tham gia và có đưa ra ví dụ tính cụ thể giá trị gia tăng đạt được trong khâu cắt& may gia công sản xuất của Công ty cổ phần – tổng công ty may Bắc Giang.Đây cũng là công đoạn mà hầu hết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-VŨ THỊ THU
NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA
SẢN PHẨM DỆT MAY VIỆT NAM
TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60310106
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VIỆT KHÔI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, khôngsao chép của ai Trong nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu,sách báo, thông tin đƣợc đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theodanh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướngdẫn - PGS.TS Nguyễn Việt Khôi cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế vàKinh doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Tác giả cũng xin trântrọng cảm ơn Bộ phận sau đại học, phòng đào tạo, các anh/chị chuyên viên vănphòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo CTCP – Tổng công ty May BắcGiang, cảm ơn tất cả các bạn bè, anh chị em đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡnhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc chắn không thểtránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của cácthầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT……….………i
DANH MỤC BẢNG……… … …ii
DANH MỤC HÌNH……… … iii
MỞĐẦ U …… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài……….4
5 Kết cấu của đềtài 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Giá trị gia tăng 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Cách tính 9
1.3 Lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị ngành dệt may 9
1.3.1 Chuỗi giátri ̣ 9
1.3.2 Chuỗi giátri ngạ̀nh dêṭmay 13
1.4 Bản chất và các giai đoạn/mắt xich́ trong chuỗi giátri ngạ̀nh dêṭmay 18
1.4.1 Bản chất của chuỗi giá trị 18
1.4.2 Các giai đoạn/mắt xich́ trong chuỗi giátri ngạ̀nh dêṭmay 21
1.5 Kinh nghiệm tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Hàn Quốc 30
1.5.1 Quá trình tham gia chuỗi giá trị dệt may của Hàn Quốc 30
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
2.1 Phương pháp nghiên cứu 36
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 36
2.1.2 Phương pháp phân tích SWOT 37
2.1.3 Phương pháp kế thừa 37
2.1.4 Phương pháp so sánh 38
2.1.5 Phương pháp tính giá trị gia tăng 39
2.1.6 Phương pháp phỏng vấn sâu 39
2.2 Thiết kếnghiên cứu 39
2.2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 39
2.2.2 Khung khổ phân tích 40
Chương 3 NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU… 42
3.1 Thực trạng tham gia của ngành dệt may Việt Nam vào các giai đoạn của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 42
3.1.1 Khâu thiết kế sản phẩm 42
3.1.2 Cung cấp bông, xơ vàsơị 43
3.1.3 Các doanh nghiệp dệt, nhuôṃ vàhoàn tất 45
3.1.4 Các doanh nghiệp cắt may 47
3.1.5 Hoạt động xuất khẩu, marketing vàphân phối 50
3.2 Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần – Tổng công ty may Bắc Giang 512 3.2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần – Tổng công ty may Bắc Giang 52
3.2.2 Phân tích giá trị gia tăng trong khâu sản xuất gia công qua hai dòng sản phẩm chính – áo Jacket và quần 56
Trang 73.3.1 Phân tích SWOT ngành dệt may Việt Nam 61
3.3.2 Một số nhận xét, đánh giá 64
Chương 4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY VIỆT NAM 66
4.1 Chuyển đổi phương thức sản xuất CMT sang FOB, ODM, OBM 66
4.2 Đầu tư cho khâu thiết kế sản phẩm và xuất nhập khẩu 67
4.3 Hoàn thiện mạng lưới marketing và phân phối 68
4.4 Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ 68
4.5 Đầu tư vào máy móc 69
4.6 Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao………70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10ii
Trang 12iii
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều năm trởlaịđây , dệt may luôn là một trong những ngành xuấtkhẩu chiếm ty trong̣ lớn nhất trong cac măṭhang xuất khẩu cua Việt Nam
̉̉
nhiên, giá trị gia tăng cua cac
dêṭmay ViêṭNam co rất nhiều cơ hôịđểphat triển trong bối canh mơ rông̣
thương maịva hơp̣ tac như hiêṇ nay , đăc̣ biêṭsau khi TPP đươc̣ ky kết Ngoài ra,
n Đô,̣ Thái Lan Khâu gia công cắt may đươc̣ thưc̣ h iêṇ
tại một số nước có nguồn lao động dồi dào và rẻ như Trung Quốc , Campuchia và ViêṭNam Sau khi hoàn thiêṇ, sản phẩm lại được phân phối ra thị trường bởi các
công ty thương maịco tiếng Trong chuỗi gia tri ̣nay , các khâu mang lại giá trị
̉́
gia tăng hay lơị nhuâṇ cao la thiết kếva phân phối san phẩm
̉̀
phẩm chỉmang laịgiátri ̣gia tăng rất thấp trong khi
may của Viêṭ Nam tham gia vào khâu này và s ản phẩm dệt may Việt Nam đượcxuất đi nhiều nơi trên thếgiới nhưng giátri thụ vềrất nhỏ
Vì vậy, viêc̣ tim̀ ra nhưững nguyên nhân khiến cho giátri giạ tăng của các sản phẩ m dêṭmay ViêṭNam còn thấp vàgiải pháp đểphát triển các sản phẩm cũng như nâng cao giá trị gia tăng sẽ mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 14Đa ữcórất nhiều c ông trinh̀ nghiên cứu xung quanh vấn đềnày Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa vàhôịnhâp̣ kinh tếquốc tếhiêṇ nay , môi trường kinh doanh luôn biến đông̣ vàcác cơ hôịcho phát triển tất cảcác ngành nói chung cũng như ngành dệt may nói riêng cũn g luôn cósư ̣thay đổi Do vậy, viêc̣ tiếp tuc̣
nghiên cứu vềvi trị́của các sản phẩm dêṭmay ViêṭNam đểđưa ra đươc̣ nhưững giải pháp nhằm nâng cao vi trị́đótrong chuỗi giátri toạ̀n cầu làrất cần thiết
Đểđưa ra đươc̣ môṭsốgơị ýgiải pháp giúp nâng cao giátri giạ tăng của cácsản phẩm dêṭmay ViêṭNam trong chuỗi giá trị toàn cầu, đề tài sẽ nghiên cứu vàtrả lời các câu hỏi sau:
- Việt Nam đã tham gia vào từng công đoạn trong chuỗi giá trị của dệt may như thế nào?
- Nguyên nhân khiến cho giátri giạ tăng đạt được còn thấp?
-Nhưững giải pháp nào cóthểgiúp các sản phẩm dêṭmay ViêṭNam nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 15Để thực hiện đƣợc mục đích và trả lời đƣợc cho các câu hỏi nghiên cứu, nhiệm
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và mức độ tham gia vào từng khâu tạo giá trị gia tăng trong chuỗi của dệt may Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Vềkhông gian : Nghiên cƣ́u về các doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việ t Nam
- Vềthời gian: Tƣ̀ khi ViêṭNam gia nhâp̣ WTO (2007) đến 2015
Do giới hạn về thời gian, không thu thập đƣợc đầy đủ dữ liệu và giới hạn về trình
độ nên trong luận văn này, tác giả sẽ không tính trực tiếp giá trị gia tăng qua từngcông đoạn trong chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam đạt đƣợc mà đi sâu vào phântích việc Việt Nam đã tham gia nhƣ thế nào vào từng công đoạn (mức độ
Trang 16tham gia) và có đưa ra ví dụ tính cụ thể giá trị gia tăng đạt được trong khâu cắt
& may (gia công sản xuất) của Công ty cổ phần – tổng công ty may Bắc Giang.Đây cũng là công đoạn mà hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham giavào chuỗi giá trị toàn cầu
4 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài.
- Dựa vào lý luận về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị ngành dệt may nói riêng, phân tích và làm rõ vị trí của sản phẩm dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
-Đánh giá thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam hiện nay
Từ đó rút ra một số nguyên nhân dẫn đến giá trị gia tăng đạt được còn thấp và đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm dệt may ViệtNam
- Đưa ra ví dụ minh họa về giá trị gia tăng đạt được trong khâu cắt & may – Trường hợp Công ty cổ phần, tổng công ty may Bắc Giang
5 Kết cấu của đềtài
Ngoài phần Mởđầu, Kết luâṇ vàTài liêụ tham khảo, đề tài gồm các chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học
Chương 2: Phương pháp vàthiết kếnghiên cứu
Chương 3: Đánh giá khả năng nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm dêṭmay ViêṭNam trong chuỗi giátri toàṇ cầu
Chương 4: Đềxuất môṭsốgiải pháp nhằm nâng cao giátri giạ tăng của sản phẩm dêṭmay ViêṭNam
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chuỗi giá trị xuất khẩungành dệt may, có thể kể đến một số công trình như sau:
- “Báo cáo ngành dệt may” của tác giảBùi Văn Tốt: Báo cáo đã đề cập khá đầy
đủ về ngành dệt may trên Thế giới nói chung cũng như ngành dệt may ở ViệtNam nói riêng và chuỗi giá trị ngành dệt may Ngoài ra có đề cập đến tình hìnhsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng như một sốhiệp định, chính sách có liên quan và những ảnh hưởng đến ngành dệt may Việt
- “Tóm tắt nghiên cứu chính sách chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam” của 2
tác giả Đặng Thị Tuyết Nhung và Đinh Công Khải Bài nghiên cứu đề cập đếnchuỗi giá trị dệt may toàn cầu và vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗigiá trị đó về hoạt động sản xuất nguyên phu ̣liêụ đầu vào , cắt may, marketing vàphân phối Từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách cho ngành dệt may Việt
- Bài “phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam” của PGS.TS Hà Văn
Hội, đăng trên Tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, Kinh tếvàKinh doanh 28 (năm
2012), trang 49 - 59 Bài viết chỉ ra các giai đoạn cụ thể của chuỗi giá trị dệt maytoàn cầu, phân tích các doanh nghiệp Việt Nam và chỉ ra những nguyên nhân làmcho giá trị gia tăng của ngành dệt may Việt Nam còn thấp trong chuỗi giá trị toàncầu
- Báo cáo “Năng lưcc̣ hôị nhâpc̣ kinh tếquốc tếngành dêṭmay , thời trang theo điạ
phương” của Ban quản lý dự án “Xây dựng năng lực quản lý và điều phối
Trang 18hôịnhâp̣ kinh tếquốc tế” do Văn phòng ủy b an quốc gia vềhơp̣ tác kinh tếquốc
tếchủtrì Báo cáo đề cập đến tổng quan ngành dệt may Việt Nam về quá trình pháttriển, cấu trúc sản xuất , sư ̣tăng trưởng vàphát triển xuất khẩu…Ngoài ra , báo cáo cũng đề cập đến năng lưc̣ hôịnhâp̣ của ngành thời trang ViêṭNam trong chuỗigiátri toạ̀n cầu, từ đóđềxuất môṭsốgiải pháp nhằm tái cấu trúc ngành dêṭ may ViêṭNam
- Bài nghiên cứu “Tiếp câṇ chuôĩ giá tri c̣cho viêcc̣ nâng cấp ngành d ệt may
Việt
Nam” của nhóm tác giả Trương Hồng Trình , Nguyêñ Thi Bịch́ Thu , Nguyêñ
Thanh Liêm đăng trên Tap̣ chíkhoa hoc̣ vàcông nghê ̣– Đaịhoc̣ ĐàNẵng – Số2(37) 2010 Bài viết giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản xuất và thươngmại của ngành dệt may trên thế giới , phân tích và xác định chiến lược nâng cấpngành dêṭmay ViêṭNam chinh́ là sự dịch chuyển từ sản xuất gia công sang cácphương thưc san xuất cao hơn : OEM và OBM Tư đo, bài viết đề xuất các chính
̉́
sách nhằm hỗ trợ viêc̣ chuyển đổi tư phương thưc san xuất thấp
phương thưc san xuất cao đểmang laịnhiều gia tri ̣hơn
̉́
- Bài nghiên cứu “Chuôĩ giá tri c̣hàng may măcc̣ toàn cầu : Triển vongc̣ nâng cấp
của các nước đang phát triển là gì?” của hai tác giả Gary Gereffi , Phòng Xã hội
học, Đại học Duke , hợp tác với cán bộ UNIDO Olga Memedovic , từ Chi nhánhKinh tế và nghiên cứu chiến lược (biên dicḥ : Kim Chi , hiêụ đinh́ : Đinh CôngKhải) Bài viết tập trung vào phân tích chuỗi giá trị, đăc̣ biêṭlàchuỗi giátri dọ khách hàng điều phối mà ví dụ điển hình là chuỗi giá trị trong ngành dệt may Từđócũng làm rõvai tròcủa từng khách hàng lớn (nhà bán lẻ, nhà tiếp thị, nhà sản xuất) trong viêc̣ xây dưng̣ mang̣ lưới gia công toàn cầu của ngành may măc̣ Cáctác giả còn nghiên cứu về sự tiến hoá và nâng cấp các mạng lưới gia công ngành may măc̣ ởchâu Á, từ đórút ra kinh nghiêṃ của châu Áđối với Bắc MỹvàChâu
Âu Cuối cùng, các tác giả đã trình bày kết luận về các phương án nâng cấp trongngành may mặc toàn cầu
Trang 19- Bài phân tích “Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: Những bất lợi,
khó khăn và biện pháp đối phó” của PGS TS HàVăn Hôi,̣ đăng trên Tạp chí
Khoa học ĐHQG Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh 28 (2012), trang 241-251.Giống như cái tên của bài viết , tác giả đã phân tích về những khó khăn , bất lơị của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị xuất khẩu ng ành dệt may ở từng công đoaṇ Từ đócũng đưa ra gơị ýmôṭsốbiêṇ pháp nhằm gia tăng giátri trong̣ chuỗi giátri dệṭmay xuất khẩu
- Luâṇ văn thac̣ si ữkinh tế“Chuôĩ giá tri c̣dêṭmay toàn cầu và khảnăng tham gia
của ngành dêṭmay ViêṭNam” của tác giả Lương Thị Linh , trường ĐH Kinh tế–
ĐHQG HàNôị(2012) Trong bài, tác giả nêu cơ sở lý luận và thực tiễn của việctham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Đánh giá việc tham gia chuỗi giá trị dệtmay toàn cầu của Việt Nam hiện nay Từ đó, xây dựng một số giải pháp để Việt Nam tham gia có hiệu quả hơn nưữa vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
- Công trình nghiên cứu “Tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều
kiện thực thi các cam kết WTO: Trường hợp ngành nông nghiệp Việt Nam” của
tác giả Bùi Đức Tuân Bài viết đã khái quát lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu,tầm quan trọng của việc tham gia vào chuỗi Tác giả phân tích, xác định những
cơ hội, thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi
Ngoài ra, qua việc nghiên cứu cụ thể trường hợp ngành nông nghiệp Việt Nam,tác giả đề xuất một số kiến nghị, chính sách và định hướng một số giải pháp chocác doanh nghiệp nhằm tiến xa hơn và đạt được hiệu quả hơn trong chuỗi giá trịtoàn cầu
- Bài phân tích “cách tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm nâng cao năng lực
xuất khẩu” của tác giả Đinh Công Khải trong chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright Trong bài viết này, tác giả đã nêu khái quát lý thuyết về chuỗi giá trị,giải thích tại sao phải phân tích chuỗi giá trị và đưa ra hướng phân tích chuỗi giátrị Ngoài ra, tác giả có đưa ra ví dụ minh họa bằng việc phân tích chuỗi giá trị
Trang 20ngành dệt may Việt Nam Từ đó cũng nêu lên một số gợi ý chính sách cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để tham gia hiệu quả hơn trong chuỗi giá trị.
Tưụ chung laị, các nghiên cứu trên đều xoay quanh các vấn đề về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu cũng như vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗigiá trị đó Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên thường chủ yếu tập trung vào góc độ lý thuyết Một số công trình có phân tích về chuỗi giá trị nhưng chưa
đi sâu vào từng công đoạn cụ thể Một số công trình có nghiên cứu về chuỗi giá trị song không phải trong lĩnh vực dệt may mà liên quan đến một số lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, điện tử Các công trình trên đều là những nguồn tài liệu rất hữu ích cho việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chuỗi giá trị Tuy nhiên, các bài viết, công trình trên chưa tổng hợp, phân tích đầy đủ, toàndiện về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu cũng như dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị đó Bên cạnh đó, các công trình này do thời gian nghiên cứu đã cách đây một vài năm nên số liệu chưa được thống kê đầy đủ so với thời điểm hiện tại Ngoài ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, sự thay đổi trong từng lĩnh vực nói riêng và trong cả nền kinh
tế của các quốc gia nói chung đều có thể diễn ra rất nhanh chóng, trong khoảng thời gian ngắn Đặc biệt, sau khi TPP được ký kết, ngành dệt may có rất nhiều
cơ hội cũng như phải đối phó với nhiều thách thức mới Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn nữa về ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu là hết sức cần thiết
1.2 Giá trị gia tăng
1.2.1 Khái niệm
Giá trị tăng thêm (giá trị gia tăng) là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ tạo ra từquá trình sản xuất trong một ngành kinh tế
Trang 211.2.2 Cách tính.
Giá trị tăng thêm là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, được tínhtheo công thức:
Giá trị tăng thêm (VA) = Giá trị sản xuất (GO) – Chi phí trung gian (IC)
IC luôn được tính theo giá người mua, GO được tính theo giá cơ bản hoặc giángười sản xuất, GO được tính theo giá nào thì VA được tính theo giá đó
Theo đó: VA cơ bản = GO cơ bản – IC
Giá trị tăng thêm theo giá cơ bản bao gồm tất cả các loại trợ cấp (trợ cấp sảnphẩm và trợ cấp sản xuất khác) nhưng không bao gồm tất cả các loại thuế sảnphẩm
1.3 Lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi giátri ngạạ̀nh dêṭmay
1.3.1 Chuỗi giá tri
Có nhiều khái niệm khác nhau về chuỗi giá trị đã được các nhà nghiên cứu đưa ra Trong đó, khái niệm đầu tiên được đưa ra bởi Michael Porter vào năm
1985 trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior
Performance” Theo Michael Porter, chuỗi giá trị được ông định nghĩa là: “Tổng
thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi”.
Theo tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của Kaplinsky (2000), chuỗi giá trị
bao gồm các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch
vụ kể từ giai đoạn nghiên cứu sáng chế, qua các giai đoạn khác nhau của quá
Trang 22trình sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng như khâu xử lý rác thải sau khi sử dụng.
Tuy cónhiều đinḥ nghiã khác nhau nhưng ta có hiểu môṭcách đơn giản về chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng
Theo nghiã hep̣ : Môṭchuỗi giátri gồṃ môṭloaṭcác hoaṭđông̣ được thưc̣
hiêṇ trong môṭ công ty đểsản xuất ra môṭsản phẩm nhất đinḥ Các hoạt độngnày có thể bao gồm: giai đoaṇ xây dưng̣ khái niêṃ vàthiết kế, quá trình mua vật
tư, nguyên phụ liệu đầu vào, quá trình sản xuất, tiếp thi vạ̀phân phối , thưc̣ hiêṇcác dịch vụ hậu mãi…Tất cả các hoạt động này tạo ra một chuỗi liên kết giữanhà sản xuất và người tiêu dùng và mỗi hoạt động lại bổ sung thêm giá trị gia
tăng cho sản phẩm cuối cùng
Theo nghiã rông̣ : Chuỗi giátri ̣là một phức hợp những hoạt động do nhiều chủ thể tham gia khác nhau thưc̣ hiêṇ (người sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào , người lắp ráp, người cung ứng dicḥ vu ̣) để sản xuất ra bất cứ một hàng hoá
hay dịch vụ nào đó Quy trình sản xuất môṭsản phẩm vàdicḥ vu ̣theo môṭtrâṭtư
̣đầy đủcác hoaṭđông̣ taọ giátri giạ tăng cần thiết đểđưa sản phẩm chuyển từ khái niêṃ đến thiết kế, tìm kiếm nhà cung ứng, chếtaọ các bô ̣phâṇ linh kiêṇ, lắp ráp, khai thác thi trượ̀ng vàtiếp thi ̣, phân phối vàhỗtrơ ̣cho người tiêu dùng cuối cùng để tạo thành một chuỗi giá trị Có thể thấy, cách tiếp cận theo nghĩa rộng không chỉ dừng lại ở việc xem xét hoaṭđông̣ do môṭdoanh nghi ệp tiến hành mà xem xét tất cảcác mối liên kết giưữa các doanh nghiêp̣ trong vàngoài nước từ khi môṭsản phẩm đươc̣ sản xuất đến khi đươc̣ kết nối đến người tiêu dùng cuối cùng
Từ các khái niêṃ trên cho thấy , chuỗi giá trị là toàn bộ các hoạt động mà các công ty thưc̣ hiêṇ khi taọ ra môṭsản phẩm kểtừ khi nóbắt đầu đươc̣ phát
Trang 23minh đến khi đươc̣ bán ra thi trượ̀ng cũng như nhưững sản phẩm dicḥ vu ̣sau bán hàng có liên quan tới sản phẩm đó Nhưững hoaṭđông̣ trong chuỗi giátri ̣thường bao gồm : thiết kế, sản xuất (nguyên phụ liệu và thành phẩm), xuất khẩu,
marketing, phân phối vàcác dicḥ vu ̣cung cấp cho khách hàng cuối cùng Tổng hơp̣ của các hoaṭđông̣ này taọ nên môṭchuỗi giátri ̣Do đó, chuỗi giátri cọ́thểđươc̣ taọ ra bởi môṭcông ty vàcũng cóthểđươc̣ taọ ra bởi nhiều công ty khác nhau trên các quốc gia khác nhau tùy thuộc vào loại sản phẩm và lợi thế so sánh của từng công ty
Trong giai đoạn hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng đa ữ dâñ đến sư ̣ liên kết giưữa các doanh nghiêp̣ khôngchỉdừng lại trong phạm vi một quốc gia mà còn phát triển rộng ra nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ khác nhau Trong quá trình này, các chuỗi giá trị đã hìnhthành trước đó trong một quốc gia từng bước đã đươc̣ mở rộng ra khỏi biên giớiquốc gia đó, xâm nhập vào các quốc gia khác , tạo ra chuỗi giá trị rông̣ lớn hơn ,mang lại giá trị cao hơn hay nói cách khác là quy mô lớn hơn, có nhiều chủ thểtham gia hơn
Chúng ta có thể thấy rằng, trong nhưững năm trởlaịđây , một sản phẩm đượcsản xuất ra ở một hoăc̣ nhiều quốc gia nào đó, sau đó được xuất khẩu và tiêu thụ
ởnhững quốc gia khác đã tạo ra chuỗi các giá trị toàn cầu, trong đó có những giátrị được tạo ra ở nơi sản xuất và những giá trị tạo ra ở nơi tiêu thụ Nói cáchkhác, giá trị của một chuỗi sản phẩm xuất khẩu bao gồm cả giá trị ở nước sảnxuất và giá trị ở nước tiêu thụ cộng lại, giá trị đó được gọi là giá trị mang tínhtoàn cầu
Như vậy, có thể thấy bản chất của chuỗi giá trị toàn cầu là sự phát triển củanhững hoạt động sản xuất trực tiếp và những hoạt động có liên quan đến sảnxuất, phân phối một sản phẩm xuyên quốc gia, theo nhiều kênh và các phương
Trang 24thức khác nhau, với sự tham gia ngày càng nhiều các chủ thể ở các nước khácnhau, từ đó tạo ra sự đa dạng của các chuỗi giá trị và sự đa dạng cả về quy mô,
về giá trị cũng như số lượng chủ thể tham gia vào chuỗi
Dự án nghiên cứu kinh doanh quốc tế Việt Nam năm 2005 có đưa ra đinḥ
nghĩa về chuỗi giá trị toàn cầu như sau: Chuôĩ giá tri c̣toàn cầu là mangc̣ lưới toàn
cầu của các quá trình lao đôngc̣ sản xuất và kết quảcuối cùng là môṭ sản phẩm hoàn chỉnh được tiêu thụ Khái niệm về chuỗi giá trị trên cho thấy sự tương đồng
giưữa các khái niêṃ “chuỗi giátri”̣ , “chuỗi cung ứng” Vềbản chất , “chuỗi giá trị” và “chuỗi cung ứng” đều nhắm tới việc tạo giá trị gia tăng cho một hoạt động sản xuất nhất đinḥ Nếu các hoaṭđông̣ đóvươṭ ra khỏi phaṃ vi biên giới quốc gia
thìđươc̣ hiểu làchuỗi giátri toạ̀n cầu vàchuỗi cung ứng toàn cầu
Theo một số tài liệu nghiên cứu, chuỗi giá trị có thể chia làm 2 loại: chuỗigiá trị do người bán chi phối và chuỗi giá trị do người mua chi phối Có thể hiểumột cách khái quát cách phân chia này dựa vào bảng so sánh sau:
Trang 25Bảng 1.1 Chuỗi giá trị do người bán chi phối và chuỗi giá trị do người mua
chi phối Tiêu chí so sánh
Hoạt động chi phối
1.3.2 Chuỗi giá tri ̣ngành dêṭmay.
Trước đây, ngành dêṭmay toàn cầu đặc trưng bởi rất nhiều nước xuất khẩu
do hệ thống quota MFA tạo ra, nhưng mức độ tập trung xuất khẩu đang ngày càngtăng nhanh trong giai đoạn hiện nay Chuỗi cung ứng hàng may mặc được đặctrưng bởi sự chuyên môn hóa đáng kể theo nước, theo đó mỗi nước thường
Trang 26tập trung vào một công đoạn sản xuất nhất định, công đoạn mà nước đó có lợi thế
so sánh Trong đó, các nước có thu nhập cao hơn thường thống lĩnh các lĩnh vựccần đầu tư vốn nhiều hơn vì họ có nguồn lực tài chính để phát triển, trong khi cácnước có thu nhập thấp hơn thường tập trung vào lĩnh vực cần nhiều lao động Vớingành dệt may, lĩnh vực hoạt động cần nhiều lao động nhất là sản xuất hàng maymặc (cắt và may), sau đó là dệt (sợi và vải) Tại các nước phát triển và lương laođộng cao, lợi thế so sánh trong sản xuất bị mất dần đi vì khâu sản xuất là khâu thâmdụng lao động, nếu tập trung vào khâu này thì các nhà sản xuất sẽ phải chịu mức chiphí sản xuất rất cao do khoản tiền chi trả lương lớn Vì vậy, các nước này phảichuyển trọng tâm sang các sản phẩm có giá trị cao hơn hoặc sang các sản phẩm chếtạo với mức độ thâm dụng lao động thấp Việc phân công lao động giữa các nướctại những mức độ phát triển khác nhau hình thành nên sự nâng cấp công nghiệptrong chuỗi giá trị may mặc Những lĩnh vực chính trong chuỗi giá trị ngành dệtmay như may, dệt, xơ sợi và thiết bị được sắp đặt dọc theo chiều ngang và nó phảnánh mức độ giá trị gia tăng tương đối từ thấp lên cao khi tăng vốn đầu tư Ở Châu
Á, các nước được nhóm theo trục dọc theo mức độ phát triển tương đối của mình,với Nhật bản đứng đầu, Trung quốc và Ấn độ
ở mức giữa, và các nước xuất khẩu kém phát triển nhất như Bangladesh,
Cambodia, và Việt nam đứng cuối
Các nước có xu hướng tiến bộ từ các lĩnh vực có giá trị gia tăng thấp lêncao trong chuỗi theo thời gian Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xemxét toàn bộ các bước giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất hơn là chỉ xem xétsản phẩm cuối cùng Ta thấy, có sự phân công lao động lớn trong chuỗi giá trịngành may theo các nước Các nước phát triển thường tập trung vào nhữngcông đoạn mang lại giá trị gia tăng cao với sự đầu tư lớn về tài chính và yêu cầunguồn nhân lực chất lượng cao, ngược lại các nước có nguồn lao động dồi dàovới mức lương thấp thường tập trung vào khâu sản xuất, gia công (Mỹ thường
Trang 27đưa ra thiết kế sản phẩm và đơn hàng lớn, Nhật bản cung cấp thiết bị may, cácnền kinh tế mới nổi tại Đông Á (NIEs) cung cấp vải, Trung quốc, Indonesia, Việtnam tham gia vào quátrinh̀ cắt & may )
Hiện nay, trên thị trường dệt may toàn cầu, Trung Quốc là lực lượng chính
- là môṭtrong nhưững nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất Thế giới Tuy nhiên,
nhiều nước xuất khẩu hàng dệt may khác có chi phí lao động thấp hơn TrungQuốc như Bangladesh, Sri Lanka và Việt Nam cũng đã và đang bắt đầu mở rộngthị phần Bên cạnh đó, nhiều thị trường nhập khẩu lớn trên thế giới như Mỹ, EU
và Nhật Bản cũng muốn giảm sự phụ thuộc nhập khẩu hàng dệt may từ TrungQuốc và đã chuyển hướng hợp tác sang các nhà sản xuất châu Á khác để thuêgia công hàng may mặc
Qua các phân tích trên ta thấy, Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu là các công
đoạn của quá trình sản xuất sản phẩm hàng may mặc trong chuỗi giá trị từ khâu khai thác, sản xuất nguyên liệu, thiết kế, gia công - sản xuất thành phẩm rồi phân phối tới các nhà bán buôn, bán lẻ…có sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia trên thế giới.
Chuỗi giátri cọ́thểđươc̣ thưc̣ hiêṇ trong phaṃ vi m ột khu vực địa lý hoặctrải rộng trong phạm vi nhiều quốc gia (chuỗi giátri toạ̀n cầu ) Theo đó, mỗidoanh nghiêp̣ từ nhiều quốc gia khác nhau se ữlàmôṭmắt xich́ vàcóthểchi phối
sư ̣phát triển của chuỗi giátri theọ những mức độ khác nhau
Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu có thể khái quát trong sơ đồ sau:
Trang 28Hình 1.1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Nguồn: The international competiveness of Asian economies in the apparel
commodity chain (Gereffi, 2002).
Dưạ vào hình trên ta thấy , chuỗi giá trị dệt may gồm có 5 mắt xich/khâúchính, đólà: Khâu cung cấp nguyên liêụ đầu vào (nguyên liêụ thô), sản xuấtnguyên phu ̣liêụ, sản xuất hàng may mặc, xuất khẩu, marketing vàphân phối
Ứng dụng lý thuyết đường cong nụ cười , các nhà nghiên cứu đã biểu diễnchuỗi giá trị dệt may thế giới hiện nay gồm 5 mắt xích chính như trong hinh̀ 1.2
Trang 29Hình 1.2 Giá trị gia tăng của chuỗi giá trị dệt may
Nguồn: Nguyễn Thị Hường (2009), Tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Theo ứng dung̣ lýthuyết đường cong nu ̣cười như trên , chuỗi giátri ngạ̀nhdêṭmay gồm các công đoaṇ: thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu , cắt vàmay, xuấtkhẩu, marketing vàphân phối Trong đó, các công đoạn thiết kế, marketing vàphân phối (công đoaṇ đầu tiên vàsau cùng ) đem laịgiátri giạ tăng cao nhất Ngươc̣ laị, công đoaṇ cắt vàmay thâm dung̣ lao đông̣ nhất nhưng đem laịgiátri ̣gia tăng thấp nhất
Kết hơp̣ hai sơ đồtrên ta t hấy đầy đủcác giai đoaṇ /mắt xich́ trong chuỗigiá trị ngành dệt may sẽ bao gồm : thiết kế, cung cấp nguyên liêụ (thô), sản xuấtnguyên phụ liệu , sản xuất hàng may mặc , xuất khẩu , marketing vàphân phối
Trang 30Trong đó, mỗi mắt xích taọ ra giátri giạ tăng khác nhau vàđươc̣ thưc̣ hiêṇ bởi nhiều công ty trên các quốc gia khác nhau.
Nếu theo phân chia chuỗi giátri thạ̀nh 2 loại cơ bản, do người bán chi phối
và người mua chi phối thì h àng may mặc là một trong những ngành điển hìnhcho chuỗi giá trị do khách hàng điều phối Tính chất tương đối dễ dàng trongviệc thiết lập các công ty may mặc (dễ dàng gia nhập ngành), cùng với sự thịnhhành của chủ nghĩa bảo hộ tại các nước phát triển trong ngành này đã dẫn đến sự
đa dạng hóa của các nhà xuất khẩu hàng may mặc Ngoài ra, các mối liên kếttrước và sau có tính chất trải rộng, và giúp giải thích cho số lượng lớn việc làmgắn liền với ngành này Chuỗi giá trị hàng may mặc được tổ chức quanh cáccông đoạn chính có sự liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau: thiết kếsản phẩm,cung cấp nguyên liêụ thô , sản xuất nguyên phụ liệu , sản xuất hàng may măc̣(cắt vàmay ), xuất khẩu, marketing vàphân phối sản phẩm Có những điểm khácnhau giữa việc thực hiện các công đoạn này, như vị trí địa lý, kỹ năng và điềukiện lao động, công nghệ, cũng như qui mô và loại hình doanh nghiệp, vốn cũngảnh hưởng đến thế lực thị trường và phân phối lợi nhuận giữa các công ty chínhtrong chuỗi
1.4 Bản chất và các giai đoaṇ/mắt xích trong chuỗi giátri ngạạ̀nh dêṭmay
1.4.1 Bản chất của chuỗi giá tri
Như đã phân tích ở trên, chuỗi giátri cọ́thểđươc̣ thưc̣ hiêṇ trong phaṃ vi môṭquốc gia hoăc̣ trải rông̣ trong phaṃ vi nhiều quốc gia , khu vực taọ thành chuỗi giátri toạ̀n cầu Theo đó, các doanh nghiệp từ các quốc gia , khu vưc̣ khác
nhau se ữđóng vai trònhư nhưững mắt xich́ vàcóthểchi phối sư ̣phát triển của chuỗi
giátri vợ́i mức đô ̣ảnh hưởng khác nhau Phân tich́ hoaṭđông̣ kinh doanh của từng doanh nghiệp trong các quốc gia khác nhau theo lýthuyết vềchuỗi giá
18
Trang 31trị có thể giúp chúng ta có những đán h giá tốt nhất vềkhảnăng , năng lưc̣ canḥ tranh của doanh nghiêp̣ cũng như vai t rò và phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiêp̣ đótrong chuỗi giátri toạ̀n cầu Nếu doanh nghiệp nào thực hiện được các mắt xích quan trọng, mang lại giá trị gia tăng cao thì sẽ chiếm ưu thế và có khả năng chi phối nhiều hơn trong chuỗi.
Trong chuỗi giátri ngạ̀nh dêṭmay , các giai đoạn cung cấp nguồn nguyên
liêụ thô vàsản xuất nguyên phu ̣liêụ đầu vào chinh́ làkhâu của các ngành công nghiêp̣ phu ̣trơ ̣, có liên quan mật thiết đến khâu cắt và may Các công đoạn cắt may, xuất khẩu , marketing vàphân phối làcác công đoaṇ sản xuất trưc̣ tiếp và phân phối sản phẩm , các công đoạn này tác động trở lại các công đoạn đầu tạo đông̣ lưc̣ cho các công đoaṇ trước phát triển Ví dụ, do yêu cầu về chất lượng
và số lượng sản phẩm xuất khẩu dẫn đến phải đạt được chất lượng, năng suất tốt
từ khâu cắt & may, để khâu cắt & may đạt được chất lượng và năng suất tốt thì ngoài trình độ, tay nghề của người công nhân cắt may trực tiếp còn cần đến nguồn nguyên phụ liệu đầu vào đảm bảo chất lượng (vải không bị nhăn, xơ, rút sợi, lẫn sợi, phụ liệu không bị sai lỗi ) và đầy đủ về số lượng cho sản xuất, từ đây sẽ tác động trở lại các giai đoạn cung cấp nguyên phụ liệu mà trực tiếp là ngành công nghiệp phụ trợ Nếu phát triển đươc̣ đồng đều tất cảcác công đoaṇ từ cung cấp nguyên liêụ đến phân phối sản phẩm se ữtaọ đươc̣ nhưững điều kiêṇ tốt, giúp các doanh nghiệp chủ động , nâng cao đươc̣ hiêụ quảsản xuất kinh doanh, tăng năng suất, chất lương,̣ cũng là tăng sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may trong thi trượ̀ng nôịđiạ cũng như trên thếgiới
Trong chuỗi giátri ̣ngành dệt may, sư ̣liên kết giưữa khâu sản xuất nguyên phụ liệu, đăc̣ biêṭlàngành dêṭvải với khâu cắt & may làmôṭtrong nhưững sư ̣liên kết rất quan trong̣ , vì sản phẩm của ngành dệt có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguyên phu ̣liêụ cho ngành may , từ đóảnh hưởng đến chất lương̣ vàsư ̣đa dang̣
Trang 32của sản phẩm ngành may Liên kết giữa ngành dệt và ngành may có tác dụng làm
tăng tỷlê ̣nôịđiạ hoábởi ngành dêṭphát triển thìse ữgiảm nhu cầu nhâp̣ khẩu nguyên
liêụ, nâng cao giátri giạ tăng của sản phẩm Ngoài ra, sư ̣phát triển của ngành
dệt c òn giúp cho ngành may có thể chủ động hơn trong việc lựa chọn nguyên
liêụ vềcảsốlương̣ vàchủng loaịđểđáp ứng cho nhu cầu sản xuất Thưc̣
tếcóthểthấy rằng , môṭsốdoanh nghiêp̣ không chủđông̣ đươc̣ tiến đô ̣sản xuất và
không đảm bảo được thời gian giao hàng do khâu nhập khẩu vải và phụ liệu
còn gặp nhiều khó khăn Trong trường hơp̣ này , vì năng lực sản xuất có hạn và
không thểngay lâp̣ tức mởrông̣ hay thay đổi kếhoacḥ sản xuất tổ ng thể, để giữ
chưữtiń với khách hàng , đảm bảo cóthểnhâṇ đươc̣ các đơn đăṭhàng tiếp theo ,
các doanh nghiệp buộc phải lựa chọn giữa hai phương án , hoăc̣ nhâp̣ nguyên phu ̣
liêụ theo đường hàng không , hoăc̣ xuất thành phẩm t heo đường hàng không , cả
hai phương án này đều gây ra mức chi phíxuất nhâp̣ khẩu rất lớn , doanh nghiêp̣
chỉ có thể xử lý tạm thời , nếu keo dai se dâñ đến thua lỗva pha san Do vâỵ, nếu
đươc̣ cung cấp nguồn nguyên phu ̣liê ụ ổn đinḥ trong nươc ,
may se giam bơt đươc̣ rui ro va chi phi xuất nhâp̣ khẩu
không hềnho Ngoài ra, nếu liên kết giưa nganh dêṭva nganh may phat triển se
̉̉
tạo điều kiện cho mở
đươc̣ lơị thếnhờquy mô , từ đódâñ đến giảm giáthành , tăng sức canḥ tranh và
tạo điều kiện cho thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài , tăng vốn tich́ luỹđểtiếp tuc̣
đầu tư cho các công nghê ̣mới , đáp ứng tốt hơn cho nhưững nhu cầu phong phú
của ngành may
Trong chuỗi giátri ngạ̀nh dêṭmay, khâu cógiátri lợị nhuâṇ cao nhất chinh́ là
thiết kế, marketing vàphân phối, khâu mang laịgiátri giạ tăng thấp nhất chinh́ là
cắt & may Tính đến thời điểm hiện tại , các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ
yếu chỉ tham gia vào khâu gia công sản xuất Vì vậy, măc̣ dùViêṭNam là
Trang 33môṭtrong nhưững nước xuất khẩu dêṭmay lớn nh ất thế giới nhưng giá trị thu về chưa cao.
1.4.2 Các giai đoạn/mắt xích trong chuỗi giá tri ̣ngành dêṭmay
- Thiết kế
Đây là môṭtrong nhưững khâu có tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong chuỗi giá trị
và là khâu rất thâm dụng tri thức, thường được thực hiện tại các nước là trung tâmthời trang trên thế giới Các nước đi trước trong ngành công nghiệp dệt may, saukhi đã dịch chuyển hoạt động sản xuất sang các nước đi sau bằng hình thức thuê giacông sản xuất thường chỉ tập trung vào khâu nghiên cứu và thiết kế ra các sản phẩmmới nhằm tạo ra những thương hiệu nổi tiếng để đạt được tỷ suất lợi nhuận caonhất Việc cạnh tranh thương hiệu đang rất khốc liệt trên thị trường dệt may thếgiới, các thương hiệu cạnh tranh nhau bằng các mẫu thiết kế đẹp,
sáng tạo, liên tuc̣ thay đổi đểphùhơp̣ với thi hiếụ của người tiêu dùng Yếu tốquan trọng để thâm nhập và trụ vững được ở mắt xích này đòi hỏi các doanhnghiệp cần có các nhà thiết kế giỏi, có khả năng nắm được xu hướng, thị hiếuthời trang luôn luôn thay đổi của người mua toàn cầu
Thiết kế là khâu rất quan trọng đòi hỏi trình độ cao và tiền công cao hơn khâu có tỷ suất lợi nhuận cao nhất, nhưng lại là khâu yếu nhất của ngành maymặc Việt Nam Chỉ một phần rất nhỏ giá trị xuất khẩu của ngành có tham gia vàokhâu ý tưởng của thiết kế, còn lại Việt Nam xuất khẩu thường dưới dạng hìnhthức gia công, (nhận mẫu gốc, mẫu giấy, patton và nguồn nguyên phụ liệu từkhách hàng để may mẫu, sau khi được khách hàng duyệt sẽ đi vào sản xuất rồixuất khẩu) Thiết kế kiểu dáng sản phẩm mới chỉ chủ yếu được làm ở các trungtâm thời trang thế giới tại Paris, London, New York ở khu vực Mỹ, Châu Âu
Cung cấp nguyên liêụ thô
Trang 34Đây làkhâu đầu tiên taọ ra giátri cợ bản trong chuỗi gi á trị Nguyên liêụ
cơ bản của ngành may măc̣ làsản phẩm của ngành nông nghiêp̣ như sơị , cotton,bông, len vàtơ tằm Ngoài ra còn có nguyên liệu là sợi tổng hợp được sản xuấttừ dầu thô vàkhítư ̣nhiên Trước đây khi ngành hoá dầu chưa phát triển thìnguyên liêụ thô chu yếu cua nganh dêṭla bông xơ hoăc̣ len
Tổng sản lượng toàn cầu các loại xơ hóa học, xơ tự nhiên khác (như len,tơ) đạt 48 triệu tấn; trong đó, Trung Quốc đạt 29 triệu tấn Tổng số cọc sợi toàncầu hiện là 250 triệu; trong đó, Trung Quốc có 120 triệu, Ấn Độ 50 triệu,Pakistan 12 triệu, Thổ Nhĩ Kỳ 10 triệu [12]
- Sản xuất nguyên phụ liệu.
Đây là mắt xích quan trọng hỗ trợ cho ngành may mặc phát triển và là khâu thâm dụng đất đai và vốn Đối với hàng may mặc, giá trị của phần nguyên
Trang 35phụ liệu chiếm tỷ trọng lớn và quyết định đến chất lượng sản phẩm Nguyên phụliệu trong ngành dệt may thường chia thành hai phần: nguyên liệu chính và phụliệu Nguyên liệu chính là thành phần chính tạo nên sản phẩm may mặc, chính làcác loại vải Phụ liệu là các vật liệu đóng vai trò liên kết nguyên liệu, tạo thẩmmỹ cho một sản phẩm may mặc, gồm có hai loại phụ liệu chính là chỉ may và vậtliệu dựng Vật liệu dựng là các vật liệu góp phần tạo dáng cho sản phẩm may
như: khóa kéo, cúc đinh́, cúc dập, dây thun, nhãn mác, băng nhám, oze, các loạiphụ liệu trang trí …Vải thường đươc̣ sản xuất chủyếu ởTrung Quốc , NhâṭBản,
Hàn Quốc , môṭsốphu ̣liêụ khác đươc̣ sản xuất nhiều taịẤ
n Đô,̣Thái Lan
- Sản xuất hàng may mặc.
Đây là mắt xích thâm dụng lao động nhất nhưng lại có tỉ suất lợi nhuậnthấp nhất chỉ chiếm khoảng 5-10% May là khâu mà các nước mới gia nhậpngành thường chọn để thâm nhập đầu tiên vì nó không đòi hỏi đầu tư cao vềcông nghệ và rất thâm dụng lao động Những nước đang tham gia ở khâu nàythường thực hiện việc gia công lại cho các nước gia nhập trước, đây chính làđặc điểm chung của khâu sản xuất trong ngành dệt may thế giới Các quốc gia cóngành dệt may phát triển, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu từ lâu thường khôngcòn thực hiện các công đoạn trong khâu này nữa mà hợp đồng gia công lại chocác quốc gia mới gia nhập ngành, có nguồn lao động giá rẻ và việc sản xuấtnguyên phụ liệu đầu vào, hay các khâu thiết kế, xuất khẩu, marketing và phânphối sản phẩm chưa phát triển như Bangladesh, Pakistan và Việt Nam Đối vớicác doanh nghiệp tham gia hoạt động gia công, tỷ lệ giá trị thu về trong phânkhúc may cũng sẽ khác nhau tùy theo phương thức xuất khẩu là CMT, FOB hayODM, OBM
+ Phương thức CMT (Cut - Make - Trim)
Trang 36Đây là phương thức xuất khẩu đơn giản nhất của ngành dệt may và manglại giá trị gia tăng thấp nhất Khi hợp tác theo phương thức này, người mua sẽcung cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm baogồm nguyên liệu, vận chuyển, mẫu thiết kế và các yêu cầu cụ thể từ khách hàng.Theo đó, các công ty gia công sẽ nhận thông tin về đơn hàng, mẫu mã, NPL chomay mẫu và cho sản xuất chính, sau đó sẽ tiến hành may mẫu để duyệt, nếu mẫuđược duyệt sẽ tiến hành sản xuất chính Theo phương thức này, các nhà sản xuấtchỉ thực hiện việc nhập NPL, cắt, may và hoàn thiện sản phẩm, đóng gói để xuấtkhẩu Doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu theo phương thức CMT chỉ cần có khảnăng sản xuất và hiểu biết cơ bản về thiết kế để thực hiện mẫu sản phẩm.
+ Phương thức OEM/FOB (Original Equipment Manufacturing)
Đây là phương thức sản xuất ở bậc cao hơn so với CMT và đang được cácdoanh nghiệp hướng đến nhiều hơn để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm vàtính chủ động của doanh nghiệp Theo phương thức này, các công ty sản xuất sẽchủ động tham gia vào quá trình sản xuất, chủ động mua nguyên phụ liệu cho sảnxuất thay vì chỉ nhận nguyên phụ liệu từ khách hàng như phương thức CMT
Các hoạt động theo phương thức FOB thay đổi đáng kể dựa theo các hìnhthức quan hệ hợp đồng thực tế giữa nhà cung cấp với các khách mua nước ngoài
và được chia thành 2 loại:
FOB cấp I: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ thu mua
nguyên liệu đầu vào từ một nhóm các nhà cung cấp do khách mua chỉ định sẵn.Phương thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải chịu tráchnhiệm về tài chính để thu mua và vận chuyển nguyên liệu Theo phương thứcnày, vì mua nguyên phụ liệu theo khách hàng chỉ định nhà cung cấp nên doanhnghiệp sẽ vẫn bị phụ thuộc vào khách hàng, đôi khi có những nhà cung cấp thuậntiện hơn cho doanh nghiệp nhưng lại chưa được đánh giá bởi khách hàng nêndoanh nghiệp không thể mua nguyên phụ liệu từ nhà cung cấp đó Tuy nhiên,
Trang 37cũng bởi do khách hàng chỉ định nên doanh nghiệp sẽ ít phải chịu trách nhiệmhơn trong trường hợp nguyên phụ liệu có vấn đề về chất lượng cũng như kháchhàng sẽ tạo áp lực với nhà cung cấp để đảm bảo giao NPL đúng hạn.
FOB cấp II: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ nhận mẫuthiết kế sản phẩm từ các khách mua nước ngoài, nhận đơn hàng về số lượng, chitiết màu cỡ, thời gian yêu cầu giao hàng (theo nhiều đợt hoặc giao 1 lần) Dựa vàocác yêu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ tự tìm kiếm các nhà cung cấp nguyênphụ liệu, đặt mua theo định mức cần dùng Điều quan trọng là các doanh nghiệpphải tìm được các nhà cung cấp đáp ứng được đúng yêu cầu về số lượng, chấtlượng sản phẩm và thời gian giao nguyên phụ liệu, nếu không sẽ ảnh hưởng lớnđến kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, nghiêm trọng hơn có thể ảnh hưởng đếnthời gian giao hàng cho khách hàng, dẫn đến bị phạt hợp đồng hoặc chi phí vậnchuyển bằng đường hàng không Rủi ro từ phương thức này cao hơn nhưng giá trịgia tăng mang lại cho công ty sản xuất cũng cao hơn tương ứng
+ Phương thức ODM (Original Design Manufacturing)
Phương thức sản xuất ODM là phương thức sản xuất cao hơn các phươngthức FOB, bao gồm cả khâu thiết kế và tất cả các quá trình còn lại của phươngthức FOB từ việc đặt mua nguyên phụ liệu, cắt may, hoàn thiện sản phẩm và vậnchuyển Để sản xuất được theo phương thức này yêu cầu trình độ cao để có thểthiết kế ra các sản phẩm Đây là phương thức sản xuất phức tạp hơn nhưng đổilại, phương thức này mang lại giá trị gia tăng cao hơn cho các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ODM sẽ có trách nhiệm tạo ra những mẫu thiết kế, hoànthiện sản phẩm và bán lại cho người mua, thường là chủ của các thương hiệulớn trên thế giới Tiếp đó, những khách hàng này sẽ dựa vào thương hiệu vốn cócủa họ và chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm ra thị trường, đến tay người tiêudùng
Trang 38Tuy nhiên, phương thức sản xuất ODM cũng chưa phải là phương thứcsản xuất cao nhất, vì các doanh nghiệp sản xuất theo phương thức này chưa cóthương hiệu riêng nên vẫn phải bán sản phẩm dưới thương hiệu của các kháchhàng khác, vì vậy một phần không nhỏ giá trị gia tăng vẫn rơi vào tay các kháchhàng sở hữu thương hiệu do khâu marketing và phân phối sản phẩm là một trongnhững khâu mang lại giá trị gia tăng cao nhất thì doanh nghiệp ODM lại chưalàm được.
+ Phương thức OBM (Original Brand Manufacturing)
Có thể nói, cho đến thời điểm hiện tại thì phương thức sản xuất OBM làphương thức cao nhất trong ngành dệt may Phương thức OBM được phát triểndựa trên phương thức OEM nhưng có sự tiến bộ hơn là khi sản xuất theophương thức OBM, các doanh nghiệp bán sản phẩm theo thương hiệu riêng củamình, tức là các doanh nghiệp sẽ thực hiện toàn bộ các khâu từ thiết kế, tìm kiếmnguyên phụ liệu, sản xuất, hoàn thiện sản phẩm và bán hàng trên thị trường nộiđịa hoặc quốc tế bằng thương hiệu riêng Phương thức này mang lại lợi ích caohơn cho doanh nghiệp vì doanh nghiệp sẽ được hưởng tất cả giá trị gia tăngtrong các khâu của quá trình sản xuất Tuy nhiên, để làm được theo phương thứcnày đòi hỏi đầu tư vào các nguồn lực cao (cả về tài chính và nhân lực) và rủi rolớn nên hiện tại có rất ít doanh nghiệp sản xuất được theo phương thức này
- Xuất khẩu.
Măc̣ dùkhông phải làcông đoaṇ trong chuỗi sản xuất nhưng các nhàphânphối hàng may măc̣ đăc̣ biêṭlàcác nhàbán lẻcóvai tròngày càng quan trong̣ đốivới ngành sản xuất hàng may măc̣ vàđối với tất cảcác công đoaṇ trong toàn bô ̣chuỗi giátri ̣Sản phẩm bất kỳ nói chung hay sản phẩm dệt may nói riêng, nếukhông qua công đoạn xuất khẩu thì sẽ không thể đến tay người tiêu dùng thịtrường ngoại quốc, đặc biệt với các doanh nghiệp gia công may mặc, nếu không
có khâu xuất khẩu thì sản phẩm sẽ không đến được tay khách hàng vì hầu hết
Trang 39khách hàng đều xuất phát từ các quốc gia khác Xuất khẩu là khâu thâm dụng trithức, gồm các công ty may mặc đã có thương hiệu, các văn phòng mua hàng, vàcác công ty thương mại của các nước Một trong những đặc trưng đáng lưu ýnhất của chuỗi dệt may do người mua quyết định là sự tạo ra các nhà buôn vớicác nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng không thực hiện bất cứ việc sản xuất nào Họđược mệnh danh là những “nhà sản xuất không có nhà máy” do hoạt động sảnxuất đã được thuê gia công tại hải ngoại, điển hình như các công ty MastIndustries, Nike và Reebok Các công ty này không trực tiếp sản xuất ra sảnphẩm mà đóng vai trò trung gian kết hợp chuỗi cung ứng giữa các nhà may mặc,các nhà thầu phụ với các nhà bán lẻ toàn cầu Trong chuỗi dệt may toàn cầu,chính các nhà buôn, các nhà cung cấp là các trung gian đóng vai trò then chốt vànắm giữ phần lớn giá trị trong chuỗi mặc dù họ không hề sở hữu nhà máy sảnxuất nào Sở dĩ như vậy vì khâu xuất khẩu sản phẩm là khâu mang lại giá trị giatăng cao hơn nhiều so với công đoạn sản xuất và chính họ đã nắm giữ được khâunày Hiện nay các nhà buôn, người mua ở Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốcđang nắm đa số các điểm nút của mạng lưới này, và đây được xem là “ba ônglớn” trong chuỗi cung ứng hàng dệt may thế giới.
Từ sau khi hệ thống hạn ngạch được dỡ bỏ vào tháng 1 năm 2005, mộtdòng lưu chuyển hàng may mặc xuất khẩu mới đã xuất hiện Dòng lưu chuyểnnày hướng về những thị trường cạnh tranh hơn với những công ty có năng lựccạnh tranh cao hơn trong xuất khẩu cả về chất lượng, số lượng, giá cả, chi phívận chuyển và phân phối
Khi việc dỡ bỏ các loại thuế được quy định trong Hiệp định đa phươngngành dệt may (MFA) được thực hiện vào năm 2005, theo Hiệp định dệt maycủa WTO có thể dự đoán các mặt hàng dệt may xuất khẩu từ các nhà cung cấpgiá rẻ sẽ tăng mạnh Trung Quốc (gồm cả Hồng Kông SAR) có khả năng trởthành quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu sản phẩm dệt may trên thế giới Indonesia,
Trang 40Việt Nam, Ấn Độ, Mê-hi-cô và Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu cung cấp sản phẩm cho thịtrường Mỹ, Nhật Bản và EU Hàn Quốc và Đài Loan tận dụng lợi thế thị trườngcủa họ đã cung cấp đầu vào chủ yếu cho các nhà sản xuất khâu sản phẩm maymặc của châu Á Hai nước này vẫn có khả năng tiếp tục duy trì vai trò xuất khẩutuy không lớn, song với các sản phẩm có giá trị tương đối cao, chất lượng sảnphẩm tốt, mẫu mã đa dạng, thực hiện việc giao hàng đúng hạn và các dịch vụ hậumãi khác của họ đều đạt chất lượng tốt nên vẫn giữ được vị trí tương đối cao.
Đối với cả các nước phát triển và đang phát triển, trước đây người ta hyvọng rằng xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sẽ bùng nổ bởi các nhà sản xuấtTrung Quốc có khả năng sản xuất hiệu quả hơn những sản phẩm có chất lượngtốt hơn với mức giá rẻ hơn, và các nhà sản xuất Trung Quốc thường sản xuất ranhiều mặt hàng rất đa dạng, còn các cơ sở sản xuất ở các nước khác sẽ chịu thịphần giảm sút do người mua từ bỏ họ vì mức giá và chất lượng không cạnhtranh được với các sản phẩm của Trung Quốc Đúng như dự đoán, Trung Quốc
đã đạt được con số đáng nể về xuất khẩu ngành dệt may, luôn đứng trong topđầu những nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới Một số dẫn chứng có thểđưa ra như sau: Năm 2010, giá trị xuất khẩu dệt may của Trung Quốc là 242 tỷUSD, chiếm 40% giá trị toàn cầu (605 tỷ USD), con số về giá trị xuất khẩu năm
2012 của Trung Quốc là 288 tỷ USD, chiếm 40.7% giá trị xuất khẩu toàn cầu(708 tỷ USD) [12]
Việc tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu tạo ra một "sân chơi" vừahợp tác vừa cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia, thúc đẩy công nghiệp dệtmay hướng về xuất khẩu phát triển, làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu và giatăng giá trị dệt may toàn cầu
- Marketing vàphân phối.