1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học trong đề thi THPT quốc gia tại trung tâm GDTX tỉnh vĩnh phúc

39 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 269 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vớicác dạng đề như nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; Nghị luận về một tác phẩm,một đoạn trích văn xuôi; Nghị luận về tình huống truyện; Nghị luận về so sánh,đối chiếu hai nhân vật, hai

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

I LỜI GIỚI THIỆU

Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi con người phải không ngừng nỗ lựchọc tập, rèn luyện bản thân để đáp ứng nhu cầu đó Để đào tạo ra những conngười hiện đại, hoàn thiện về mọi mặt thì giáo dục đóng vai trò quan trọng nhất,

góp phần đào tạo ra những “con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thực tế” Hay nói cách khác, thời đại ngày nay

đòi hỏi giáo dục luôn luôn thay đổi để phù hợp với thực tế phát triển của thếgiới

Hiện nay, trong lí luận dạy học nói nhiều đến vấn đề đổi mới toàn diện vàđồng bộ giáo dục, đổi mới từ khâu thiết kế bài học đến kiểm tra, đánh giá Ngày01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã gửi Công văn số

1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc Hướng dẫn tổ chức thi Trung học phổ thông (THPT) năm 2014, trong đó có nội dung "Đề thi môn Ngữ văn có 2 phần: đọc hiểu và làm văn" (trong phần làm văn thì có một câu là nghị luận xã hội và một câu là nghị luận văn học) Bộ GD&ĐT đề nghị các Sở Giáo dục và đào tạo các

tỉnh, các trường THPT trong cả nước lưu ý việc thực hiện việc đổi mới kiểmtra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi THPT Quốc gia thựchiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp Cụ thể

là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản Đề thi gồm hai phần: đọc hiểu và viết (làm văn), trong đó tỷ

lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần đọc hiểu Như vậy, có thể thấy, kỹ năng viết văn bản là một phần quan trọng trong việc giảng dạy cũng như đánh giá

chất lượng học tập môn Ngữ văn Vì vậy, rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận vănhọc là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh

Chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, làm văn nghị luận luôn là phầnkhó bởi đặc trưng là yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức tổng hợp để tạo văn bản

Trang 2

nghị luận Đặc biệt là dạng bài: Nghị luận văn học Hơn nữa, đối tượng học sinh củaTrung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) nói chung và Trung tâm GDTX tỉnhVĩnh Phúc nói riêng, chất lượng đầu vào thấp, kĩ năng tạo lập văn bản hạn chế, thậmchí không có khả năng viết được một văn bản hoàn chỉnh, bố cục hợp lí, cấu trúc rõràng Tóm lại, phần đa học sinh không biết viết bài văn nghị luận nói chung và bàivăn nghị luận văn học nói riêng Học sinh hiểu biết và cảm nhận tác phẩm văn học

đã là khó, nhưng để vận dụng kiến thức văn học vào viết một bài văn nghị luận vănhọc lại càng khó hơn Bởi kĩ năng cảm thụ và phân tích tác phẩm văn học của các emrất hạn chế

Thực tế cho thấy, các kỳ thi THPT Quốc gia đã đưa vào đề thi phần nghịluận văn học, thường chiếm khoảng 50% điểm toàn bài Như vậy, có thể thấy,phần nghị luận văn học chiếm phần điểm rất quan trọng, bởi nó quyết định nhiềuđến kết quả học tập Vì vậy, để giúp học sinh đạt được mức điểm tối đa chophần này không phải là điều dễ đối với học sinh trung bình Có thể nói, phầnnghị luận văn học chính là phần giúp các em "gỡ điểm" cho bài thi của mình Vìvậy, việc rèn luyện và chuẩn bị kỹ càng cho phần này càng trở nên cấp thiết hơnnữa

Từ những lý do trên, với mong muốn nhằm hệ thống hóa kiến thức cũng

như rèn luyện kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh Từ đó, giúp các

em tự tin khi làm phần nghị luận văn học và đạt kết quả tốt nhất trong kỳ thi

quốc gia THPT Quốc gia sắp tới, tôi đã lựa chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học trong đề thi THPT Quốc gia tại Trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc”.

II TÊN SÁNG KIẾN

“Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học trong đề thi THPT Quốc gia tại Trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc”.

III TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

- Họ và tên: Nguyễn Thị Loan

Trang 3

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trung tâm GDTX Tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0979188136

- Email: loannguyen.dgtxtinh@gmail.vinhphuc.edu.vn

IV CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN: Nguyễn Thị Loan

V LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Công tác giảng dạy và những

kinh nghiệm trong việc rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học cho họcsinh Trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc

VI NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU: 10/09/2018 VII MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

VII.1 Về nội dung của sáng kiến

dục thế giới UNESCO cũng đã đề xướng mục đích học tập là: “Học để biết, học

để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình” Việc đưa mảng nghị

luận văn học vào chương trình Ngữ văn bậc trung học hoàn toàn phù hợp với xuhướng giáo dục trên

Nghị luận văn học là phương pháp nghị luận lấy vấn đề từ văn học nhưtác phẩm, tác giả, thời đại văn học, làm nội dung bàn bạc, đưa ra một cáchhiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bảnthân Những đề tài và nội dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thựctrong cuộc sống, có tính giáo dục và tính thời sự cao Đối với học sinh THPT,các bài văn nghị luận xã hội thường mang đến cho các em những suy nghĩ và

Trang 4

nhận thức đúng đắn về cuộc sống; có ý nghĩa hướng đạo, đặc biệt là uốn nắnnhận thức cho các em về những vấn đề có tính hai mặt của đời sống xã hội đangtác động trực tiếp đến thế hệ trẻ

Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khóa XI đã thông qua Nghị quyết 29 – NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Xác

định được nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ giáo dục đã khôngngừng đưa ra những giải pháp mang tính cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chươngtrình giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học…Những thay đổi đó nhằm phát triển năng lực người học, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế

Cụ thể là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và tự luận (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần đọc hiểu

Với đề thi môn Ngữ văn đã được Bộ GD & ĐT tổ chức vào các kì thitrong những năm vừa qua cũng như đề thi minh họa được công bố vào ngày06/12/2018 thì phần nghị luận văn học chiếm 5/10 điểm Như vậy có thể thấy,phần nghị luận văn học trong đề thi đóng vai trò rất quan trọng, quyết định nhiềutới bài làm của học sinh Với tầm quan trọng như vậy, bên cạnh việc ôn tập, rènkỹ năng làm phần đọc hiểu, viết bài nghị luận xã hội thì việc ôn tập và rèn kỹnăng làm phần nghị luận văn học là điều cần thiết phải trang bị cho học sinhnhằm giúp học sinh đạt kết quả cao trong kì thi THPT Quốc gia sắp tới

2 Cơ sở thưc tiễn

Về chương trình: Trong những năm gần đây, đề thi THPT Quốc gia môn

Ngữ văn thường có 2 phần: phần Đọc hiểu và phần Làm văn Ở phần Làm văn

thường có 2 câu: câu 1 là câu nghị luận xã hội, câu 2 là câu nghị luận văn học.Câu nghị luận văn học, chiếm tỉ lệ 50% trong tổng số điểm đề ra Nếu như năm

Trang 5

học 2017- 2018 đề thi THPT Quốc gia bao gồm cả chương trình Ngữ văn 11 thìnăm học này Bộ GD $ ĐT đã chủ trương kiến thức chủ yếu nằm ở chương trìnhNgữ văn 12 Những vấn đề nghị luận văn học được đưa ra cho học sinh bàn bạcđều rất phong phú, đa dạng; đề cập đến tất cả các phương diện của văn học Vớicác dạng đề như nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; Nghị luận về một tác phẩm,một đoạn trích văn xuôi; Nghị luận về tình huống truyện; Nghị luận về so sánh,đối chiếu hai nhân vật, hai chi tiết,

Thế nhưng thời lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện

kĩ năng làm bài nghị luận văn học trong phân phối chương trình THPT theo quiđịnh của Bộ Giáo dục là quá ít ỏi Chỉ tính riêng lớp 12 chỉ có 3 tiết lí thuyết vềcách làm bài nghị luận văn học: một tiết nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; mộttiết nghị luận về một ý kiến bàn về văn học; một tiết nghị luận về một tác phẩm,một đoạn trích văn xuôi Thực tế đó khiến học sinh không có điều kiện để rènluyện nghị luận xã hội một cách thường xuyên dẫn tới kết quả đạt được khôngcao

Về học sinh: Là một người trực tiếp giảng dạy ở một Trung tâm GDTX,các em học sinh có nhiều lứa tuổi và trình độ khác nhau nên khả năng nắm bắt

kiến thức, đặc biệt là kiến thức về nghị luận văn học, cũng như kỹ năng xử lý đề

chậm, kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn văn của học sinh rất yếu, các emkhông có thói quen phân tích đề, lập dàn ý trước khi viết bài, nên khi bắt tay tayvào viết rất lúng túng, viết không đúng yêu cầu của đề bài và lạc đề Thôngthường học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12 Trung tâm GDTX khi viết bài vănnghị luận văn học thường mắc các lỗi cơ bản sau:

2.1 Học sinh không xác định được dạng bài, không xác định được luận điểm, luận cứ của bài văn nghị luận văn học

Học sinh viết theo cảm tính, nghĩ gì viết đấy không cần biết có đúng yêucầu hay không Có những bài văn, khi chấm giáo viên đọc mà không hiểu đượchọc sinh của mình viết gì, muốn nói điều gì

Trang 6

Ví dụ:

Đề bài:

Anh( chị) hãy phân tích đoạn thơ sau:

"Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng"

(Trích “Việt Bắc” - Tố Hữu)

Ở phần thân bài học sinh không xác định được trọng tâm luận đề, không

xác định được luận điểm, luận cứ nên viết: "Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu viết

trong những năm kháng chiến chống Pháp, những chiến thắng ở Điện Biên Phủ

là chiến thắng ác liệt nhất làm cho quân giặc tan tành mây khói Quân ta đi từ chiến thắng này sang chiến thắng khác Đội quân ngày càng hùng mạnh Đọc

đoạn thơ chúng ta tự hào về lòng dũng cảm của cha anh chúng ta Bài thơ Việt Bắc đã ca ngợi chiến thắng của quân đội ta, nhân dân ta.diễn tả niềm vui của

nhân dân ta "

(Bài viết của học sinh Nguyễn Thị Tâm - lớp 12A năm học 2018 - 2019)

Trang 7

2.2 Học sinh chưa biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận

Qua một số dạng đề nghị luận thì học sinh thường mắc các lỗi sau:

* Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ: Học sinh chủ yếu diễn xuôi đoạn

thơ

Ví dụ:

Đề bài:

Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ sau:

"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm, Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

( Trích “Tây Tiến” - Quang Dũng)

Học sinh viết: "Đoàn quân Tây Tiến của Quang Dũng có hình dáng kì lạ,

bị sốt rét rụng hết tóc, da xanh như tàu lá chuối nhưng vẫn sáng ngời một vẻ đẹp như dáng dữ dằn của những con hổ trong rừng sâu khiến kẻ thù phải khiếp

sợ Mặc dù gian khổ nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời vẫn mơ màng gửi giấc mơ

về Hà Nội, mơ về những cô gái đẹp ở Hà Nội Mặc dù cái chết luôn đe dọa,rình rập, những nấm mồ vô danh nơi biên giới xa xôi cũng không làm những người lính Tây Tiến chùn bước Họ vẫn đi không tiếc tuổi xuân,vẫn coi cái chết nhẹ như lông hồng "

(Bài viết của học sinh Nguyễn Văn Quý lớp 12A- Năm học 2018 - 2019)

Trang 8

* Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: học sinh thường

sa vào kể lể tác phẩm

Ví dụ: Anh (chị) hãy phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài?

Học sinh viết: " Vợ chồng A Phủ kể về số phận bất hạnh của cô Mị Mị là

một cô gái Hmông trẻ trung xinh đẹp, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.Ở nhà thống lí Pá Tra đêm nào Mị cũng khóc rồi Mị cầm nắm

lá ngón về khóc lóc với cha định chết Cha Mị nói "Mày về chào tao mà đi chết à? Không được đâu Mày chết rồi ai trả nợ cho tao " Thế là Mị không dám chết nữa, Mị lại quay trở về nhà Thống lí Mấy năm sau bố Mị chết Mị cũng không buồn chết nữa, sống lâu trong cái khổ Mị cũng quen rồi Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, đêm tình mùa xuân Mị cũng uống rượu, định đi chơi, nhưng bị A Sử trói vào cột "

(Bài viết của học sinh Nguyễn Văn Hùng lớp 12- Năm học 2018 - 2019)

* Dạng đề so sánh hai nhân vật, hai chi tiết, trong tác phầm: học sinh

thường đi vào phân tích từng nhân vật, từng chi tiết trong tác phẩm mà khôngbiết cách so sánh làm nổi bật vấn đề

Ví dụ: Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp của nhân vật người vợ

nhặt (“Vợ nhặt”- Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (“Chiếc thuyền

ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu)?

Học sinh sẽ đi phân tích nhân vật người vợ nhặt, sau đó phân tích ngườiđàn bà hàng chài mà không biết cách so sánh đối chiếu hai nhân vật với nhau đểlàm rõ nét đẹp của từng nhân vật Từ đó làm sáng lên vẻ đẹp của người phụ nữViệt Nam nói chung

Ngoài ra còn rất nhiều lỗi như: Lỗi diễn đạt, lỗi chính tả, không biết lựachon dẫn chứng phù hợp với nội dung luận điểm Song yêu cầu khuôn khổ,dung luợng bài viết không cho phép nên tôi chỉ đề cập đến một số kinh nghiệmrèn kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học

Trang 9

Từ cơ sở lí luận và thực trạng viết bài văn nghị luận văn học của học sinh, vớimong muốn trang bị cho các em những kiến thức cũng như kỹ năng về phần nàymột cách hệ thống, bài bản giúp các em đạt kết quả tốt, tôi mạnh dạn đưa ra sáng

kiến “Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học trong đề thi THPT Quốc gia tại Trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc”.

CHƯƠNG II:

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

1 Quan niệm về nghị luận văn học trong dạy học môn Ngữ văn

Nghị luận văn học lấy tác phẩm văn học, nhà văn, đời sống văn học làmđối tượng Bên cạnh việc cung cấp các kiến thức công cụ nhằm bồi dưỡng nănglực chung về cảm nhận và tạo lập văn bản, nghị luận văn học còn giúp học sinhbiết cách bộc lộ, bày tỏ được những cảm nhận của mình về các phương diệnkhác nhau của tác phẩm văn học Mỗi tác phẩm văn học thường có rất nhiều đềkhác nhau, có thể quy về một số dạng đề như: Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ;Phân tích cảm nhận về đoạn trích văn xuôi; Nghị luận về tình huống truyện;Phân tích, cảm nhận nhân vật trong tác phẩm; Đề so sánh, đối chiếu hai nhânvật, hai chi tiết, hai tư tưởng, hai đoạn thơ, hai hay nhiều bài thơ…; Đề bìnhluận một ý kiến bàn về văn học; Đề nghị luận hai ý kiến bàn về văn học; Dạng

đề tích hợp nghị luận xã hội: Phân tích, cảm nhận về tác phẩm, sau đó liên hệthực tế Đây là kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm vănhọc

Từ kỳ thi THPT Quốc gia 2017, Bộ đã có những đổi mới về cấu trúc vànội dung của đề thi môn Ngữ văn, đặc biệt ở phần Nghị luận văn học (câu 2phần làm văn) Đề thi đã bao gồm cả kiến thức trong chương trình Ngữ văn 11.Nhưng đến kì thi THPT Quốc gia năm 2018 theo cấu trúc đề minh họa môn Ngữvăn thì kiến thức chủ yếu tập trung trong chương trình lớp 12

Vì vậy, để giúp các em chuẩn bị kiến thức, kĩ năng và tâm thế thật tốt chokỳ thi sắp tới, tôi hướng dẫn các em làm bài nghị luận văn học

Trang 10

2. Các dạng đề nghị luận văn học thường gặp trong dạy học môn Ngữ văn

Trước khi đi vào hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luậnvăn học đối với từng dạng đề cụ thể thì yếu tố đầu tiên mà cần quan tâm đó làđối tượng học sinh Học sinh ở các trung tâm GDTX nói chung và học sinhTrung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng phần đa là con em nông dân, ở nhiềulứa tuổi và trình độ khác nhau, đời sống còn khó khăn, năng lực học tập cònnhiều hạn chế, đặc biệt là năng lực cảm thụ văn học kém Tâm lí chung của các

em là lười suy nghĩ, ít hiểu biết các tác phẩm văn học, không thích đọc các tácphẩm văn học Mà muốn học sinh làm tốt các bài nghị luận văn học đòi hỏi họcsinh phải có kiến thức văn học Nên bước đầu tiên tôi hướng dẫn các em phảibiết tích lũy kiến thức

2.1 Hướng dẫn học sinh tích lũy kiến thức:

- Kiến thức phải đảm bảo lấy trong tác phẩm văn học, kiến thức phải chính xác, chọn lọc.

Nghị luận văn học là kiểu bài văn hướng tới các vấn đề đặt ra trong cáctác phẩm văn học: nội dung, nghệ thuật, hoặc các khía cạnh khác như tìnhhuống, diễn biến tâm lí của nhân vật Cho nên người viết phải hiểu biết kĩ vềtác phẩm văn học: từ tác giả, hoàn cảnh sáng tác, đặc trưng thể loại đến nộidung, nghệ thuật của tác phẩm

2.2 Nguồn hình thành kiến thức:

- Đối với các tác phẩm văn học được học trong chương trình:

Giáo viên hướng dẫn các em cách đọc - hiểu văn bản Hình thành kĩ năngđọc cho học sinh, tạo cho các em có thói quen đọc sách, hướng dẫn các em đọctheo quy trình: Đọc chậm để hiểu thông suốt toàn văn bản → Đọc hiểu hìnhtượng nghệ thuật → đọc hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả → đọc hiểu đểthưởng thức văn học

Trang 11

- Bên cạnh việc tìm đọc các tác phẩm văn học để tích lũy kiến thức, tôi khuyến khích học sinh khi đọc phải có thói quen ghi chép

Ví dụ: Sau khi đọc xong một tác phẩm văn học, học sinh có thể ghi chép:+ Tóm tắt tác phẩm

+ Những chi tiết, hình ảnh chọn lọc

+ Những câu văn, thơ hay; những hình ảnh đẹp

+ Có những nhận xét,đánh giá ban đầu về tác phẩm văn học đó

2.3 Các bước rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học:

* Bước 1: Rèn kỹ năng tìm hiểu đề

Đây là thao tác được thực hiện đầu tiên khi làm bài văn nghị luận Để thựchiện tốt được thao tác này học sinh cần đọc kỹ đề, tìm và gạch chân các cụm từ quantrọng (cụm từ chứa thông tin căn bản của vấn đề: vấn đề cần nghị luận, thao tác nghịluận, ) Học sinh phải xác định đầy đủ, chính xác các yêu cầu sau :

- Yêu cầu về hình thức: Thuộc kiểu bài nào? Nghị luận về một bài thơ,

đoạn thơ; hay nghị luận về một ý kiến bàn về văn học ?

- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề cần nghị luận là gì?

- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Có thể lấy dẫn chứng từ những tác phẩm

Trang 12

- Phạm vi dẫn chứng: Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” (phần 1 Mị và A Phủ

khi ở Hồng Ngài)

- Xác định các thao tác chính cho bài viết: Phân tích kết hợp lập luận,chứng minh bình luận…

* Bước 2: Rèn kĩ năng lập dàn ý

Lập dàn ý là một khâu quan trọng Dàn ý giúp người viết không bỏ sótnhững ý cơ bản, trọng tâm, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết Lậpdàn ý tốt, có thể sẽ viết dễ dàng hơn, nhanh hơn và hay hơn

Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý từng kiểu bài, đưa ra mô hìnhtổng quát của một bài văn nghị luận cho học sinh tham khảo:

Mô hình tổng quát một bài văn nghị luận

Mở bài: Dẫn dắt từ vấn đề rộng hơn thu

hẹp dần đến việc giới thiệu luận đề

Thân bài:

Bao gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn

văn là một luận điểm Các luận điểm

đều tập trung làm nổi bật luận đề ở

phần mở bài

Kết bài:

Tổng hợp lại từ các luận điểm đã

trình bày, đánh giá và gợi mở

Thân bài

Từ mô hình tổng quát đó, hướng dẫn các em lập dàn ý một số dạng đềthường gặp trong các đề thi THPT Quốc gia những năm gần đây như: Dạng đềnghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; Dạng đề nghị luận về một tác phẩm, mộtđoạn trích văn xuôi; Dạng đề phân tích, cảm nhận nhân vật trong tác phẩm;Dạng đề so sánh, đối chiếu hai nhân vật, hai chi tiết, hai tư tưởng, hai đoạn thơ,hai hay nhiều bài thơ

Mở bàiLuận điểm 1Luận điểm 2Luận điểm 3

Kết bài

Trang 13

Để lập được dàn ý yêu cầu học sinh:

- Nắm vững cách làm bài của từng dạng đề

- Xác định được các luận điểm, luận cứ Sắp xếp các luận điểm, luận cứtheo một trật tự lôgic, chặt chẽ

2.3.1 Dạng đề nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

2.3.1.1 Các dạng đề nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ:

Đối với dạng đề này thường có các kiểu đề ra như:

- Phân tích toàn bộ bài thơ

- Phân tích một đoạn thơ

- Phân tích một khía cạnh trong đoạn thơ, bài thơ

- Phân tích một hình ảnh, một chi tiết trong bài thơ

- So sánh giữa hai bài thơ, hai đoạn thơ

- Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ, đoạn thơ

2.3.1.2 Cách làm dạng đề nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ:

Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, học sinh cần lập dàn ý cho đề.Bước lập dàn ý rất quan trọng đối với việc làm bài Đây là một dàn ý chi tiết chodạng đề này:

a Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác giả

- Giới thiệu bài thơ, đoạn thơ (Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ)

- Trích dẫn đoạn thơ

b Thân bài:

* Luận điểm 1: Cảm nhận chung về bài thơ, đoạn thơ

+ Cấu tứ

Trang 14

+ Nhịp thơ, vần => Giọng điệu.

+ Các biện pháp tu từ - hiệu quả thẩm mĩ của các phép tu từ đó

+ Hình ảnh thơ

- Nội dung:

+ Triển khai các luận điểm theo yêu cầu của đề bài

+ Có thể phân tích theo bố cục của văn bản (từng khổ thơ)

* Luận điểm 3: Đánh giá chung về đoạn thơ Về nội dung, nghệ thuật, sosánh với các tác phẩm cùng đề tài, cùng tác giả

c Kết bài:

- Khái quát chung về bài thơ, đoạn thơ

- Đóng góp của tác giả cho văn học dân tộc

2.3.1.3 Hướng dẫn thực nghiệm:

Ví dụ:

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Trang 15

Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

(Trích “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm)

a Hướng dẫn tìm hiểu đề:

- Yêu cầu về hình thức: Nghị luận về một đoạn thơ

- Yêu cầu về nội dung: Hình tượng đất nước trong cảm nhận của nhà thơNguyễn Khoa Điềm

- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Có thể lấy dẫn chứng từ đoạn trích “Đất nước” (Trích “Trường ca khát vọng”- Nguyễn Khoa Điềm) và những tác phẩm

viết về đất nước

b Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:

* Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và chương Đất nước

(trích Trường ca “Mặt đường khát vọng”).

- Khái quát nội dung, nghệ thuật và vị trí của đoạn trích ở đề bài

* Thân bài:

- Luận điểm 1 :Hình tượng đất nước được thể hiện qua đoạn thơ.

+ Nguồn gốc và sự hình thành của đất nước: Đất nước có từ rất xa xưa và

là một giá trị bền vững, vĩnh hằng, được tạo dựng, bồi đắp qua nhiều thế hệ và

truyền nối từ đời này sang đời khác (Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi, Đất Nước có … ngày xửa, ngày xưa….).

- Luận điểm 2 : Sự cảm nhận của nhà thơ về Đất Nước

Trang 16

+ Đất nước được cảm nhận rất cụ thể, bình dị, gần gũi, thân thiết với cuộcsống hằng ngày của mỗi người (câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn,ngôi nhà mình ở, tình nghĩa vợ chồng hạt lúa ta trồng…).

+ Đất nước lớn lên trong đau thương vất vả: Những cuộc kháng chiến

chống giặc ngoại xâm (dân mình biết trồng tre mà đánh giặc) Gian nan vất vả trong lao động để tồn tại và phát triển (một nắng hai sương).

+ Đất nước gắn với những con người sống ân tình, thủy chung trong tình

nghĩa vợ chồng (thương nhau bằng gừng cay muối mặn).

- Luận điểm 3: Nhận xét, đánh giá chung về nghệ thuật biểu hiện

+ Đất nước: hiện lên vừa thiêng liêng vừa thân thương gần gũi Cách cảmnhận độc đáo, mới mẻ dưới chiều sâu văn hóa và giàu giá trị nhân văn

+ Ngôn ngữ bình dị, dân dã nhưng giàu sức gợi

+ Giọng thơ tâm tình thiết tha, suy tư trầm lắng

+ Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữtình

* Kết luận:

- Sử dụng phong phú các chất liệu văn hóa dân gian

=>Cái riêng biệt, độc đáo của đoạn thơ này là sự cảm nhận, phát hiện vềĐất nước trong một cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng nhân dân,

sử dụng phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo

2.3.2 Dạng đề nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi 2.3.2.1 Các dạng đề nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi:

Dạng đề này có nhiều kiểu bài khác nhau, chủ yếu là phân tích khía cạnhcủa tác phẩm và đoạn trích văn xuôi như:

- Phân tích nhân vật

Trang 17

- Phân tích giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực của tác phẩm.

- Phân tích tình huống truyện

- Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm hay đoạn trích,

2.3.2.2 Cách làm dạng đề nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi:

Để làm tốt đề thuộc dạng này, trước tiên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu

đề, sau đó lập dàn ý chi tiết cho từng kiểu bài Lập dàn ý cho từng kiểu bài phảiđảm bảo các yêu cầu sau:

a Kiểu bài nghị luận về một giá trị nội dung hoặc giá trị nghệ thuật của tác phẩm của tác phẩm văn xuôi:

*Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm cần phân tích

- Nêu khái quát nội dung vấn đề đề bài cần nghị luận.

* Thân bài:

- Bước 1: Nêu khái niệm vấn đề cần nghị luận.

- Bước 2: Lần lượt phân tích, chứng minh, bình luận những biểu hiện cụ

thể về giá trị nội dung hay giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà đề yêu cầu nghịluận

(Mỗi luận điểm được trình bày bằng một đoạn văn bằng cách diễn dịchhoặc quy nạp và được liên kết bằng các câu từ chuyển ý)

* Kết bài:

- Tóm lược và khẳng định nội dung đã phân tích.

- Đánh giá chung những thành công và hạn chế về nội dung và nghệthuật tác phẩm

b Kiểu bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi:

Trang 18

* Mở bài :

- Giới thiệu tác giả -> tác phẩm -> vị trí đoạn trích cần phân tích

- Nêu khái quát nội dung, nghệ thuật của đoạn trích mà đề yêu cầu phântích

*Thân bài:

- Bước 1: Tóm tắt nội dung đoạn trích

- Bước 2: Lần lượt triển khai phân tích các biểu hiện cụ thể về nội dung

và nghệ thuật của đoạn trích

(Mỗi luận điểm được trình bày bằng một đoạn văn bằng cách diễn dịch

hoặc quy nạp và được liên kết bằng các câu từ chuyển ý)

Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, khi Mị bị A Sử trói vào cột, Tô

Hoài viết: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi “Em không yêu, quả pao rơi rồi Em yêu người nào, em bắt pao nào…” Mị vùng bước đi Nhưng tay chân đau không cựa được Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.

(“Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài)

Trang 19

Từ đoạn văn trên, anh/ chị hãy làm rõ hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuậtmiêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn.

a Hướng dẫn tìm hiểu đề:

- Yêu cầu về hình thức: Nghị luận về một đoạn văn

- Yêu cầu về nội dung: Hình tượng nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tả tâm

lí nhân vật của nhà văn Tô Hoài

- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Có thể lấy dẫn chứng từ tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” và các tác phẩm khác của nhà văn.

b Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:

Đề bài đặt ra hai yêu cầu : hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tảtâm lí nhân vật của nhà văn Học sinh có thể triển khai theo các ý sau đây:

* Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: có thể chọn lọc các ý sau đây để đưa vào

mở bài: Năm 1952 Tô Hoài đi cùng với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc Trongchuyến đi này nhà văn đã có dịp sống găn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số(Thái , Mường, Mông , Dao ) nên đã để lại nhiều kỉ niệm, hiểu biết về cuộc

sống con người miền núi đã thôi thúc Tô Hoài viết “Truyện Tây Bắc” trong đó

có “Vợ chồng A Phủ” “Vợ chồng A Phủ” (1952) in trong tập truyện “Tây Bắc” Truyện được giải nhất Truyện và kí Việt Nam năm 1954- 1955 Tác

phẩm gồm hai phần , đoạn trích trong sách giáo khoa là phần một

- Giới thiệu đoạn trích cần nghị luận(Không cần chép hết đoạn trích vàobài thi)

- Vấn đề nghị luận : hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tả tâm línhân vật của nhà văn

* Thân bài:

- Hình ảnh nhân vật Mị:

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w