Luận văn hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụngvốn đầu tư xây dựng cơ bản trong doanh nghiệp khai thác và chế biến khoángsản, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-TRẦN XUÂN DŨNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-TRẦN XUÂN DŨNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC THANH
Hà Nội - 2009
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ
SỐ HIỆU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY DỰNG
Sơ đồ 2 CƠ CẤU, TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY
DANH MỤC BẢNG
SỐ HIỆU
BẢNG
Bảng 2.1 CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TỪ NĂM 2004 - 2008
Bảng 2.2 LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP BÌNH QUÂN CỦA CÔNG TY
Bảng 2.3 TÌNH HÌNH ĐẢM BẢO NGUỒN VỐN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Bảng 2.4 NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÔNG TY
Bảng 2.5 CƠ CẤU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY TỪ NĂM 2004 - 2008
Bảng 2.6 BẢNG TÍNH TRỊ GIÁ BÌNH QUÂN CỦA VỐN
Bảng 2.10.CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THANH TOÁN
Bảng 3.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH DỰ KIẾN CỦA CÔNG TY
Trang 5MỤC LỤC
Tran g
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1 Doanh nghiệp xây dựng
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng
1.2.1 Vốn
1.2.1.1 Khái niệm
1.2.1.2 Phân loại vốn
1.2.1.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
1.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
1.1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn
1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp xây dựng
1.1.3.1 Các nhân tố khách quan
1.1.3.2 Các nhân tố chủ quan
1.1.4 Sự cần thiết khách quan nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp xây dựng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 BẮC GIANG
2.1 Tổng quan về công ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần xây dựng số
1 Bắc Giang
2.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
Trang 62.2.2.1 Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh 2.2.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tổng vốn
2.2.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn cố định
2.2.2.4 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
2.2.2.5 Khả năng thanh toán của công ty
2.2.3 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn của công ty
2.2.3.1 Những kết quả đạt được
2.2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 BẮC GIANG TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI
3.1 Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới
3.1.1 Dự báo về nhu cầu xây dựng trong thời gian tới
3.1.2 Định hướng phát triển của công ty
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang
3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn
3.2.2 Điều chỉnh cơ cấu vốn
3.2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
3.2.3.1 Lựa chọn phương pháp trích khấu hao hợp lý
3.2.3.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư đổi mới tài sản cố
định 3.2.3.3 Thực hiện thuê và cho thuê tài sản cố định
3.2.3.4 Nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định
3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
3.2.4.1 Đẩy nhanh việc thu hồi công nợ, thúc đẩy hoạt động
thanh toán giữa các đối tác 3.2.4.2 Tăng cường quản lý vốn lưu động trong khâu sản xuất
kinh doanh 3.2.4.3 Thực hiện tốt công tác dự toán ngân quỹ
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là yếu tố cơ bản không thể thiếu đối với quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, có vốn mà sử dụng không hiệu quả thìkhông những lãng phí mà còn dẫn đến thất thoát vốn Do đó ngoài việc phải
tổ chức huy động vốn, việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất là vấn
đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp,lợi ích của các nhà đầu tư cũng như của người lao động
Thời gian vừa qua, thế giới đã chứng kiến những sự kiện quan trọng như:lạm phát tăng, giá cả leo thang, sự sụp đổ của hệ thống các ngân hàng, sự sụtgiảm của thị trường chứng khoán khắp nơi trên thế giới Những sự kiện đó đã
và đang tác động rất lớn tới các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế ở cácnước Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đưa chính sách thắt chặt tiền tệ để kìmchế lạm phát, đã làm lãi suất vay vốn tăng cao, dẫn đến các doanh nghiệp khótiếp cận được nguồn vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựngthường sử dụng nhiều vốn vay trong hoạt động kinh doanh của mình Mặt khác,trong lĩnh vực xây dựng, giá cả các loại vật liệu biến động liên tục, nhất là cácmặt hàng sắt thép, xi măng, làm cho các doanh nghiệp xây dựng luôn phải chủđộng về vốn để đối phó với tình hình
Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang là một trong những đơn vịchủ chốt của tỉnh hoạt động trong lĩnh vực xây lắp các công trình, tiền thân làCông ty xây dựng Hà Bắc được thành lập từ năm 1979, nhưng chỉ đến năm
1994 mới chính thức chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường Từ đóđến nay, công ty đã phát triển mạnh mẽ và toàn diện nhất là từ năm 2005 khichuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, công ty liên tụctrúng thầu thi công xây lắp nhiều công trình lớn trong và ngoài tỉnh Nhữngcông trình do đơn vị thi công đều đạt yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật đã khẳng
Trang 9định thương hiệu, củng cố uy tín, tạo các tiền đề cơ bản về cơ sở vật chất vànăng lực quản lý của Công ty trong quá trình hội nhập kinh tế, doanh thu liêntục tăng năm sau cao hơn năm trước Trước những khó khăn chung mà cáccông ty xây dựng hiện đang gặp phải, Công ty cổ phần xây dựng số 1 BắcGiang đã áp dụng nhiều giải pháp, phát huy sức mạnh nội lực, trong đó việchuy động thêm nguồn vốn và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả luôn đượcquan tâm hàng đầu Tuy nhiên, trong quá trình công tác ở địa bàn tỉnh, quanghiên cứu báo cáo tài chính của Công ty các năm, tác giả nhận thấy mặc dùdoanh thu, lợi nhuận tăng nhưng việc bố trí cơ cấu vốn của công ty chưa thật
sự hợp lý, việc chủ động vốn trước những biến động của thị trường còn hạnchế cho nên khi thị trường có sự thay đổi đã ảnh hưởng rất lớn tới công ty.Câu hỏi đặt ra là thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty như thế nào?Giải pháp gì để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty? Nhận thức được
thực tế khách quan này, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về việc nângcao hiệu quả sử dụng vốn, như:
- Đàm Đức Biên (2006), Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn đối với Công ty
Đầu tư và Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại
học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Luận văn đi vào phân tích, đánh giá thực trạngcủa cơ chế quản lý vốn đối với loại hình doanh nghiệp xây dựng và thươngmại là Công ty Đầu tư và Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam, từ đó đưa racác giải pháp để hoàn thiện cơ chế quản lý vốn của công ty
- Nguyễn Kiên Cường (2007), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
xây dựng cơ bản tại Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh, Luận
Trang 10văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia
Hà Nội Luận văn hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụngvốn đầu tư xây dựng cơ bản trong doanh nghiệp khai thác và chế biến khoángsản, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơbản tại Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh, từ đó đề xuất một
số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản tại Tổng công ty trong thời gian tới
- Nguyễn Thanh Hội (1994), Những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Tài liệu hệ thống một số giải
pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu tậptrung vào nghiên cứu về cơ chế quản lý vốn hoặc chỉ nghiên cứu về một loạinguồn vốn nhất định Các công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sửdụng vốn của một doanh nghiệp xây lắp cụ thể không nhiều Đặc biệt là tạiCông ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang từ khi thành lập đến nay chưa cócông trình nghiên cứu nào đề cập đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
công ty Do đó, đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần
xây dựng số 1 Bắc Giang” sẽ nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn trong việc
sử dụng vốn của công ty
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn và đề xuất những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 BắcGiang trong thời gian sắp tới
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở khoa học về vốn, sử dụng vốn và tiêu chíđánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tếthị trường; Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xâydựng số 1 Bắc Giang qua đó tìm ra những kết quả đã đạt được và các hạn chế,tồn tại, nguyên nhân dẫn đến các hạn chế, tồn tại cần khắc phục; Đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng
số 1 Bắc Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần
xây dựng số 1 Bắc Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn của Công
ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008,trong đó năm 2004 là năm trước khi cổ phần hóa, từ năm 2005 đến năm 2008
là giai đoạn bắt đầu hoạt động theo mô hình công ty cổ phần
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Thống kê, sosánh; phân tích và tổng hợp Các phương pháp được sử dụng kết hợp nhằmlàm rõ đối tượng nghiên cứu, đồng thời góp phần đưa ra những giải pháp phùhợp với tình hình sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Khái quát những vấn đề mang tính chất lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổphần xây dựng số 1 Bắc Giang thông qua các nội dung của hiệu quả sử dụngtổng vốn, vốn cố định, vốn lưu động và khả năng thanh toán của Công ty cổ
Trang 12phần xây dựng số 1 Bắc Giang Từ đó chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân trong việc sử dụng vốn của công ty.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang trong thời gian sắp tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phần nội dung luận văn được bố trí gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang trong thời gian sắp tới
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh xây dựng [3].
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng được thểhiện ở 3 yếu tố về sản phẩm xây dựng, quy trình sản xuất sản phẩm xây dựng
và thị trường xây dựng
* Về sản phẩm xây dựng:
Sản phẩm của ngành xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng
đã hoàn thành (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong),thường có những đặc điểm sau:
- Sản phẩm mang tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cơ cấu và cả vềphương diện chế tạo Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặthàng của chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng
- Sản phẩm của xây dựng là những công trình nhà cửa được xây dựng
và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn ởnhiều nơi trên lãnh thổ Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính chấtlưu động cao và thiếu ổn định
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn và trọng lượng lớn, vốn
đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài Do đó,những sai lầm về xây dựng có thể gây nên lãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khósửa chữa Sản phẩm xây dựng chủ yếu đóng vai trò nâng đỡ và bao che,không tác động trực tiếp lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất (trừmột số loại công trình đặc biệt như đường ống, công trình thủy lực, lò luyệngang thép )
Trang 14- Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấpcác yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình.
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến cảnh quan môi trường và môitrường tự nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đếndân cư của địa phương nơi đặt công trình
Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tốthượng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quánsinh hoạt…
Trang 15hợp, lợi dụng tối đa lực lượng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranhthầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu.Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải phát triển rộng khắp trên lãnh thổ các loạihình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng như: các dịch vụ cho thuê máy xâydựng, cung ứng và vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng…
- Thứ hai, chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài.Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của tổchức xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây dựng, các tổchức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trìnhxây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và côngnghệ… nếu thời gian xây dựng quá dài Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xâydựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án, phải lựa chọnphương án có thời gian hợp lý, phải có chế độ thanh toán và kiểm tra chấtlượng trung gian thích hợp, dự trữ hợp lý
- Thứ ba, sản phẩm xây dựng thường sản xuất theo phương pháp đơnchiếc, thi công công trình thường theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư cho từngtrường hợp cụ thể Trong phần lớn các ngành sản xuất khác, người ta có thểsản xuất hàng loạt sản phẩm để bán Nhưng với các công trình xây dựng thìkhông thể làm thế được, trừ một số trường hợp hiếm hoi khi chủ đầu tư làmsẵn một số nhà để bán, nhưng ngay cả ở đây, mỗi nhà cũng đều có những đặcđiểm riêng do điều kiện địa chất và địa hình đem lại Do đó, sản xuất xâydựng của các tổ chức xây dựng có tính bị động và rủi ro cao vì nó phụ thuộcvào kết quả đấu thầu; việc thống nhất hoá, điển hình hoá các mẫu sản phẩm vàcông nghệ chế tạo sản phẩm xây dựng gặp nhiều khó khăn Đặc điểm này dẫnđến yêu cầu là phải xác định giá cả của sản phẩm xây dựng trước khi sảnphẩm được làm ra và hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu cho xây dựngtừng công trình cụ thể trở nên phổ biến trong sản xuất xây dựng Đặc điểm
Trang 16này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng muốn thắng thầu phải tích luỹ nhiềukinh nghiệm cho nhiều trường hợp xây dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thậnkhi tranh thầu.
- Thứ tư, quá trình sản xuất mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phứctạp, các công việc xen kẽ và ảnh hưởng lẫn nhau Quá trình sản xuất, thường
có nhiều đơn vị cùng tham gia tại hiện trường thi công với một diện tích cóhạn để thực hiện phần việc của mình, theo một trình tự nhất định về thời gian
và không gian Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải có trình độ tổchức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị xây dựng vàthiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức xây dựng tổng thầuhay thầu chính và các tổ chức thầu phụ
- Thứ năm, sản xuất xây dựng nói chung thực hiện ngoài trời nên chịunhiều ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên đến các hoạt động lao động Ảnhhưởng của thời tiết thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sảnxuất của tổ chức xây dựng không được sử dụng điều hoà theo bốn quý, gâykhó khăn cho việc lựa chọn trong trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiềuhơn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Đặc điểm nàyđòi hỏi các các tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thờitiết xấu, phấn đấu tìm cách hoạt động tròn năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làmsẵn trong xưởng một cách hợp lý để giảm bớt thời gian thi công tại hiệntrường, áp dụng cơ giới hoá hợp lý, chú ý độ bền chắc của máy móc thiết bị,đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, chú ýđến nhân tố rủi ro về thời tiết khi tính toán tranh thầu, quan tâm phát triểnphương pháp xây dựng trong điều kiện nhiệt đới
- Thứ sáu, sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch
do điều kiện của địa điểm xây dựng đem lại Cùng một loại công trình xâydựng nhưng nếu nó được đặt ở nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng,
Trang 17nguồn máy móc xây dựng cho thuê và sẵn nhân công thì người nhận thầu xâydựng ở trường hợp này có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất và thu đượclợi nhuận cao hơn.
- Thứ bảy, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây dựng được thực hiện theo một quy trình riêng
Nhận thầu,
ký hợp đồng
Sơ đồ 1: QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY DỰNG
Ngoài ra, ở Việt Nam có những đặc điểm xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế
xã hội đã tác động không nhỏ tới công tác tổ chức sản xuất trong toàn ngành xâydựng, như: lực lượng xây dựng nước ta rất đông đảo, song còn phân tán manhmún, thiếu công nhân lành nghề; trình độ trang bị máy móc thiết bị tiên tiến cònrất hạn chế; trình độ tổ chức thi công và quản lý xây dựng kém…
* Về thị trường xây dựng:
Xét trong phạm vi rộng về lĩnh vực đầu tư xây dựng thì các doanh nghiệpxây dựng là bên cầu và các doanh nghiệp cung cấp vật tư cho xây dựng là bêncung Xét trong phạm vi hẹp của sản xuất xây lắp thì các doanh nghiệp xây dựngđóng vai trò bên cung và các chủ đầu tư đóng vai trò bên cầu
Cung cầu trong xây dựng có sự gián đoạn hơn so với các ngành khác vìnhu cầu đầu tư xây dựng nhà cửa và công trình không thể xảy ra thườngxuyên nếu nhìn nhận theo từng chủ đầu tư riêng rẽ Đặc điểm này làm cho cácdoanh nghiệp xây dựng khó kiếm được việc làm thường xuyên hơn so vớicác ngành khác Do vậy đòi hỏi công tác lập kế hoạch sản xuất trong cácdoanh nghiệp xây dựng phải đi trước một bước, tức là luôn luôn phải có cáccông trình gối đầu, tránh để tình trạng máy móc và các trang thiết bị sản xuấtchờ công trình, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Trang 18Cung cầu trong xây dựng phụ thuộc vào chu kỳ suy thoái và hưng thịnhcủa nền kinh tế Thời kỳ nền kinh tế trong giai đoạn hưng thịnh, đầu tư xâydựng phát triển và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xây dựngđược nâng cao Ngược lại, khi nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái thì đầu
tư xây dựng kém phát triển Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng cũngphải quan tâm tới chu kỳ phát triển của nền kinh tế nói chung để có chiếnlược kinh doanh lâu dài, đối với từng chu kỳ phát triển kinh tế mà có chínhsách đầu tư thích hợp
Quá trình tiêu thụ sản phẩm xây dựng thường xảy ra trước khi sản phẩm(công trình, nhà cửa) ra đời, tức là bắt đầu từ khi chủ đầu tư công bố đấu thầuxây dựng, trải qua các quá trình thanh toán trung gian đến khi thanh quyết toáncông trình cuối cùng Sản phẩm xây dựng nói chung là không thể chế tạo sẵnhàng loạt để bán, trừ trường hợp chủ thầu xây dựng là các nhà kinh doanh bấtđộng sản và họ có thể xây sẵn một số căn hộ để bán hay cho thuê Quá trình muabán nói chung xảy ra trực tiếp giữa người mua và người bán thông qua đấu thầu,không qua đại lý bán hàng, trừ trường hợp có sự tham gia của các bên môi giới.Người mua (chủ đầu tư) phải tạm ứng tiền cho người bán (chủ thầu xây dựng)trong quá trình xây dựng, trừ trường hợp chủ thầu xây dựng muốn thắng thầu đã
tự nguyện tạm ứng vốn trước Người mua (chủ đầu tư) đóng vai trò quyết địnhtrong việc lựa chọn người bán và trong việc định giá bán
Giá cả sản phẩm xây dựng có tính cá biệt cao vì nó phụ thuộc vào địaphương có công trình xây dựng, vào phương án tổ chức xây dựng của từngcông trình, vào thời điểm và thời gian xây dựng cũng như ý muốn của người
có công trình xây dựng Điều này đòi hỏi việc sản xuất xây dựng cũng phảilinh hoạt, năng động thì mới bù đắp được chi phí sản xuất và kinh doanh cóhiệu quả Ngoài ra, giá công trình xây dựng hình thành chủ yếu thông qua đấuthầu và đàm phán
Trang 19Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của ngànhxây dựng cả về thị trường và quá trình sản xuất Trước hết, sản xuất xây dựngliên quan chặt chẽ đến việc sử dụng đất đai và các tài sản chung khác Bằngcác chính sách vĩ mô liên quan đến giá đất đai, nhà nước có thể làm hạn chếhoặc thúc đẩy hoạt động của thị trường xây dựng Ngoài ra, bằng việc đưa racác định mức, đơn giá, phương pháp tính toán chi phí xây dựng và các địnhhướng về giải pháp xây dựng cũng như các luật liên quan đến xây dựng, nhànước cũng có thể tác động tới giá cả trong sản xuất xây dựng.
Tất cả các đặc điểm kể trên đã ảnh hưởng đến mọi khâu của sản xuấtkinh doanh xây dựng, kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ sản xuất, lậpphương hướng phát triển khoa học kỹ thuật xây dựng, xác định trình tự củaquá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung ứng vật tư, cấu tạo vốn và trang
bị vốn, quy định chế độ thanh toán, lập chế độ kiểm tra chất lượng sản phẩmđến khâu hạch toán sản xuất kinh doanh trong xây dựng nói chung và quản lý
sử dụng tài sản nói riêng Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp xây dựng cần có những giải pháp phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹthuật của ngành
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng
1.2.1 Vốn
1.2.1.1 Khái niệm
Đầu tư là việc huy động các nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự kiếnthành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai Một nguồnlực quan trọng mà mọi dự án đầu tư đều phải huy động đó là nguồn vốn
Theo K.Marx, vốn là tư bản (Capital), là giá trị đem lại giá trị thặng dư.Theo đó vốn được xem xét dưới giác độ giá trị, là một đầu vào của quá trình sảnxuất Quan điểm này có tính khái quát cao mang ý nghĩa thực tiễn đến tận ngàynay Sau Marx, các nhà kinh tế học đại diện cho các trường phái kinh tế
Trang 20khác nhau đã đưa ra nhiều quan điểm về vốn Trong các quan điểm đó phải kểđến quan điểm về vốn của P.Samuelson và của D.Begg Theo P.Samuelsonvốn là những hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuấtmới, là một trong ba yếu tố đầu vào đối với hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp (vốn, lao động, đất đai) Như vậy vốn ở đây được xem xétdưới hình thái hiện vật, là tài sản cố định của doanh nghiệp Khác vớiSamuelson, trong cuốn "Kinh tế học" của David Begg, tác giả đưa ra hai địnhnghĩa về vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hànghoá đã sản xuất ra để sản xuất hàng hoá khác Vốn tài chính là tiền và các loạigiấy tờ có giá khác của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, vốn được xem xét dưới góc độ
là một yếu tố đầu vào của không chỉ một quá trình sản xuất riêng lẻ mà là củamột quá trình sản xuất và tái sản xuất diễn ra liên tục trong suốt thời gian tồntại của doanh nghiệp, thậm chí ngay cả khi doanh nghiệp không còn tồn tại thìvốn của nó lại được chuyển vào các quá trình sản xuất kinh doanh khác Theoquan điểm này vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo,vốn được biểu hiện bằng cả tiền mặt lẫn các giá trị vật tư, hàng hoá, tài sảncủa doanh nghiệp Vốn ở đây khác với tiền tệ thông thường khác Tiền sẽđược coi là vốn khi chúng được bỏ vào sản xuất kinh doanh, ngược lại nókhông được coi là vốn khi chỉ được dùng để mua sản phẩm phục vụ cho nhucầu sinh hoạt của cá nhân và xã hội
Quan điểm này kế thừa các quan điểm trước về vốn Quan điểm nàychỉ rõ vốn là giá trị được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích đemlại lợi nhuận, tức là mang lại giá trị thặng dư Vốn có hình thái biểu hiện làcác yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh như nhà xưởng, máy móc thiết
bị, vật tư cũng như các loại hàng hoá dự trữ, các khoản nợ, tiền mặt (ngânquỹ) Đồng thời vốn tồn tại dưới dạng hiện vật hoặc hình thái phi hiện vật
Trang 21Vốn là giá trị ứng ra để bỏ vào sản xuất kinh doanh, hình thành lên các tàisản của doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng phải có vốn, vốn
có vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp Điều này đòi hỏi các doanhnghiệp phải có nhận thức đúng đắn về vốn cũng như những đặc trưng cơ bảncủa vốn Đó là tiền đề cho việc quản lý sử dụng vốn một cách có hiệu quả
Từ các căn cứ trên, ta có thể thấy vốn có những đặc trưng cơ bản sau:
- Vốn được biểu hiện bằng tiền, là giá trị tài sản của doanh nghiệp dùngvào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác, tồn tại dướidạng hữu hình hoặc vô hình Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị củamột bộ phận nguồn lực mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuấtkinh doanh của mình Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng không phải tất cảmọi nguồn tiền đều là vốn, tiền chỉ biến thành vốn khi nó được sử dụng vàomục đích đầu tư hoặc kinh doanh
- Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa là vốn được biểuhiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như: máy móc, thiết
bị, nhà xưởng, đất đai, nguyên vật liệu hay vị trí kinh doanh, nhãn hiệu sảnphẩm, bản quyền phát minh, chất xám, thông tin Chúng ta cũng cần phânbiệt giữa vốn và tài sản, vốn là một bộ phận của tài sản nhưng không phảitoàn bộ tài sản đều là vốn Tài sản ở trạng thái tĩnh chỉ là vốn tiềm năng, tàisản hoạt động mới gọi là vốn
- Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh là nhằm mục tiêu sinh lời, đem lạilợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lai Vốn được biểu hiện bằng tiềnnhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, tiền chỉ biến thành vốn khi nó vậnđộng sinh lời Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểuhiện nhưng điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền Đồngtiền trở về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn Đó cũng là nguyên lý của đầu tư,
sử dụng và bảo toàn vốn
Trang 22- Vốn phải được tích luỹ đến một mức độ nhất định mới có thể pháthuy tác dụng Để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn phải đượctập trung thành một lượng đủ lớn nhất định Do đó, các doanh nghiệp khôngchỉ khai thác tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà phải tìm cách thu hútnguồn vốn như góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, nhận vốn liên doanh …
- Vốn có giá trị về mặt thời gian, có nghĩa là phải xem xét yếu tố thờigian của vốn, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốnvào ngày mai Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải xem xétyếu tố thời gian của vốn, vốn ở những thời điểm khác nhau có giá trị khácnhau do tác động của các yếu tố giá cả, lạm phát, lãi suất làm cho sức muacủa đồng tiền ở những thời điểm khác nhau cũng khác nhau Vì vậy, khi tínhtoán giá trị của đồng tiền phải đưa về cùng một thời điểm Điều này có ýnghĩa quan trọng trong việc tính toán lựa chọn phương án đầu tư và đánh giáhiệu quả sử dụng vốn
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, nếu không xác định rõđược chủ sở hữu vốn thì việc sử dụng vốn sẽ kém hiệu quả Đặc trưng này có
ý nghĩa to lớn trong việc xác định quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, xử lýtốt mối quan hệ này là tạo ra một động lực thúc đẩy quản lý và sử dụng vốn
Qua các đặc trưng của vốn trong nền kinh tế thị trường, có thể khái
quát lại: “Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản đầu tư vào sản xuất
và kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” [10].
1.2.1.2 Phân loại vốn
Trang 23Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà có nhiều tiêu thức phân loại vốn khácnhau như theo phương thức chu chuyển, theo nguồn hình thành, theo thờigian huy động và sử dụng vốn Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp xây dựng, người ta thường phân loại vốn theo phương thức chuchuyển, tức là phân chia vốn làm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động,đồng thời kết hợp với các tiêu thức khác để xem xét vốn dưới nhiều góc độ.
* Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển:
Đây là tiêu thức phân loại chủ yếu, hiệu quả nhất trong việc quản lývốn Căn cứ vào tiêu thức này, vốn được phân thành hai loại là vốn cố định
và chu chuyển của vốn cố định được quy định bởi đặc điểm vận động của tàisản cố định, mặc dù quy mô vốn cố định quyết định quy mô tài sản cố định
Tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động chủ yếu quan trọng nhất củadoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây dựng nói riêng Đó là những tưliệu lao động được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp vào sản xuất kinh
doanh Trong quá trình đó, nó không thay đổi hình thái vật chất ban đầu, đồngthời có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất cho đến lúc hư hỏng hoàn toàn vàgiá trị của nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm.Tương ứng với mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn gia nhập chiphí sản xuất kinh doanh, phần còn lại của vốn cố định thể hiện trong giá trị cònlại của tài sản cố định Sau một thời gian giá trị của tài sản cố định sẽ đượcchuyển hết vào giá trị của sản phẩm, khi đó tài sản cố định đã khấu
Trang 24hao hết, vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển của nó Theo quyđịnh hiện hành tài sản cố định là những tư liệu lao động có thời gian sử dụng
từ 1 năm trở lên; có giá trị từ mười triệu đồng trở lên [2, tr.5]
Tài sản cố định của doanh nghiệp xây dựng có nhiều loại, để quản lý sửdụng hiệu quả chúng người ta phân chia tài sản cố định theo các tiêu thứckhác nhau:
+ Theo hình thái thể hiện: Tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hìnhthái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồmnhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chứcnăng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, thamgia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất banđầu như: đất; nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc thiết bị; phương tiện vận tải,truyền dẫn cấp điện, nước, thông tin; thiết bị, dụng cụ quản lý
Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất,chúng được thể hiện bằng một lượng tiền tệ nào đó được đầu tư, hoặc đó làlợi ích, các nguồn có tính kinh tế mà giá trị của chúng xuất phát từ các đặcquyền của doanh nghiệp, chúng có liên quan đến nhiều chu kỳ sản xuất và giátrị của chúng giảm dần do được chuyển vào giá trị của sản phẩm sản xuất ra.Trong quá trình sản xuất, tài sản cố định vô hình gồm: chi phí thành lập doanhnghiệp; chuẩn bị sản xuất kinh doanh; giá trị bằng phát minh sáng chế; chi phínghiên cứu và phát triển; chi phí mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền, bíquyết công nghệ, chuyển giao công nghệ; chi phí lợi thế thương mại về vị tríhay uy tín của doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải trả khi thành lập hay sátnhập; các tài sản cố định vô hình khác như quyền đặc nhượng, quyền thuênhà, độc quyền sản xuất kinh doanh
Trang 25Việc xem xét kết cấu tài sản cố định theo hình thái thể hiện giúp cho việc quản lý và tính khấu hao hoàn vốn chính xác và hợp lý.
+ Theo công dụng kinh tế: tài sản cố định bao gồm tài sản cố định dùngtrong sản xuất kinh doanh và tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh
Nắm được kết cấu vốn cố định theo công dụng kinh tế giúp doanh nghiệpxem xét, đánh giá đúng tình hình sử dụng tài sản cố định trong từng công đoạncủa quá trình sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó, điều chỉnh lại kết cấu vốn cốđịnh cho phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Theo thực trạng sử dụng: tài sản cố định được chia thành tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định chưa dùng và tài sản cố định chờ thanh lý
Việc xem xét kết cấu tài sản cố định theo thực trạng sử dụng giúp doanhnghiệp nắm được tình hình sử dụng vốn cố định hiện tại cũng như khả năng
sử dụng tiềm tàng để điều chỉnh lại cơ cấu vốn cố định một cách hợp lý, hạnchế tình trạng lãng phí do vốn bị tồn đọng dưới hình thái tài sản cố định chưa
sử dụng Đồng thời đẩy nhanh việc bán tài sản cố định chờ thanh lý, tài sản cốđịnh không cần dùng nhằm thu hồi vốn cố định không sử dụng
Thông thường vốn cố định là bộ phận quan trọng chiếm một tỷ trọngcao trong tổng số vốn của doanh nghiệp xây dựng Đặc điểm luân chuyển của
nó lại tuân theo quy luật riêng Do đó việc quản lý và sử dụng vốn cố định cóảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng
Trang 26- Vốn lưu động:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưuđộng nhằm bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh được thường xuyên,liên tục Sự vận động của vốn lưu động phụ thuộc vào sự vận động của tài sảnlưu động
Tài sản lưu động chủ yếu là đối tượng lao động và các công cụ laođộng nhỏ (là tư liệu lao động không có đủ điều kiện để trở thành tài sản cốđịnh) Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động này khônggiữ nguyên hình thái hiện vật ban đầu mà chúng tạo thành thực thể của sảnphẩm hoặc mất đi Tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuấtkinh doanh, giá trị của chúng được chuyển toàn bộ vào sản phẩm và đượcthực hiện khi sản phẩm trở thành hàng hoá
Vốn lưu động của doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ số vốn mà doanhnghiệp phải ứng ra nhằm thoả mãn nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu, nhu cầuvốn của giai đoạn sản xuất và nhu cầu vốn trong lưu thông
+ Vốn lưu động trong dự trữ:
Giá trị nguyên vật liệu chính dùng cho thi công xây dựng: gạch, cát,sỏi, sắt thép, xi măng…
Giá trị bán thành phẩm: cửa, thiết bị vệ sinh…
Giá trị vật liệu phụ và nhiên liệu: xăng dầu, cọ chổi…
Giá trị vật rẻ tiền mau hỏng
+ Vốn lưu động trong sản xuất:
Giá trị các công trình dở dang nhưng chưa hoàn thành hoặc đã hoànthành nhưng chưa bàn giao cho chủ đầu tư
Chi phí chờ phân bổ: là những chi phí bỏ ra một lần nhưng phải phân
bổ vào chi phí sản xuất theo từng phần, vì các chi phí đó không chỉ liên quanđến sản xuất hiện tại mà còn liên quan đến sản xuất của các kỳ sau
Trang 27+ Vốn lưu động trong lưu thông:
Vốn trong thanh toán: giá trị các công trình đã bàn giao nhưng chưađược thanh toán
Vốn tiền tệ: tiền mặt trong két, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu,các khoản ứng trước của khách hàng
Các hình thái vốn này cùng song song tồn tại và thay đổi chỗ cho nhau,vận động không ngừng nhằm làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đượcdiễn ra một cách thường xuyên, liên tục Doanh nghiệp xây dựng phải nắm rõcác bộ phận cấu thành của vốn lưu động để từ đó có biện pháp huy động và
sử dụng vốn lưu động một cách phù hợp, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn
Cơ cấu vốn lưu động là tỷ trọng của từng loại vốn so với tổng số vốnlưu động Qua cơ cấu vốn lưu động thấy được tình hình phân bổ và sử dụngvốn lưu động đối với mỗi giai đoạn trong chu kỳ quay của vốn, từ đó biếtđược trọng điểm quản lý vốn lưu động trong từng doanh nghiệp xây dựng
Xu hướng hiện nay là tăng tỷ trọng vốn lưu động trong sản xuất và giảm tỷtrọng vốn lưu động trong dự trữ và lưu thông
Cơ cấu vốn lưu động phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Những nhân tố về mặt sản xuất: tính chất sản xuất (các doanh nghiệpxây dựng có vốn nguyên vật liệu kết cấu, bán thành phẩm chủ yếu lớn hơnnhiều so với những ngành khác); chu kỳ sản xuất (điều kiện của sản xuất)
Những nhân tố thuộc về mặt cung cấp: công trình xây dựng đòi hỏilượng nguyên vật liệu, bán thành phẩm lớn, thậm chí rất lớn, do vậy kế hoạchcung cấp vật tư kỹ thuật kịp thời và đồng bộ theo tiến độ có ảnh hưởng lớnđến thời gian xây dựng, ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu vốn lưu động
Những nhân tố thuộc về quá trình lưu thông: khi công trình xây dựngxong thì tính chất, hình thức nghiệm thu, chế độ thanh quyết toán, nghệ thuậtthu nợ đều quyết định tới vốn lưu động
Trang 28Với kết cấu trên, muốn sử dụng vốn lưu động đạt hiệu quả cao phải căn
cứ vào thực tế kinh doanh của doanh nghiệp để xây dựng cơ cấu vốn lưuđộng cho hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn ở các khâu Để có một cơ cấuvốn hợp lý, trước hết cần xác định được lượng vốn lưu động thường xuyêncần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh Lượng vốn lưu động thườngxuyên cần thiết được hiểu là không có tình trạng thừa hoặc thiếu vốn xảy ra.Nếu thừa sẽ gây ứ đọng vật tư hàng hóa, vốn lưu động chậm luân chuyển, chiphí ở các khâu cao, hiệu quả sử dụng vốn thấp, lợi nhuận giảm Nếu thiếu vốnlưu động sẽ làm cho quá trình sản xuất bị đình trệ, gây thiệt hại ngừng sảnxuất, không thực hiện được các cam kết, mất tín nhiệm với khách hàng Cơcấu vốn lưu động hợp lý còn thể hiện ở việc phân bổ vốn trong các khâu dựtrữ, sản xuất, lưu thông phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp,tránh tình trạng vốn lưu động ứ đọng ở khâu này nhưng thiếu ở khâu khác
Khi nhìn nhận quá trình hoạt động của doanh nghiệp dưới góc độ tàichính, để đảm bảo cân bằng tài chính thì “tài sản được tài trợ trong một thờigian không thấp hơn thời gian chuyển hóa tài sản ấy” [7, tr.84], nghĩa lànguồn vốn ngắn hạn có thời hạn dưới một năm chỉ dùng để tài trợ cho tài sản
có thời gian sử dụng dưới một năm Tài sản có thời gian sử dụng trên mộtnăm được tài trợ bởi nguồn vốn trên một năm (nguồn vốn dài hạn) Do đó khitính độ an toàn trong thanh toán, nguyên tắc cân bằng đòi hỏi: tài sản cố định
và đầu tư dài hạn chỉ được tài trợ bởi một phần của nguồn vốn dài hạn; chỉmột phần tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốnngắn hạn Phần nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản lưu động và đầu tư ngắnhạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên
Vốn lưu động thường xuyên được xác định bằng công thức:
Vốn lưu động
thường xuyên
Trang 29Vốn lưu động
thường xuyên
Trong đó: Nguồn vốn dài hạn = Nguồn vốn CSH + vay dài hạn
Trường hợp vốn lưu động thường xuyên âm, đồng nghĩa với việc doanhnghiệp đã dùng một phần vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định và đầu tưdài hạn Như vậy cơ cấu vốn ở đây là không hợp lý và không an toàn vì doanhnghiệp luôn trong tình trạng phải đảo nợ Doanh nghiệp cần thu hẹp quy mô tàisản cố định, thu hồi đầu tư tài chính dài hạn, tăng vốn chủ sở hữu hoặc tăng vaydài hạn Trường hợp vốn lưu động thường xuyên dương, nghĩa là doanh nghiệp
đã có dư thừa nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động và đầu tư ngắnhạn Tuy nhiên, cần phải đối chiếu với nhu cầu tài trợ phát sinh từ quá trình sảnxuất kinh doanh gọi là nhu cầu vốn lưu động thường xuyên Nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên được xác định bằng công thức:
Nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên
Việc xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cho năm tài khóatới có thể thực hiện bằng cách áp dụng một hệ số nhân bằng với tỷ suất tăngtrưởng của doanh số nếu chủ doanh nghiệp đánh giá là những điều kiện kinhdoanh khác được duy trì không đổi, hoặc bằng cách xác định khối lượngmong muốn bởi người lãnh đạo doanh nghiệp (tăng hoặc giảm lượng tồn khosản phẩm, tăng hoặc giảm mặt hàng sản xuất)
Nếu vốn lưu động thường xuyên lớn hơn nhu cầu vốn lưu động thườngxuyên, nghĩa là doanh nghiệp đã thừa vốn lưu động thường xuyên để đáp ứngnhu cầu vốn lưu động thường xuyên, thể hiện khả năng thanh toán tức thời củadoanh nghiệp là tốt trong khi vẫn đảm bảo nghĩa vụ thanh toán các khoản vayngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn trả Ngược lại, nếu vốn lưu động thường
Trang 30xuyên nhỏ hơn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn về khả năng thanh toán [7, tr.90].
* Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
- Vốn chủ sở hữu: là phần giá trị do những người sở hữu doanh nghiệp,những nhà đầu tư ứng ra để thành lập và duy trì hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.Những người chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể là nhà nước hay chủ doanhnghiệp, các cổ đông hoặc các thành viên của doanh nghiệp Có thể chia vốnchủ sở hữu làm ba loại là:
+ Vốn góp: là phần giá trị do các chủ sở hữu của doanh nghiệp đónggóp và được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp nhànước thì phần lớn vốn góp là do nhà nước đầu tư Đối với công ty tráchnhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, vốn góp là do các thành viên hoặc cổđông đóng góp được ghi trong điều lệ của công ty
+ Lợi nhuận không chia: là phần lợi nhuận không phân chia cho cácchủ sở hữu như là lợi tức mà được tái đầu tư vào doanh nghiệp, do đó làmtăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Đây là một nguồn vốn có vai trò quantrọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là ở các công ty cổ phầnhoặc công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Phát hành cổ phiếu: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới.Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp
Đó có thể là cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi
+ Vốn chủ sở hữu khác: là vốn nội bộ của doanh nghiệp lấy từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh bằng cách lấy một phần từ quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự phòng tài chính, các khoản miễn thuế, giảm thuế cho doanh nghiệp
để đầu tư vào doanh nghiệp Ngoài ra đối với các doanh nghiệp nhà nước còn
Trang 31có phần khấu hao tài sản cố định được để lại doanh nghiệp để đầu tư, thay thế, đổi mới tài sản cố định
- Vốn huy động của doanh nghiệp: đối với một doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng nhưng không phải
là tất cả nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp đều là vốn chủ sở hữu Để đápứng nhu cầu vốn, doanh nghiệp có thể huy động dưới các hình thức khácnhau như: vay nợ, liên doanh liên kết, đi thuê hình thành lên các nguồn vốnhuy động khác nhau Đó là:
+ Vốn vay: là phần vốn huy động được bằng cách đi vay của các cánhân, đơn vị kinh tế hoặc đi vay trên thị trường tài chính dưới các hình thứckhác nhau như vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của ngân hàng và các tổ chứctín dụng khác, vay qua phát hành trái phiếu Ưu điểm của hình thức này làkhông làm thay đổi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệpphải trả chi phí cho việc sử dụng vốn (lãi suất) và các chi phí khác để đi vay Khi vay vốn doanh nghiệp phải tính đến khả năng kinh doanh, khả năng trả
nợ, tỷ lệ lãi vay…
+ Vốn liên doanh liên kết: là phần vốn do các bên tham gia liên doanh,hợp tác sản xuất với doanh nghiệp đóng góp để hình thành doanh nghiệp mớihoặc để thực hiện chung một công việc kinh doanh Mức vốn góp giữa cácdoanh nghiệp tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên tham gia liên doanh.Thông qua hình thức này, tổng số vốn được tăng lên mà chất lượng, chủngloại của sản phẩm được cải thiện, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Vốn tín dụng thương mại: là các khoản vốn có nguồn gốc từ cáckhoản mua chịu từ người cung cấp cho doanh nghiệp hay các khoản ứngtrước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng
+ Vốn tín dụng thuê mua: là phần giá trị tài sản có được do đi thuê Cóhai hình thức đi thuê là thuê vận hành và thuê tài chính Với sự phát triển của
Trang 32thị trường tài chính, tín dụng thuê mua ngày càng đóng vai trò quan trọngnâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng:
- Vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạncủa doanh nghiệp Đặc điểm của nguồn vốn này là ổn định và dài hạn Doanhnghiệp có thể dùng nó để đầu tư mua sắm tài sản cố định và một phần tài sảnlưu động cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) màdoanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bấtthường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nguồn vốnnày bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cáckhoản nợ ngắn hạn khác
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động cácnguồn vốn một cách phù hợp với thời gian và mục đích sử dụng, đáp ứng đầy
đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốncủa doanh nghiệp
Trên đây là một số cách phân loại vốn cơ bản thường được sử dụng.Ngoài ra tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và mục tiêu quản lý vốn còn cócác cách phân loại vốn khác nhau
1.2.1.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp xây dựng là sản phẩm xây dựng, là kết quả của quá trình dùng sức laođộng và tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để làm biến đổi nó
Tư liệu lao động và đối tượng lao động là điều kiện vật chất không thể thiếuđược của quá trình sản xuất và tái sản xuất Vì vậy có thể nói vốn là tiền đềcho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 33Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh vàxác lập vị thế của doanh nghiệp xây dựng Điều này càng thể hiện rõ trong nềnkinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanhnghiệp xây dựng phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đạihoá công nghệ tất cả những yếu tố này muốn đạt được thì đòi hỏi doanhnghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn Việc đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp chodoanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thường xuyên,liên tục, có thể chớp được thời cơ và có lợi thế trong cạnh tranh.
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động củadoanh nghiệp Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳkinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanhphải có lãi, đảm bảo vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển Đó là
cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng phạm vi sản xuất, thâm nhậpvào thị trường tiềm năng, từ đó tăng khối lượng tiêu thụ, nâng cao uy tín củamình trên thương trường Trong cơ chế bao cấp trước đây, mọi nhu cầu vềvốn của doanh nghiệp đều được bao cấp qua nguồn cấp phát của ngân sáchnhà nước và qua nguồn tín dụng với lãi suất ưu đãi của ngân hàng, vốn khôngđược coi là vấn đề cấp bách, điều này đã làm thủ tiêu tính chủ động và sángtạo của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn Chuyển sang nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của nhà nước với nhiều thành phần kinh tế, các doanhnghiệp nhà nước chỉ còn là một bộ phận song song tồn tại với các thành phầnkinh tế khác Để duy trì hoạt động của mình, tất yếu các doanh nghiệp phảinăng động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, cảitiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm của mình Điều đó đòi hỏicác doanh nghiệp phải có vốn Nhu cầu về vốn đã trở thành động lực và là yêucầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp Nó quyết định cơ cấu đầu tư,đảm bảo sự sống còn cho doanh nghiệp Tuy nhiên, có đủ lượng vốn kinh
Trang 34doanh nhưng việc sử dụng sao cho có hiệu quả vẫn đang còn là vấn đề mà tất
cả các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xâydựng nói riêng hết sức quan tâm
1.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinhdoanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ: hiệu quảkinh tế và hiệu quả xã hội Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, người ta chủyếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế Đây là một phạm trù phản ánh trình độ sửdụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chiphí hợp lý nhất Do vậy, các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn củadoanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Từ đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tínhthường xuyên và bắt buộc đối với doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phảnánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóachi phí [13, tr.247]
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu
về hiệu quả sử dụng tổng vốn, vốn cố định, vốn lưu động Nó phản ánh quan
hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước
đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ
ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Kết quả thu được càng cao sovới chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng lớn Do đó, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững
Trang 35mạnh Ngoài ra, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệuquả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế
và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong công tác quản lý tài chínhtại doanh nghiệp
1.1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp cũng nhưphân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, nhưng có hai phương phápđược sử dụng rộng rãi là phương pháp so sánh và phương pháp tỷ lệ
- Phương pháp so sánh: là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động
cả về số tuyệt đối lẫn tương đối trên từng chỉ tiêu của báo cáo tài chính Để ápdụng phương pháp này cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh của các chỉtiêu tài chính thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất, đơn vịtính toán và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánhđược chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được chọn là kỳbáo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệtđối, số tương đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh có thể là so sánh giữa
số thực hiện năm nay và năm trước, so sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch,
so sánh số thực hiện của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành
- Phương pháp tỷ lệ: là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối
tương quan giữa các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính để rút ra kết luận Trongphân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm
tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấuvốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ vềkhả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng
bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theogiác độ phân tích, người phân tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau.
Trang 36- Phương pháp tính giá trị bình quân
+ Dựa vào giá trị đầu năm (đầu kỳ) và cuối năm (cuối kỳ)
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn
- Hiệu suất sử dụng vốn (sức sản xuất của vốn)
Trang 3729
Trang 38- Tỷ suất lợi nhuận của vốn (sức sinh lời của vốn)
Tỷ suất lợi
nhuận của vốn
Tỷ suất lợi nhuận của vốn cho thấy một đồng vốn đem lại bao nhiêuđồng lợi nhuận Đây là chỉ tiêu quan trọng được các nhà đầu tư đặc biệt quantâm, bởi nó không những phản ánh hiệu quả sử dụng vốn mà còn phản ánh lợiích cho các nhà đầu tư ở hiện tại và tương lai Chỉ tiêu này càng lớn so vớicác kỳ trước hay so với các doanh nghiệp khác, chứng tỏ khả năng sinh lợicủa doanh nghiệp càng cao, hiệu quả sử dụng vốn lớn và ngược lại
- Sức sinh lời của tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế
ROA =
Tổng tài sảnĐây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinhlời của một đồng vốn đầu tư Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản mang lạibao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng tài sảncàng hiệu quả và ngược lại
- Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuếROE =
Vốn chủ sở hữuChỉ tiêu này cho biết một đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ vào sản xuất kinhdoanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏviệc sử dụng vốn chủ sở hữu càng hiệu quả Đây là chỉ tiêu quan trọng tổngquát phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu nói riêng và khả năngsinh lợi của toàn bộ vốn của doanh nghiệp nói chung
Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont nhằm đánh giátác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, ta có thể phân tích ROE dựa vàomối quan hệ với ROA để thiết lập phương trình phân tích
Trang 39ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định (sức sản xuất của vốn cố định)
Hiệu suất sử dụng
Trang 4031