Tuy nhiên, việc dạy tác phẩm thơ trữ tình trong nhà trường THCS hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt và chưa tạo được hứng thú cho học sinh.. Với những trăn trở về hiệu quả tiếp nhậ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Những đổi thay không ngừng của xã hội theo xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển của khoa học, kĩ thuật hiện đại là những thách thức lớn cho giáo dục trong việc phát triển nguồn nhân lực có tri thức cao, thông minh và sáng tạo
- Cùng với các môn học khác, môn Ngữ Văn có một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục Môn Ngữ văn không chỉ giúp cho con người có những hiểu biết phong phú, đa dạng về thế giới xung quanh mà còn có khả năng lay động con tim, thức tỉnh trí tuệ đem đến những bài học, những xúc cảm thẩm
mĩ cao đẹp, sâu lắng để từ đó mỗi người có cách ứng xử nhân văn trong cuộc sống Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh luôn được người làm công tác dạy Ngữ Văn quan tâm
- Trong chương trình môn Ngữ Văn THCS, thơ trữ tình chiếm môṭ vi ̣trí hết sức quan trọng, làm nên diện mạo của nền văn học dân tộc Đó là mảng văn học phong phú về thể loại, đa dạng về đề tài và luôn mới mẻ về nội dung, nghệ thuật Tuy nhiên, việc dạy tác phẩm thơ trữ tình trong nhà trường THCS hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt và chưa tạo được hứng thú cho học sinh Vì thế các tác phẩm văn học thực sự có giá trị chưa có được chỗ đứng xứng đáng trong lòng những người yêu văn chương
Với những trăn trở về hiệu quả tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh THCS cùng với mong muốn tha thiết khám phá cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm, trên cơ sở học hỏi và tiếp thu thành tựu của người đi trước, chúng tôi, những giáo viên Ngữ văn Trường THCS Liên Châu muốn đề cập với các đồng
nghiệp cùng chuyên môn trong cụm 3 chuyên đề : “ Trao đổi về cách giảng dạy thơ trữ tình hiện đại trong nhà trường THCS ”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Vận dụng lý luận về tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm văn chương , về đặc trưng thi pháp thể loại thơ trữ tình, đề xuất các phương pháp cụ thể của việc dạy thơ trữ tình Ngữ văn THCS theo đặc trưng thể loại nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn hoc ̣ , góp phần khẳng định ưu điểm và tính khả thi của hướng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại
III ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Giảng dạy thơ trữ tình cho học sinh THCS
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh và GV dạy Ngữ Văn THCS
IV NHIÊṂ VU ̣NGHIÊN CỨU
- Khái quát những kiến thức về thể loại
- Khảo nghiệm dạy học thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn THCS
- Xác định phương hướng dạy học hợp lí và hiệu quả cho việc dạy học thơ trữ theo đăc ̣ trưng thể loaị
Nhóm Ngữ văn – Tổ KHXH- Trường THCS Liên Châu
Trang 2- Thiết kế bài dạy thơ trữ tình THCS theo đăc ̣ trưng thể loại Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình có nội dung liên quan
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích
- Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: Vận dụng kiến thức về Văn học Việt Nam, Lí luận dạy học hiện đại vào giải quyết đề tài
- Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quát
VI GIỚI HẠN VỀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN CỦA ĐỐI TƯỢNG:
- Đề tài này được thực hiện trong quá trình giảng dạy học sinh đại trà và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8 năm học 2014-2015
- Thời gian: Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I- MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƠ TRỮ TÌNH:
1 Khái niệm về thơ trữ tình
- Thơ là là hình thức sáng tạo văn hocjphanr ánh cuộc sống qua những tâm trạng, những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu rõ ràng
- Thơ là niềm cảm kích xúc động mãnh liệt của nhà thơ trước sự việc, trước con người ở ngoài đời Niềm cảm kích xúc động này được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ lắng đọng có sức khêu gợi lớn
- Vì vậy phân tích thơ trước hết là tìm hiểu niềm cảm kichsxucs động của nhà thơ và tài năng sáng tạo của nhà thơ trong việc diễn đạt niềm cảm kích xúc động ấy
- Thơ, cũng như văn học nói chung, tác động đến trí tuệ và tình cảm con người, soi rọi ánh sáng sâu xa vào trí tuệ con người, khơi dậy niềm xúc động để tăng thêm sức mạnh cho con người Vì vậy phân tích thơ còn là tìm ra những giá trị đóng góp cho cuộc sống của tác phẩm thơ ấy
2 Đặc điểm chung của thơ trữ tình:
a Tính trữ tình:
Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời Những rung động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đời sống vào tâm hồn nhà thơ Đây là đặc điểm cơ bản nhất của tác phẩm thơ Nắm vững đặc điểm này ta sẽ có một định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận, phân tích đúng tác phẩm thơ Nghĩa là, khi phân tích tác phẩm thơ, ta không phải đi sâu vào mổ xẻ, cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập, mà điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên
b.Chủ thể trữ tình:
Trong tác phẩm thơ ta luôn bắt gặp bóng dáng con người đang nhìn, ngắm, đang rung động, suy tư về cuộc sống Con người ấy được gọi là chủ thể trữ tình Nói cách khác, chủ thể trữ tình là con người đang cảm xúc, suy tư trong tác phẩm thơ Nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ chỉ hiện diện, đối thoại với độc giả bằng những sắc thái tình cảm, thái độ tình cảm Trong tác phẩm thơ, chủ thể trữ tình là yếu tố luôn có mặt để thể hiện nội dung trữ tình của tác phẩm Cho nên, khi phân tích thơ, ta phải phân tích nội dung trữ tình Muốn phân tích nội dung trữ tình thì nhất thiết, nắm bắt và phân tích được chủ thể trữ tình Bởi
lẽ, nội dung trữ tình luôn chứa trong chủ thể trữ tình
Nhóm Ngữ văn – Tổ KHXH- Trường THCS Liên Châu
Trang 43 Nội dung phản ánh trong thơ trữ tình:
a.Thơ trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người.
Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Ở đây, nhà thơ
có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào Người đọc cảm nhận trước hết là thế giới nội tâm, là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tình cảm đó Ðiều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của tác phẩm trữ tình
b Thơ trữ tình phản ánh thế giới khách quan nhằm biểu hiện thế giới chủ quan.
Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc
về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình Mặc dù thể hiện thế giới chủ quan của con người, tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động Như vậy, tác phẩm trữ tình cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu hiện những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người
4 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ trữ tình:
a.Ngôn ngữ thơ trữ tình hàm súc, cô đọng
Để có một vần thơ lắng đọng, các nhà thơ phải lao động hết mình để lựa chọn ra những ngôn từ thơ tốt nhất diễn tả được cảm xúc tình cảm của mình Đó là sự gọt giũa về mặt ngôn từ để tạo ra những từ ngữ thơ mà đọc lên người đọc
ấn tượng và hiểu thấu nội dung tư tưởng nhà thơ gửi gắm
b Ngôn ngữ thơ giàu tính nhịp điệu
Trong thơ, sự phân dòng của lời thơ nhằm mục đích nhịp điệu, tạo ra nhịp điệu thơ Cuối mỗi dòng thơ đều có chỗ ngắt nhịp Tuỳ theo số chữ trong mỗi dòng mà nhịp thơ thể hiện khác nhau.Và theo từng cung bậc tình cảm thì nhà thơ sử dụng thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ hoặc dài hơn, hoặc ngắn hơn chen nhau…Ngoài ra, trong các thể thơ Việt nam như lục bát, song thất lục bát tứ tuyệt, hát nói…là những cấu tạo nhịp điệu đặc biệt, có lưng, vần, chân, lối ngắt nhịp riêng độc đáo
c Ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, tính hoạ
Bằng những âm thanh luyến láy, bằng những từ ngữ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và cách ngắt nhịp, nhà thơ đã xây dựng nên những câu thơ, những
Trang 5hình tưọng thơ có sức truyền cảm lớn, tạo nên những cung bậc tình cảm tinh tế của người nghệ sỹ
Thơ được xây dựng bằng những hình tượng nghệ thuật có sức gợi cảm
lớn “Thi trung hữu hoạ” , trong thơ thể hiện những bức tranh hoàn mỹ mà
người đọc có thể hình dung khi cảm nhận những vần thơ khắc hoạ Đó là tính hoạ trong thơ
d.Ngôn ngữ thơ phải có tính biểu hiện:
Văn học nói chung, thơ ca nói riêng phản ánh hiện thực cuộc sống qua hình tượng nghệ thuật Nghĩa là điều mà nhà nghệ sĩ nhận thức, suy tư về cuộc sống luôn được thể hiện một cách gián tiếp Để làm được điều này người nghệ
sĩ đi vào khai thác khả năng biểu hiện của ngôn ngữ Đó là cách tổ chức sắp xếp ngôn ngữ sao cho từ một hình thức biểu đạt có thể có nhiều nội dung biểu đạt
Đó là quá trình chuyển nghĩa tạo nên lượng ngữ nghĩa kép trong thơ
II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
1.Thơ trữ tình hiện đại trong chương trình Ngữ văn THCS:
Trong nền văn học Việt Nam, chúng ta có thể thấy mảng thơ trữ tình chiếm một vị trí quan trọng và độc tôn Vì vậy, môn Ngữ văn ở trường THCS
có số lượng thơ trữ tình khá lớn trong các lớp 6, 7, 8, 9 gắn liền với các đề tài, chủ đề khác nhau Với các nhân vật trữ tình khác nhau xoay quanh đời sống tinh thần của con người, diễn tả nội tâm, tâm trạng và những cung bậc tình cảm khác nhau của con người Chính vì vậy mà thơ trữ tình được đưa vào nhà trường là tất yếu Vậy chúng ta phải dạy thơ trữ tình như thế nào để học sinh nắm được tâm trạng, cảm xúc, cách thể hiện tình cảm của các nhân vật trữ tình
2 Thực trạng về việc học thơ trữ tình của học sinh:
- Trong chương trình THCS, môn Ngữ văn, một môn học quan trọng và chiếm số tiết khá nhiều trong phân phối chương trình so với các môn học khác Nhưng nhiều học sinh tỏ ra thơ ơ, ngày càng nhiều học sinh chán học với học tác phẩm văn chương đặc biệt là tác phẩm thơ Các em chưa tự chủ động tìm hiểu khám phá tác phẩm thơ, thường ít hiểu, ít yêu thơ Một phần do năng lực cảm thụ của học sinh, một phần do xu thế thời đại, hội nhập toàn cầu đã ảnh hưởng đến nhận thức của phụ huynh học sinh về những môn học thời thượng (Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ), văn chương không có tính năng ứng dụng, tương lai người học không được đảm bảo Vì vậy, học sinh ngày càng xa rời văn chương
- Việc tự học, tự soạn văn, chuẩn bị cho bài học trên lớp của học sinh còn đối phó Học sinh không tự nghiên cứu, thậm chí không đọc tác phẩm, để tìm hiểu, khám phá tác phẩm mà chủ yếu chép lại và dựa vào gợi ý hướng dẫn của
các loại sách: Để học tốt; Bình giảng văn học; Sách chuẩn kiến thức, Những bài văn mẫu Những tài liệu này, vô hình dung, đã làm cho học sinh bỏ rơi sách
giáo khoa, học sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chương mà không
Nhóm Ngữ văn – Tổ KHXH- Trường THCS Liên Châu
Trang 6cần phải nghiên cứu, tự học tự suy nghĩ, liên tưởng cũng có thể đáp ứng được những yêu cầu, phát vấn của thầy cô giáo ở trên lớp Điều này đã thủ tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến học sinh thành những người quen suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở
3.Thực trạng về giảng dạy của giáo viên:
- Giáo viên rất ngại dạy thơ, bởi lẽ dạy thơ rất khó, nếu giáo viên không biết khai thác thơ theo đúng mạch cảm xúc của nhà thơ thì giờ học sẽ trở nên khô khan không tạo được hứng thú học tập của học sinh
- Quá trình giảng dạy của giáo viên phần lớn dựa vào hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa rồi hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu Khi phân tích giáo viên chỉ chú ý đến phân tích nội dung và tư tưởng được phản ánh trong bài thơ, không thấy hình thức nghệ thuật Đây thực chất chỉ diễn xuôi nội dung thơ
ra mà thôi Hoặc cũng có chú ý đến các hình thức nghệ thuật, nhưng tách rời các hình thức nghệ thuật ra khỏi nội dung (thường là gần kết bài mới nói qua một số hình thức nghệ thuật được nhà thơ sử dụng trong bài) Hoặc cũng có khi giáo viên chỉ suy diễn một cách máy móc, gượng ép phi lí các nội dung và vai trò, ý nghĩa của các hình thức nghệ thuật trong bài thơ
- Năng lực đọc diễn cảm còn chưa đạt dẫn đến việc cảm tác phẩm chưa sâu Năng lực bình thơ cũng hạn chế, vì vậy giáo viên chưa chú ý đến bình thơ mà chỉ giảng thơ, dẫn đến giờ dạy khô khan Những điều đó khiến cho năng lực cảm thụ cái hay cái đẹp của tác phẩm với học sinh chưa hoàn toàn đúng mức
- Một số giáo viên vẫn còn thói quen dạy học theo phương pháp cũ, chưa
có sự đổi mới Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh Không chú ý đến sự sáng tạo của học sinh Vì thế vẫn chưa thu hút được sự chú
ý của người học
III- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi thấy để nâng cao hiệu quả để giảng dạy một tác phẩm thơ trữ tình trong nhà trường cần phải đổi mới phương pháp dạy học, sáng tạo và sử dụng linh hoạt các những biện pháp dạy và học Trong quá trình dạy văn, không nên quan niệm những phương pháp, biện pháp dạy học văn truyền thống đều lạc hậu, đáng loại bỏ, mà chỉ những cái xuất hiện ở thời điểm hiện tại thì mới là tiến bộ, là khoa học mà chúng ta cần chú ý đến mối quan mật thiết đến việc xác định phương pháp dạy học mới với phương pháp dạy học truyền thống Khi dạy tác phẩm văn học nói chung và thơ trữ tình nói riêng cần bám sát các phương pháp, biện pháp dạy và học văn truyền thống đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn linh hoạt nhịp nhàng giữa cái cũ và cái mới
Có như vậy mới nâng cao được hiệu quả của giờ học văn
Trang 7Ngoài các phương pháp, các biện pháp, các bước tiến trình tổ chức dạy học như: giới thiệu tác giả, tác phẩm, phân tích bố cục, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm thơ nói chung…Tôi nhận thấy rằng, khi giảng dạy một tác phẩm thơ trữ tình, cần đi sâu khai thác một số các yêu tố trọng tâm sau: Nhân vật trữ tình (Chủ thể trữ tình), hình tượng trữ tình, hình tượng ngôn từ…Tôi mạnh dạn đề xuất biện pháp này để anh chị em đồng nghiệp tham khảo
1 Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu chung về văn bản
a Đọc và quan sát bước đầu để hiểu bài thơ.
Một trong những yêu cầu của việc dạy và học môn Ngữ văn THCS hiện nay là rèn cho các em các kỹ năng “Nghe - Đọc - Nói - Viết” Vì vậy trước khi tìm hiểu tác phẩm thơ trữ tình, giáo viên cần tổ chức cho các em đọc Đọc là bước đầu để hiểu bài thơ Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức nghệ thuật cụ thể của ngôn từ nghệ thuật Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản… Phân tích tác phẩm văn học không được thoát ly văn bản có nghĩa là trước hết phải bám sát các hình thức biểu hiện lên của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung Vậy chúng ta phân tích thơ trữ tình phải dựa trên thi pháp Qua việc đọc, để xác định giọng điệu chủ đạo của bài thơ Nhưng đọc những gì, đọc như thế nào? Vì thế vai trò của người giáo viên là rất quan trọng, giáo viên cần hướng dẫn học sinh các phương pháp đọc: Đọc hiểu, đọc phân tích, đọc diễn cảm trong đó đọc diễn cảm là một phương pháp cơ bản
để giúp học sinh cảm nhận được giá trị của tác phẩm Một bài thơ hay, nhưng nếu đọc không đúng giọng điệu, âm hưởng của bài thơ sẽ làm hỏng giá trị của thơ, người đọc không thể cảm được tư tưởng tình cảm của tác giả thể hiện trong từng câu, từng chữ của bài thơ
Để phương pháp đọc đạt được hiệu quả, giáo viên cần rèn luyện cho mình và cho học sinh kỹ năng đọc, giáo viên biết đọc đúng, đúng vần, đúng nhịp, đúng âm hưởng của từng câu thơ Rèn luyện giọng đọc cũng rất quan trọng Thơ trữ tình là “Tiếng lòng” của tác giả, là tâm hồn, tình cảm, cảm xúc của tác giả gửi gắm trong ngôn từ, hình ảnh Vì thế việc đọc thơ trữ tình cần
có giọng đọc thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ
VD: Về cách đọc:
- Với bài Cảnh khuya câu một cần đọc ngắt giọng theo nhịp 3 - 4, câu 2 và
câu 3 nhịp 4 -3, câu 4 nhịp 2 - 5
Tiếng suối trong / như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ / bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ / người chưa ngủ Chưa ngủ / vì lo nỗi nước nhà
Nhóm Ngữ văn – Tổ KHXH- Trường THCS Liên Châu
Trang 8- Với bài Rằm tháng giêng, đọc bản phiên âm chữ Hán câu 1 nhịp 4 - 3, câu
2 nhịp 2 - 2- 3, câu 3 nhịp 4 -3, câu 4 nhịp 2- 2- 3
Bản dịch thơ của Xuân Thuỷ đọc câu 1 nhịp 2 - 4, câu 2 nhịp 2- 4- 2, câu 3 nhịp 2- 4, câu 4 nhịp 2- 6
Cụ thể bản phiên âm
Kim dạ nguyên tiêu / nguyệt chính viên Xuân giang /xuân thuỷ /tiếp xuân thiên Yên ba thâm xứ / đàm quân sự
Dạ bán / quy lai / nguyệt mãn thuyền
Bản dịch thơ của Xuân Thuỷ
Rằm xuân / lồng lộng trăng soi Sông xuân /nước lẫn màu trời / thêm xuân Giữa dòng /bàn bạc việc quân Khuya về / bát ngát trăng ngân đầy thuyền
Khi đọc bài thơ này cần so sánh văn bản phiên âm và văn bản dịch ( Dịch nghĩa và dịch thơ) để có thể hiểu cặn kẽ các lớp nghĩa trong nguyên tác
- Với bài Tiếng gà trưa, mỗi câu bắt đầu bằng “ Tiếng gà trưa” đọc
chậm, thể hiện sự hồi tưởng với tình cảm tha thiết Trong đoạn thơ đầu xuống
giọng khi đọc câu “ Cục… Cục tác, cục ta” và câu “ Nghe gọi về tuổi thơ” vừa xuống giọng vừa đọc chậm hơn các câu khác Đoạn thơ cuối câu “Vì lòng yêu
Tổ Quốc, vì xóm làng thân thuộc”, đọc lên giọng khoẻ khoắn, ba câu sau chú ý
nghĩ hơi và xuống giọng thể hiện niềm yêu quý và biết ơn của tác giả với bà sự gắn bó của tác giả với kỷ niệm sâu sắc thời thơ ấu
b Tìm hiểu tiểu sử của tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thơ.
- Tác giả nào, tác phẩm ấy Mỗi tác phẩm thơ là thế giới nội tâm của nhà thơ, thể hiện tư tưởng, thái độ, tình cảm của nhà thơ đối với cuộc sống, thể hiện khát vọng Chân- Thiện- Mỹ của nhà thơ Mỗi nhà thơ đều sinh ra trong một hoàn cảnh gia đình, với những sở thích, lối sống nào đó và sống trong một bối cảnh lịch sử - xã hội nhất định Môi trường gia đình và xã hội, với những biểu hiện đa dạng của nó về chính trị, kinh tế, văn hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng và tình cảm của nhà thơ, và điều này được phản ánh trong tác phẩm ở một phạm vi nào đó
- Tìm hiểu xuất xứ tức là tìm hiểu rõ tên bài thơ, tập thơ, tên tác giả, năm xuất bản, hoàn cảnh sáng tác của bài thơ…để thấy được cội nguồn của tứ thơ, hiểu thêm bài thơ và ý nghĩa của nó Trong xuất xứ, cái quan trọng nhất là hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ
Ngoài những thông tin trong sách giáo khoa về tác giả và tác phẩm giáo viên cung cấp thêm nhưng thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời của bài thơ giúp học nắm chắc hơn và tích lũy được những tư liệu quý về tác phẩm
Trang 9VD: Về tác giả:
- Tác giả của hai bài Cảnh Khuya và Rằm tháng giêng là Hồ Chí Minh
( 1890 - 1969) - Lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam Người đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh dành độc lập tự do cho dân tộc Người còn là danh nhân văn hoá Thế giới, một nhà thơ lớn
- Tác giả của bài thơ Tiếng gà trưa là Xuân Quỳnh ( 1942 - 1988) - Một
nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Thơ bà thể hiện một hồn thơ trẻ trung, sôi nổi rất sâu sắc mà cũng rất giàu nữ tính
Xuân Quỳnh viết nhiều về những chuyện đời thường giản dị, bộc lộ những tình cảm tha thiết của nhà thơ với con người và cuộc sống
VD: Về xuất xứ :
Ví dụ: Khi dạy hai bài thơ: “Ngắm trăng” và “Đi đường” của Hồ
Chí Minh Học sinh phải hiểu được hai bài thơ này Bác đều làm trong thời kỳ bị
tù đày ở Quảng Châu - Trung Quốc (Từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943) Từ đó học sinh tìm hiểu về tập thơ “Nhật ký trong tù”
Cần giới thiệu sâu về Bác, Xuất xứ hai bài thơ và cho học sinh tự phát biểu về hiểu biết của các em, cảm xúc của các em về Bác
2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản
a Xác định thể thơ
Xác định thể thơ là căn cứ để học sinh học sinh xác định được bố cục , giọng điệu , cách gieo vần của bài thơ
b Phân tích ý nghĩa nhan bài thơ (Nếu GV thấy cần thiết)
Thông thường giáo viên khi dạy tác phẩm thơ không hay chú ý đến hướng dẫn học sinh tìm hiểu tiêu đề của tác phẩm Song, đây là một nội dung vô cùng quan trọng Bởi tiêu đề một tác phẩm thơ nơi thể hiện tinh thần cơ bản của nội dung bài thơ Cũng có khi có những bài thơ không có đề (vô đề) có thể tác giả muốn để người đọc, qua nôi dung bài thơ, suy ngẫm và tưởng tượng mà tự hiểu
Ðề thơ có thể chỉ nên được coi như một định hướng để hiểu đúng bài thơ
- Đặt tiêu đề cho tác phẩm là một cách gây ấn tượng, tạo cảm xúc cũng như kích thích sự tò mò nơi người đọc Vì thế khi dạy bất cứ bài thơ trữ tình nào cùng phải phân tích kỹ tiêu đề bài thơ
VD: Hướng dẫn HS tìm hiểu nhan đề bài thơ “Bếp lửa”
Học sinh sẽ thảo luận và đưa ra những ý kiến khác nhau về ý nghĩa nhan đề của bài thơ Giáo viên tổng hợp ý kiến của học sinh và khái quát lại một số ý sau:
- Bếp lửa là một hình ảnh quen thuộc, bình dị, gắn với cuộc sống của mỗi gia đình
- Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ gắn với những kỉ niệm thời thơ ấu của người cháu với bà, với gia đình, với quê hương, đất nước
Nhóm Ngữ văn – Tổ KHXH- Trường THCS Liên Châu
Trang 10- “Bếp lửa” hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho tình bà cháu thiêng liêng, sâu nặng; biểu tượng của hơi ấm tình người, sự yêu thương, sẻ chia, tình yêu con người và cuộc sống Bếp lửa không chỉ làm ấm tình cảm bà cháu mà còn sưởi ấm một đời người
c Các bước tiến hành khi hướng dẫn học sinh phân tích bài thơ
GV tổ chức cho học sinh hoạt động theo định hướng sau:
Câu hỏi 1: Bài thơ là cảm xúc của tác giả về con người , sự việc, hiện tượng gì?
(Tìm chủ đề bài thơ)
Câu hỏi 2: Bài thơ có mấy ý? (Có thể tìm ý thơ bằng cách cắt ngang hay cắt dọc
bài thơ)
Câu hỏi 3: Từng ý đã được diễn đạt bằng những từ ngữ đặc sắc, những hình ảnh
đẹp đẽ, những âm thanh nhịp điệu ra sao? Những tín hiệu nghệ thuật đó đem lại hiệu quả thẩm mỹ như thế nào?
Câu hỏi 4: Giá trị đóng góp của bài thơ cho cuộc sống?
- Bài thơ giúp ta hiểu biết thêm gì về con người,sự việc đã làm tác giả xúc động?
- Thái độ ca ngợi hay phê phán của nhà thơ đề xuất với ta một lối sông (cao thượng hay thấp hèn) một thái độ (tán thành hay phản đối ) như thế nào?
- Cái đẹp được ca ngợi làm ta say mê như thế nào? (Cái xấu bị phơi bày làm
ta hả hê ra sao?)
3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy, cần sử dụng phần mềm Power Point vào việc soạn giáo án điện tử Có thể khai thác mạng Internet để có ảnh các tác giả, tranh minh họa, nhân vật hoặc chi tiết, cảnh tượng… trong tác phẩm Có thể dùng phần mềm sơ đồ tư duy Mind- map để chia bố cục
hoặc tổng kết, khái quát nội dung bài học.
4 Cần chú ý tính tích hợp trong môn Ngữ Văn.
Tích hợp là sự kết hợp biện chứng giữa các yếu tố bộ môn Ngữ văn, bao gồm phần Văn – Tiếng việt – Tập làm văn Thực tế chứng minh rằng, bộ môn Ngữ văn rất cần quá trình tích hợp Vì vậy, trong mỗi giờ ngữ văn, giáo viêncần nhấn mạnh yêu cầu này để hiệu quả bộ môn ngữ văn ngày càng được nângcao Đặc biệt, việc tích hợp sẽ góp phần rèn luyện các kỹ năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh theo mục tiêu của môn học
- Tích hợp ngang giữa các phân môn- văn, tiếng Việt , tập làm văn
- Tích hợp dọc nội dung học tập đồng tâm giữa các khối lớp
- Tích hợp giữa môn Ngữ văn với các môn học khác như: Lịch sử, Địalý,Âm nhạc