ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾC KAN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – Năm 2014... Kêt cấu của luận văn Tên đề tài: “Nâng cao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
C KAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
Danh mucc̣ các chữviết tắt ………
Danh mucc̣ các sơ đồ, bảng ………
Lời mởđầu ………
Chương 1: Cơ sởlýluâṇ vàthưcC tiêñ vềhiêụ quảsưỬ dungC vốn đầu tư XDCB từNSNN………
1.1 Tổng quan vềvốn đầu tư XDCB ………
1.1.1 Khái niệm ………
1.1.2 Vai trò, đăcc̣ điểm của đầu tư XDCB ………
1.1.3 Các bước của quá trình đầu tư XDCB ………
1.1.4 Phân loaịdư c̣án đầu tư ………
1.2 Vốn đầu tư XDCB từ NSNN ………
1.2.1 Khái niệm ………
1.2.2 Hiêụ quảsử dungc̣ vốn NSNN vào đầu tư XDCB ………
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN 1.3.1 Các nhân tốkhách quan ………
1.3.2 Các nhân tố chủ quan ………
1.4 Kinh nghiêṃ sử dungc̣ vốn đầu tư XDCB cóhiêụ quả………
1.4.1 Kinh nghiêṃ của điạ phương trong nước ………
1.4.2 Kinh nghiêṃ của môṭsố nước khác ………
1.4.3 Những bài hocc̣ kinh nghiêṃ rút ra từ tham khảo của các nước và của địa phương trong nước ………
Chương 2: ThưcC trangC sưỬ dungC vốn NSNN cho đầu tư XDCB trên điạ bàn tinhỬ Bắc Kaṇ ………
Trang i ii 1 5 5 5 6 13 16 19 19 22 30 30 32 38 38 40 42 44 2.1 Khái quát chung tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn …………
Trang 42.1.1 Khái quát chung ………
2.1.2 Thuâṇ lơị ………
2.1.3 Khó khăn ………
2.1.4 Đinḥ hướng phát triển kinh tế – xã hội ………
2.2 Đầu tư từ NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2006-2010 và năm 2011-2012 ………
2.2.1 Chi đầu tư đươcc̣ chútrongc̣ vàchiếm tỷtrongc̣ cao trong tổng chi NSĐP ………
2.2.2 Vốn NSNN chiếm tỷtrongc̣ cao, đóng vai tròđinḥ hướng phát triển trong linh̃ vưcc̣ đầu tư ………
2.2.3 Tình hình phân bổ vốn đầu tư theo các ngành kinh tế ………
2.3 Đánh giáchung vềhiêụ q uả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên điạ bàn tinhh̉ Bắc Kaṇ ………
2.3.1 Môṭsốthành công đaṭđươcc̣ trong linh̃ vưcc̣ đầu tư vàđầu tư từ NSNN trên điạ bàn tinhh̉ Bắc Kaṇ ………
2.3.2 Những haṇ chếyếu kém vànguyên nhân ………
Chương 3: Môṭsốgiải pháp nâng cao hiêụ quảsưỬ dungC vốn đầu tư XDCB tư NSNN trên điạ ban tinh Bắc Kaṇ năm 2014, 2015 và ̀̀ giai đoaṇ 2016-2020 ………
3.1 Phương hướng vàmucc̣ tiêu phát triển ………
3.1.1 Phương hướng phát triển kinh tếnói chung vàhoaṭđôngc̣ đầu tư nói riêng ………
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015 thể hiêṇ ởmôṭsốchỉtiêu cu c̣thể………
3.2 Môṭsốgiải pháp nâng cao hiêụ quảsử dungc̣ vốn đầu tư trên điạ bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2014, 2015 và giai đoạn 2016-2020 …………
3.2.1 Vềquản lýcông tác quy hoacḥ, kếhoacḥ ………
3.2.2 Hoàn thiêṇ công tác chuẩn bi đầụ tư ………
44 44 45 45 46
46 46
48 50 52
52 58
71 71
71
74
76 76 77
Trang 53.2.3 Đổi mới và hoàn thiện công tác GPMB nhằm thu hút hơn nữa
các dự án đầu tư ………
3.2.4 Giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân , tránh đầu tư dàn trải ,
hoàn thiêṇ công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB ………
3.2.5 Ban hành quy đinḥ cu c̣thểvềcơ chếquản lýcác dư c̣án đầu tư ,
quản lý chất lượng công trình ………
3.2.6 Hoàn thiện công tác tư vấn trong đầu tư XDCB ………
3.2.7 Thưcc̣ hiêṇ cơ chếdân chủ, công khai, minh bacḥ trong đầu tư
XDCB ………
3.2.8 Chủ động phát hiện tiêu cực , tham nhũng, lãng phí trong đầu
tư XDCB, kiên quyết xử lýtriêṭđểcác sai phaṃ xảy ra ………
3.2.9 Chú trọng công tác đào tạo ………
Kêt luâṇ vàkiên nghi ………C
Danh mucC các tài liêụ tham khảo ………
78
808182
838485
8690
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 8ii
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiêt của đề tài nghiên cứu
Hàng năm, ở Việt Nam ngân sách nhànước (NSNN) đều dành khoảng25-30% tổng chi của mình cho chi đầu tư Số chi đó cũng tương ứng với 30-40% tổng số vốn đầu tư của toàn xã hội Chi đầu tư của NSNN chủ yếu đượcdành cho các công trình, hạng mục quan trọng, có vị trí then chốt, là xươngsống đối với nền kinh tế quốc dân (cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các ngànhkinh tế quan trọng ) Bên cạnh những cái được như vậy, việc sử dụng vốnđầu tư từ NSNN từ trước đến nay còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại Đó là tìnhtrạng thất thoát, lãng phí quá lớn trong quá trình đầu tư; việc sử dụng vốn sauđầu tư cũng còn nhiều bất cập, kém hiệu quả
Bắc Kạn là một trong những tỉnh ngân sách còn nhiều khó khăn, nguồnchi chủ yếu là nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương (NSTW) Vì vậy, ngoàiviệc bố trí đủ vốn duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy công quyền, bàitoán đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền địa phương là làm sao phải sử dụngnhững khoản tiền huy động được hiệu quả, làm nền tảng giúp tỉnh nhà pháttriển, mà cốt lõi là những khoản tiền đầu tư từ NSNN trên địa bàn Đó như làmột nguồn nội lực quan trọng, là điểm tựa tăng trưởng, phát triển kinh tế- xãhôị(KT-XH) của các tỉnh nhận trợ cấp nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng.Đứng trước tình hình đó, với đặc điểm công tác chuyên quản về ngân sách
tỉnh Bắc Kạn, tác giả chọn Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước: Trường hợp tỉnh Bắc Kạn” làm
mục tiêu nghiên cứu của mình, nhằm tìm ra nguyên nhân thành công, tồn tạitừ đó đề xuất các ý kiến giúp tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các địa phương trongcả nước nói chung cải thiện việc quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư từ NSNNtrong điều kiện nhu cầu thì ngày càng tăng mà nguồn vốn thì có hạn
1
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Đến nay, có môṭsốtác giảđa ̃nghiên cứu các đềtài vềNSNN , trong đó
có: Chuyên đề“Thưcc̣ trangc̣ va giai phap nâng cao hiêụ qua đầu tư XDCB tai
tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới”
tài “Thất thoat va lang phi trong đầu tư tai ViêṭNam
́́ ̀
pháp” do PGS TS Từ Quang Phương hướng dâñ nhóm t ác giả tại Khoa Kinh
tếĐầu tư của Trường Đaịhocc̣ Kinh tếQuốc dân thưcc̣ hiêṇ , … Tuy nhiên , chưa
cóngười nào làm vềđềtài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách nhà nước: Trường hợp tỉnh Bắc Kạn”.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu : Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, phân tích,
đánh giá kỹ lưỡng thực trạng đầu tư vốn từ NSNN do tỉnh Bắc Kạn quản lý vàhiệu quả sử dụng của nguồn vốn này; tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng thất thoát, lãng phí, sử dụng kém hiệu quả Từ đó đề xuất một hệ thốngcác giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục những thất thoát, lãng phí và nâng caohiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dưngc̣ cơ bản (XDCB) từ NSNN của tỉnh BắcKạn trong thời gian tới
- Nhiêṃ vụ nghiên cứu: Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau:
+ Đầu tư XDCB có những đặc điểm gì?
+ Các tiêu chí sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB
Trang 112
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng vốn từ NSNN cho
hoạt động đầu tư XDCB của tỉnh Bắc Kạn
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Do hạn chế về mặt thời gian và tổng
hợp số liệu nên đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
NSNN do tỉnh quản lý cho hoạt động XDCB trên địa bàn Thời gian khảo sát
tập trung vào giai đoạn từ năm 2006-2010 và năm 2011, 2012; phần đề xuất,kiến nghị chủ yếu là cho từ năm 2014 đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp điều tra khảo sát, thống kê học, toánkinh tế, phân tích tổng hợp các số liệu, phương pháp tư duy logic kết hợp vớicác phần mềm tin học hiện đại… để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, cụthể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Phương pháp tổng hợp kết hợp với phân tích được thực hiện trên cơ sởphân tích, đánh giá, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến việc đầu tư XDCBvà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB tại tỉnh Bắc Kạn
- Phương pháp điều tra khảo sát:
Đề tài tập trung nghiên cứu, điều tra khảo sát thực tế tình hình sử dụngvốn đầu tư XDCB từ NSNN của một số công trình xây dựng tại tỉnh Bắc Kạn.Khi điều tra, khảo sát đề tài luôn kết hợp phương pháp phân tích định tính vàphương pháp phân tích định lượng
6 Những đóng góp của luâṇ văn
Với một lượng vốn đầu tư từ NSNN có hạn, để đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng của nền kinh tế thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tưXDCB từ NSNN là yêu cầu bức thiết không những với tỉnh Bắc Kạn mà cònđối với tất cả các địa phương trên cả nước trong giai đoạn hiện nay Việc rút
ra những nguyên nhân của những thành công và những yếu kém kết hợp với
3
Trang 13kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư XDCB của địa phương trong nước và một sốnước là hết sức quan trọng, giúp tác giả đề xuất những giải pháp sát với thựctế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB thuộc NSNN trên địabàn tỉnh Bắc Kạn năm 2014, 2015 và giai đoạn 2016 - 2020.
Luận văn nghiên cứu những vấn đề phức tạp và cấp bách nhất hiện nay và là mối quan tâm của các cấp, các ngành không chỉ riêng tinhh̉ Bắc Kạn
7 Kêt cấu của luận văn
Tên đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ ngân sách nhà nước: Trường hợp tỉnh Bắc Kạn”.
Ngoài các phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dưngc̣ cơ bản từ ngân sách nhà nước
Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xâydưngc̣ cơ bản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xâydưngc̣ cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2014,
2015 và giai đoạn 2016-2020
4
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC 1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm
Theo cách hiểu chung nhất, đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vựcKT-XH để mong thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau trong tươnglai Đầu tư hay hoạt động đầu tư là việc huy động các nguồn lực hiện tại đểtiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tươnglai Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tàisản vật chất khác Biểu hiện của tất cả nguồn lực bỏ ra nói trên gọi chung làvốn đầu tư Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiềnvốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông…), tài sản trí tuệ (trình độvăn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực Có nhiều cáchphân loại đầu tư nhưng xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đemlại, người ta phân chia ra thành:
- Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người ta bỏ tiền ra cho vay
hoặc mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, muatrái phiếu Chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)
- Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra đểmua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lại lợi nhuận do chênhlệch giá khi mua và khi bán
- Đầu tư tài sản vật chất và nguồn nhân lực: là loại đầu tư trong đóngười có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm trực tiếp tạo ra tàisản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh hoặc hoạtđộng xã hội khác
5
Trang 15- Đầu tư cơ bản: là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định(TSCĐ) đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực KT - XH khác nhau Tronghoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động,
tư liệu lao động, đối tượng lao động Khác với đối tượng lao động (nguyên vậtliệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…) các tư liệu lao động (như máymóc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chấtmà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thànhmục đích của mình Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nàomà không cần phải có các TSCĐ, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêuchuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp vớigiá cả từng thời kỳ
Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mớicác TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB XDCB chỉ là một khâu trong hoạt độngđầu tư XDCB XDCB là các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ (như khảo sát,thiết kế, xây dựng, lắp đặt….) Kết quả của hoạt động XDCB là các TSCĐ cómột năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Như vậy, XDCB là một quá trìnhđổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch về các TSCĐ của nền KTQDtrong các ngành sản xuất vật chất cũng như không sản xuất vật chất Nó là quátrình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia
Đầu tư XDCB là hoạt đôngc̣ đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựngtheo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các TSCĐvà tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt độngkinh tế [7, tr.9-10]
1.1.2 Vai trò, đặc điểm của đầu tƣ XDCB
* Vai trò của đầu tư XDCB
Trước hết cần phải xác định rõ rằng đầu tư nói chung đóng một vai tròquan trọng trong nền kinh tế, là động lực để phát triển kinh tế, là chìa khoácủa sự tăng trưởng Nếu không có đầu tư thì không có phát triển
6
Trang 16Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để
Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh -quốc phòng… mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặckhông đầu tư ; các dư c̣án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quantrọng, then chốt nhất đảm bảo cho nền KT - XH phát triển ổn định theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Nhìn trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước, đầu tư vừa tác độngđến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Về cầu, đầu tư chiếm tỷ trọng lớntrong tổng cầu Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư chiếm khoảng 24 -28% trong cơ cấu tổng cầu của các nước trên thế giới Đầu tư có tác động tolớn đến việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Đầu
tư còn có mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệmcủa một số nước trên thế giới cho thấy, nếu muốn tốc độ phát triển kinh tếtăng cao (9 - 10%) thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khucông nghiệp và dịch vụ Ngoài ra đầu tư còn có tác động giải quyết những mấtcân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, xoá đói giảm nghèo, phát huy lợithế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế chính trị… của những vùng có khảnăng phát triển nhanh để làm đầu tàu cho vùng khác Đầu tư tác động đến tốcđộ tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tếcho thấy, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư ít nhấtphải đạt từ 15 - 20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước
Hai là, đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
bởi vì nó tạo ra các TSCĐ Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để sản xuất racủa cải vật chất, đặc biệt là tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội.Tất cả các ngành kinh tế chỉ tăng nhanh khi có đầu tư XDCB, đổi mới côngnghệ, xây dựng mới để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Đầu
7
Trang 17tư XDCB nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổchức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh,thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Đầu tư XDCB sẽ tạo điều kiện để phát triển mới,đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất ở các doanh nghiệp Đầu tư XDCB sẽ gópphần phát triển nguồn nhân lực, cải thiện cơ sở vật chất của giáo dục và đàotạo, khoa học và công nghệ, phát triển y tế, văn hoá và các mặt xã hội khác.Đầu tư XDCB góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm,phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện sống ở các địa phương nghèo,vùng sâu và vùng xa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các cơ sở sản xuấtvà dịch vụ, tạo ra những tác động tích cực cho vùng nghèo, người nghèo, hộnghèo khai thác các tiềm năng của vùng để vươn lên phát triển kinh tế, xoáđói giảm nghèo Từ đó đảm bảo tỷ lệ cân đối vùng miền, ngành nghề, khu vựcvà phân bổ hợp lý sức sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh.
Ba là, đầu tư XDCB của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai trò hếtsức quan trọng, bởi vì vốn dành cho đầu tư XDCB của Nhà nước chiếm mộttỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư XDCB của toàn xã hội Đầu tư XDCB của Nhànước góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơcấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội Mặt khác, đầu tư XDCB của Nhànước được tập trung vào những công trình trọng điểm, sử dụng nguồn vốnlớn, có khả năng tác động mạnh đến đời sống KT - XH Bên cạnh đó cũng cầnphải thấy rằng đầu tư XDCB của Nhà nước nếu không được quản lý một cáchhợp lý sẽ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu tư XDCB từ cácnguồn vốn khác [7, tr.11-12]
* Đặc điểm của đầu tư XDCB
Bất kỳ nền kinh tế nào thì đầu tư XDCB cũng mang những đặc điểm cơbản sau:
8
Trang 18Thứ nhất: Đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và
tái sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCBchính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêudùng lớn hơn trong tương lai
Để tạo ra TSCĐ cho nền kinh tế, là những điều kiện kỹ thuật cần thiếtđảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: xây dựng hệ thống hạ tầng,các nhà máy và mua sắm các thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến hiệnđại
Muốn đáp ứng được điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi tiềm năngnguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ nền kinh tế, huy động mọinguồn lực trong các tầng lớp dân cư, đồng thời phải tìm mọi giải pháp để thuhút các nguồn lực nước ngoài như: vốn ODA, FDI, NGO…
Xuất phát từ đặc điểm này đòi hỏi chúng ta trong việc huy động và sửdụng vốn đầu tư XDCB phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêudùng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ xuất hiện mâu thuẫn gaygắt giữa đầu tư và tiêu dùng
Thứ hai: Quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động
rất dài mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩmXDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyềnhàng loạt mà mỗi công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụthuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục vàphân tán Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10 năm, 20 năm,
50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án
Quá trình đầu tư XDCB gồm 3 giai đoạn: xây dựng dự án, thực hiện dựán và khai thác dự án
Xây dựng dự án và thực hiện dự án là hai giai đoạn có thời gian dàinhưng lại không tạo ra sản phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn
9
Trang 19giữa đầu tư và tiêu dùng Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bấtđộng hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này.Muốn nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần chú ý tập trung các điều kiệnđầu tư có trọng điểm, nhằm đưa nhanh các dư c̣án đầu tư vào khai thác sửdụng.
Khi xét hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần quan tâm xem xét cả 3 giaiđoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giaiđoạn thực hiện dự án, tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà khôngchú ý thời gian khai thác dự án Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tưXDCB mang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu,đảm bảo trình tự XDCB Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốnđược các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn chothích hợp để giảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ động vốn ở sản phẩm dởdang
Thứ ba: Đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư
chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhậnđược những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai,
“chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh tếđã nói rằng đầu tư là đánh bạc với tương lai
Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trìnhđầu tư kéo dài Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiênảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hếtkhi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá cáccông trình được đầu tư Sự thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sởsản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thayđổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho nhà đầu tư
Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quantâm đến lợi ích của các nhà đầu tư Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất
10
Trang 20là hoàn đủ vốn đầu tư cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế vàtránh được rủi ro Vì vậy, các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâmđến là ưu đãi, miễn giảm thuế, khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chếthanh toán vốn nhanh, kịp thời…
Thứ tư: Sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như
nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tínhcố định gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phảiđược quy hoạch cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trongđền bù giải tỏa giải phóng măṭbằng(GPMB), khi đã hoàn thành công trình thìsản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác
Sản phẩm của đầu tư XDCB là những TSCĐ, có chức năng tạo ra sảnphẩm và dịch vụ khác cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn, do nhiều người,thậm chí do nhiều cơ quan đơn vị khác cùng tạo ra
Sản phẩm của đầu tư XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuấtkhông theo một dây chuyền mà có tính cá biệt Mỗi công trình đều có điểmriêng nhất định Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàntoàn giống nhau Với những công trình công nghệ cao, có vòng đời thay đổicông nghệ ngắn như: công trình bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin,điện tử… thì việc thay đổi công nghệ, kiểu dáng luôn xảy ra
Giá thành sản phẩm XDCB rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theotừng giai đoạn Sản phẩm đầu tư XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹthuật mà còn mang tính nghệ thuật Sản phẩm đầu tư XDCB phản ánh trình độkinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sử nhấtđịnh của một đất nước
Quá trình XDCB bị tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên như tình hìnhđịa chất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Trongđầu tư XDCB, chu kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn Vì
11
Trang 21vậy, chọn công trình để bỏ vốn thích hợp nhằm giảm mức tối đa thiệt hại docông trình xây dựng dở dang là một thách thức lớn đối với các nhà thầu.
Nơi làm việc và lực lượng lao động không ổn định là điều bất lợi choquá trình XDCB, dẫn đến thời gian ngừng làm việc nhiều, năng suất lao độngthấp, dễ gây tâm lý tạm bợ, tùy tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộcông nhân công trường
Để thực hiện một dư c̣án đầu tư XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, córất nhiều đơn vị tham gia thực hiện Trên một công trường có thể có hàngchục đơn vị làm các công việc khác nhau, nhưng các đơn vị này cùng hoạtđộng trên một không gian và thời gian; vì vậy, trong tổ chức thi công cần phảiphối hợp chặt chẽ với nhau bằng các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng Tuyvậy, hiện nay cách thức giao nhận thầu chưa được cải tiến, giá bán được địnhtrước khi chế tạo sản phẩm Tức là trước khi nhà thầu biết giá thành thực tếcủa mình, việc ước lượng đúng đắn giá cả và phương tiện thi công rất khókhăn vì phải dựa trên những giả thiết mà rất có thể khi thi công thực tế bị phủđịnh
Điều phụ thuộc này buộc nhà thầu phải nắm chắc dự toán và kiểm trathường xuyên trong quá trình thi công
Ngoài những đặc điểm của đầu tư XDCB nói chung thì đầu tư XDCBtừ NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốnđầu tư XDCB bị tách rời nhau
Vốn đầu tư XDCB của NSNN là thuộc quyền sở hữu Nhà nước Nhànước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành chođầu tư XDCB và là người đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết địnhđầu tư, phê duyệt thiết kế dự toán (tổng dự toán) Song quyền sử dụng vốn đầu
tư XDCB Nhà nước lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu
tư, các Ban Quản lýdư c̣án Chủ đầu tư và các Ban Quản lýdư c̣án là tổ
12
Trang 22chức được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn đểthực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật.
Xuất phát từ đặc điểm này mà trong quản lý vốn đầu tư XDCB củaNSNN dễ bị thất thoát Nếu các chủ đầu tư, các Ban Quản lýdư c̣án khôngngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khôngđáp ứng yêu cầu quản lý; Nhà nước không tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra bằng những cơ chế chính sách ràng buộc trách nhiệm thì thất thoátlãng phí trong đầu tư XDCB thuộc vốn NSNN là không thể tránh khỏi [7,tr.13-15]
1.1.3 Các bước của quá trình đầu tư XDCB
Trình tự đầu tư
Dư c̣án đầu tư được hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêngbiệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiếntrình lôgic Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lậpvà trên các góc độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diệnhơn Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dư c̣án đầu tưbao gồm 8 bước công việc, phân thành 3 giai đoạn theo sơ đồ 1.1
Căn cứ vào sơ đồ ta có thể nhận thấy sự liên quan chặt chẽ giữa cácbước: Bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là cơ sởthực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của dự án mà mộtvài bước có thể gộp vào nhau như ở giai đoạn chuẩn bi đầụ tư , đối với dự ánvừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu cơ hội đầu tư vàbước nghiên cứu dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chíchỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ và nhữngdự án có thiết kế mẫu Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khaithực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra và đánh giá đủ các khía cạnh về kinhtế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn,
13
Trang 23quy phạm (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mớiđược thực hiện bước tiếp theo.
Giai đoaṇ III Đƣa vào khai thác
Sơ đồ 1.1: Trình tự trong hoạt động đầu tƣ
(Nguồn: Bùi Mạnh Hùng, năm 2010, Giáo trình kinh tế xây dựng,
Nhà xuất bản xây dưngc̣, Hà Nội).
Xét tổng thể 3 giai đoạn thì mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất khácnhau nên có vai trò tác dụng khác nhau đối với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Giai đoạn chuẩn bi đầụ tư và thực hiện dư c̣án đầu tư là 2 giai đoạn quantrọng nhất trong quá trình thực hiện đầu tư, bao gồm nhiều công việc khácnhau:
-Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bi đầụ tư gồm:
+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
14
Trang 24+ Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ;tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồnvốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
+ Lập dư c̣án đầu tư
+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết địnhđầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập
dư c̣án đầu tư
- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:
+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển và thềm lục địa
+ Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
+ Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế giám định kỹ thuật và chất lượng công trình
+ Phê duyệt, thẩm định thiết kế và tổng dự toán, dự toán hạng mục công
trình
+ Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, thiết bị
+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)
+ Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu
+ Thi công xây lắp công trình
+ Kiểm tra giám sát thực hiện các hợp đồng
Đặc điểm của 2 giai đoạn này là chi phí về vốn đầu tư rất lớn nhưngchưa tạo ra sản phẩm, chưa thu lợi ích từ các dự án, dễ xảy ra các trường hợptiêu cực dẫn tới giảm hiệu quả đầu tư Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảsử dụng vốn đầu tư của 2 giai đoạn này cần tập trung vào việc nâng cao chất
Trang 2515
Trang 26lượng của các sản phẩm khảo sát, thiết kế, lập dự toán , nâng cao chất lượngsản phẩm đầu tư XDCB đảm bảo thời gian thi công, giảm thiểu những thấtthoát lãng phí trong đầu tư XDCB.
- Trong giai đoạn 3, đưa công trình dự án vào khai thác sử dụng tức làmục tiêu cuối cùng của dự án được thực hiện, các lợi ích KT - XH từ dự ánđược thu nhận, những chi phí chủ yếu là chi phí vận hành Các giải pháp nângcao hiệu quả trong giai đoạn này cần phải tập trung vào việc thực hiện tốt tổchức quản lý sản xuất, quản lý kỹ thuật công nghệ, quản lý lao động, quản lýtài chính, quản lý tiêu thụ sản phẩm, hiệu suất máy móc thiết bị, năng suất laođộng được nâng cao, vốn sản xuất được tiết kiệm, sản phẩm tiêu thụ nhanh,giá cả hợp lý Đó là những yếu tố làm tăng hiệu quả sản xuất trong giai đoạnkhai thác dự án, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Vì vậy việcđánh giá hiệu quả vốn đầu tư cần phải được xem xét toàn diện cả ba giai đoạncủa quá trình đầu tư hoàn chỉnh [8, tr.44-45]
1.1.4 Phân loại dự án đầu tƣ
Trên thực tế, các dư c̣án đầu tư rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy môvà thời hạn Do vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta cóthể phân loại dư c̣án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau
- Theo tính chất của dự án, người ta có thể chia dư c̣án đầu tư thành cácloại dự án: dư c̣án đầu tư sản xuất kinh doanh, dư c̣án đầu tư phát triển KT -
XH, dư c̣án đầu tư nhân đạo
- Theo nguồn vốn đầu tư , có dư c̣án đầu tư bằng vốn trong nước, vốnđầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn ODA, vốn đầu tư của Chính phủ, vốn đầu
tư của khu vực tư nhân, vốn liên doanh và vốn cổ phần…
- Theo ngành, lĩnh vực đầu tư, có dự án thuộc ngành công nghiệp, nôngnghiệp, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng dịch vụ…
16
Trang 27- Theo quy mô: dư c̣án đầu tư quy mô lớn, dư c̣án đầu tư quy mô vừa vànhỏ.
* Phân loại dự án theo yêu cầu phân cấp quản lý của Nhà nước thì
trong Luật Xây dựng và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 củaChính phủ về quản lý dư c̣án đầu tư xây dựng công trình đã phân dự án thành
ba nhóm như sau:
hạ tầng khu công nghiệp (không kể mức vốn)
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thácdầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chếbiến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông , sân bay,đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư trên1.500 tỷ đồng
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác vớicác điểm trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bi ỵ tế, công trình
cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với tổng mức đầu tư trên1.000 tỷ đồng
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành
sứ, thuỷ
tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp,nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm, thủy sản với tổng mức đầu tư trên
700 tỷ đồng
Trang 2817
Trang 29- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát
thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở),kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khácvới tổng mức đầu tư trên 500 tỷ đồng
Dự án nhóm B
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thácdầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chếbiến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông , sân bay,đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư từ 75 tỷđồng đến 1.500 tỷ đồng
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác vớicác điểm trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bi ỵ tế, công trình
cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với tổng mức đầu tư từ
50 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới, công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiênnhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản , chế biến nông , lâm, thủy sản với tổng mức đầu tư từ 40 tỷ đồng đến 700 tỷ đồng
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát
thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở), khotàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác vớitổng mức đầu tư từ 30 tỷ đến 500 tỷ đồng
Dự án nhóm C
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thácdầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chếbiến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông , sân bay,
Trang 3018
Trang 31đường sắt , đường quốc lộ ) Các trường phổ thông nằm trong quy hoạch (không kểmức vốn ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư dưới 75 tỷ đồng.
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác vớicác điểm trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bi ỵ tế, công trình
cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với tổng mức đầu tư dưới
- Các dư c̣án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát
thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở), khotàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác vớitổng mức đầu tư dưới 30 tỷ đồng
Ghi chú: Các dự án nhóm A về đường sắt , đường bô c̣phải đươcc̣ phân đoaṇ theo chiều dài đường , cấp đường , cầu th eo hướng dâñ của Bô c̣Giao thông vâṇ tải Các dự án xây dựng trụ sở, nhà làm việc của cơ quan nhà nước phải thực hiện theo quyết đinh của Thủ tướng Chính phủ [3, Phụ lục I, tr.1-2].
1.2 VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm
Như chúng ta đã biết, chi NSNN là quá trình Nhà nước và các chủ thểkhác có liên quan tiến hành, phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thuNSNN lập nên nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự tồn tại, hoạtđộng bình thường của bộ máy Nhà nước và để phục vụ thực hiện các chức
Trang 3219
Trang 33năng nhiệm vụ về kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước phải gánh vácthích ứng với từng thời kỳ cụ thể.
Về các nội dung chi NSNN, khi phân loại chúng người ta thường thấyrằng, có một bộ phận rất lớn các khoản chi thường phát sinh khá đều đặn cảvề mặt thời gian, không gian và quy mô khoản chi (được lặp đi lặp lại nhiềulần) gắn với sự hoạt động của bộ máy Nhà nước cũng như duy trì thực hiệncác chức năng những nhiệm vụ của Nhà nước và chúng được gọi là chithường xuyên Hầu hết ở các quốc gia trên thế giới, chi thường xuyên chiếmphần lớn trong tổng chi NSNN (60 - 80%), thậm chí có quốc gia tỷ trọng đócòn lớn hơn Phần còn lại của chi NSNN không có được tính chất chi thườngxuyên nói trên và được coi là chi không thường xuyên Trong chi khôngthường xuyên có một bộ phận rất quan trọng được sử dụng nhằm tạo ra cơ sởvật chất, tài sản, vốn liếng kinh doanh cho Nhà nước và quốc gia, và chúngđược phát huy tác dụng lâu dài trong tương lai được gọi là chi đầu tư; phầncòn lại của chi không thường xuyên có thể là chi trả nợ, chi tài trợ trong nước,viện trợ và cho vay nước ngoài
Như vậy, chi đầu tư là một bộ phận của chi NSNN, chúng được sử dụng để tạo cơ sở vật chất, tài sản, vốn liếng của Nhà nước và của quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển KT-XH trước mắt cũng như lâu dài của quốc gia.
Nếu phân loại theo nội dung các khoản chi, chi đầu tư từ NSNN baogồm: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT - XH không có khảnăng thu hồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế,các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào cácdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quyđịnh của pháp luật; chi bổ sung dự trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển thuộccác Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; các khoản chi đầu tưphát triển khác theo quy định của pháp luật
20
Trang 34Nếu phân loại theo phân cấp quản lý ngân sách, chi đầu tư từ NSNNbao gồm: chi đầu tư (chi đầu tư phát triển) của ngân sách trung ương (do cácBộ, ngành quản lý) và chi đầu tư của ngân sách địa phương (do các tỉnh quảnlý sử dụng).
Trong chi đầu tư phát triển của ngân sách địa phương, chi đầu tư XDCB luôn chiêm hơn 99% trong tổng chi đầu tư của ngân sách, các khoản chi đầu tư còn lại chiêm tỷ trọng nhỏ như: chi hỗ trợ doanh
nghiệp cung cấp sản phẩm dicḥ vu Ccông ích , chi bổsung vốn doanh
nghiêpC nhànước, … Do vậy, hiệu quả sưỬ dungC vốn đầu tư từ NSNN được coi như là hiệu quả sưỬ dungC vốn đầu tư XDCB từNSNN.
- Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:
+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)
+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ)
- Phân cấp quản lý ngân sách chia vốn đầu tư XDCB từ NSNN gồm:
+ Vốn đầu tư XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các
khoản thu của ngân sách trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cholợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các Bộ, ngành quản lý sửdụng
+ Vốn đầu tư XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ cáckhoản thu ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợiích của từng địa phương đó Nguồn vốn này thường được giao cho các cấpchính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý, thực hiện
Nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có
Trang 3521
Trang 36tác dụng chung cho nền KT - XH mà các thành phần kinh tế khác không cókhả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoànlại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏiphải quản lý chặt chẽ.
1.2.2 Hiêụ quảsƣƢ̉ dungC vốn NSNN vào đầu tƣ XDCB
a) Khái niệm hiêụ quảvốn đầu tư XDCB
Do nguồn lực khan hiếm, có hạn nên nhu cầu đầu tư luôn luôn cao hơnkhả năng đầu tư của nền kinh tế Điều này đòi hỏi vốn đầu tư phải được sửdụng có hiệu quả nhằm trong một thời gian nhất định với một khối lượng vốnđầu tư có hạn nhưng lại có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu đầu tư nhằm gópphần thoả mãn tối đa nhu cầu xã hội
Như vậy hiệu quả vốn đầu tư là một phạm trù kinh tế khách quan Nótồn tại là do sự có hạn của nguồn lực Yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực nóichung, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nói riêng càng trở nên bức thiết đối vớinền kinh tế [7, tr.25]
Hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là so sánh giữa kết quả thu được sovới chi phí đã bỏ ra Trong hoạt động đầu tư, hiệu quả đầu tư (E) chính là sự
so sánh giữa kết quả thu được (K) với vốn đầu tư đã bỏ ra (I) Có 2 cách xácđịnh:
- Hiệu quả tuyệt đối: E = K - I
- Hiệu quả tương đối: E(%) =
-IHoạt động đầu tư không có hiệu quả (hiệu quả đầu tư bằng 0) khi cả (1)và (2) bằng 0
Hoạt động đầu tư kém hiệu quả khi cả (1) và (2) đều nhỏ hơn 0
Hoạt động đầu tư càng có hiệu quả khi cả (1) và (2) càng lớn hơn 0
22
Trang 37Khi xem xét hiệu quả bất cứ một khoản đầu tư nào, người ta đều xemxét chúng trên 2 giác độ: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tếquốc dân.
Hiệu quả tài chính: là hiệu quả trực tiếp mà khoản đầu tư mang lại cho
chủ đầu tư về mặt tài chính Đó chính là so sánh toàn bộ thu nhập (quy ra tiền)mà khoản đầu tư mang lại so với toàn bộ chi phí (quy ra tiền) đã bỏ ra đầu tư.Người ta thường dùng thuật ngữ lợi nhuận, lỗ, lãi để chỉ hiệu quả tài chính.Hiệu quả tài chính được các nhà đầu tư tư nhân (cá nhân, doanh nghiệp )quan tâm hàng đầu Hiệu quả tài chính dễ định lượng
Hiệu quả kinh tếquốc dân (còn được gọi là hiệu quả tổng hợp hay hiệu
quả KT - XH): là kết quả về mặt KT - XH mà khoản đầu tư mang lại
Hiệu quả KT - XH được xác định trên cơ sở số nhân kinh tế (hay sốnhân đầu tư, tức là một khoản đầu tư sẽ được nhiều đối tượng kế tiếp nhauhấp thụ, chi tiêu theo một tỷ lệ nào đó, và sau một thời gian nhất định, khoảnđầu tư này sẽ tự lớn lên gấp nhiều lần so với ban đầu) và các ngoại ứng phátsinh trong hoạt động chi tiêu (chi tiêu này kích thích phát sinh chi tiêukhác )
Khi nói đến hiệu quả KT - XH là xem xét ở tầm vĩ mô, trên phạm vitoàn xã hội Các khoản đầu tư tư nhân cũng có phát huy hiệu quả trên giác độnày, song không nhiều lắm Ngược lại, các khoản đầu tư của Nhà nước, hiệuquả của chúng lại chủ yếu được đánh giá ở tầm vĩ mô Do vậy hiệu quả KT-
XH của khoản đầu tư từ NSNN rất khó định lượng, chỉ có thể xét định tínhqua một số chỉ tiêu
Hiệu quả vốn đầu tư XDCB hiểu một cách chung nhất biểu hiện mốiquan hệ so sánh giữa các lợi ích của vốn đầu tư XDCB và khối lượng vốn đầu
tư XDCB bỏ ra nhằm đạt được những lợi ích đó Lợi ích của vốn đầu tưXDCB thể hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu xã hội của sản phẩm do vốn đầu
tư XDCB bỏ ra, bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội
23
Trang 38Lợi ích kinh tế của vốn đầu tư XDCB thể hiện ở mức độ thực hiện cácmục tiêu kinh tế của quá trình đầu tư XDCB nhằm thoả mãn chủ yếu các nhucầu vật chất của xã hội Do đó lợi ích kinh tế biểu hiện cụ thể về sự thay đổicán cân thương mại, ở mức độ lợi nhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sảnxuất, tăng trưởng của nền kinh tế…
Lợi ích xã hội của vốn đầu tư XDCB, ngoài việc thực hiện các mục tiêukinh tế nói trên còn thực hiện các mục tiêu xã hội khác như mục tiêu chính trị,mục tiêu an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội…Theo đó lợi ích xã hội của vốnđầu tư XDCB còn bao gồm những sự thay đổi về điều kiện sống và điều kiệnlao động, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi công cộng, chăm sóc
y tế và quyền bình đẳng… Dựa vào quá trình quản lý đầu tư XDCB ta thấy: từkhi có vốn đầu tư , tiến hành thực hiện đầu tư sẽ tạo một khối lượng TSCĐ.Khi các TSCĐ này được sử dụng (giai đoạn khai thác dự án) sẽ tạo ra mộtkhối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nhất định Lợi ích của vốn đầu tưchỉ xuất hiện khi mà sản phẩm hàng hoá dịch vụ được sử dụng thoả mãn nhucầu theo mục tiêu đã định
b) Các tiêu chí sử dụng để đánh giá hiêụ quảsửdungg̣ vốn đầu tư XDCB
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tê:
- Chỉ số ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và
tăng
trưởng
Chi đầu tư của NSNN là một trong những nguồn lực quan trọng tạo ragiá trị gia tăng cho nền kinh tế, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng cóđược không những là bao gồm phần giá trị mới của chính khoản chi đầu tưmang lại, mà còn nhờ vào số nhân kinh tế và ngoại ứng tích cực (như đã trìnhbày ở trên) tạo thành phản ứng dây chuyền cho nền kinh tế tăng trưởng.Khoản chi đầu tư được coi là có hiệu quả cao khi thông qua khoản chi đó, thuhút được nhiều khoản đầu tư khác kéo theo và một số nhân kinh tế lớn xuất
24
Trang 39hiện thông qua hàng loạt các hoạt động KT - XH khác được thiết lập và pháthuy Ví dụ: Sau khi một hệ thống giao thông hay một mạng lưới chuyển tảiđiện được xây dựng, chắc chắn hàng loạt các cơ sở sản xuất, thương mại, dịchvụ … sẽ được khai trương để tận hưởng những điều kiện mà giao thông vàđiện mang lại Mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và tăng trưởng được thể hiệnqua chỉ số ICOR.
Công thức: ICOR = I/ GDP = (I/GDP)/( GDP/GDP) = (I/GDP)/g
Hay I = ICOR x GDP
Trong đó:
ICOR: là hệ số tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc nội
I: là vốn đầu tư
GDP: mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội.
g: là tốc độ tăng trưởng kinh tế
Hệ số ICOR cho biết trong thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm 1 đồng GDPthì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư Hệ số này càng thấp thì hiệu quả vốn đầu
tư càng cao Nếu hệ số ICOR không đổi thì tỷ lệ giữa vốn đầu tư (I) so vớiGDP sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế (tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độtăng trưởng càng cao và ngược lại)
Hệ số ICOR đóng vai trò rất quan trọng trọng việc xây dựng các kếhoạch kinh tế Đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi nhất trong việc tính toánnhu cầu vốn đầu tư theo các mô hình kinh tế
Thông qua việc sử dụng hệ số ICOR chúng ta thấy rõ sự gia tăng vốnđầu tư đặt trong mối quan hệ với sự gia tăng GDP Chỉ tiêu ICOR ở mỗi nướcphụ thuộc vào nhiều nhân tố như: cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong cácngành, các vùng lãnh thổ, cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách
25
Trang 40kinh tế nói chung ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu phụ thuộcvào việc tận dụng năng lực sản xuất Do đó ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tưthấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp.
Việc đánh giá hiệu quả chi đầu tư thông qua ICOR cần dựa trên nhiềuyếu tố liên quan : trình độ phát triển nền kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tếtừng giai đoạn, các yếu tố bất thường về chính trị, thiên tai… Nhưng nhìnchung, ICOR càng thấp thì hiệu quả chi đầu tư của nền kinh tế càng cao
- Tỷ lệ thất thoát trong chi đầu tƣ:
Thất thoát trong chi đầu tư là số tiền thực tế đã chi ra khỏi quỹ NSNNnhưng không đến được đối tượng chi, không cấu thành trong giá trị của đốitượng chi Khoản thất thoát này chúng được “rẽ ngang”, “rẽ dọc” rất phức tạpvà cuối cùng thường phổ biến là chui vào túi các cá nhân một cách bất hợppháp
Thất thoát xảy ra phổ biến nhất trong các khoản đầu tư XDCB, chi muasắm và chi cho các hoạt động của các chương trình dự án
Trong XDCB, thất thoát chủ yếu là bớt xén các hạng mục công trình sovới thiết kế; thay đổi vật tư nguyên liệu với chất lượng thấp hơn và giá rẻ hơn;rút ruột công trình theo đúng nghĩa đen (bớt xi măng, bớt sắt thép ), để cuốicùng công trình có chất lượng thấp nhưng giá quyết toán vẫn cao, vì có nhiềukhoản đã bị quyết toán khống trong đó
Thất thoát trong mua sắm tài sản thường gặp là khai man giá cả caohơn giá thực tế, hoặc mua hàng cũ, hàng kém chất lượng được tân trang lạinhưng chi thanh toán vẫn theo giá hàng đúng tiêu chuẩn Phần chênh lệch giánày sẽ chạy vào túi các cá nhân có liên quan Kết quả là thực tế chi đầu tưcao, song tài sản mua sắm lại có chất lượng kém, thời gian sử dụng ngắn
26