Giải pháp 2: Tổ chức dạy học trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức Giải pháp 3: Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa nhằm khắc sâu kiến
Trang 1TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Họ và tên tác giả: VŨ THỊ DIỆU LINH
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: trường TH&THCS Tứ Yên
Tên sáng kiến: “Một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa lớp 5”
Mã lĩnh vực: 06
Nội dung tóm tắt:
Sáng kiến tập trung vào một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt lớp 5 Cụ thể, các giải pháp đã triển khai là:
Giải pháp 1: Giúp học sinh nắm vững kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
bằng cách dạy kĩ và chắc phần kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Giải pháp 2: Tổ chức dạy học trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức
Giải pháp 3: Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh
Giải pháp 4: Tập hợp từ các bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Giải pháp 5: Tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc
sống hàng ngày
Trang 2Vũ Thị Diệu Linh
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Trong giáo dục phổ thông, môn Tiếng Việt là một môn học quan trọng, chiếm
vị trí chủ yếu trong chương trình Trong các giờ học Tiếng Việt nhà trường cung cấp cho các em những tri thức khoa học về ngôn ngữ Đó là phương tiện giúp các em trau giồi và phát triển ngôn ngữ, sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong hoạt động giao tiếp hàng ngày qua đó rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt
Và để làm tốt được điều đó thì một việc quan trọng cần thiết mà chúng ta cần làm là dạy cho học sinh hiểu được nghĩa của từ
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, mảng nội dung nghĩa của từ được tập trung và được biên soạn có hệ thống trong phần luyện từ và câu Nhiều năm liền
Trang 3trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy, tôi thường nhận thấy các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa hoàn toàn, đồng nghĩa không hoàn toàn cũng không mấy khó khăn vất vả, tuy nhiên khi học xong từ nhiều nghĩa và từ đồng âm thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ nhiều nghĩa và từ đồng âm không được như mong đợi của cô giáo Kể cả một số học sinh khá giỏi đôi lúc cũng làm thiếu chính xác Trăn trở về vấn đề này, qua năm dạy lớp 5 tôi đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ về cách dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, bài tập phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Sau đây tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm qua đề tài: “Một số biện pháp dạy
từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa lớp 5”
2 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa; phân biệt từ
đồng âm, từ nhiều nghĩa lớp lớp 5”
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Vũ Thị Diệu Linh
- Địa chỉ: Trường Tiểu học Tứ Yên,huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Điện thoại: 0963003634
- Email:dieulinhthty1994@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Vũ Thị Diệu Linh
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: môn Tiếng Việt
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
- Từ tháng 9/2019 đến nay
Trang 47 Bản chất của sáng kiến
7.1 Nội dung của sáng kiến
Khái niệm từ đồng âm và từ nhiều nghĩa được hiểu như sau:
Từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau
Hiện tượng đồng âm là hiện tượng mang tính phổ quát xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới
Khái niệm nghĩa gốc - nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa
- Nghĩa gốc: Là nghĩa cơ bản, là nền tảng cho sự phát triển nghĩa của từ Trong
từ điển, nghĩa gốc được nói đến đầu tiên
- Nghĩa chuyển: Là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa gốc, có mối quan hệ mật thiết với nghĩa gốc.Trong từ điển, nghĩa chuyển được nói đến sau nghĩa gốc Một thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về từ đồng âm học sinh tiếp thu và làm bài nhanh hơn khi học và làm bài tập về từ nhiều nghĩa, có lẽ vì từ nhiều nghĩa trừu tượng hơn Đặc biệt, khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng
âm, các từ có quan hệ nhiều nghĩa với nhau trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài tập chưa đạt yêu cầu,…Để kiểm tra khả năng phân biệt chính xác
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa tôi đã cho học sinh lớp 5C (năm học 2018-2019) làm bài tập 1 (trang 82- SGK – TV5 tập 1)
Đề bài: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào
là từ nhiều nghĩa?
Trang 5a Chín
- Lúa ngoài đồng đã chín vàng.
- Tổ em có chín học sinh.
- Nghĩ cho chín rồi hãy nói.
b Đường
- Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt.
- Các chú công nhân đang sửa chữa đường dây điện thoại.
- Ngoài đường, mọi người qua lại nhộn nhịp.
c Vạt
- Những vạt nương màu mật.
- Lúa chín ngập lòng thung
- Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre.
- Những người Giáy, người Dao
- Đi tìm măng hái nấm
- Vạt áo chàm thấp thoáng
- Nhuộm xanh cả nắng chiều
* Kết quả chất lượng năm học 2018-2019:
Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu học sinh lớp tôi đã đạt được kết quả đáng kể:
Tổng số học
sinh
Số bài đúng cả
3 phần
Số bài có 1 phần sai
Số bài có 2 phần sai
Số bài có 3 phần
sai
Trang 623 13 5 3 2
Như vậy số học sinh có phần bài làm sai khá nhiều, đặc biệt có những học sinh sai từ 2 đến 3 phần.Vậy việc phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa của các em chưa tốt.Tôi đưa ra một số biện pháp áp dụng
7.1.1 Áp dụng phương pháp hợp tác trong giờ thực hành môn Tiếng Việt
Giải pháp 1: Giúp học sinh nắm vững kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa bằng cách dạy kĩ và chắc phần kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, Tôi thực hiện theo quy trình các bước sau:
Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu bản chất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng âm,từ nhiều nghĩa và nêu định nghĩa Cho học sinh lấy ví dụ để nắm vững kiến thức
Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới
Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy luyện từ và câu và vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:
Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân
Phương pháp giảng giải - Thảo luận nhóm
Phương pháp trực quan - Tổ chức trò chơi
Trang 7* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, tôi chủ yếu thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố, nắm vững kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa
VD1: Khi dạy bài từ đồng âm SGK TV5 tập 1 trang 51 tôi làm như sau:
- Tôi yêu cầu học sinh đọc bài tập 1 phần nhận xét:
a) Ông ngồi câu cá
b) Đoạn văn này có 5 câu
Sau khi cho học sinh đọc tôi đưa câu hỏi để dẫn dắt học sinh tìm hiểu ngữ liệu: + Em có nhận xét gì về hai câu văn trên?
+ Hoặc hai câu văn trên có từ nào giống nhau?
+ Nghĩa của từ câu trong từng câu văn trên là gì? Em hãy chọn lời giải thích
đúng ở bài tập 2
Câu trong Ông ngồi câu cá: Bắt cá, tôm,…bằng móc sắt nhỏ (thường có mồi)
buộc ở đầu một sợi dây
Câu trong Đoạn văn này có năm câu: Đơn vị của lời nói diễn đạt một ý trọn
vẹn, trên văn bản được mở đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấu ngắt câu
Sau đó tôi hỏi:
+ Hãy nêu nhận xét của em về nghĩa và cách phát âm các từ câu trên.
- HS rút ra khái niệm: Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa (SGK Tiếng Việt 5 - tập 1 - trang 51)
Trang 8- Tôi đưa thêm một số ví dụ cho HS tìm hiểu:
+ Bò trong kiến bò: Chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền bằng
cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn
+ Bò trong trâu bò: Chỉ loài động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có màu
vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa,…
+ Đầm trong đầm sen: Chỉ khoảng trũng to và sâu giữa đồng để giữ nước.
+ Đầm trong cái đầm đất: Chỉ vật nặng, có cán dùng để nện đất cho chặt.
-Tôi yêu cầu học sinh tự tìm thêm ví dụ về từ đồng âm để khắc sâu kiến thức trước khi chuyển sang phần luyện tập
VD2: Khi dạy bài từ nhiều nghĩa SGK TV5 tập 1 trang 66 tôi làm như sau:
- Tôi yêu cầu học sinh đọc bài tập 1 phần nhận xét: Rồi hỏi học sinh
+ Bài tập 1 yêu cầu chúng ta điều gì?
Tôi yêu cầu học sinh tự làm bài Nhắc học sinh dùng bút chì để nối từ với nghĩa thích hợp
Nhận xét bài, kết luận đúng sai
Gọi 1 học sinh nhắc lại nghĩa của từng từ
Tai a Bộ phận ở hai bên đầu người hoặc động vật, dùng để nghe
Răng
a Phần xương cứng, màu trắng, mọc trên hàm, dùng để cắn, giữ
và nhai thức ăn
Mũi
a Bộ phận nhô lên ở giữa mặt người hoặc động vật có xương
sống, dùng để thở và ngửi
Sau đó tôi chuyển sang bài tập 2
Trang 9Gọi học sinh đọc yêu cầu và nội dung của bài tập
Yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm bàn tìm câu trả lời
+ Nghĩa của các từ tai, răng, mũi ở hai bài tập trên có gì giống nhau?
Học sinh trả lời:
+ Răng: đều chỉ vật nhọn,sắc, sắp đều thành hàng
+ Mũi: Cùng chỉ bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước
+ Cùng chỉ bộ phận mọc ở hai bên chìa ra như tai người
Sau đó học sinh tự rút ra khái niệm:
*Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển.Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau (SGK Tiếng Việt 5 – Trang 67)
Giải pháp 2: Tổ chức dạy học trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức.
Trong chương trình SGK, bài dạy về từ nhiều nghĩa được sắp xếp sau bài dạy
về từ đồng âm.Như vậy để phòng xa sự nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa thì ngay ở bài dạy về từ đồng âm ngoài ví dụ đúng về các trường hợp đồng âm tôi đưa thêm một số ví dụ về các trường hợp không phải đồng âm để các em nhận xét
VD: Từ “đi” trong các trường hợp sau đây có phải hiện tượng đồng âm hay không?
Mẹ hay đi bộ vào buổi tối để giảm béo.
Bố mới đi công tác về.
Hè này, cả nhà em đi du lịch.
Cụ ốm nặng đã đi hôm qua rồi.
Trang 10 Anh đi con mã, tôi đi con tốt.
Thằng bé đã đến tuổi đi học.
Bài tập này tôi chỉ yêu cầu học sinh nhận diện từ đi trong các câu văn trên là
hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu các em các em giải thích gì và sẽ có hai phương án trả lời: đồng âm/ không đồng âm Đến đây giáo viên
gợi mở: để biết từ “đi” trong các câu văn trên có phải quan hệ đồng âm hay không,
các em về nhà suy nghĩ tìm hiểu SGK các tiết luyện từ và câu sau cô sẽ giúp các em tìm câu giải đáp
Để không mất nhiều thời gian tiết học cho nội dung trên, tôi viết sẵn nội dung câu hỏi gợi mở ra bảng phụ và tiến hành sau khi học sinh lấy VD về từ đồng âm để khẳng định lại ghi nhớ Lúc đó tự các em sẽ có một sự so sánh giữa các ví dụ về từ đồng âm với ví dụ trên, đồng thời kích thích được tư duy của học sinh Trước khi kết thúc tiết học, tôi cũng không quên nhắc học sinh về nhà tiếp tục suy nghĩ trả lời giải
thích về hiện tượng từ đi trong các câu văn đã cho.
Trong dạy bài từ nhiều nghĩa tôi cũng đưa thêm một ví dụ về từ đồng âm để học sinh phân biệt, rèn kĩ năng nhận diện từ
Sau phần ghi nhớ của bài học từ nhiều nghĩa tôi lấy thêm một hoặc hai ví dụ về
từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy ví dụ về từ đồng âm cho học sinh nhận định về các
từ trong ví dụ
VD: Từ “chỉ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa? Vì sao?
Cái kim sợi chỉ - chiếu chỉ - chỉ đường – một chỉ vàng
Trang 11Ở câu hỏi này, tôi yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Sau khi học sinh
trả lời tôi chốt lại: từ chỉ trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm vì nghĩa của
từ chỉ trong mỗi trường hợp hoàn toàn khác nhau, không có quan hệ với nhau và nhấn
mạnh thêm ở cuối tiết học những điều cần lưu ý khi phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để tránh nhầm lẫn đáng tiếc giữa hai hiện tượng này
Giải pháp 3: Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Khi tôi dạy bài: Luyện tập về từ nhiều nghĩa SGK TV5 tập 1 Trang 82
Khi học sinh làm bài xong tôi hỏi một học sinh có phần lỗi sai nhiều về nghĩa của từ
“vạt” trong câu:
“Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre”nghĩa là gì?
Lúc đầu em im lặng không trả lời, sau đó tôi động viên, bảo em hiểu thế nào thì
cứ nói cho cô nghe thì em trả lời “ vạt” trong câu văn đó là một phần đầu nhọn của con dao
Tôi thầm nghĩ, em đã hiểu sai nghĩa của từ vạt và nội dung ý nghĩa thông báo của câu văn nên trong bài làm của mình em cho rằng từ vạt trong câu:
“Những vạt nương màu mật Lúa chín ngập lòng thung”
Và từ vạt trong câu văn trên đều là những từ cùng nghĩa
Trang 12Tìm hiểu và nắm được một số sai lầm của học sinh như trên, tôi đã thử nghiệm một số biện pháp phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa như sau:
- Yêu cầu học sinh thuộc và hiểu ghi nhớ
- Dùng tranh ảnh vật thật để minh hoạ cho từ nhằm giúp các em hiểu đúng nghĩa và phân biệt được từ
Ví dụ: Khi dạy bài từ đồng âm SGK TV5 tập 1 trang 51
- Để phân biệt nghĩa từ đồng trong bài tập: Cánh đồng - tượng đồng - một nghìn đồng.Tôi đã đưa bức ảnh chụp cánh đồng, một pho tượng làm bằng đồng và tờ tiền một nghìn đồng cho HS xem để HS nắm nghĩa của các từ đồng học sinh nêu
nghĩa từng từ rồi từ đó tự rút ra kết luận : Đó là những từ đồng âm
Giải pháp 4: Tập hợp từ các bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Tôi đã tiến hành tập hợp, phân loại các dạng bài tập để giúp học sinh nắm chắc phần kiến thức này
Dạng 1: Phân biệt nghĩa của từ
Đối với từ đồng âm:
Phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong các cụm từ sau: cánh đồng (1); tượng đồng (2) ; một nghìn đồng (3)
Ở bài tập này tôi yêu cầu các em đánh số sau đó giải nghĩa của các từ đồng trong từng trường hợp:
đồng (1): Khoảng đất rộng, bằng phẳng, dùng để cày cấy, trồng trọt
đồng (2): Là kim loại có màu đỏ, dẽ dát mỏng và kéo thành sợi
Trang 13đồng (3): Là đơn vị tiền Việt Nam
Sau đó yêu cầu học sinh rút ra kết luận: Nghĩa của các từ đồng này hoàn toàn khác
nhau, chúng là những từ đồng âm
Đối với từ nhiều nghĩa:
Trong các câu sau câu nào có từ chân mang nghĩa gốc và câu nào có từ chân mang nghĩa chuyển ?
a Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân (1)
b Bé đau chân (2)
Tôi yêu cầu các em đánh số sau đó nêu nghĩa của từ chân và xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển
Từ chân trong câu a: Chỉ một bộ phận làm trụ đỡ của cái kiềng (nghĩa chuyển)
Từ chân trong câu b: Một bộ phận của cơ thể, đỡ và di chuyển cơ thể (nghĩa gốc) Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hoặc nhiều nghĩa
Đối với từ đồng âm.
Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước
Ở bài tập này tôi hướng dẫn học sinh với mỗi từ các em cần đặt ít nhất là hai câu, các từ đó có quan hệ đồng âm với nhau
VD: Bàn: Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm
Bố mẹ em đang bàn chuyện gia đình
Đối với từ nhiều nghĩa.
Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ “đứng”
Trang 14Tôi yêu cầu học sinh đặt câu và gợi ý nghĩa của các từ đứng như sau:
Nghĩa 1: Đứng: Ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền
Nghĩa 2: Đứng: Ngừng chuyển động
Dựa vào gợi ý đó học sinh có thể đặt câu:
Nghĩa 1: Chúng em đang đứng nghiêm trang chào cờ
Nghĩa 2: Kim đồng hồ đứng lại
Trời đứng gió
Giải pháp 5: Tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày.
Để dạy tốt phần kiến thức nghĩa của từ này, tôi nghĩ bản thân người giáo viên
phải luôn nỗ lực tự tích lũy, trau giồi bản thân để có được vốn từ phong phú Bản thân
tôi đã tự tích lũy cho bản thân vốn từ sau:
Đối với từ đồng âm:
a Bạc:
- Cái nhẫn bằng bạc
- Đồng bạc trắng hoa xòe
- Cờ bạc là bác thằng bần
- Ông Ba tóc đã bạc
- Đừng xanh như lá, bạc như vôi
- Cái quạt máy này phải thay bạc
b Đàn: