Là một giáo viên dạy môn Sinh học, bản thân tôi rất chăn trở với kết quả thi vào lớp 10 của trường THCS Tam Hồng trong 2 năm học có thi môn Sinh học.. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu để
Trang 1PHẦN I: ĐĂT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn chuyên đề:
- Căn cứ vào công văn số: 332/GD ĐT- THCS ngày 07/10/2019 v/v tổ chức hội thảo nâng cao chất lương phu đạo học sinh yếu kém cấp THCS của Phòng GD&ĐT huyện Yên Lạc
- Căn cứ vào công văn số: 01/KH-CCM1 v/v tổ chức hội thảo nâng cao chất lượng phụ đạo học sinh yếu, kém cấp THCS
- Căn cứ vào kết quả của học sinh thi vào lớp 10 môn Sinh học của trường THCS Tam Hồng năm học 2012-2013 và 2017-2018
Là một giáo viên dạy môn Sinh học, bản thân tôi rất chăn trở với kết quả thi vào lớp 10 của trường THCS Tam Hồng trong 2 năm học có thi môn Sinh học Đó là, năm học 2012-2013 thi vào lớp 10 với 4 môn thi là Toán – Văn- Ngoại ngữ - Sinh học trong đó bài thi môn Sinh học tính thang điểm 10, năm học 2017-2018 thi vào lớp 10 với các môn: Toán – Văn – Tổ hợp ( Ngoại ngữ - Sinh – Sử) trong đó bài thi môn Sinh học tính thang điểm 3/10
Chính vì lý do đó tôi cố gắng tìm hiểu và viết ra chuyên đề “ Nâng cao chất lượng phụ đao học sinh yếu, kém cấp THCS – Môn Sinh học lớp 9” với mong muốn được trao đổi, thảo luận và học hỏi kinh ngiệm của các bạn đồng nghiệp
II Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để xác định được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng học sinh yếu kém đối với môn Sinh học 9 nói riêng và môn Sinh học cấp THCS nói chung cũng như các môn học khác của cấp THCS, đăc biệt là những môn thi vào lớp 10
III Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong chuyên đề này, tôi tập trung tìm hiểu và đưa ra một số giải pháp giải quyết những vấn đề sau:
1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Thực trạng của giáo viên
Thực trạng của học sinh trường THCS Tam Hồng trong năm học 2019- 2020
2 Các giải pháp nâng cao chất lượng phụ đạo học sinh yếu, kém trong năm học 2019 -2020
IV Đối tượng và pham vi nghiên cứu
1 Đối tượng:
Trang 2Học sinh yếu, kém trong các lớp 9 của trường THCS Tam Hồng Năm học
2019 – 2020 trường THCS Tam Hồng có 5 lớp 9 ( từ 9a1 đến 9a5) Trong đó học sinh yếu kém tập trung chủ yếu ở các lớp 9a2,9a3,9a4,9a5
2 Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung kiến thức môn Sinh học 9 để phụ đạo cho học sinh yếu, kém
V Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi chuyên đề này tôi đã lựa chọn một số phương pháp sau: 1.Phương pháp điêu tra , khảo sát
2 Phương pháp nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm
PHẦN II: NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực tiễn:
1 Cơ sở lý luận
Phụ đạo kiến thức cho học sinh yếu, kém là giáo viên phải bổ sung được
lỗ hổng kiến thức cho học sinh, chủ yếu là kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa Sinh học 9 để lấy lại kiến thức mà các em chưa lĩnh hôi hết trong tiết dạy chính khóa trên lớp Từ đó học sinh có thể hòa nhập theo kip với các bạn học sinh khác
Theo tôi muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần phải nắm bắt chính xác và đánh giá được mức độ kiến thức đọng lai ở mỗi học sinh trong các tiết dạy để chuẩn bị lên kế hoạch phụ đao, thiết kế nội dung phụ đạo sao cho hiêu quả nhất
Muốn vậy giáo viên cần phải tìm hiểu xem nguyên nhân:
- Tại sao học sinh chán học môn Sinh học và tìm cách giải tỏa tâm lý này cho các em
- Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn luyên ý thức học tập
- Giáo viên xác định khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thể cho học sinh yếu, kém
Như vậy cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và hành động, tích cực phối hơp với giáo viên để vá lại lỗ hổng kiến thức
2 Cơ sở thực tiễn:
Qua quá trình giảng dạy môn Sinh học 9 trong những năm môn Sinh học
9 là môn thi vào lớp 10 (2012 -2013 và 2017 -2018) và cả những năm môn Sinh học 9 không phải là môn thi vào lớp 10, tôi nhận thấy năm nào cũng có, khóa học nào cũng có học sinh yếu, kém Đây chính là nguyên nhân làm giảm chất lượng thi vào lớp 10, làm giảm chất lượng khảo sát đại trà của môn Sinh học 9
Trang 3Vì vậy việc phu đạo học sinh yếu, kém là một giải pháp rất chính đáng, thực sự cần thiết để nâng cao chất lượng đại trà nói chung và chất lương thi vào lớp 10 nói riêng
II Thực trạng:
1.Thuận lợi:
- Về phía nhà trường:
+ Đươ ̣c sự quan tâm chỉ đa ̣o của Phòng giáo du ̣c, Đảng ủy, chính quyền
đi ̣a phương và các ban ngành đoàn thể ta ̣i đi ̣a phương
+BGH nhà trường đã quan tâm nhiều đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy, đặc biêt là nâng cao chất lượng học sinh yếu
+Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ nên học sinh có điều kiện tốt cho học sinh trong việc học tập của học sinh
- Về phía học sinh:
+ Đa số ho ̣c sinh chăm ngoan thực hiê ̣n tốt nô ̣i quy nhà trường
b Khó khăn:
- Về phía phụ huynh:
+Một số phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con cái
mà thường phó mặc cho thầy cô theo kiểu: “ Trăm sự nhờ thầy cô”
+ Đặc biệt là những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bố mẹ đi làm
xa nên việc chăm sóc con cái không được chu đáo
+ Nhiều phu huynh có tâm lý chỉ cần học 3 môn cơ bản Văn – Toán - Ngoại ngữ, môn Sinh học là môn phụ không cần phải học và họ cũng gieo vào
đầu con cái của họ suy nghĩ như thế
- Về phía học sinh:
+ Một số em chưa có ý thức cao, còn mải chơi mà lơ là trong việc học Chưa coi việc học là của bản thân mình mà còn trông chờ vào sự thúc giục của
bố mẹ và thầy cô giáo
+Trong lớp vẫn còn nhiều em lười học bài cũ, hổng kiến thức cơ bản từ các lớp dưới
+ Tâm lý của đa số học sinh coi môn Sinh học là môn phụ không phải học, nếu có thi vào lớp 10 nó chỉ có 3 điểm chỉ cần đúng 3 câu là được 0,6 điểm chống liệt là được Các em chỉ tập trung vào các môn chính là Toán – Văn – Anh
- Về phía giáo viên:
+Thời lượng một tiết học chỉ 45 phút, kiến thức truyền đạt cho học sinh tương đối nhiều Trong khi đó khả năng tiếp thu của các em không đồng đều
+ Công tác quan hệ của giáo viên với phụ huynh học sinh chưa được
thường xuyên, khi trong lớp có học sinh học yếu, kiểm tra nhiều lần không
Trang 4thuộc bài giáo viên chưa chủ động thông báo cho phụ huynh để cùng phối hợp
giáo dục học sinh
+ Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng
đối tượng; có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến
thức trọng tâm
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm
còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH
- Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em
HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp
- Nhiều khi thương HS mà chưa nghiêm khắc với học sinh, thấy học sinh
học các môn Văn –Toán – Ngoại ngữ nhiều không có thời gian học môn Sinh
nên nhiều khi kiểm tra bài cũ học sinh không thuộc nhưng giáo viên không phạt
mà vẫn cho điểm
- Còn lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề
chất lượng học tập của HS, còn tâm lí trông chờ chỉ đạo của cấp trên
- Tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không
đánh giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy
- Giáo viên chạy theo “bệnh thành tích” mặc dù biết học sinh yếu, kém
thực sự nhưng để đảm bảo với chỉ tiêu giao đầu năm nên vẫn nâng điểm,dễ dãi
với học sinh
- Về phía nhà trường:
+Chỉ tổ chức học bồi dưỡng cho học sinh lớp 9 các môn Văn – Toán -
Anh từ đầu năm học, các môn khác đến khi báo môn thi vào lớp 10 mới tổ chức
học bồi dưỡng Mà thời gian báo môn thi vào lớp 10 thường rất muộn khoảng
cuối tháng 3 đầu tháng 4 mới báo Chương trình lúc đó đã học gần hết kiến thức
Sinh lớp 9, việc ôn tập lại kiến thức mất rất nhiều thời gian Đầu tháng 6 đã thi
vào lớp 10, như vậy thời gian để ôn tập rất ngắn mà nội dung kiến thức thì nhiều
+ Trong năm học nhà trường chỉ có kế hoạch phu đạo học sinh yếu, kém 3
môn Văn – Toán – Tiếng anh chứ không có kế hoach phụ đạo học sinh yếu kém
môn Sinh học nói riêng và các môn khác nói chung
+ Để đảm bảo chất lượng các môn học mà nhà trường đã đăng ký với cấp trên
đầu năm học, nên cuối kỳ, cuối năm BGH nhắc nhở giáo viên nên căn cứ
vào chỉ tiêu đầu năm để xếp loại học sinh Nếu không đạt chỉ tiêu giao thì xếp
loại thi đua giáo viên cuối kỳ, cuối năm sẽ không đạt Như vậy “bệnh thành
tích” là do từ cấp trên xuống đến cấp dưới Có giáo viên nào lại muốn mình bị
hạ thi đua vì môn mình dạy đâu cơ chứ
Trang 5III Các giải pháp nâng cao chất lượng phu đạo học sinh yếu:
1.Các giải pháp:
Để giúp học sinh yếu, kém vá lại lỗ hổng kiến thức, sớm theo kịp các bạn học sinh khác ở trên lớp tôi đã chuẩn bị cho hoạt động phụ đạo học sinh yếu, kém như sau:
- Tìm hiểu nguyên nhân: Từ việc đã xác định được đối tượng giáo viên
phải tiến hành điều tra và xác định được nguyên nhân nào dẫn đến việc học yếu Qua việc tìm hiểu, điều tra, kiểm tra, quan sát, đi thực tế… Chúng ta phải xác định rõ nguyên nhân dẫn đến học yếu của từng em Đây là bước quan trọng để
có thể lựa chọn đúng giải pháp giúp các em học tiến bộ hơn Một số nguyên nhân có thể dẫn đến việc học sinh học yếu:
+ Do trí tuệ kém phát triển
+ Do bị hỏng một số kiến thức, kĩ năng cơ bản
+ Do ham chơi, lười học
+ Do phương pháp của giáo viên chưa phù hợp, lời giảng chưa thu hút + Do gia đình thiếu quan tâm, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn phải phụ làm thêm với cha mẹ không có thời gian học ở nhà
+ Do ảnh hưởng tâm lý
+ Do ảnh hưởng từ bạn bè
+ Do bị nghiện game, hoặc có một số sở thích khác…
Việc xác định nguyên nhân là cả một quá trình vô cùng khó khăn và phức tạp nhưng đó chính là điều kiện không thể thiếu để lựa chọn giải pháp giáo dục
phù hợp cho từng đối tượng mà chúng ta đã tìm được nguyên nhân
- Lên danh sách học sinh yếu, kém môn Sinh học ở các lớp 9 và tập trung thành lớp học
- Yêu cầu học sinh xem lại kiến thức cơ bản nhất của từng bài, từng chương ( giáo viên không giao ồ ạt một lúc khiến học sinh sợ và chán học mà chỉ định từng nội dung cụ thể, từng đơn vi kiến thức một với phương trâm “ được đâu trắc đấy”)
- Yêu cầu học sinh học thuộc kiến thức đã xem lại của từng bài Sau đó giáo viên kiểm tra từng em và cho các em kiểm tra chéo nhau Nếu chưa thuộc bắt học sinh phải học thuộc
- Cho học sinh làm bài kiểm tra trắc ngiệm, chấm, chữa bài và rút kinh nghiệm tới từng em học sinh Từ đó đánh giá được kiến thức mà học sinh đã nắm bắt được
- Sau mỗi lần thi thử của trường và của phòng GD &ĐT tổ chức nếu học sinh nào không đạt gọi phu huynh đến cùng tìm biện pháp giúp đỡ học sinh ở
Trang 6nhà và ở trường Nếu học sinh nào đạt điểm cao thì giáo viên khen trước lớp, trước toàn khối 9 và nếu có điều kiên thì thưởng cho học sinh có hứng thú hơn với môn học
2 Các biện pháp để thực hiện:
a Đối với học sinh
- Đi học phải chuyên cần, nghỉ học phải có lý do chính đáng
- Học bài, làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
- Trong giờ học tập trung nghe cô giáo giảng bài, tích cực tham gia xây dựng bài
b Đối với phụ huynh
- Theo dõi và kiểm tra bài vở của con em mình
- Giúp đỡ HS trong quá trình học tập ở nhà, phải có thời gian biểu cho học sinh Đôn đốc, động viên con em đi học chuyên cần
- Có sự kiểm tra và chuẩn bị cho con em trước khi đến trường
- Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp và giáo viên bộ môn
để nắm được tình hình học tập của con em mình, từ đó cùng trao đổi với giáo viên để tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập
- Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục con người tốt nhất Chính vì vậy giáo viên phải thường xuyên liên hệ gia đình, gặp riêng phụ huynh những học sinh yếu để cùng thảo luận giải pháp giúp các em học tập tốt hơn Cụ thể nên hướng dẫn cha mẹ học sinh cách dạy và nội dung dạy phù hợp; phụ huynh biết quản lí thời gian học ở nhà của các em bằng thời gian biểu hằng ngày; quản
lí giờ chơi, yêu cầu gia đình tạo mọi điều kiện cho các em tham gia học tập tích cực và tự học; gia đình phải kịp thời động viên, đôn đốc con em đi học chuyên cần Có sự kiểm tra và chuẩn bị cho con trước khi đến trường
c Đối với giáo viên
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra và nhắc nhở cho học sinh, giúp các em
có thói quen tự học, tự rèn luyện ở nhà cũng như ở trường
- Xây dựng tốt phong trào “ Đôi bạn cùng tiến”, phân công bạn khá giỏi
kèm cặp, giúp đỡ
- Phân loại mức độ yếu của học sinh để có nội dung phụ đạo kịp thời và hợp lí
- Động viên, giúp đỡ các em trong từng tiết học để tạo phấn chấn trong học tập cho các em, tạo cho các em ý thức được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong học tập, nâng cao năng lực cá nhân
Trang 7- Chấm, chữa bài cho học sinh thường xuyên, chỉ rõ sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộ để học sinh có hướng phấn đấu, rèn luyện
- Động viên, tuyên dương kịp thời những tiến bộ của học sinh giúp học sinh có thêm động cơ học tập
- Đánh giá, xếp loại học sinh thông qua kết quả học tập thường xuyên và kết quả kiểm tra chất lượng (đối với học sinh yếu) hàng tháng phải có nhận xét đánh giá cụ thể,
- Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại là phần lớn do giáo viên Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu Giáo viên được ví như một người huấn luyện viên trưởng Vì vậy giáo viên cần lưu ý một số biện pháp sau :
- Chủ động gặp phụ huynh, gặp giáo viên chủ nhiệm lớp trao đổi về việc học tập của học sinh, cùng với phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm lớp tìm biện pháp khắc phục
- Trong tiết dạy học bình thường giáo viên soạn bài nhất thiết phải có kế hoạch dạy học cho những học sinh yếu Kế hoạch dạy học cho học sinh yếu phải phù hợp với trình độ học sinh
Ngoài những giải pháp nhằm cải thiện kết quả học tập của học sinh yếu, biện pháp lâu dài là tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập Thông qua những phương pháp dạy học tích cực, người thầy phải chuyển yêu cầu học tập thành nhu cầu vì nguồn gốc của tính tích cực, sự hứng thú là nhu cầu Thì tự các
em sẽ tìm kiếm tri thức Đó chính là khả năng tự học
Hơn nữa, các em học sinh lớp 9 là thế hệ tương lai của đất nước Nên hướng các em theo khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập nghiệp” Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành những người công dân có ích cho xã hội
A Mẫu minh họa thiết kế các hoạt động trong một chuyên đề phụ đạo học sinh yếu:
Chuyên đề: AND VÀ GEN
A.Mục tiêu:
1 Kiến thức: Giúp hoc sinh củng cố kiến thức về:
- Thành phần hóa học của : AND, ARN, prôtêin
- Cấu tạo, cức năng của AND, ARN, prôtêin
- Bản chất của gen
- Mối liên hệ gen và ARN, giữa gen và tính trạng
- Quá trình tự nhân đôi của AND, ARN
2 Kỹ năng:
Trang 8- Rèn kỹ năng quan sát, pân tích
- Làm bài tập phần AND
B Phương tiên dạy học:
- Giáo viên: Giáo án phụ đạo học sinh yếu, kém
- Học sinh: Ôn tâp lý thuyết, làm bài tâp SGK
C Phương pháp giảng dạy:
- Trực quan
D Tiến trình bài giảng:
I Tổ chức:
- Kiểm tra sĩ số : HS yếu, kém
II Kiểm tra bài cũ:
Kết hợp trong giờ
Bài mới:
Hoạt động của giáo viên
I Lý thuyết
Câu 1: Nêu thành phần hóa học cấu tạo
nên phân tử AND, ARN, prôtêin?
-Giáo viên gọi từng em trả lời ý Yêu cầu
chỉ nêu những ý chính
Câu 2: Nêu cấu trúc khôg gian của
AND, prôtêin?
- Giáo viên kiểm tra từng học sinh
Hoạt động của học sinh I.Lý thuyết:
Câu 1: Thành phân cấu tạo nên :
-AND: gồm các nguyên tố C, H, O,
N, P Đơn phân cấu tạo nên AND là 4 loại nuclêôtit: A, T, G, X
- ARN: gồm cácc nguyên tố C, H, O, N,P Đơn phân cấu tạo nên ARN là 4 loại nuclêôtit : A, U, G,X
- Prôtêin: gồm các nguyên tố C, H, O,
N và một số nguyên tố khác.Đơn phân cấu tạo nên prôtêin là axit amin
Câu 2: Cấu trúc không gian của:
-AND: là một chuỗi xoắn kép gồm hai mạch song song xoắn đều quanh một trục theo chiều từ trái sang phải gọi là xoắn ngược chiều kim đồng hồ Các nuclêôtít trên hai mạch liên kết với nhau bằng liên kết hiđrô Mỗi chu kỳ xoắn cao 34 A0 gồm 10 cặp nuclêôtit Đường kính vong xoắn là 20 A0
- Prôtêin: Có 4 bậc cấu trúc:
+Cấu trúc bậc 1: là chuỗi axit amin + Cấu trúc bậc 2: Chuỗi axit amin tạo vòng xoắn lò so
Trang 9Câu 3: Trình bày quá trình tự nhân đôi
của AND?
Địa điểm xảy ra quá trình tự nhân đôi ở
đâu?
Diễn biến quá trình tự nhân đôi AND?
Kết quả của quá trình tư nhân đôi AND?
AND được tổng hợp theo những nguyên
tắc nào?
Câu 4: Trình bày quá trình tổng hơp
ARN?
Diễn biến quá trình tổng hơp ARN
+ Cấu trúc bậc 3: là hinh dạng không gian ba chiều do cấu trúc bậc 2 cuộn xếp
+ Cấu trúc bậc 4: Gồm 2 hay nhiều chuỗi axit amin cùng loại hay khác loại kết hợp với nhau tạo thành
Câu 3:
-Quá trình tự nhân đôi của AND diễn
ra ở trong nhân của tế bào tại các NST
ở kỳ trung gian khi NST ở dang sợi mảnh
- Phân tử AND tháo xoắn thành hai mạch đơn nhờ enzim tháo xoắn Các nuclêôtit trên hai mach đơn liên kết với các nuclêôtit tự do trong môi trương nội bào theo nguyên tắc bổ sung để hình thành mạch mới
- Khi quá trình nhân đôi kết thúc 2 phân tử AND con được tạo thành và đóng xoắn
- Kết quả: Từ 1 AND mẹ cho ra 2 AND con có 1 mạch của AND mẹ và
1 mạch được tổng hợp mới
- Nguyên tắc tổng hợp AND:
+ Khuôn mẫu: ADN + NTBS: A-T, G-X
+ Bán bảo toàn
Câu 4: Quá trình tổng hợp ARN:
-Khi bắt đầu tổng hợp: AND tháo xoắn thành hai mạch đơn môt trong hai mạch đơn được chọn làm mạch khuôn Các nuclêôtit trên mạch khuôn liên kết với các nuclêôtit tự do trong môi trường nội bào thành từng cặp theo NTBS để hình thành dần mạch ARN: Amk – U, Tmk – A, Gmk – X, Xmk
_ G
- Khi kết thúc, phân tử ARN được hình thành tách khỏi gen và rời nhân
Trang 10Nguyên tắc tổng hợp ARN?
Câu 5: Trình bày quá trình tổng hợp
chuỗi axit amin?
Diễn biến quá trình tổng hợp ?
Nguyên tắc tổng hợp chuỗi axit amin?
Câu 6: Trình bày vai trò của AND,
ARN, prôtêin?
Vai trò của AND?
Vai trò của ARN?
Vai trò của prôtêin?
đi ra ngoài chất tế bào để thực hiện quá trình tổng hợp prôtêin
- Nguyên tắc tổng hợp ARN:
+ Khuôn mẫu: ADN + NTBS: A-U, G- X
Câu 5:
-mARN rời khỏi nhân tế bào đến ribõom để tổng hợp prôtêin
- Các tARN mang các axit amin vào ribôxôm khớp với mARN theo NTBS Đặt các axit amin vào đúng vị trí
- Khi ribôxôm dịch được 1 nấc trên mARN thì 1 axit amin được tổng hợp Khi ribôxôm dịch chuyển hết chiều dài của mARN thì chuỗi axit amin được tổng hơp xong
-Nguyên tắc tổng hợp:
+ Khuôn mẫu: mARN +NTBS: A-U, G –X
Câu 6: Vai trò:
-AND: + Lưu giữ thông tin di truyền + truyền đạt thông tin di truyền
-ARN:
+mARN: truyền đạt thông tin quy đinh cấu trúc của prôtêin
+tARN: vận chuyển axit amin
+ rARN: Cấu tạo nên ribôxôm là nơi tổng hợp prôtêin
-Prôtêin:
+ Chức năng cấu trúc: là thành phần cấu tạo của chất nguyên sinh, là hợp phần quan trọng xây dựng nên các bào quan và màng sinh chất
+Chức năng xúc tác các quá trình trao đỏi chất: Quá trình trao đổi chất diễn