghiệp;
- Áp dụng các phương pháp cơbản của cải tiến từng bước và cải tiến lớn;
- Cải tiến liên tục hiệu quảvà hiệu suất của tất cảcác quá trình;
- Giáo dục và đào tạo cho các thành viên vềcác phương pháp và công cụ cải tiến như
+ Chu trình PDCA
Trang 17+ Kỹthuật giải quyết vấn đề
+ Đổi mới kỹthuật cho quá trình
+ Đổi mới quá trình
- Thiết lập các biện pháp và mục tiêu đểhướng dẫn cải tiến;
- Thừa nhận các cải tiến
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sựkiện
Mọi quyết định và hành động của hệthống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quảphải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữliệu thông tin
Việc đánh giá phải bắt nguồn từchiến lược của doanh nghiệp, các quá trình quan trọng, các yếu tố đầu vào và kết quảcủa các quá trình đó
Theo nguyên tắc này doanh nghiệp phải
- Đưa ra các phép đo, lựa chọn dữliệu và thông tin liên quan đến mụctiêu;
- Đảm bảo thông tin, dữliệu là đúng đắn, tin cậy, dễsửdụng;
- Sử dụng đúng các phương pháp phân tích dữ liệu và thông tin;
- Ra quyết định hành động dựa trên các kết quảphân tích kết hợp với khảnăng, kinh nghiệm và khả năng trực giác,
Nguyên tắc 8: Quan hệhợp tác có lợi với các bên liên quan
Các doanh nghiệp cần tạo dựng mối quan hệhợp tác để đạt được mục tiêuchung Các mối quan hệ này bao gồm quan hệ nội bộ và quan hệ bên ngoài
Để thực hiện nguyên tắc này doanh nghiệp phải
- Xác định và lựa chọn đối tác;
- Lập mối quan hệ trên cơ sở cân đối mục tiêu dài hạn, ngắn hạn;
- Tạo kênh thông tin rõ ràng, công khai và hiệu quả;
- Phối hợp triển khai và cải tiến sản phẩm và quá trình;
- Hiểu rõ và thông báo nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng cuốicùng đến đối tác;
Trang 18- Chia sẻ thông tin và kế hoạch;
- Thừa nhận sự cải tiến và thành tựu của đối tác
1.1.4 Chức năng của quản lý chất lƣợng
1.1.4.1 Cơ sở khoa học của quản lý chất lƣợng
Quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá là một khoa học tổng hợp, nó làmột phần của khoa học quản lý Để quản lý chất lượng cần sử dụng tổng hợpcác kiến thức về:
+ Khoa học quản lý
+ Kỹ thuật, công nghệ
+ Khoa học tâm lý, khoa học tổchức, lao động
Quản lý chất lượng là một quá trình thực hiện các biện pháp quản lý kinhtế- kỹ thuật, hành chính xã hội, văn hoá tư tưởng nhằm mục đích đảm bảo vànâng cao chất lượng Quản lý chất lượng một cách khoa học là điều kiện chủyếu để:
- Đảm bảo chất lượng, duy trì chất lượng trong suốt quá trình hình thành
• Chức năng quy định chất lượng
Chức năng này thể hiện ở khâu điều tra nghiên cứu nhu cầu và thị trường
từ đó thiết kế, đềxuất mức chất lượng, hoặc quy định các điều kiện, tiêu chuẩn
Trang 19kỹ thuật cụ thể để sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với những địnhchế.
• Chức năng quản lý chất lượng
Đây là chức năng chủyếu của quản lý chất lượng Chức năng này thểhiện tính xuyên suốt của quản lý quá trình tạo sản phẩm từ khâu nghiên cứuthiết kế đến lưu thông phân phối sản phẩm
• Chức năng đánh giá chất lượng
Chức năng này bao gồm đánh giá chất lượng trong từng khâu, từng bộphận cũng như chất lượng toàn phần của sản phẩm Đây là chức năng quantrọng thể hiện lượng hoá các yêu cầu chất lượng, đo lường và đặt các quá trìnhtrong tầm kiểm soát
1.1.5 Vài trò và tính hiệu quả của quản lý chất lƣợng sản phẩm.
Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, sống còn đối vớicác doanh nghiệp Điều này được thể hiện:
- Chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết địnhnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong bối cảnh cạnh tranh ngày cànggay gắt, mang tính quốc tế như hiện nay, chất lượng sản phẩm được coi là một
vũ khí quan trọng sử dụng trong cạnh tranh Nhờ nâng cao chất lượng sản phẩmdoanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng, nâng cao được uy tính và danhtiếng, từ đó có thể chiếm lĩnh và mở rộng được thị trường trong và ngoài nước;tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và phát triển được sản xuất kinh doanh
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ thỏa mãn được các yếu cầu củangười tiêu dùng, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo đượclòng tin và sự ủng hộ của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp từ đó góp phầnphát triển sản xuất kinh doanh
- Nâng cao chất lượng sản phẩm cũng có ý nghĩa là tăng năng suất laođộng xã hội Nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn đến tăng giá trị sử dụng và lợi
Trang 20ích kinh tế - xã hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, tiết kiệm tài nguyên, sức lao động, tiền vốn và giảm ô nhiễm môi trường.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ giảm được chi phí do giảm phếphẩm, giảm công việc sửa chữa lại và khắc phục hậu quả do sản phẩm kém chấtlượng, sử dụng tốt hơn nguyên liệu, máy móc thiết bị từ đó có thể mở rộng thịtrường, đảm bảo được việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Quản lý chất lượng là bộ phận hợp thành của quản lý doanh nghiệp Khinền kinh tế và sản xuất kinh doanh phát triển thì quản lý chất lượng càng đóngvai trò qua trọng và trở thành nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được của doanhnghiệp Quản lý chất lượng làm cho chất lượng sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn tốthơn nhu cầu của khách hàng hàng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp Quản lý chất lượng giúp doanh nghiệp xác định đượcđúng hướng sản phẩm cần cải tiến, đổi mới để thỏa mãn, tốt hơn những mongđợi của khách hàng cả về tính hữu ích và giá cả, tăng cường vị thế, uy tín trênthị trường, tăng cường quản lý chất lượng giúp doanh nghiệp xác định đầu tưđúng hướng, khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn yếu tố lao động, công nghệ,máy móc thiết bị, Như vậy, chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của mộtdoanh nghiệp Tầm quan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nângcao, do đó phải không ngừng đổi mới và nâng cao trình độ quản lý chất lượngcủa doanh nghiệp
1.2 Nội dung cơ bản của quản lý chất lƣợng sản phẩm.
1.2.1 Những yêu cầu cơ bản của công tác quản lý chất lƣợng sản phẩm.
Quản lý chất lượng ngày càng đóng vai trì quan trọng trong việc nângcao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của các doanh nghiệp Tuy nhiên, đây làmột lĩnh vực quản lý có những đặc thù riêng, đòi hỏi các doanh nghiệp khi thựchiện quản lý chất lượng phải thực hiện đơpcj những yêu cầu cơ bản sau:
- Chất lượng phải thực sự trở thành mục tiêu hàng đầu có vai trò trung
Trang 21tâm trong hoạt động của các doanh nghiệp Cần có sự cam kết và quyết tâmthực hiện của mọi thành viên trong doanh nghiệp, trước hết là sự cam kết củaGiám đốc.
- Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi khách hàng Trong cơchế thị trường khách hàng là người đánh giá, xác định mức độ chất lượng đạtđược chứ không phải các nhà quản lý hay người sản xuất Do đó, quản lý chấtlượng phải hướng tới khách hàng Các hoạt động nghiên cứu thị trường, xâydựng và thực hiện chính sách chất lượng, thiết kế sản phẩm, sản xuất, kiểm tra,cung cấp các dịch vụ sau bán hàng đều phải lấy việc đáp ứng tốt nhất nhu cầucủa khách hàng làm mục tiêu
- Coi trọng yếu tố con người trong quản lý chất lượng Con người làyếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành, đảm bảo vànâng cao chất lượng sản phẩm Trong công tác quản lý chất lượng cần áp dụngcác biện pháp thích hợp để huy động tối đa nguồn nhân lực con người trongdoanh nghiệp và việc đảm bảo và nâng cao chất lượng, có chương trình đào tạo,bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về chất lượng và quản lý chất lượng
- Đảm bảo tính đồng bộ và toàn diện trong quản lý chất lượng Chấtlượng sản phẩm là kết quả tổng hợp của một hệ thống các giải pháp mang tínhđồng bộ, liên quan đến tất cả các hoạt động, các bộ phận và tất cả các thànhviên trong doanh nghiệp Do vậy, phải đảm bảo tính toàn diện và đồng bộ trongcác hoạt động, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu, các bộ phận nhằmhoàn thiện chất lượng của toàn bộ hệ thống
- Quản lý chất lượng theo quá trình Quản lý chất lượng ở moi khâu từnghiên cứu nhu cầu khách hàng, thết kế sản phẩm đến sản xuất, tiêu thụ và tiêudùng sản phẩm Để phòng ngừa là chính, phải xác định mọi nguyên nhân gây rachất lượng kém và tìm cách loại bỏ chúng ngay trong từng khâu nhằm hạn chế
Trang 22những trục trặc, khuyết điểm của sản phẩm và giảm chi phí kiểm tra.
1.2.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm không chỉ được hình thành trong quá trình sản xuất
mà nó là kết quả của quá trình liên tục: từ thiết kế sản phẩm đến khi sản phẩmđược đưa ra thị trường Trong suốt quá trình đó chất lượng sản phẩm chịu ảnhhưởng tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố bên trong và nhân tố bênngoài doanh nghiệp, cụ thể:
1.2.2.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp:
Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong doanhnghiệp, nên để tiện cho việc phân tích người ta đã sắp xếp chúng thành nhóm
Sơ đồ 1 : Các nhân tố bên trong ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Material(NVL)
Men(Con người)Method
(Phương thức)
* Material (Nguyên vật liệu):
Nguyên vật liệu phản ánh cấu tạo của sản phẩm về mặt giá trị, là cơ sở
cơ bản tạo nên chất lượng của sản phẩm, vì toàn bộ giá trị của nguyên vật liệuđược chuyển hết một lần vào giá trị của sản phẩm Chủng loại cơ cấu, tính đồngnhất, và chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sảnphẩm vì nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào cấu thành sản phẩm Muốn cósản phẩm đạt chất lượng (theo yêu cầu của thị trường, thiết kế…) thì nguyên
Trang 23vật liệu để chế tạo sản phẩm phải đảm bảo những yêu cầu về chất lượng Mỗisản phẩm được tạo ra từ những nguyên vật liệu khác nhau, vì vậy chủng loại, cơcấu tính đồng bộ của chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng sản phẩm Do đó doanh nghiệp còn kiểm tra chặt chẽ chất lượng nguyênvật liệu khi mua nhập kho trước khi sử dụng, đảm bảo đúng số lượng, đúng chấtlượng, đúng kỳ hạn, có như vậy sản xuất mới chủ động ổn định quá trình sảnxuất và thực hiện đúng kế hoạch chất lượng Vì vậy, doanh nghiệp cần phảiquan tâm đặc biệt đến khâu dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu, tránh không đểcho nguyên vật liệu xuống cấp Ngoài ra chất lượng sản phẩm của doanhnghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập được hệ thống cung ứng nguyênvật liệu trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài hiểu biết tin tưởng lẫn nhaugiữa người sản xuất và người cung ứng.
* Machines (Máy móc và khả năng công nghệ):
Nếu yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và chấtlượng sản phẩm thì nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ thiết bị lại có tầm quantrọng đặc biệt quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm Trong sản xuấthàng hoá, người ta sử dụng và phối trộn nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau
về thành phẩm, tính chất, công dụng Nắm vững được đặc tính của nguyên vậtliệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết song trong quá trình chế tạo, việctheo dõi, kiểm soát chất lượng sản phẩm theo tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng
để mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật liệu, xác định đúng đắn các chế độgia công để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Quá trình công nghệ
là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều hoặc bổ xung, cải thiện nhiềutính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho phù hợp với côngdụng của sản phẩm Vì vậy, nó có ảnh hưởng lớn quyết định đến chất lượng sảnphẩm Ngoài yếu tố kỹ thuật công nghệ cần phải chú ý đến việc lựa chọn thiết
Trang 24bị, khi kỹ thuật và công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị cũ kỹ thì không thểnào nâng cao được chất lượng sản phẩm Hay nói cách khác, nhóm yếu tố kỹthuật – công nghệ – thiết bị có mối quan hệ khá chặt chẽ, không chỉ góp phầnvào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn tăng tính cạnh tranh của sảnphẩm trên thương trường, đa dạng hoá chủng loại nhằm thoả mãn nhu cầu tiêudùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ.
* Method (Phương pháp tổ chức, phương pháp quản lý công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tính chất sản xuất của doanh nghiệp):
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng làmột trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến, chất lượngsản phẩm của doanh nghiệp Các chuyên gia quản lý chất lượng đồng tình chorằng trong thực tế có 80% những vấn đề chất lượng là do quản trị gây ra Vì vậynói đến quản trị chất lượng ngày nay trước hết người ta cho rằng đó là chấtlượng của quản trị Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, kỹ thuật – côngnghệ thiết bị và người lao động dù có ở trình độ cao nhưng không biết tổ chứcquản lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp giữa các khâu, giữa cácyếu tố của quản trị sản xuất thì không thể tạo ra một sản phẩm có chất lượngcao được Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị,nhận thức hiểu biết về chất lượng và trình độ của cán bộ quản lý, khả năng xâydựng chính xác mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực hiệnchương trình, kế hoạch chất lượng Ngày nay, các Công ty phải nhận thấy đượcchất lượng sản phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng thuộc trách nhiệm củatoàn bộ Công ty chứ không thể phó mặc cho các nhân viên kiểm tra chất lượngsản phẩm hoặc một cá nhân nào được
Dù cho sản xuất có được tự động hoá thì con người vẫn là yếu tố quyết
Trang 25định đến chất lượng hàng hoá dịch vụ Trong chế tạo có thể tự động nhưng cònbao nhiêu công việc máy móc chưa thay thế được con người Nghiên cứu nhucầu, ý đồ thiết kế sản phẩm (sáng tạo trong thiết kế), tổ chức sản xuất, tổ chứcbán hàng Doanh nghiệp phải biết tạo nên một tập thể lao động có trình độchuyên môn giỏi, có tay nghề thành thạo, khéo léo, nắm vững quy trình sảnxuất và sử dụng máy móc thiết bị, có kiến thức quản lý, có khă năng sáng tạocao Cần có những chương trình đào tạo huấn luyện người lao động thực hiệnnâng cao chất lượng sản phẩm một cách tự nguyện chứ không phải bắt buộc, để
từ đó mới phát huy được chất lượng công việc và tính chất quyết định đối vớichất lượng hàng hoá dịch vụ
Tóm lại, sự phân chia các yếu tố trên chỉ là tương đối nhưng tất cả lạinằm trong một thể thống nhất và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau
1.2.2.2 Các nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp:
Đối với mỗi doanh nghiệp thì các nhân tố bên ngoài vừa là cơ hội, vừa là thách thức Các nhân tố bên ngoài tác động tới chất lượng sản phẩm gồm:
Nhu cầu của nền kinh tế:
Mỗi một nền kinh tế khác nhau có tiêu chuẩn đánh giá khác nhau về chấtlượng sản phẩm.Một sản phẩm có thể được coi là đạt tiêu chuẩn chất lượng ởnước này nhưng chưa chắc đã đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng ở nướckhác Trong nhu cầu của nền kinh tế có các nhân tố sau ảnh hưởng tới chấtlượng sản phẩm:
- Nhu cầu của thị trường:
Đầu tiên, nhu cầu thị trường sẽ quyết định tới tiêu chuẩn chất lượng củasản phẩm cho công tác thiết kế và phát triển sản phẩm Nhu cầu thị trường rõnét thì khi đó chuyển thành tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm sẽ thuận lợi và
Trang 26chính xác Sự biến động của nhu cầu thị trường sẽ làm cho chất lượng sản phẩmkhông ổn định và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng gặpkhó khăn Nhu cầu thị trường đưa ra câu hỏi phải trả lời: “sản xuất cái gì?” củacác doanh nghiệp Sự phát triển của khoa học kỹ thuật góp phần tạo ra nhữngnguyên vật liệu mới, những công nghệ sản xuất mới…Tất cả các yếu tố này đãtác động không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu của thị trường, đáp ứng những nhu cầu, thị hiếu, sở thíchcủa các nhóm người trong xã hội.
Cơ chế quản lý của Nhà nước
Cơ chế quản lý của nhà nước chính là hành lang pháp lý quy định chohoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có hành lang pháp
lý đối với các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm và công tác quản lý chấtlượng sản phẩm của một doanh nghiệp Hiệu lực của cơ chế quản lý Nhà nướctạo đòn bẩy trong quản lý chất lượng về sản phẩm cũng như chất lượng nóichung của toàn doanh nghiệp Đồng thời, nó cũng tạo ra môi trường kinh doanhbình đẳng giữa các doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc về phong tục tập quán, thói quen:
Các dân tộc, vùng miền khác nhau có phong tục tập quán và thói quensinh hoạt, tiêu dùng và tín ngưỡng khác nhau Nên nhu cầu, sở thích mua sắm
và tiêu dùng sản phẩm của mỗi dân tộc là không giống nhau Do đó, họ đánhgiá về chất lượng sản phẩm cũng không giống nhau Có những hàng hoá ở đấtnước này thì rất được ưa chuộng nhưng có thể ở nơi khác nó có thể bị tẩy chay
vì không phù hợp với phong tục tín ngưỡng của họ
Việc trước khi thâm nhập vào thị trường mới là doanh nghiệp cần thựchiện tốt công tác nghiên cứu dự báo thị trường Công việc này nhằm mục đích
để xác định được thói quen phong tục tập quán sinh hoạt, tiêu dùng và tínngưỡng ở nơi doanh nghiệp muốn đưa hàng hoá xâm nhập
Trang 27 Nhân tố khách hàng:
Một doanh nghiệp bất kỳ nào đều cần phải có khách hàng Khách hàngquyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, khách hàng chính làcâu hỏi phải trả lời “ Sản xuất cho ai?” mà các doanh nghiệp phải xác địnhtrước khi bước vào sản xuất
Thứ hai, sản phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng khi nó thoả mãn đượcnhu cầu của một thị trường nhất định Do vậy, sự tồn tại của sản phẩm do nhucầu thị trường quyết định
- Trình độ sản xuất:
Trình độ sản xuất càng cao thì tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng sản phẩmcàng cao và càng đòi hỏi công tác quản lý chất lượng sản phẩm phải cải tiếnliên tục để phù hợp sự phát triển của trình độ sản xuất Khi muốn xâm nhập vàomột thị trường, doanh nghiệp phải tìm hiểu các tiêu chuẩn về chất lượng sảnphẩm ( hay là đánh giá được trình độ sản xuất của nước đó) như thế nào để cóhiệu quả nhất
Ngày nay, khoa học kỹ thuật càng phát triển mạnh thì trình độ sản xuất càngnâng cao, nên doanh nghiệp phải luôn luôn nắm bắt và đổi mới chất lượng sảnphẩm cũng như cách thức quản lý chất lượng sản phẩm để phù hợp hơn vớithực tiễn
- Chính sách kinh tế - xã hội:Chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởngkhông nhỏ tới hoạt động sản xuất - kinh doanh và chất lượng sản phẩm củadoanh nghiệp Chính sách hợp lý sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đầu tưđổi mới công nghệ sản xuất, trang thiết bị máy móc không ngừng cải tiến chấtlượng sản phẩm,công tác quản lý Và chính sách kinh tế - xã hội ổn định tácđộng tốt tới tâm lý tiêu dùng của khách hàng và tâm lý yên tâm lao động sảnxuất của người lao động
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật:
Trang 28Ngày nay, phát triển của khoa học kỹ thuật như vũ bão, đồng thời việc ápdụng thành quả của khoa học công nghệ vào thực tế sản xuất, tiêu dùng cũngrất nhanh chóng Có nhà kinh doanh đã thừa nhận rằng sản phẩm ngày hôm naycủa họ sản xuất ra cách đây năm năm là chưa nghĩ tới Đồng thời với việc này
là chất lượng sản phẩm cũng sẽ phải thay đổi để phù hợp
Doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp là do khách hàng mang lạithông qua mua bán trao đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần chú trọng trong quan hệvới khách hàng Để ổn định được sản xuất doanh nghiệp cần có các khách hàngtruyền thống để mở rộng sản xuất kinh doanh
Nhân tố môi trường cảnh quan:
Môi trường cảnh quan ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm bởi điều kiệnkhí hậu, điều kiện tự nhiên mưa, nắng, độ ẩm…tại nơi sản xuất bảo quảnnguyên vật liệu và sản phẩm Doanh nghiệp có thể chủ động phòng ngừa ảnhhưởng này thông qua việc thực hiện tốt các công tác quản lý chất lượng sảnphẩm ở khâu bảo quản, vệ sinh công nghiệp
Các nhân tố của môi trường bên ngoài này là khách quan nên doanhnghiệp không thể tự ý thay đổi được, mà cần phải thích nghi với nó
1.2.3 Các phương thức quản lý chất lượng sản phẩm
1.2.3.1 Kiểm tra chất lượng (Inspection)
Kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡmột hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quảvới yêu cầu nhằm xácđịnh sự phù hợp của mỗi đặc tính
Phương pháp này nhằm sàng lọc các sản phẩm không phù hợp với quyđịnh Là một sựphân loại sản phẩm đã được chếtạo, một cách xửlý "chuyện đãrồi" Phương pháp này rất phổ biến được sử dụng trong thời kỳ trước đây Đểkiểm tra người ta phải kiểm tra 100% sốlượng sản phẩm hay sửdụng một sốphương pháp kiểm tra theo xác xuất Đây là một phương pháp gây nhiều tốn
Trang 29kém và mất thời gian Quá trình kiểm tra không ảnh hưởng đến chất lượng vàchất lượng không được tạo dựng nên qua công tác kiểm tra.
1.2.3.2 Kiểm soát chất lƣợng (Quality Control - QC)
Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệpđược sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng
Để kiểm soát chất lượng, cần thiết phải kiểm soát được các yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Thực chất của kiểm soát chấtlượng là chủyếu nhằm vào quá trình sản xuất gồm các yếu tốsau :
+ Kiểm soát con nguời
- Được đào tạo,
- Có kỹ năng thực hiện,
- Được thông tin vềnhiệm vụ được giao, yêu cầu phải đạt được,
- Có đủ tài liệu, hướng dẫn cần thiết,
- Có đủ phương tiện, công cụvà các điều kiện làm việc,
+ Kiểm soát phương pháp và quá trình
- Lập quy trình, phương pháp thao tác, vận hành ,
- Theo dõi và kiểm soát quá trình,
+ Kiểm soát đầu vào
- Người cung ứng,
- Dữ liệu mua nguyên vật
liệu, + Kiểm soát thiết bị
- Phù hợp yêu cầu,
- Được bảo dưỡng, hiệu chỉnh,
+ Kiểm soát môi trường
- Môi trường làm việc
- Điều kiện an toàn
Derming đã đưa ra chu trình sau đây, gọi là chu trình Derming, hay vòng
Trang 30tròn PDCA áp dụng cho mọi hoạt động kiểm soát chất lượng
Lập kế hoạch ( Plan )
Kiểm tra ( Check )
Hình 3 Chu trình Deming
1.2.3.3 Đảm bảo chất lƣợng (Quality Assurance- QA)
Đảm bảo chất lượng là mọi hành động có kế hoạch và có hệt hống, vàđược khẳng định nếu cần, để đem lại lòng tin thoả đáng rằng sản phẩm thoảmãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng
Nội dung cơ bản của hoạt động đảm bảo chất lượng là doanh nghiệp phảixây dựng một hệthống đảm bảo chất lượng có hiệu lực và và hiệu quả, đồngthời làm thếnào để chứng tỏ cho khách hàng biết điều đó
Trong những năm gần dây, đểcó một chuẩn mực chung, được quốc tếchấp nhận cho hệ thống đảm bảo chất lượng, tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tếISO đã xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn ISO 9000 để giúp cho các nhàcung cấp có được một mô hình chung về đảm bảo chất lượng, đồng thời cũng làmột chuẩn mực chung để dựa vào đó khách hàng hay tổ chức trung gian tiếnhành xem xét đánh giá Có thể nói, chỉ đến khi ra đời bộtiêu chuẩn này thì mới
có cơ sở để tạo niềm tin khách quan đối với chất lượng sản phẩm
1.2.3.4 Kiểm soát chất lƣợng toàn diện (Total Quality Control - TQC)
Trang 31Sau khi lý luận và các kỹthuật kiểm tra chất lượng ra đời, các phươngpháp thống kê đã đạt được những kết quả to lớn trong việc xác định và loại bỏcác nguyên nhân gây biến động trong các quá trình sản xuất, chỉrõ được mốiquan hệ nhân quả giữa điều kiện sản xuất và chất lượng sản phẩm, cải thiệnhiệu quảvà độ chuẩn xác của hoạt động kiểm tra bằng cách đưa vào áp dụngkiểm tra lấy mẫu thay cho việc kiểm tra 100% sản phẩm Việc áp dụng các kỹthuật kiểm soát chất lượng thống kê đã được áp dụng và đã mang lại nhữnghiệu quả nhất định Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu của quản lý chất lượng làthoả mãn người tiêu dùng thì đó chưa phải là điều kiện đủ Nó đòi hỏi khôngchỉ áp dụng các phương pháp này vào quá trình sản xuất, mà còn áp dụng chocác quá trình xảy ra trước và sau quá trình sản xuất như khảo sát thịtrường, thiết
kế, lập kế hoạch, mua hàng, đóng gói, lưu kho vận chưyển, phân phối và cácdịch vụtrong và sau bán hàng Khái niệm kiểm soát chất lượng toàn diện (TQC)
ra đời tại Nhật bản Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệthống có hiệu quả,huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong công ty vào các quá trình có liên quanđến duy trì và cải tiến chất lượng Điều này sẽ giúp tiết kiệm trong sản xuất vàdịch vụ đồng thời thoả mãn nhu cầu khách hàng
Theo định nghĩa của Uỷban Giải thưởng Derming của Nhật, thì kiểm soátchất lượng toàn công ty được định nghĩa nhưsau:
“ Hoạt động thiết kế, sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cóchất lượng theo yêu cầu của khách hàng một cách kinh tế, dựa trên nguyên tắcđịnh hướng vào khách hàng và xem xét đầy đủ đến phúc lợi xã hội Nó đạtđược mục tiêu của công ty thông qua việc lặp lại một cách hiệu quảchu trìnhPDCA, bao gồm lập kếhoạch - thực hiện - kiểm tra - hành động điều chỉnh.Điều đó được thực hiện bằng cách làm cho toàn thể nhân viên thông hiểu và ápdụng tư tưởng và phương pháp thống kê đối với mọi hoạt động nhằm đảm bảochất lượng Các hoạt động này là một chuỗi công việc, bao gồm khảo sát,
Trang 32nghiên cứu, phát triển, thiết kế, thu mua, sản xuất, kiểm tra và marketing cùng với tất cảcác hoạt động khác cả bên trong và bên ngoài công ty.”
Theo định nghĩa trên, TQC tại Nhật Bản có hai đặc điểm cơ bản sau:
- Phạm vi các hoạt động kiểm soát chất lượng rất rộng lớn, không chỉ trong quá trình sản xuất, kiểm tra mà trong tất cảcác lĩnh vực
- Là sự tham gia của toàn bộnhân viên vào các hoạt động kiểm soát chất lượng và phụ trợ
TQC là một tư duy mới về quản lý, là một công cụ thường xuyên và làmột nền văn hoá trong công ty Chúng được xem xét đánh giá thường xuyên đểđảm bảo phù hợp với các yêu cầu đã định bằng cách đưa các yêu cầu của hệthống chất lượng vào các quá trình lập kếhoạch, các kết quả đánh giá hệ thốngđược lãnh đạo xem xét để tìm cơ hội cải tiến
1.2.3.5 Quản lý chất lƣợng toàn diện (Total Quality Management -TQM)
Các kỹ thuật quản lý mới ra đời đã góp phần nâng cao hoạt động quản lýchất lượng đã làm cơ sở cho lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện ra đời Cũng
có thể nói rằng quản lý chất lượng toàn diện là một sựcải biến và đẩy mạnh hơnhoạt động kiểm soát chất lượng toàn diện toàn công ty
TQM : Là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vàochất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thànhcông dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viêncủa công ty đó và của xã hội
Trong định nghĩa trên ta cần hiểu
- Thành viên là mọi nhân viên trong mọi đơn vị thuộc mọi cấp trong cơ cấu tổ chức,
- Vai trò lãnh đạo của cấp quản lý cao nhất và sự đào tạo huấn luyện cho mọi thành viên trong công ty là điều cốt yếu cho sự thành công
- Trong TQM khái niệm chất lượng liên quan đến việc đạt được mọi
Trang 33mục tiêu quản lý
- Lợi ích xã hội có nghĩa là thực hiện các yêu cầu mà xã hội đặt ra
Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương thức quản lý chất lượngtrước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cảitiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sựtham gia củamọi bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra
1.2.4 Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng sản phẩm.
1.2.4.1 Kiểm soát các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất.
Quá trình kiểm soát các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là các côngtác kiểm tra:
- Kiểm tra số lương, chất lượng nguyên vật liệu trước khi đưa vào sảnxuất
- Kiểm tra tình trạng thiết bị trước khi đưa vào sản xuất
- Kiểm tra quy trình sản xuất đối với từng chủng loại sản phẩm
1.2.4.2 Kiểm soát quá trình sản xuất.
Quá trình sản xuất là khâu biến chất lượng sản phẩm trên thiết kế thànhchất lượng sản phẩm thực tế Một thiết kế dù hoàn hảo đến đâu nếu sản xuấtlàm không đúng thì chất lượng sản phẩm cũng không đạt yêu cầu đặt ra Mụcđích của quản lý chất lượng sản phẩm ở khâu này là khai thác và huy động cóhiệu quả các quá trình công nghệ thiết bị và con người đã lựa chọn để sản xuấtsản phẩm phù hợp với thiết kế Các công việc cần tiến hành trong quản lý chấtlượng sản phẩm ở khâu này là:
- Cung cấp kịp thời đầy đủ nguyên vật liệu đúng, đủ về chất lượng, số lượng và đúng nơi cần
- Thiết lập và thực hiện các tiêu chuẩn quy trình, thủ tục mô tả việc thực hiện từng công việc
- Thực hiện kiểm tra chất lượng các chi tiết, bộ phận, bán thành phẩmcủa từng công đoạn Phát hiện sai sót ở mỗi giai đoạn, tìm ra nguyên nhân,khắc phục và loại bỏ các sai sót
Trang 34- Thường xuyên tiến hành kiểm tra, hiệu chỉnh các công cụ kiểm tra đolường chất lượng sản phẩm.
- Kiểm tra, bảo dưỡng dây chuyền công nghệ sản xuất, kiểm tra tình hình kỹ thuật công nghệ và trình độ tay nghề của người lao động
Ngoài ra quản lý chất lượng trong khâu này cũng cần quan tâm tới một
số chỉ tiêu sau:
- Thông số kỹ thuật của chi tiết, bộ phận bán thành phẩm
- Các chỉ tiêu về công tác quản lý chất lượng sản phẩm
- Các chỉ tiêu và tổn thất do sai lầm, vi phạm kỷ luật lao động, quy trình công nghệ
- Các chỉ tiêu tỷ lệ sai hỏng sản phẩm, phẩm cấp bình quân
1.2.4.3 Kiểm soát chất lƣợng sản phẩm nhập kho.
Kiểm tra chất lượng sản phẩm đã hoàn chỉnh trước khi nhập kho, kiểmtra xác suất những sản phẩm đã nhập kho và trước khi giao hàng theo hợp đồng
đã kí kết
1.2.4.4 Thực hiện không ngừng cải tiến chất lƣợng sản phẩm.
Định kỳ thu thập các các số liệu liên quan tới:
Được tổng hợp, phân tích, nếu cần thiết sẽ sử dụng các kỹ thuật thống kê,
từ đó đưa ra các biện pháp cải tiến chất lượng sản phẩm, phát triển sản phẩmmới
1.3 Một số mô hình quản lý chất lƣợng.
1.3.1 Quản lý chất lƣợng theo ISO-9000
1.3.1.1.Giới thiệu sơ lƣợc về hệ thống quản lý chất lƣợng ISO 9000:2000
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) ban
29
Trang 35hành lần đầu năm 1987, soát xét lần 1 năm 1994, lần hai với phiên bản hiệnhành công bố ngày 14/12/2000 Đây là bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng,quy tụ kinh nghiệm quốc tế và được nhiều quốc gia áp dụng.
1.3.1.2 Kết cấu của bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000
- Các yêu cầu của hệ thống đảm bảo chất lượng
ISO 9001 – 1994: Hệ thống chất lượng – Mô hình để đảm bảo chấtlượng trong thiết kế, triển khai, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ
ISO 9002 – 1994: Hệ thống chất lượng – Mô hình để đảm bảo chấtlượng trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ
ISO 9003 – 1994: Hệ thống chất lượng – Mô hình để đảm bảo chấtlượng trong kiểm tra và thiết kế cuối cùng
- Các hướng dẫn chung về chất lượng
ISO 9000-1: 1994: Quản lý chất lượng và các tiêu chuẩn và các tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng - Phần 1: Hướng dẫn lựa chọn và sử dụng
ISO 9000-2: 1997: Quản lý chất lượng và các tiêu chuẩn về đảmbảo chất lượng - Phần 2: Hướng dẫn chung việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001,
ISO 9000-3: 1997: Quản lý chất lượng và các tiêu chuẩn về đảmbảo chất lượng - Phần 3: Hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001 trong việcphát triển, cung cấp và duy trì phần mềm
ISO 9000-4: 1997: Quản lý chất lượng và các tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng - Phần 4: Hướng dẫn quản lý chương trình về độ tin cậy
- Hướng dẫn chung về quản lý chất lượng
ISO 9004-1: 1994: Quản lý chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất lượng - Phần 1: Hướng dẫn
ISO 9004-2 :1994: Quản lý chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất lượng - Phần 2: Hướng dẫn cho dịch vụ
30
Trang 36 ISO 9004-3: 1993: Quản lý chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất lượng - Phần 3: Hướng dẫn cho vật liệu chế biến.
ISO 9004-4: 1993: Quản lý chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất lượng - Phần 4: Hướng dẫn cải tiến chất lượng
Ngoài ra còn có các tài liệu liên quan hướng dẫn áp dụng cụ thể củaquản lý chất lượng : thuật ngữ ISO 8402:1994, đánh giá chất lượng ISO 10011-1:1990, ISO 10011-1:1991, ISO 10011-3:1991
-ISO 9001/2/3- 1994 nhập thành ISO 9001:2000
- ISO 9000-2000 thay thế cho ISO 9402 và ISO 9000-1
- ISO 9040-2000 thay thế cho ISO 9004-1
- ISO 10011 thay thế cho ISO 10011-1/2/3
- Toàn bộ ISO 9000 sẽ rút lại còn từ 4 đến 6 tiêu chuẩn Các tiêuchuẩn khác trong toàn bộ ISO 9000 hiện nay sẽ được chuyển thành báo cáo kỹthuật hay huỷ bỏ tuỳ theo nội dung của tiêu chuẩn
1.3.1.3 Lợi ích của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng ISO 9000:2000
- Đối với công ty:
Sản phẩm có chất lượng ổn định hơn, giảm phế phẩm trong sảnxuất
Tiết kiệm chi phí, do giảm chi phí hỏng hóc nội bộ và ở bên ngoài
Đảm bảo tiến độ sản xuất, do không bị động trong việc xử lý sản phẩm và bán thành phẩm không phù hợp
Cải tiến chất lượng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm
Có lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu vì được khách hàng tin
tưởng
Có vị thế trên thị trường, vì có thể sử dụng ISO 9000 trongMarketing
31
Trang 37 Thường xuyên nâng cao hiệu quả, cải tiến liên tục hệ thống quản
lý chất lượng sản phẩm phù hợp với tình hình mới
Tạo bầu không khí vui vẻ, hăng say lao động trong nhân viên Công ty, từ đó tạo ra năng suất lao động cao hơn và ổn định
- Đối với nhân viên của công ty:
Hiểu biết rõ hơn vai trò trách nhiệm của mình trong công ty
Biết rõ mục tiêu, yêu cầu công việc của mình nên chủ động hơn.
Biết rõ mục tiêu và kế hoạch của công ty, từ đó ý thức được tráchnhiệm của mình đối với việc hoàn thành mục tiêu và kế hoạch chung của côngty
Xây dựng một nề nếp, không khí làm việc tốt, một nền “ văn hoá chất lượng”, giảm trách cứ, đổ lỗi cho nhau về việc gây ra sai lầm
Nhân viên mới có điều kiện đào tạo, huấn luyện tốt hơn, vì kỹ năng đã trở thành tài sản chung, chi tiết hoá trong các tài liệu
1.3.2 Mô hình quản lý chất lƣợng theo TQM.
TQM (Total Quality Management): là phương pháp quản lý của một tổchức - doanh nghiệp, định hướng vào chất lượng dựa trên sự tham ra của mọithành viên nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự cải tiến khôngngừng của chất lượng nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng và lợi ích của mọithành viên của công ty cũng như tham ra vào lợi ích cho xã hội
Mục tiêu của TQM là không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm để thoảmãn ở mức cao nhất cho phép nhu cầu của khách hàng
Trang 384- Sự quản lý phải dựa trên tinh thần nhân văn
5- Quá trình sau là khách hàng của quá trình trước
6- Tính đồng bộ trong quản lý chất lượng
7- Quản lý theo chức năng và hội đồng chức năng
Hệ thống thiết kế và nội dung hệ thống tư liệu đánh giá
Công cụ kỹ thuật để đạt chất lượng
Một vài kỹ thuật bổ sung khi thiết kế,duy trì và thực hiện giá thành
Thay đổi nhận thức nhờ vào nhóm chất lượng
Truyền thống về chất lượng Đào tạo về chất lượng
Thực hiện TQM
1.4 Một số phương pháp và kỹ thuật quản lý chất lượng
1.4.1 7 công cụ đểgiải quyết vấn đề chất lượng
Không một hoạt động nào, dù quản lý tốt đến đâu, bất cứlúc nào cũng
có thể xảy ra nhiều vấn đề cần giải quyết Kỹ thuật giải quyết vấn đề đã đượccác nhà quản lý quan tâm Nói chung, khi với một vấn đề chất lượng nảy sinh,cần giải quyết theo các bước sau :
1/ Xác định rõ vấn đề
- Chỉ rõ tính cấp thiết của vấn đềcần giải quyết
- Nêu ra những vấn đềtài và mục tiêu, khi cần thiết
- Cửngười chịu trách nhiệm chính giải quyết vấn đề
33
Trang 39- Kinh phí hoạt động
- Lên kế hoạch chương trình cải tiến
2/ Quan sát: Khảo sát vấn đề từ những góc độ khác nhau
- Điều tra cụ thể về thời gian, địa điểm, dạng vấn đề, triệu chứng
- Điều tra từ nhiều góc độ (quan điểm) khác nhau
- Xuống hiện trường thu thập số liệu cần thiết
3/ Phân tích
- Nêu giảthuyết (chọn những nguyên nhân chủyếu)
+ Vẽbiểu đồ nhân quả(cần nêu ra hết nguyên nhân có thể liên quan đếnvấn đề ) - thu thập kiến thức về nguyên nhân chính
+ Sử dụng các thông tin thu được qua điều tra và loại những thông tin không liên quan
+ Đánh dấu trên bản đồ những yếu tốcó thểlà nguyên nhân chính
- Xem xét giả thuyết (tìm ra nguyên nhân chính)
+ Từ những yếu tố có thể là nguyên nhân chính cần đi sâu tìm hiểu điều tra thêm qua thửnghiệm
+ Quyết định xem cái gì là nguyên nhân chính
4./ Hành động
- Cần phân biệt rõ ràng giữa hành động đểcứu chữa (xử lý triệu chứng)
và hành động để loại bỏ nguyên nhân sâu sa (khắc phục)
- Phải đảm bảo hành động khắc phục không làm nảy sinh những vấn
đề khác Nếu chúng lại phải xảy ra thì lại phải có hành động khắc phục
5./ Khẳng định hiệu quả
- So sánh các biều đồtrước và sau khi xảy ra sựcố
- Chuyển đổi hiệu quảthành tiền và so sánh với mục tiêu
- Nếu còn có hiệu quảgì nữa, dù xấu hay tốt cũng liệt kê ra
6./ Tiêu chuẩn hoá
Trang 40Hoạt động tiêu chuẩn hoá nhằm duy trì giải pháp đã đạt được, đảm bảo vấn đề đã ngăn ngừa sẽ không tái diễn.
- Cần có sự chuẩn bịcần thiết đểtiêu chuẩn hoá những giải pháp đã đựơc khẳng định là có hiệu quả;
- Khi xây dựng thành hiệu quy định, chủtrọng trảlời các câu hỏi: ai đang làm gì, khi nào, ở đâu, phương tiện gì, làm như thế nào?
- Chú trọng đào tạo huấn luyện;
- Phân công trách nhiệm rõ ràng
7./ Xem xét vấn đềcòn tồn tại, đánh giá kết quả
Xem xét thủtục giải quyết vấn đềvà lập kếhoạch cho công việc tươnglai
- Xem xét những vấn đề còn lại
- Lập kế hoạch đểgiải quyết những vấn đề đó
- Suy nghĩ về những cái hay, cái dở trong hoạt động cải tiến
1.4.2 Tấn công não
“Tấn công não" (Brainstorrming) thường được sử dụng trong "giảiquyết vấn đề” và là một công cụthường được sửdụng trong sinh hoạt nhómchất lượng “Tấn công não" là một cách để tạo lập được càng nhiều ý tưởngcàng tốt Nó là một hình thức thảo luận tự do về những ý tưởng hoặc nhữngquan niệm liên quan một vấn đề cụ thể nào đó nhằm bật ra sự suy nghĩ sángtạo
Tư tưởng của “tấn công não" là:
- Một người thường bịhạn chế về ý tưởng, một nhóm thì tạo được nhiều ý tưởng hơn;
- Ý tưởng của người này có thể được xây dựng dựa trên ý tưởng ngườikhác;
- Khi có nhiều người trao đổi càng có nhiều ý tưởng sáng tạo