Khi giải thích được các hiện tượng đó bằng những kiến thức thực tiễn, học sinh rất có hứng thú, say mê trong quá trình học, đã kích thích được tính sáng tạo của học sinh, từ đó đáp ứng đ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG
THPT TAM DƯƠNG II =====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
TÊN SÁNG KIẾN:
“MỘT SỐ CÂU HỎI BỒI DƯỠNG NÂNG CAO KIẾN THỨC
SINH HỌC LỚP 12 CHO HỌC SINH”
Tác giả sáng kiến: Bùi Minh Thảo
Mã sáng kiến: 08.56.04
Tam Dương, năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Lời giới thiệu: 3
2 Tên sáng kiến: 3
3 Tác giả sáng kiến: 3
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: 4
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 4
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 4
7 Mô tả bản chất của sáng kiến: 4
8 Những thông tin cần bảo mật: 21
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 21
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được: 21
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử nghiệm 21
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Trong quá trình giảng dạy bộ môn sinh học lớp 12 Ban cơ bản, bản thân tôi nhận thấy việc giải thích các hiện tượng sinh học trong thực tiễn mà sách giáo khoa đưa ra còn ít, nội dung chủ yếu mang tính lý thuyết.
Nếu giáo viên giảng dạy bình thường thì việc vận dụng các kiến thức bài học vào thực tiễn sẽ gặp khó khăn, cần phải thường xuyên đọc tài liệu tham khảo thì mới có thể giải thích một cách chi tiết, cụ thể, khoa học được.
Thực tế cho thấy trong quá trình giảng dạy các bài trong bộ môn sinh học 12
có rất nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn mà học sinh cần biết Khi giải thích được các hiện tượng đó bằng những kiến thức thực tiễn, học sinh rất có hứng thú, say mê trong quá trình học, đã kích thích được tính sáng tạo của học sinh, từ đó đáp ứng được nhu cầu dạy học, đó là học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học.
Hiện nay, mặc dù trên thị trường cũng như trên các trang mạng, có rất nhiều nguồn tài liệu có thể áp dụng cho công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức môn sinh học 12, thế nhưng học sinh của trường trung học phổ thông Tam Dương II ở vùng nông thôn, lại hầu như không có điều kiện để tiếp xúc với những tài liệu đó và nếu
có thì cũng chỉ rất hạn chế Mặt khác các tài liệu đó dàn trải, không cô đọng, có nội dung này thì lại thiếu nội dung khác dẫn đến hiện tượng dễ làm phân tán kiến thức cho học sinh.
Từ thực tế đó, tôi mong muốn xây dựng được một bộ tài liệu chuyên dùng cho công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức thực tiễn môn sinh học nói chung và sinh học lớp 12 tại trường trung học phổ thông nói riêng theo chủ đề, tài liệu này có ý nghĩa đối với bản thân tôi là để mình tự bồi dưỡng chuyên môn, vừa là tài liệu phục
vụ cho công tác giảng dạy và hy vọng là tài liệu trao đổi, tham khảo kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
Xuất phát từ những nội dung nêu trên, tôi chọn đề tài “Một số chuyên đề bồi dưỡng nâng cao kiến thức sinh học lớp 12 cho học sinh” 2 Tên sáng kiến
Một số chuyên đề bồi dưỡng nâng cao kiến thức sinh học lớp 12 cho học sinh 3.Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: BÙI MINH THẢO
Trang 4- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Tam Dương II- Huyện Tam Tỉnh Vĩnh Phúc.
Dương Số điện thoại: 0977955763; 0915955763
- Email:buiminhthao.phttamduong2@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Bùi Minh Thảo- PHT trường THPT Tam Dương II.
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Giáo dục
Lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến: Sáng kiến có thể áp dụng được sử dụng làm tài liệu cho giáo viên cũng như học sinh trong công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức sinh học lớp 12 cho học sinh nói chung và tại trường THPT Tam Dương
II nói riêng.
Vấn đề mà sáng kiến giải quyết:
Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, kiến thức sinh học mang tính thực tiễn cao theo từng chuyên đề một cách cụ thể.
Gắn lý thuyết với thực tiễn để học sinh có thể hiểu và tự giải thích được các kiến thức liên quan đến môn sinh lớp 12.
Khắc phục được một số hạn chế mà trong sách giáo khoa chưa đề cập đến hoặc đề cập đến còn ít Từ đó đáp ứng được kỳ vọng của giáo viên với học sinh, sự
kỳ vọng của của nhà trường với giáo viên và học sinh.
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu
Tháng 9 năm 2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được mục đích đề ra trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tài liệu: sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu và đặc biệt là các loại sách tham khảo thuộc chuyên môn sinh học do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản.
- Nghiên cứu, tổng hợp kinh nghiệm giảng dạy.
- Phân tích và tổng hợp và hệ thống kiến thức liên quan đến thực tiễn
- Tổng hợp các câu hỏi có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Trang 5- Ví dụ: Trong môi trường không có thuốc DDT thì dạng ruồi mang đột biến kháng DDT sinh trưởng chậm hơn dạng ruồi bình thường, nhưng khi phun thuốc DDT thì đột biến này lại có lợi cho ruồi.
- Tuy đột biến thường có hại nhưng phần lớn alen đột biến là alen lặn, xuất hiện ở một số giao tử nào đó, alen lặn sẽ đi vào hợp tử và tồn tại bên cạnh alen trội tương ứng ở thể dị hợp,
do đó không biểu hiện thành kiểu hình, trải qua nhiều thế hệ giao phối các alen lặn được nhân lên, có điều kiện gặp gỡ nhau trong giao phối tạo nên thể đồng hợp và được biểu hiện thành kiểu hình Giá trị thích ứng của một đột biến có thể thay đổi tùy tổ hợp gen Một đột biến nằm trong tổ hợp này là có hại nhưng tồn tại trong tổ hợp gen khác lại trở nên có lợi Vìvậy, có thể nói tính lợi, hại của đột biến gen chỉ là tương đối
- Nhờ quá trình giao phối mà các đột biến được phát tán trong quần thể tạo ra vô số biến
dị tổ hợp Có thể nói đột biến là nguồn nguyên liệu so cấp còn biến dị tổ hợp là nguồn biến
dị thứ cấp của chọn lọc tự nhiên, cả 2 loại biến dị đó tạo nên vốn gen của quần thể Sự tiến hóa không chỉ sử dụng các đột biến mới xuất hiện mà còn huy động kho dự trữ các đột biến mới xuất hiện mà còn huy động kho dự trữ các gen đột biến đã phát sinh từ lâu nhưng tiềm
ẩn trong trạng thái dị hợp
Câu hỏi 2: Trong trường hợp nào đột biến gen không được truyền lại cho đời
sau? Đáp:
- Đối với những loài sinh sản hữu tính, đột biến xảy ra ở tế bào sinh dưỡng
- Đột biến đi vào giao tử nhưng giao tử đó không được thụ tinh
- Đột biến gây chết hoặc làm cho thể đột biến mất khả năng sinh sản
- Đột biến xảy ra ở tế bào chất của tế bào sinh giao tử của cơ thể đực
Trang 6Câu hỏi 3: Mã di truyền có những đặc điểm nào? Đặc điểm nào của mã di truyền thể hiện tính thống nhất của sinh giới?
Đáp:
- Mã di truyền là mã bộ ba, có nghĩa là cứ 3 nuclêôtit đứng kế tiếp nhau mã hoá 1 axitamin Mã di truyền được đọc từ 1 điểm xác định và liên tục từng bộ 3 nuclêôtit (không đọcgối lên nhau)
- Mã di truyền có tính đặc hiệu: Tức là 1 bộ ba chỉ mã hoá cho 1 loại axít amin
- Mã di truyền mang tính thoái hoá (dư thừa): Tức là nhiều bộ ba khác nhau cùng mã hoácho 1 loại axít amin ( trừ AUG và UGG)
- Mã di truyền có tính phổ biến: Tức là tất cả các loài đều có chung 1 bộ mã di truyền, trừ
Vậy tổng số là: 60 + ( 2 × 3 ) = 66 đoạn mồi
Câu hỏi 5: Trong các quá trình nhân đôi ADN, phiên mã, dịch
mã + Đột biến có thể xảy ra trong quá trình nào ?
+ Đột biến xảy ra trong quá trình nào thì có khả năng di truyền trong sinh sản
hữu tính?
+ Điều kiện để các đột biến di truyền qua sinh sản hữu tính?
Đáp:
- Đột biến có thể xảy ra trong cả 3 quá trình: Nhân đôi AND, phiên mã, dịch mã
- Đột biến xảy ra trong quá trinh nhân đôi mới di truyền
- Đột biến di truyền qua sinh sản hữu tính trong điều kiện:
+Là đột biến giao tử, đột biến tiền phôi
+ Cơ thể mang đột biến phải tham gia vào quá trình sinh sản
Trang 7+ Giao tử mang đột biến phải tham gia thụ tinh tạo thành hợp tử
+ Hợp tử phải có khả năng phát triển thành cơ thể
Câu hỏi 6: Đột biến gen là gì? Nêu các dạng đột biến điểm? Trong các dạng đột biến điểm đó thì dạng đột biến nào gây hậu quả nghiêm trọng hơn, giải thích?
Đáp:
* Khái niệm đột biến gen:
Là những biến đổi nhỏ trong cấu trúc của gen Những biến đổi này thường liên quan đến
1 hoặc 1 số cặp nuclêôtit
* Các dạng đột biến gen: Có 3 dạng (đột biến điểm): - Mất 1 cặp nuclêôtit
- Thêm 1 cặp nuclêôtit
- Thay thế 1 cặp nuclêôtit
* Dạng đột biến gen gây hại nghiêm trọng hơn:
- Đột biến mất hoặc thêm 1 cặp nuclêôtit gây hậu quả nghiêm trọng hơn đột biến thay thế
- Vì đột biến này sẽ dẫn đến tạo ra 1 mARN mà ở đó khung đọc dịch đi 1 nuclêôtit bắt đầu từ vị trí xảy ra đột biến→ trình tự axit amin khác thường
Câu hỏi 7:
a Có những loại đột biến không hề làm thay đổi số lượng và trình tự sắp xếp các axit amin trong phân tử protein, đó là loại đột biến gì? Có cách nào để biết được có sự tồn tại của nó?
b Khi nào đột biến gen trở thành thể đột biến?
Đáp:
a Là đột biến thay thế cặp nucleotit
+ Để biết được có đột biến thay thế người ta sử dung phương pháp giải trình tự
các nucleotit
b Đột biến gen trở thành thể đột biến khi
- Nếu là đột biến gen trội luôn được biểu hiện kiểu hình do đó luôn biểu hiện thành thể đột biến
- Nếu là đột biến gen lặn:
+ Đối với cơ thể nhân thực lưỡng bội:
Trên NST thường: Được biểu hiện thành thể đột biến khi ở trạng thái đồng hợp
Trang 8Trên NST giới tính: Được biểu hiện thành thể đột biến khi ở giới dị giao tử, gen chỉ
có trên 1 NST
+ Đối với cơ thể nhân thực đơn bội luôn được biểu hiện thành thể đột biến
+ Đối với gen của NST ở vi khuẩn:luôn được biểu hiện thành thể đột biến
Câu hỏi 8: Mỗi trường hợp đột biến sau sẽ ảnh hưởng tới chuỗi pôlipeptit tương
Hậu quả ở chuỗi polipeptit:
- Mất cặp nuclêôtit ở giữa bộ ba mở đầu → không tổng hợp được chuỗi polipeptit
- Mất cặp nuclêôtit ở đầu bộ ba kết thúc → chuỗi pôlipeptit sẽ được kéo dài thêm
Câu hỏi 9: Hãy nêu những ứng dụng của phương pháp gây đa bội trong thực
tiễn Đáp:
- Tạo ra các giống cây trồng đa bội có giá trị: cây ăn quả, cây lấy hạt, cây lấy lá, cây lấy củ…
có năng suất, phẩm chất cao, thích nghi tốt với điều kiện bất lợi của môi trường Ví dụ: tạo ra cácgiống cây ăn quả không hạt như dưa hấu, nho,…thường là tự đa bội lẻ
- Khắc phục hiện tượng bất thụ của cơ thể lai xa, làm cho lai xa trở thành một phương phápđặc thù trong tạo giống cây trồng
Ví dụ: khi lai giữa Củ cải x Cải bắp tạo được cây lai có 18 NST Nhưng do các NST của
Củ cải và Cải bắp trong cơ thể lai không xếp được thành từng cặp tương đồng, quá trình giảm phân rối loạn, cơ thể lai không tạo được giao tử hoặc giao tử tạo ra không có sức sống Sử dụng phương pháp gây đa bội bằng tác động của hóa chất cônsixin sẽ làm tăng gấp đôi bộ NST của loài bố và mẹ tạo điều kiện cho chúng xếp được thành cặp, quá trìnhgiảm phân lại xảy ra bình thường, cơ thể lai xa trở nên bất thụ
Câu hỏi 10: Điểm khác nhau giữa cơ thể đa bội và cơ thể lưỡng bội là
gì? Đáp:
- Bộ NST tăng lên một số nguyên lần bộ - Bộ NST 2n
NST đơn bội (nhưng lớn hơn 2n)
- Mỗi cặp gen tương ứng tồn tại trên NST - Mỗi cặp gen tương ứng tồn tại trên NST
Trang 9có số lượng alen tăng lên theo mức tăng bội gồm 2 alen thuộc 2 nguồn gốc khác nhau.
- Tế bào có kích thước lớn - Tế bào có kích thước bình thường
- Các cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản - Các cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản
có kích thước lớn có kích thước bình thường
- Thời gian sinh trưởng và phát triển kéo - Thời gian sinh trưởng và phát triển bình
- Chịu đựng tốt với điều kiện bất lợi - Sức chống chịu với các điều kiện bất lợi
của môi trường kém hơn
- Tính bất thụ cao, kể cả dạng đa bội chẵn - Tính bất thụ thấp, khả năng kết hạt cao
- Hàm lượng các chất dinh dưỡng tích lũy - Hàm lượng các chất dinh dưỡng tích lũy ít
- Trao đổi chất mạnh - Trao đổi chất bình thường
Câu hỏi 11: Tại sao NST được coi là cơ sở vật chất của tính di truyền ở cấp độ tế bào? Đáp:
NST được coi là cơ sở vật chất của tính di truyền ở cấp độ tế bào vì:
NST là cấu trúc mang gen: Các gen trên 1 NST được sắp xếp theo một trình tự xác
định và được di truyền cùng nhau
Các gen trên NST được bảo quản bằng cách liên kết với Pr histon nhờ các trình
tự nucleotit đặc hiệu và các mức xoắn khác nhau
Từng gen trên NST không thể tự nhân đôi riêng rẽ mà chúng được nhân đôi theo đơn vịnhân đôi (tái bản) gồm một số gen
Mỗi NST sau khi tự nhân đôi tạo nên 2 cromatit nhưng vẫn gắn với nhau ở tâm động(NST cấu trúc kép)
Bộ NST đặc trưng cho loài sinh sản hữu tính được duy trì ổn định qua các thế hệ bằng
sự kết hợp giữa 3 cơ chế: nguyên phân, giảm phân và thụ tinh
NST còn có khả năng biến đổi (đột biến) làm cho tính trạng di truyền biến đổi
Những biến đổi tồn tại được sẽ làm cho sinh vật thêm đa dạng, phong phú
Câu hỏi 12: Tại sao tần số hoán vị giữa 2 gen thường nhỏ hơn 50% tổng số giao tử thu được ? có thể coi tần số hoán vị gen = 50% là hiện tượng phân li độc lập và tổ hợp ngẫu nhiên được không?
Đáp: Tần số HVG thường nhỏ hơn 50% vì:
- Xu hướng liên kết gen hoàn toàn là chủ yếu
Trang 10- Khi có hoán vị gen thì hiện tượng HVG chỉ xảy ra giữa 2 trong 4 cromatit khác nguồn gốc của cặp NST tương đồng Nghĩa là chỉ đạt tới giá trị 50% là tối đa
- Không phải bất kì tế bào nào có kiểu gen cùng loại đều xảy ra HVG, có tế bào xảy ra HVG, có tế bào không xảy ra HVG nên tần số HVG thường nhỏ hơn 50%
* Tần số HVG bằng 50% thì các loại giao tử tạo ra bằng nhau Vì vậy, ở đời lai tỉ lệ phân
li kiểu hình giống tỉ lệ di truyền độc lập (nếu HVG xảy ra ở 2 giới tính) Nhưng cũng không thể coi tần số HVG đạt tới giá trị 50% là hiện tượng di truyền độc lập, tổ hợp ngẫunhiên được vì:
- Ở hiện tượng di truyền độc lập, tổ hợp ngẫu nhiên thì mỗi gen nằm trên 1 NST, phân li không phụ thuộc vào nhau Ở hiện tượng HVG, các gen cùng nằm trên 1 NST, mặc dù các gen liên kết không hoàn toàn nhưng vẫn có các giao tử chứa các gen liên kết hoàn toàn với nhau Các giao tử sinh từ sự trao đổi chéo liên kết với nhau trên 1 NST tạo nên nhóm gen liênkết mới
- Ở hiện tượng các gen PLĐL, tổ hợp ngẫu nhiên luôn cho những tỉ lệ kiểu hình cơ bản hiện tượng hoán vị gen có thể xảy ra nhưng tần số HVG = 50% là rất hiếm
Câu hỏi 13: Giải thích tại sao không thể tìm được 2 người có kiểu gen giống hệt
nhau trên Trái Đất, ngoại trừ trường hợp sinh đôi cùng trứng.
Đáp:
Không thể tìm được 2 người có kiểu gen giống y hệt nhau ngoại trừ sinh đôi cùng
trứng, vì số biến dị tổ hợp mà một cặp bố mẹ có thể tạo ra là cực lớn (223 x 223=246 kiểu
tổ hợp khác nhau)
Câu hỏi 14: Có 2 anh em đồng sinh cùng trứng kết hôn với 2 chị em đồng sinh
cùng trứng thì con của họ sinh ra có hoàn toàn giống nhau hay không, vì sao?
Đáp:
* Con của 2 cặp đồng sinh cùng trứng:
Giống nhau về nhiều tính trạng, chứ không giống nhau hoàn
Trang 11Đáp: Kết hôn trong vòng 3 đời có nghĩa là “hôn phối cận huyết” sẽ làm tăng thể đồng hợp
tử lặn, các gen đột biến lặn có cơ hội tổ hợp thành thể đột biến, biểu hiện thành kiểu hình
là các bệnh, tật bẩm sinh hoặc gây chết Do đó để duy trì nòi giống khỏe mạnh về thể chất, trí tuệ thông minh, không nên kết hôn trong vòng 3 đời
Câu hỏi 16: Làm thế nào để biết được hai gen nào đó nằm trên hai NST tương đồng khác nhau nếu chỉ dựa trên kết quả của các phép lai?
NST nếu tỉ lệ kiểu hình ở lai phân tích 1:1:1:1 hoặc ở F2 là 9:3:3:1
Câu hỏi 17: Nêu các điều kiện cần có để khi lai các cá thể khác nhau về hai tính
trạng sẽ thu được đời con có tỉ lệ phân li kiểu hình xấp xỉ 9:3:3:1.
Đáp: Để có tỉ lệ phân li kiểu hình 9:3:3:1 thì bố mẹ phải dị hợp tử về 2 cặp gen, có
hiện tượng trội – lặn hoàn toàn, số lượng cá thể con lai phải lớn, các cá thể có kiểu gen
khác nhau phải có sức sống như nhau
Câu hỏi 18: Làm thế nào có thể chứng minh được 2 gen có khoảng cách bằng 50cM lại cùng năm trên một NST?
Câu hỏi 19: Có ý kiến cho rằng: Ở người, bệnh mù màu và bệnh máu khó đông chỉ có
ở nam giới Ý kiến trên đúng hay sai? Vì sao? Đáp:
Dạng đột biến cấu trúc