Học sinhquá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế, tài liệu tham khảonghị luận xã hội không nhiều, kĩ năng làm bài chưa thuần thục, dung lượng mộtbài không được quá dà
Trang 1
Phần mở đầu Trang 1 Lời giới thiệu……… 2
2 Tên sáng kiến……… 3
3.Tác giả sáng kiến……… 3
4 Chủ đầu tư sáng tạo……… 3
5 Lĩnh vực áp dụng ……… 3
6 Ngày sáng kiến được áp dung………3
7 Mô tả bản chất SKKN……… 3
Phần nội dung 1 Nhận dạng đề 5
2 Tìm hiểu đề 9
3 Lập dàn bài 11
4 Hướng dẫn chi tiết làm bài cụ thể 12
5 Hướng dẫn HS làm bài theo hướng mở 23
6 Bài văn mẫu cho HS 25
Phần kết luận và kiến nghị 32
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Ở trường phổ thông, môn văn có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc
hình thành phát triển nhân cách, năng lực ngôn ngữ cho học sinh Thông thườngmôn Ngữ văn gồm các phân môn: Đọc văn, tiếng việt, tập làm văn Trong đó
phân môn làm văn có vị trí hết sức quan trọng, bởi lẽ nó quyết định cho việc
nhận định, đánh giá, diễn đạt ngôn ngữ của học sinh Trong chương trình sáchgiáo khoa Ngữ văn những năm trước đây thường xuất phát từ một quan niệmkhá cực đoan: Coi trọng nghị luận văn học Để khắc phục tình trạng cực đoantrên, chương trình Ngữ văn hiện nay có những điều chỉnh lớn nhằm cân đối giữanghị luận văn học và nghị luận xã hội Đây là nội dung phù hợp nhưng cũng hếtsức khó khăn cho việc học tập của học sinh
Trong những năm gần đây kiểu văn nghị luận xã hội đã được chú trọngtrong các nhà trường trung học Bởi văn nghị luận đã trở thành tiêu chí đánh giáđối với học sinh không chỉ trong những bài kiểm tra, thi học sinh giỏi, thi vàolớp 10 và ngay cả thi tốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học Sự chuyển biếnnày là cơ hội và cũng là thách thức đối với học sinh Một thời gian khá dài, làmvăn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học khiến cho học sinhcảm thấy văn chương xa rời thực tế cuộc sống Rèn luyện văn nghị luận xã hộigiúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, màcòn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội Thế nhưngthách thức đặt ra đối với học sinh và giáo viên cũng không phải là nhỏ Học sinhquá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế, tài liệu tham khảonghị luận xã hội không nhiều, kĩ năng làm bài chưa thuần thục, dung lượng mộtbài không được quá dài, chỉ được viết trong một thời gian ngắn về một vấn đềtrong cuộc sống chứ không phải cố định ở một văn bản trong sách giáokhoa Tất cả những điều đó tạo nên áp lực, gây khó khăn cho học sinh
Trong năm qua, bản thân tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 11,tôi luôn có ý thức trong việc giảng dạy, đặc biệt đã chú trọng rèn luyện cho họcsinh kĩ năng làm bài nghị luận nói chung và bài văn nghị luận xã hội nói riêng,
vì đây là một vấn đề đang được xem là mới và khó
Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng của việc làm bài nghị luận xãhội ở trường THPT hiện nay, để tạo tiền đề cho việc học và làm văn của các em
Trang 3ở các bậc học tiếp theo, tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Rèn luyện kĩnăng làm bài nghị luận xã hội cho học sinh lớp 11” Nhằm trao đổi với đồngnghiệp một vài kinh nghiệm, qua đó giúp cho học sinh lớp 11 nắm vững hơnphương pháp làm kiểu bài này, với mong muốn nâng cao chất lượng bài thi, bàikiểm tra và kết quả học tập của các em.
2 Tên sáng kiến:
“Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận xã hội cho học sinh lớp 11”
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hà
- Địa chỉ: Trung tâm GDNN - GDTX Tam Đảo
- Số điện thoại: 0975875514 Email: nth.gvthpt@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Nguyễn Thị Hà - Trung tâm GDNN-GDTX Tam Đảo
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Áp dụng dạy học môn Ngữ văn cho học sinh cấp THPT lớp11
- Hỗ trợ giáo viên có thêm kinh nghiệm trong giảng dạy: Rèn luyện kĩ nănglàm bài nghị luận xã hội cho học sinh
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 5/11/2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Nội dung sáng kiến:
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
1 Cơ sở lí luận
Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ chóng mặt như hiệnnay thì giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng Mục tiêu giáo dục của tất cảcác quốc gia là đào tạo con người phát triển toàn diện Tổ chức khoa học giáodục thế giới UNESCO cũng đã đề xướng mục đích học tập là: “Học để biết, học
để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình” Việc đưa mảng nghịluận xã hội vào chương trình Ngữ văn bậc trung học hoàn toàn phù hợp với xuhướng giáo dục trên Nghị luận xã hội là phưong pháp nghị luận lấy đề tài từ các
Trang 4lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cáiđúng, sai, tốt, xấu của vấn đề được nêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo
về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân Những đềtài và nội dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộcsống, có tính giáo dục và tính thời sự cao Đối với học sinh THPT, các bài vănnghị luận xã hội thường mang đến cho các em những suy nghĩ và nhận thứcđúng đắn về cuộc sống; có ý nghĩa hướng đạo, đặc biệt là uốn nắn nhận thức chocác em về những vấn đề có tính hai mặt của đời sống xã hội đang tác động trựctiếp đến thế hệ trẻ
2 Cơ sở thực tiễn:
Để làm tốt bài nghị luận xã hội, học sinh phải có những hiểu biết tươngđối sâu rộng về các lĩnh vực đời sống, chính trị xã hội… Song đa phần học sinhphổ thông ngày nay không có nhiều kiến thức xã hội Các em không có sự chủđộng quan tâm tìm hiểu các vấn đề xã hội do bản chất của các vấn đề chưa hấpdẫn với học sinh Các em lại dành phần lớn quỹ thời gian của mình cho việc học
ở trường và ôn bài ở nhà Bị bó hẹp trong môi trường gia đình và nhà trường các
em gần như bị tách khỏi những vận động của đời sống chính trị, xã hội Bêncạnh đó, bản chất của những vấn đề xã hội cũng phức tạp, khó nắm bắt với lứatuổi học sinh
Khó khăn thứ hai khi học sinh làm bài nghị luận xã hội mắc phải là khó khăn
về phương pháp Đa số học sinh phổ thông không thành thạo các phương pháplập luận, gặp khó khăn trong tư duy lôgic, đặc biệt là lôgic ngôn ngữ
Phương pháp học văn quen thuộc của học sinh là được thầy cô giáo hướngdẫn và làm bài theo mẫu Văn nghị luận xã hội lại không có mẫu, không thể biếtgiới hạn kiến thức để hướng dẫn trước
Trong thực tế, kiến thức xã hội nói chung, kiến thức xã hội để làm bài văn NLXH nói riêng của học sinh THPT hiện nay không cao, khả năng tư duy logic
và khả năng lập luận của đa số học sinh còn thấp nên các em thường gặp khó khăn khi làm bài NLXH Thời lượng dành cho bài NLXH trong chương trình phổ thông hiện nay chỉ có 2 tiết lí thuyết dạy vào lớp 12 vì vậy giáo viên cũng gặp khó khăn khi giảng dạy phân môn này Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng bài NLXH cho học sinh, làm thế nào để bồi dưỡng kiến thức xã hội cho học sinh là một vấn đề cấp thiết Là giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ Văn , chúng ta cần phải làm gì trước thực tế này để giúp các em học sinh có được những kỹ năng làm bài tốt nhất khi đứng trước nhiều vấn đề rất thiết thực của đời sống xã hội, qua đó bày tỏ được thái độ, suy nghĩ, nhận xét của bản thân trước vấn đề ấy? Đó là những câu hỏi đã và đang được đặt ra và cần sớm được giải quyết trong thực tế dạy - học hiện nay Là giáo viên giảng dạy Ngữ Văn, tôiluôn mong muốn giúp các em học sinh tiếp cận được vấn đề, hiểu và giải quyết
Trang 5được vấn đề đặt ra từ các đề làm văn nghị luận xã hội Từ đó, bồi dưỡng cho các
em sự yêu thích đối với môn học và cũng là để góp phần giúp các em thêm hiểu người, hiểu đời, làm phong phú thêm đời sống tâm hồn, tình cảm; góp phần hìnhthành kỹ năng sống cho các em từ những vấn đề xã hội được tiếp cận Đồng thời, những vấn đề được đặt ra từ các đề bài làm văn nghị luận xã hội cũng góp phần thiết thực vào việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách cho học sinh, trở thành hành trang tri thức, góp phần chuẩn bị cho các em tự tin bước vào đời thông qua những vấn đề nghị luận xã hội rất thiết thực
3 Thực trạng dạy học văn NLXH ở trường phổ thông
- Thực trạng chung: Thực trạng học và làm bài văn nghị luận nghị luận xã hội
đang là một vấn đề được quan tâm trong các trường THPT nói chung và trường
TT GDNN-GDTX Tam Đảo nói riêng Theo thống kê và theo dõi kết quả thihọc, kì, thi học sinh giỏi, thi vào PHPT của mấy năm gần đây thì chất lượng làmbài môn Ngữ văn của học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên phần điểm bịtrừ trong bài lại rơi vào phần văn nghị luận xã hội Nguyên nhân chính là docách diễn đạt của các em chưa được tốt Các ý còn chung chung, chưa cụ thể và
rõ ràng, kiểu nghị luận này yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức thực tế thìcác em lại chưa có Nhiều em còn mắc các lỗi về dùng từ, diễn đạt có em cònxác định sai đề, dẫn đến sai kiến thức cơ bản do suy diễn cảm tính, suy luận chủquan hoặc tái hiện quá máy móc dập khuôn trong tài liệu, thậm chí có chỗ “râuông nọ cắm cằm bà kia” nhầm nghị luận về tư tưởng đạo lí sang nghị luận về sựviệc hiện tượng đời sống Sở dĩ chất lượng phần văn nghị luận xã hội còn chưađạt yêu cầu như vậy là do nhiều nguyên nhân:
- Về giáo viên:
Mặc dù trong những năm gần đây, hầu hết giáo viên đã nắm chắc đượccấu trúc của các đề thi học sinh giỏi và thi vào THPTQG, một phần không thểthiếu là câu hỏi liên quan đến kiểu bài nghị luận xã hội, thế nhưng một số giáoviên vẫn cho rằng câu hỏi chỉ chiếm tỉ lệ điểm trong bài khoảng 20% số điểmnên chưa tập trung nhiều để hướng dẫn học sinh, khiến kiến thức cơ bản họcsinh nắm chàng màng Tư tưởng học sinh làm bài lại chỉ chăm chú đến phầnnghị luận văn học mà không nghĩ rằng đây là phần dễ đạt điểm tối đa Hơn nữalâu nay có khá nhiều học sinh và ngay cả thầy cô cứ nghĩ rằng văn hay là câuchữ phải “bay bổng”, phải “lung linh”, nghĩa là dùng cho nhiều phép tu từ, nhiều
từ “sang”, nhiều thuật ngữ “oách” mà quên rằng văn hay là sự chân thực, sự giản
dị, tức là nói những điều mình nghĩ và nói bằng ngôn ngữ bình thường, khôngcao giọng, không uốn éo làm duyên
- Về học sinh.
Trong những năm gần đây học sinh không hứng thú muốn học môn Ngữvăn, nhất là ngại làm những bài văn Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xãhội, thì một phần cũng do làm văn khó, lại mất nhiều thời gian, “công thức” làmvăn cho các em lại không hình thành cụ thể Các em không phân biệt rõ các thaotác nghị luận chính mà mình sử dụng Kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh ởtrường TT GDNN-GDTX Tam Đảo còn kém nhiều và rất hiếm có những bàinghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác,
Trang 6đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm, luận cứ Bài viết của các em khi thì sai vềyêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung nghị luậncủa đề bài Ví dụ đề yêu cầu nghị luận về tư tưởng đạo lí lại làm sang nghị luận
về hiện tượng sự việc đời sống Mặt khác đối với bài nghị luận xã hội dunglượng quy định (chỉ khoảng 300 đến 400 từ hoặc một trang giấy thi) nhiều họcsinh vẫn chưa căn được, cứ thế phóng bút viết thậm chí hết nhiều thời gian màbài lại không cô đọng, súc tích Một điều nữa mà ta dễ dàng nhận thấy khi dạykiểu bài này các em đều quan niệm là bài văn “khô khan” nên bài viết chưa cósức hút, chưa lay động được tâm hồn người đọc Ở bất cứ thể văn nào, khô khanhay hấp hẫn là ở chất lượng Mà chất lượng một bài văn phụ thuộc vào cảmhứng, kiến thức và các yếu tố có tính kĩ thuật như: Cách lập luận, dùng từ, câu Kết quả khảo sát học sinh khi chưa áp dụng đề tài này vào thực tế giảngdạy như sau: Năm học 2018-2019
Lớp Sĩ
số
Số HS không biết cáchlàm bài (1->4điểm)
Số HS biết cách làmbài ở mức trung bình-khá (5->7điểm)
Số HS làm bàitốt
(8-9 điểm)
SL % SL % SL %11A1 34 17 50,0 15 44,1 2 5,9
Nghị luận xã hội là những bài văn mà người viết dùng lí lẽ, phán đoán,
chứng cứ để bàn luận về một vấn đề chính trị, xã hội, đời sống Đề tài của dạng bài này hết sức rộng mở, bao gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, lối sống, những hiện tượng tích cực, tiêu cực trong đời sống, vấn đề thiên nhiên, môi trường, vấn đề hội nhập, vấn đề giáo dục nhân cách Nghĩa là ngoài những tác phẩm văn học ( lấy tác phẩm văn học trong nhà trường làm đối tượng) thì tất
cả các vấn đề khác được đưa ra bàn luận đều được xếp vào dạng nghị luận xã hội Có thể qui về hai dạng đề cơ bản: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống
Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học xét cho cùng
thì cũng phải qui về một trong hai dạng đề trên Trên thực tế các đề nghị luận xã
Trang 7hội rất phong phú và đa dạng, sự phân chia dạng đề chỉ là tương đối Nhiều khi giới hạn giữa hai dạng đề rất nhỏ nên học sinh khó xác định rạch ròi Việc nhận dạng đề trước khi tìm hiểu đề rất quan trọng, giúp học sinh định hướng đúng cho bài làm, tránh sai lạc trong trong quá trình làm bài.
1 Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng đạo đức, lối sống, quan niệm của con người Vấn đề tư tưởng đạo lí thường được nêu lên trong các ý kiến, nhận định của các bậc vĩ nhân, hay nhà thơ, nhà văn, hoặc được nêu ra ở tục ngữ, ca dao… Các đề thường gặp là:
- “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phươnghướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” (LépTônxtôi) Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trìnhbày lí tưởng riêng của mình
- “Đời người cũng như một bài thơ, giá trị của nó không tùy thuộc vào sốcâu mà tùy thuộc vào nội dung” (Seneca) Suy nghĩ của em về ý kiến trên
- “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được:Thời gian, lời nói và cơ hội” Lời nhắn nhủ này nhắc anh (chị) điều gì?
- Suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của Chúa Jesus: “Thiên đường ở chínhtrong ta Địa ngục cũng do ta mà có”
- Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của Tuân Tử: “Người khen ta mà khenphải là bạn của ta, người chê ta mà chê phải là thầy của ta, những kẻ tâng bốc,
xu nịnh là thù của ta”
Học sinh có thể nhận ra dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí khi nhậnthấy đề bài yêu cầu bàn luận về một nhận định, một câu tục ngữ, hay một câudanh ngôn
Trang 8Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặt trongdấu ngoặc kép
2 Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Xung quanh chúng ta hằng ngày có biết bao hiện tượng xảy ra Có hiện
tượng tốt, có hiện tượng xấu Tất cả những điều xảy ra trong cuộc sống ấy đều là hiện tượng đời sống Nghị luận về một hiện tượng đời sống là cách sử dụng tổng hợp các thao tác lập luận để bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với đời sống xã hội, đáng khen, đáng chê, hay đáng suy nghĩ; có tính bức xúc, cập
nhật nóng hổi diễn ra trong đời sống hàng ngày, được xã hội quan tâm như: antoàn giao thông, gian lận trong thi cử, bạo lực học đường, bệnh vô cảm, bệnhthành tích, bệnh đạo đức giả, hiện tượng mê muội thần tượng từ đó làm chongười đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu, để đồng tình hoặc bác bỏ trước nhữnghiện tượng đó Các đề thường gặp là:
- Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành
động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay
Ví dụ:
- Em có suy nghĩ gì về vấn đề bạo lực học đường đang diễn ra khá nhiềutrong trường học hiện nay?
- Hãy viết một bài văn với tiêu đề: “ Nước - nguồn tài nguyên quý vô giá”
- Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề: ô nhiễm môi trường
- Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến: “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹpvăn hóa nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa”
- Anh (chị) có suy nghĩ gì về căn bệnh vô cảm trong xã hội ta hiện nay?
- “Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hàonhoáng” Suynghĩ của em về ý kiến trên
- Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bày tỏ suy nghĩ củamình về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam từthông tin sau: “Chiều ngày 30 - 4 – 2013, bên bờ sông Lam , đoạn chảy qua xãTrung Sơn,huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Nam (học sinh lớp12T7, trường THPTĐô Lương I) nghe tiếng kêu cứu có người đuối nước dướisông, em liền chạy đến.Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới nước, Nam
đã nhảy xuống, lần lượt cứu được ba học sinh lớp 9 và một học sinh lớp 6 Khi
Trang 9đẩy được em thứ năm vào bờ thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước cuốn trôi.(Theo Khánh Hoan, Thanhnienonline, ngày 6 - 5 - 2013)
- Học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống nhờ vàođối tượng được đề cập đến trong đề bài và yêu cầu của đề bài Đối tượng được
đề cập bây giờ không phải là một câu nói nào đó mà là một vấn đề đang xảy ratrong cuộcsống hiện tại Thông thường trên dạng đề này có các từ ngữ như: hiệntượng, vấn đề, vấn nạn… nhờ các từ ngữ nói trên, học sinh có thể xác định đượcdạng đề ngay tức thì
- Tuy nhiên với một số đề thì vấn đề lại không hoàn toàn đơn giản nhưvậy Có những đề có sự giao thoa giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lí với nghịluận về một hiện tượng đời sống
Ví dụ: Nhà hoạt động xã hội Martin Luther King từng nói: “Trong thế giớinày, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu màcòn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt” Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiếntrên?
Đề bài trên vừa bàn về tư tưởng đạo lí, vừa bàn về hiện tượng đời sống.Với dạng đề bài này, học sinh cần kết hợp yêu cầu bài làm của cả hai dạng đề đểgiải quyết
Trước hết các em cần xác định phần chung của hai dạng đề cần giải quyết,
đó là:
- Giới thiệu, tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng cần giải quyết
- Bình luận về tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống Chỉ ra mặt đúng,mặt tíchcực, hay mặt sai, mặt tiêu cực của vấn đề cần bàn luận
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
Mỗi dạng đề có các yêu cầu riêng của nó Dạng đề nghị luận về một tưtưởng đạo lí cần thiết phải giải thích ý nghĩa của tư tưởng đạo lí Còn dạng đềnghị luận về một hiện tượng đời sống cần thiết phải phân tích nguyên nhân vàchỉ ra hậu quả của hiện tượng cần bàn luận Đối với các đề bài có sự kết hợp cảhai dạng thì học sinh cần phải xác định luận điểm nhiều hơn, bao gồm cả phầnchung và phần riêng đã nói trên Như vậy, nhận dạng đề là khâu quan trọng đầutiên giúp học sinh xác định được hướng đi của bài làm, nhằm tránh việc lạc đề
Có thể thấy dạng đề được thể hiện khá rõ qua các dấu hiệu ngôn ngữ có trong đềbài Đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí thường yêu cầu bàn luận về một nhận
Trang 10định, một câu tục ngữ, một câu danh ngôn Nhận định, tư tưởng thường đượctrích dẫn nguyên văn và được đặt trong dấu ngoặc kép Đề nghị luận về một hiệntượng đời sống thường đề cập đến đối tượng cụ thể là các hiện tượng, vấn đề,vấn nạn học sinh có thể nhận biết dễ dàng nếu tập trung chú ý.
II TÌM HIỂU ĐỀ:
Sau khi nhận dạng đề, học sinh cần tiến hành khâu tìm hiểu đề Đây khôngphải là công đoạn riêng của văn nghị luận xã hội mà bất cứ bài làm văn nàocũng cần thiết phải được chú ý Tìm hiểu đề là tìm hiểu 3 yêu cầu của đề, baogồm:
- Yêu cầu về thể loại
- Yêu cầu về nội dung
- Yêu cầu về dẫn chứng
Về thể loại: gần như cả 2 dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay nghịluận về một hiện tượng đời sống đều là bình luận Về dẫn chứng, người viết phảibiết huy động mọi loại kiến thức trong nhà trường cũng như trong cuộc sống đặcbiệt là những hiểu biết thực tế để làm cho bài viết vừa sâu sắc vừa sống động,đầy sức thuyết phục Yêu cầu quan trọng nhất là về nội dung đòi hỏi học sinhphải xác định đúng trọng tâm của đề thì bài viết mới đúng hướng
Ví dụ 1: Có ý kiến cho rằng: “Nếu cuộc đời là một bộ phim , tôi muốn làvai phụ xuất sắc nhất” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên
Luận đề của đề bài này là: Bàn về vai trò của một người bình thường trong
xã hội nhưng là người bình thường xuất sắc
Ví dụ 2: Hãy viết bài văn với tiêu đề: “Góc sân và khoảng trời”
Luận đề của đề bài này là: Bàn về mối quan hệ giữa những cái nhỏ bé, gầngũi và những cái lớn lao, to tát; giữa thực tại và ước mơ, khát vọng
Ví dụ 3: Có ý kiến cho rằng: “ Một người chưa biết đến những lời nói dốiđẹp thì cũng chưa biết đến thế giới chân thực” Suy nghĩ của em về ý kiến trên.Luận đề của đề bài này là: Bàn về ý nghĩa của những lời nói dối đẹp
Ví dụ 4: Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của Âu Dương Tử: “Trăm sônghọc bể đến được bể Gò đống học núi không đến được núi là bởi một đằng đi,một đằng đứng”
Trang 11Luận đề của đề bài này là : Tầm quan trọng của cách học và cũng là cáchsống của con người trong cuộc đời.
Ví dụ 5: Có ý kiến cho rằng: “ Một người khi đã đánh mất niềm tin vàobản thân thì sẽ đánh mất thêm nhiều thứ quí giá khác” Suy nghĩ của anh (chị) về
ý kiến trên
Luận đề của đề bài này là: Bàn về vai trò, tầm quan trọng của lòng tự tin
Ví dụ 6: Suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của Chúa Jesus: “Thiên đường ởchính trong ta Địa ngục cũng do ta mà có”
Luận đề của đề bài này là: Cuộc sống của chúng ta trở nề đẹp đẽ hay chánngắt là do chính chúng ta quyết định
Từ một số ví dụ trên có thể thấy việc tìm hiểu đề có ý nghĩa như thế nào
Nó xác định đúng hướng, đúng trọng tâm yêu cầu của đề Những học sinh vộivàng, hấp tấp, bỏ qua công đoạn tìm hiểu đề, gặp những đề như thế này chắcchắn sẽ làm lạc đề
Phương pháp chung cho việc tìm hiểu đề là: Đọc thật kĩ đề ra, tiếp theo tìm
từ hoặc cụm từ then chốt có chứa ẩn ý được gọi là từ khóa hay cụm từ khóa Sau đó giải mã các từ khóa để tìm ra yêu cầu trọng tâm của đề là gì Ở ví dụ 1cụm từ then chốt là“vai phụ xuất sắc nhất”; nếu xác định từ then chốt là cuộc đờihay bộ phim thì sẽ lạc đề ngay Ở ví dụ 2 từ khóa là “góc sân” và “khoảng trời”;
ví dụ 3 cụm từ khóa là“lời nói dối đẹp” và “thế giới chân thực”; ví dụ 4 từ khóa
là “đi” và “đứng”; ví dụ 5 cụm từ khóa là “niềm tin vào bản thân”; ví dụ 6 từkhóa là “thiên đường” và “địa ngục”
III- LẬP DÀN BÀI
Từ yêu cầu chung và một số ví dụ nêu trên, tôi đề nghị mẫu dàn bài cho bàivăn nghị luận xã hội như sau:
1 Đối với đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
- Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu khái quát nhận định, đánh giá có nêu ra ở đềbài Sau đó định hướng vấn đề nghị luận Lưu ý: Học sinh phải trích dẫn nhậnđịnh và nêu luận đề của đề bài trong phần mở bài này
- Thân bài:
+ Giải thích Làm rõ nội dung vấn đề tư tưởng đạo lí được dẫn trong đề + Các biểu hiện của vấn đề trong thực tế đời sống
Trang 12+ Nhận định, đánh giá vấn đề tư tưởng, đạo lí trong bối cảnh của cuộc sốnghiện tại + Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề đối với đời sống xã hội: Mặt tích cực,tiêu cực, đúng hay chưa đúng của tư tưởng đạo lí, khẳng định mặt đúng, tíchcực, bác bỏ những biểu hiện sai lệch.
+ Bàn luận mở rộng, nâng cao vấn đề: Đưa ra phản đề làm đối sánh nhằmkhẳng định luận đề, mở rộng nâng cao vấn đề lên mức độ khái quát thành quanniệm sống, triết lí sống
- Kết bài: Kết luận, tổng kết, nêu bài học sâu sắc cho bản thân về nhậnthức, về hành động Lưu ý: Bài làm ở dạng này cần lựa chọn góc độ riêng đểgiải thích, đánh giá và đưa ra ý kiến riêng của mình Có thể chọn dẫn chứng từ 3nguồn: thực tế, sách vở và giả thiết Tuy nhiên không nên chọn nhiều dẫn chứngvăn học, vì sẽ dễ sa vào nghị luận văn học
2 Đối với đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống:
- Mở bài: Giới thiệu sự việc hiện tượng đời sống có vấn đề, cần bàn luận
- Thân bài:
+ Nêu thực trạng của hiện tượng, phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại + Tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả của hiện tượng
+ Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó
+ Đề xuất các giải pháp cụ thể đối với hiện tượng
- Kết bài: Kết luận, khẳng định những vấn đề đã nêu trong thân bài Lưu ý:Bài làm ở dạng này cần lựa chọn góc độ riêng để phân tích, nhận định, đưa ra ýkiến và sự cảm nhận riêng của người viết
IV- HƯỚNG DẪN CHI TIẾT LÀM BÀI CỤ THỂ
1) Hướng dẫn cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống:
Cuộc sống đang từng giờ, từng phút trôi qua cùng biết bao thay đổi vàbiết bao sự kiện Có thể nói chính những sự việc, hiện tượng đời sống là mảng
đề tài hết sức hấp dẫn, phong phú người ra đề lựa chọn các mảng đề tài khácnhau để ra đề như: Môi trường, dân số, trẻ em, tệ nạn xã hội Để làm tốt dạng
đề nghị luận xã hội về sự việc hiện tượng đời sống đang được dư luận xã hộiquan tâm, giáo viên cần hướng dẫn học sinh lưu ý
*Làm bài nghị luận về sự việc đời sống.
Trang 13- Yêu cầu về hình thức: Đảm bảo bố cục ba phần, luận điểm rõ ràng, luận
cứ xác thực, lời văn có sức thuyết phục
- Yêu cầu về nôi dung
+ Nêu thực trạng của vấn đề
+ Biểu hiện – phân tích tác hại
+ Nguyên nhân
+ Biện pháp khắc phục (hướng giải quyết)
+ Ý thức bản thân đối với vấn đề nghị luận
Ví dụ :
Với nhan đề: Môi trường sống của chúng ta Dựa vào những hiểu biết của
em về môi trường, viết một bài văn ngắn trình bày quan niệm của em và cách làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.
Nêu vấn đề và triển khai thành bài văn nghị luận gồm các ý cơ bản sau:
a Mở bài: (Nêu vấn đề nghị luận)
Môi trường sống của chúng ta thực tế đang bị ô nhiễm và con người chưa
+ Ô nhiễm môi trường làm hại đến sự sống
+ Ô nhiễm môi trường làm cảnh quan bị ảnh hưởng
- Đánh giá:
- Những việc làm đó là thiếu ý thức bảo vệ môi trường, phá hủy môi trườngsống tốt đẹp
- Phê phán và cần có cách xử phạt nghiêm khắc
- Hướng giải quyết
- Tuyên truyền để mỗi người tự rèn cho mình ý thức bảo vệ môi trường
- Coi đó là vấn đề cấp bách của toàn xã hội
Trang 14c Kết bài: Khẳng định lại vai trò của môi trường.
*Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Yêu cầu về hình thức: Đảm bảo bố cục ba phần, diễn đạt có cảm xúc
- Yêu cầu về nội dung cần đảm bảo các ý sau:
+ Giải thích hiện tượng
+ Trình bày suy nghĩ của người viết về hiện tượng ấy
+ Liên hệ thực tế đời sống
+ Nêu tác dụng ảnh hưởng và bài học rút ra
Ví dụ :
Đề bài: “Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, có những loài cây vẫn mọc lên và
nở những chùm hoa thật đẹp” Viết một một bài văn nghị luận (Khoảng 300 từ) nêu suy nghĩ của em được gợi ra từ hiện tượng trên.
Gợi ý
Với dạng bài này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập theo ý
* Về hình thức: Trình bày thành văn bản nghị luận ngắn, có bố cục 3 phần
rõ ràng (Mở bài, thân bài, kết bài), yêu cầu không quá 300 từ
* Về nội dung:
- Giải thích hiện tượng: là hiện tượng có thể bắt gặp trong thiên nhiên, gợi
tả sức chịu đựng, sức sống kì diệu của những loài cây “vẫn mọc lên và nở nhữngchùm hoa thật đẹp” ngay trong “một vùng sỏi đá khô cằn” (có thể đi từ việc giảithích từ ngữ: Vùng sỏi đá khô cằn, chỉ sự khắc nghiệt của môi trường sống; loàicây vẫn mọc lên và nở những chùm thật đẹp; sự thích nghi, sức chịu đựng, sứcsống, vẻ đẹp)
Trang 15thành công mà họ dâng hiến cho cuộc đời lại càng có ý nghĩa hơn, càng “rực rỡ”hơn
- Liên hệ thực tế : Không có ai ở Việt Nam không biết đến thầy NguyễnNgọc Kí đã bị liệt cả hai tay, nhưng anh đã kiên trì luyện tập biến đôi bàn chânthành đôi bàn tay kì diệu viết những dòng chữ đẹp, học tập trở thành nhà giáo,nhà thơ
- Nêu tác dụng, ảnh hưởng, bài học rút ra từ hiện tượng :
Những con người với vẻ đẹp của ý chí, nghị lực luôn là niềm tự hào,ngưỡng mộ của chúng ta, động viên và thậm chí cảnh tỉnh những ai chưa biếtchấp nhận khó khăn, thiếu ý chí vươn lên trong cuộc sống
2 Hướng dẫn làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý:
* Lưu ý : Đề bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí khá đa dạng
- Thể hiện ở nội dung nghị luận: Những vấn đề tư tưởng, đạo lí hết sứcphong phú, đa dạng.Vì vậy cần tránh học tủ, đoán “mò” nội dung nghị luận.Điều quan trọng là phải nắm được kĩ năng làm bài
- Thể hiện trong dạng thức đề thi:
Có đề thể hiện rõ yêu cầu nghị luận, có đề chỉ đưa ra yêu cầu nghị luận màkhông đưa ra một yêu cầu cụ thể nào
Có đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận, có đề gián tiếp đưa ra vấn đề nghịluận qua một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện
- Chú ý các bước cơ bản của bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí Đâycũng là trình tự thể hiện hệ thống lập luận trong bài viết Học sinh cần tranh thủnhững hướng dẫn quan trọng trong sách giáo khoa để nắm chắc kĩ năng làm bàinhư ở trên
Trang 16c.Kết bài:
- Giá trị đạo lí đối với đời sống của mỗi con người
- Bài học hành động cho mọi người, bản thân
Đồng thời giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý đối với hai dạng đềnghị luận về tư tưởng đạo lí thường gặp
+ Dạng đề trong đó tư tưởng đạo lí được nói tới một cách trực tiếp
+ Dạng đề trong đó tư tưởng đạo lí được nói tới một cách gián tiếp
* Dạng đề trong đó tư tưởng đạo lí được nói tới một cách trực tiếp.
Những lưu ý về cách làm bài
- Cách làm bài dạng đề này về cơ bản giống với cách nói trên Ví dụ khigặp đề bài “Bàn luận về lòng yêu nước”, để đáp ứng được yêu cầu của đề, họcsinh trước hết phải giải thích khái niệm “Lòng yêu nước”, nêu và phân tíchnhững biểu hiện của “Lòng yêu nước”; ý nghĩa, vai trò của “Lòng yêu nước”đốivới đời sống của mỗi con người, mỗi dân tộc, đồng thời phê phán những biểuhiện đi ngược lại với “Lòng yêu nước”, rút ra bài học về nhận thức và hành độngcho bản thân
*Ví dụ minh hoạ:
Đề bài : Viết một văn bản nghị luận (không quá một trang giấy thi) trình
bày suy nghĩ về đức hy sinh.
Đề bài yêu cầu học sinh viết một văn bản nghị luận (không quá một tranggiấy thi) trình bày suy nghĩ của bản thân về đức hy sinh Đây là dạng bài nghịluận xã hội (Về một vấn đề tư tưởng, đạo lý) đã khá quen thuộc với học sinh Dùvậy, giáo viên cần hướng dẫn các em đáp ứng được các yêu cầu sau :
* Trình bày bài viết đúng với yêu cầu của đề; không quá một trang giấy thi
* Có thể diễn đạt theo nhiều cách, song cần đảm bảo bố cục sau:
Trang 17Là những suy nghĩ, hành động vì người khác, vì cộng đồng Người có đức
hy sinh không chỉ có tấm lòng nhân ái mà còn là người biết đặt quyền lợi củangười khác, của cộng đồng lên quyền lợi của bản thân mình
- Khẳng định : Đức hy sinh là tình cảm cao đẹp, là phẩm chất đáng quý củacon người Người có đức hy sinh luôn được mọi người yêu mến, trân trọng
* Dạng đề trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp
Những lưu ý về cách làm bài :
- Ở dạng này vấn đề tư tưởng, đạo lí được ẩn trong một câu danh ngôn, mộtcâu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn Xuất xứ của một câu danhngôn, ngạn ngữ, câu chuyện, văn bản ngắn này cũng rất đa dạng: Trong sáchgiáo khoa, trên báo chí, trên internét, đặc biệt trong cuốn “Quà tặng cuộc sống,cuộc sống quanh ta, bài học cuộc đời, hạnh phúc ở quanh ta ” Chính vì thếgiáo viên cần hướng cho học sinh biết đọc tham khảo, kể cho các em nghenhững câu chuyện có liên quan, có nội dung thiết thực với các em hàng ngày
- Khi làm bài cần chú ý cách nói bóng bẩy, hình tượng thường xuất hiệntrong những câu danh ngôn, tục ngữ, thành ngữ , ý nghĩa ẩn dụ, triết lí sâu sắccủa những câu chuyện, văn bản ngắn.Vì thế để rút ra được vấn đề tư tưởng đạo
lí cần bàn bạc, cần chú ý :
+ Giải thích từ ngữ (nghĩa đen, nghĩa bóng) từ đó rút ra nội dung câu nói(Nếu đề bài có dẫn chứng câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ )
Trang 18+ Giải thích ý nghĩa câu chuyện, văn bản (Nêu đề bài có dẫn chứng câuchuyện, văn bản ngắn).
- Thông thường khi làm bài, học sinh chỉ chú ý đến tính chất đúng đắn củavấn đề được đưa ra nghị luận mà ít chú ý thao tác bổ sung, bác bỏ Những khíacạnh chưa hoàn chỉnh của vấn đề hoặc trái ngược với vấn đề cần quan tâm.Chẳng hạn khi suy nghĩ về tình cảm người mẹ qua câu thơ :
“Dẫu con đi hết cuộc đời
Cũng không đi hết những lời mẹ ru”
(Nguyễn Duy)
Ngoài khẳng địng về tình mẫu tử thiêng liêng, ta còn bắt gặp đâu đó nhữngngười mẹ còn bỏ rơi con hoặc đánh đập con Hay khi trình bày suy nghĩ của bảnthân về câu nói : “Đừng sống theo điều ta ước muốn, hãy sống theo điều ta cóthể” Học sinh ngoài khẳng định tính chất đúng đắn của lời khuyên (sống thực
tế, biết bằng lòng với hiện tại, với những gì mình có ), cần phải hiểu được tầmquan trọng của những khát vọng, ước mơ đối với mỗi con người trong cuộcsống
- Một điều nữa cần lưu ý là không được sa vào phân tích câu danh ngôn,ngạn ngữ, câu chuyện, văn bản như một bài nghị luận văn học
Ví dụ:
Ví dụ 1: Nghị luận một vấn đề trực tiếp.
“Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”
Trang 19tận không sao có thể đền đáp được Từ đó khẳng định: Tấm lòng của mẹ thậtbao la, lớn lao.
- Biểu hiện, bàn về tấm lòng của mẹ:
+ Ban cho con hình hài, muốn con khôn lớn, khoẻ mạnh về vóc dáng, bằng
sự chăm sóc ân cần, chu đáo
+ Là người dạy con từ những kĩ năng sống đến đạo lí làm người
+ Là vị quan toà đầy lương tâm, trách nhiệm, chỉ bảo phân tích xác đángnhững sai trái, lỗi lầm
+ Là bến đỗ bình yên đón đợi con sau những dông bão cuộc đời
+ Là bệ phóng xây dựng niềm tin, khát vọng để con bay cao, bay xa (lấydẫn chứng)
- Ý nghĩa :Tình yêu và đức hy sinh của mẹ là sức mạnh để giúp con vượtlên khó khăn trong cuộc sống, giúp con sống tốt hơn
- Tuy nhiên trong thực tế, có những người mẹ thể hiện tình thương conkhông đúng cách (nuông chiều, giấu đi cái xấu, lỗi lầm ), hay có những người
mẹ vô trách nhiệm (bỏ rơi, đánh đập con ), những người mẹ ấy đáng bị phêphán
- Giải thích câu nói :
+ Quà tặng bất ngờ : Có thể hiểu theo cả nghĩa cụ thể - khái quát (vật chất
và tinh thần, những cơ hội may mắn, bất ngờ )
Trang 20+ Nội dung ý nghĩa của câu nói khuyên con người cần có thái độ sống chủđộng, có ý chí và nghị lực vươn lên.
+ Phê phán một số người thụ động, thiếu ý chí vươn lên, chỉ chờ đợi những
“quà tặng bất ngờ” mà cuộc sống mang lại mà không “tự mình làm nên cuộcsống”
+ Không thể phủ nhận những giá trị ý nghĩa của “quà tặng bất ngờ” màcuộc sống đem lại cho con người, vấn đề là biết tận dụng, trân trọng quà tặng ấynhư thế nào?
- Bài học nhận thức hành động :
Phải chủ động trang bị kiến thức, rèn luyện cách sống bản lĩnh, có ýchí để có thể đón nhận những “quà tặng kì diệu” của cuộc sống do chính bảnthân mình làm nên
3 Hướng dẫn học sinh cách tìm dẫn chứng cho bài văn nghị luận xã hội.
Để chứng minh một cách thuyết phục cho các luận điểm của một bài vănnghị luận xã hội, người viết phải sử dụng dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu về nhữngngười thật, việc thật Đây là một công việc khá khó khăn đối với học sinh Đểgiúp các em biết cách tìm dẫn chứng một cách tốt nhất, xin chia sẻ một số kinhnghiệm trong việc sưu tầm tư liệu phục vụ cho đề văn nghị luận xã hội
- Trong quá trình đọc sách báo, nghe tin tức trên các phương tiện thông tinđại chúng, cần ghi lại những nhân vật tiêu biểu, những sự kiện, con số chính xác
Trang 21con người, hoặc vừa là đề bài về khả năng ý chí vươn lên trong cuộc sống hay
về niềm đam mê, bài học về sự thành công, tấm gương về một lòng nhân ái )
- Sau đây là một số dẫn chứng tiêu biểu có thể dùng làm dẫn chứng chomột bài văn nghị luận xã hội
* Dùng nhân vật trong thực tế đời sống để làm dẫn chứng.
a Bác Hồ: Một lãnh tụ vĩ đại, một nhà cách mạng lỗi lạc đồng thời là một
nhà văn, nhà thơ Để có được điều đó Người phải tự học, ý chí vươn lên trongcuộc sống, quan trọng hơn Bác còn là người biết hy sinh mình cho tổ quốc nhândân
-> Khó khăn không làm cho ý chí lung lay mà ngược lại còn giúp cho conngười có nghị lực hơn
b Niu–tơn : Là nhà toán học, vật lí, cơ học, thiên văn học vĩ đại người
Anh Sinh ra thiếu tháng, là một đứa trẻ yếu ớt, Niu-tơn thường phải tránhnhững trò chơi hiếu động của bạn bè Do đó ông phải tự tạo ra những trò chơicho mình và trở thành người rất tài năng
-> Những thiếu thốn của bản thân không thắng nổi sức mạnh của nghị lực
c Bill Gates: Từ nhỏ đã say mê toán học, từng đậu vào trường Đại học
Harvrard nhưng niềm say mê máy tính ông đã nghỉ học và cùng một người bạn
mở công ty Micrôsott Vượt qua nhiều khó khăn, ông đã trở thành người giàunhất hành tinh và hiện nay ông đã dành 95% tài sản của mình làm từ thiện Cuộcđời của ông là bài học cho sự thành công nhờ tự học và niềm đam mê côngviệc
d Chu Văn An: (1292 – 1370) là nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm
mẫu mực cuối đời Trần Nổi tiếng cương trực, không cầu danh lợi Ra làm quan
từ thời vua Trần Dụ Tông (Đầu thế kỷ XIV), chính sự suy đồi, nịnh thần lũngđoạn, ông dâng sớ xin chém 7 nịnh thần (thất trảm sở) nhưng không được chấpthuận Ông treo án từ quan về quê dạy học, viết sách Ông không vì trò làm quan
to mà dựa dẫm, luôn thẳng thắn phê bình những trò thiếu lễ độ Đây là tấmgương về lối sống trung thực, bất chấp khó khăn vẫn đấu tranh cho lẽ phải
e Phan Thị Huệ: Là một trong số ít người Việt Nam nhiễm HIV /AIDS
dám công khai thân phận - Phạm Thị Huệ, quê ở Hải Phòng đã được tạp chíTime của Mĩ bầu chọn là “Anh hùng châu Á” Biết mình và chồng bị nhiễm