Từ những lý do trên, có thể thấy việc tìm hiểu và vận dụng những biện pháp để phát huy năng lực cảm thụ của HS trong dạy học văn là việc làm thiết thực, gópphần thực thi việc đổi mới phư
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ivv
BÁO CÁO KẾT QUẢ 1
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1
1 Lời giới thiệu: 1
2 Tên sáng kiến: “ Phát huy năng lực cảm thụ văn cho học sinh THCS thông qua so sánh văn học.” 1
3 Tác giả sáng kiến: 2
4 Chủ đầu tư sáng kiến: Trường THCS Thượng Trưng 2
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 2
6 Ngày sáng kiến được áp dụng thử nghiệm: 2
7 Mô tả bản chất sáng kiến: 2
7.1.Tổng quan của đề tài nghiên cứu lí luận và thực tiễn: 2
7.2.Thực trạng, nguyên nhân vấn đề nghiên cứu: 4
7.2.1 Thực trạng: 4
7.2.1.1.Về phía giáo viên: 4
7.2.1.2.Về phía học sinh 5
7.2.2.Khảo sát thực trạng: 5
7.2.2 Nguyên nhân: 6
7.3.Các giải pháp cơ bản giúp học sinh có năng lực cảm thụ dựa trên kiểu bài so sánh văn học 7
7.3.1.Giúp học sinh nhận thức được cảm thụ văn học với việc dạy học tác phẩm văn chương 7
7.3.1.1.Cảm thụ văn học- một khâu thiết yếu của việc dạy học văn 7
7.3.1.1.1.Cảm thụ văn học là một hoạt động phù hợp với đặc trưng của môn văn 7
Trang 27.3.1.1.2.Cảm thụ văn học là một hoạt động sáng tạo của học sinh 9
7.3.2 Giúp học sinh phân biệt được các vấn đề về so sánh văn học 13
7.3.2.1 So sánh dưới góc độ là một biện pháp tu từ nghệ thuật: 13
7.3.2.2.Biện pháp so sánh trong phân tích văn học 14
7.3.3 Giúp học sinh nắm các kiểu bài so sánh giúp tăng cường năng lực cảm thụ văn của học sinh THCS- so sánh văn học dưới dạng một kiểu bài nghị luận 15
7.3.3.1 Khái niệm: 15
7.3.3.2 Mục đích của so sánh văn học: 16
7.3.3.3 Kiểu bài so sánh văn học: 16
7.3.4 Giúp học sinh nắm được bố cục của bài văn nghị luận so sánh văn học 17 7.3.4.1.Mở bài : 17
7.3.4.2.Thân bài: 17
7.3.4.3.Kết bài: 19
7.3.5.Giúp học sinh nắm được số dạng bài so sánh văn học thường gặp của học sinh THCS: 20
7.3.5.1 So sánh về nghệ thuật tả cảnh: 20
7.3.5.2 So sánh các tác phẩm cùng đề tài: 22
7.3.5.3 So sánh nhân vật: 24
8 Những thông tin cần bảo mật: Không 28
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 28
10 Kết quả thu được: 28
10.1 Kết quả thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 28
10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 29
Trang 311 Danh sách các tổ chức cá nhân đã tham gia áp dụng thử nghiệm hoặc áp dụng sáng kiến khinh nghiệm lần đầu: 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 5BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu:
Cảm thụ văn học là một hoạt động mang tính đặc thù trong tiếp nhận vănhọc Mục đích của cảm thụ là cảm nhận, khám phá, phát hiện, chiếm lĩnh bản chấtthẩm mĩ của văn chương nhằm khơi dậy, bồi dưỡng mỹ cảm phong phú, tinh tế chongười học Muốn cảm thụ được người đọc phải tri giác, liên tưởng tưởng tượngthâm nhập vào thế giới nghệ thuật của văn bản thể nghiệm giá trị tinh thần và hứngthú với sắc điệu thẩm mĩ của nó Khi đến với văn bản văn học bằng cả trí tuệ vàtình cảm, cả nhận thức và kinh nghiệm người đọc sẽ mở được cánh cửa thực sự để
đi vào thế giới nghệ thuật
Nhìn lại thực trạng dạy học văn hiện nay ở trường trung học cơ sở (THCS),
dễ nhận ra vấn đề phát huy năng lực cảm thụ của học sinh (HS) chưa được quantâm một cách đúng mức Lâu nay, bản thân chủ thể HS chưa được đặt vào đúng vịtrí vốn có và cần có trong quá trình phân tích tác phẩm mà chỉ được coi là đốitượng tiếp thụ của giáo viên (GV) Nhiệm vụ và chức năng chủ yếu của người học
là nghe và ghi chép những gì GV đã khám phá, phân tích trên tác phẩm, sau đó đếnlớp trình diễn lại một cách có nghệ thuật Vô hình chung, vai trò quan trọng củachủ thể người học đã bị hạ thấp trở thành thụ động, lệ thuộc vào GV Điều đó dẫntới hậu quả HS chán học văn, thấy việc học văn là vô bổ, học văn chỉ mang tínhchất đối phó, và chất lượng bộ môn văn vì thế không đạt hiệu quả như mong muốn
Từ những lý do trên, có thể thấy việc tìm hiểu và vận dụng những biện pháp
để phát huy năng lực cảm thụ của HS trong dạy học văn là việc làm thiết thực, gópphần thực thi việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhàtrường THCS hiện nay.Đồng thời góp phần tăng cường năng lực tạo lập văn bảncho học sinh trung học cơ sở- đặc biệt là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Trên cơ
sở đó giúp cho các em hứng thú học văn, đặc biệt là tìm ra được những học sinh cónăng khiếu trong học tập môn văn Xuất phát từ những cơ sở như trên tôi đưa ra đề
tài “Phát huy năng lực cảm thụ văn cho học sinh THCS thông qua so sánh văn
học”
Trang 62 Tên sáng kiến: “ Phát huy năng lực cảm thụ văn cho học sinh THCS thông qua so sánh văn học.”
3 Tác giả sáng kiến: Đặng Thị Ngọc Mai
- Họ và tên: Đặng Thị Ngọc Mai
- Địa chỉ: Trường THCS Thượng Trưng - Huyện Vĩnh Tường- Tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại:01672799916 Email: maiphukhoi1980@gmail.com
4 Chủ đầu tư sáng kiến: Trường THCS Thượng Trưng.
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Môn Ngữ văn THCS Vấn đề mà sáng kiến giải quyết là: Hướng dẫn họcsinh THCS- đặc biệt là học sinh lớp 9 có năng lực cảm thụ văn học thông qua sosánh văn học
6 Ngày sáng kiến được áp dụng thử nghiệm: Lần 1:Từ tháng 1 năm 2016 đến
tháng 2 năm 2017 Lần 2: Từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 11 năm 2017
7 Mô tả bản chất sáng kiến:
7.1.Tổng quan của đề tài nghiên cứu lí luận và thực tiễn:
“Cảm thụ” theo nghĩa từ nguyên là “nhận biết được cái tế nhị bằng cảm tính tinh vi” Như vậy, cảm thụ là một hiện tượng gắn với hoạt động tâm lí nhận thức.
Nhờ có các giác quan mà ta có những nhận biết về hiện thực khách quan
Cảm thụ văn học là một hình thức của nhận thức thẩm mỹ, là một quá trình tích
cực vận dụng vốn sống và những năng lực tư duy để lĩnh hội, thưởng thức nhữngcái hay, cái đẹp của tác phẩm Bởi tác phẩm văn học là một đối tượng nhận thứcđặc biệt, vốn không phải là vật thể tự nhiên, nó tồn tại bằng hệ thống ký hiệu thứhai - ngôn ngữ - và mang tính chất xã hội sâu sắc thông qua sự sáng tạo của nhàvăn
Lịch sử nghiên cứu văn học nghệ thuật từ lâu đã chú ý đến hiện tượng cảm thụ,một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với mọi ngành sáng tác, lý luận, nghiêncứu và giảng dạy văn học nghệ thuật Do đó, đọc một tác phẩm bao giờ cũng đòi
hỏi có sự vận động của “các yếu tố bên trong”, sự huy động nhiều năng lực nhận
thức của con người
Trang 7Về mặt lí luận nghiên cứu văn học, việc quan tâm đến cảm thụ nghệ thuật đã
mở ra nhiều vấn đề mới cho những nhà lí luận cũng như những nhà văn từng cónhiều quan tâm đến vấn đề tiếp nhận tác phẩm ở người đọc Cụ thể là giúp họ nhậnthức đúng đắn hơn, biện chứng hơn về tác phẩm văn học trong những mối quan hệkhắng khít của nó đối với bạn đọc, với nghệ sỹ, giữa quá trình sáng tác và quá trìnhcảm thụ tác phẩm, về mối quan hệ biện chứng của quá trình sáng tác, về tính năngđộng sáng tạo của đối tượng cảm thụ tác phẩm văn học
Thực tế nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học cũng đã chỉ ra được nhữnghạn chế của quan niệm chỉ xem tác phẩm văn học là phương tiện phản ánh, nghĩa làcoi tác phẩm chủ yếu như một hiện tượng lịch sử- xã hội mà chưa nhìn thấy mốiquan hệ mật thiết giữa tác phẩm, người đọc với vai trò của chủ thể cảm thụ Điềunày dẫn đến sự chao đảo, mất phương hướng trong quá trình nghiên cứu: Tác phẩm
bị tách rời khỏi người đọc, sự phân tích trở nên không có địa chỉ, không có căn cứ;tác phẩm chỉ được xét trên phương diện phản ánh và bỏ qua phương diện lịch sử-chức năng, ít được xét trên khả năng tác động của nó đối với lịch sử, chính trị, tưtưởng, văn hóa, thẩm mỹ
Lý thuyết tiếp nhận nghệ thuật đã lí giải và xác lập lại mối quan hệ giữa tácphẩm với bạn đọc Đó là mối quan hệ hai chiều: một chiều là tác động của tácphẩm đến với bạn đọc, và một chiều là bạn đọc như một chủ thể sáng tạo tác độngngược lại tác phẩm Do đó, tác phẩm trở thành một đối tượng khám phá, phát hiện,tìm tòi từ vốn kinh nghiệm, vốn thẩm mỹ, văn học, tư tưởng, chính trị của bảnthân người đọc Và người đọc không còn là một khách thể thụ động mà trở thànhmột chủ thể có ý thức, một chủ thể sáng tạo, một nhân cách tiếp nhận tác phẩm.Trong quá trình sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, không có nhà văn, nghệ sỹ nàokhông chú ý đến đối tượng cảm thụ Bởi vì nhờ nó mà giá trị của tác phẩm mớiđược bộc lộ và thể nghiệm một cách cụ thể, sinh động Không phải chỉ có cảm thụmới làm nên giá trị của tác phẩm nhưng nó chính là sinh mệnh của tác phẩm Đại
thi hào Nguyễn Du đã từng trăn trở: “Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như ?” Hay Hồ Chí Minh cũng từng chỉ dạy: người cầm bút trước tiên phải tự trả lời câu hỏi “Viết cho ai?” Nguyễn Công Hoan trong cuộc đời sáng tác của mình cũng rút ra kinh nghiệm “ Nếu đánh trận là đánh vào đồn thì viết truyện là đánh vào tình cảm của người đọc Phải đánh sao cho trúng ” (18,
Trang 8tr.304) Chính vì thế có thể nói đối tượng tiếp nhận đóng vai trò quyết định quátrình thai nghén và sáng tác của tác giả.
Trong dạy học cũng vậy, lí thuyết tiếp nhận xem cảm thụ là một khâu chínhyếu của quá trình dạy học nói riêng và quá trình tiếp nhận văn học nói chung HSkhông còn là một khách thể thụ động mà là một chủ thể có ý thức, một chủ thể sángtạo, một nhân cách tiếp nhận tác phẩm Chính vì thế, quá trình tiếp nhận đó luôn làmột quá trình trưởng thành và phát triển từng bước nhân cách của HS Gạt bỏ haycoi nhẹ qui luật của quá trình cảm thụ sẽ dẫn đến tình trạng học văn thụ động,không cảm xúc, không hứng thú, thiếu tìm tòi suy nghĩ và sáng tạo
Từ những nội dung trên, có thể thấy cảm thụ văn chương có vai trò, ý nghĩađặc biệt quan trọng về mặt lí luận cũng như thực tiễn hoạt động văn học nghệ thuật.Việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này là việc làm có ý nghĩa rất lớn
7.2.Thực trạng, nguyên nhân vấn đề nghiên cứu:
7.2.1 Thực trạng:
7.2.1.1.Về phía giáo viên:
Qua khảo sát thực trạng tôi nhận thấy:
Trước hết việc dạy kiểu bài văn nghị luận văn học – đặc biệt là kiểu bài so sánhthường rập khuôn, máy móc, áp đặt Thậm chí nhiều giáo viên còn cung cấp bàivăn mẫu cho học sinh học thuộc lòng… khiến phần lớn học sinh kiến thức sẽ nghèonàn, có thói quen trông chờ ỉ lại thậm chí còn có tình trạng các em chép bài khikiểm tra
Thứ hai tư liệu dạy học khan hiếm:Trong phân phối chương trình, kiểu bài so
sánh văn học không hề được đưa vào nên chưa bao giờ nó được xuất hiện trong tiếtLàm văn như một bài học độc lập tương đương như những dạng bài khác hoặc
được giới thiệu qua các tài liệu tự chọn của Bộ Giáo dục Vì vậy, việc “rèn kĩ năng
so sánh văn học cho học sinh THCS” gặp phải không ít khó khăn, nhất là tư liệu
dạy học không có
Thứ ba không có tiết cụ thể trong phân phối chương trình:Do phân phốichương trình và thời gian trên lớp hạn chế, nên hầu hết giáo viên chỉ chú ý đi sâu,đào kĩ vào các vấn đề trung tâm của tác phẩm, không có điều kiện so sánh, đốichiếu tác phẩm này với tác phẩm kia, nếu có cũng chỉ mang tính chất liên hệ, mở
Trang 9rộng chứ không có thời gian để đối chiếu ở từng phương diện cụ thể.Vì thế, tronghoạt động chuyên môn đọc văn, làm văn ở chương trình THCS, giáo viên và họcsinh ít có thời gian bàn về so sánh văn học mà giáo viên mới chỉ có thời gian cungcấp cho đối tượng học sinh giỏi Trong khi đó đối tượng này chiếm số lượng khônglớn.
Thứ tư thói quen ngại đầu tư công sức:Một phần do phân phối chương trìnhquá khắt khe, nhưng một phần còn do chính bản thân người dạy ngại sáng tạo,không chịu đổi mới trong cách ra đề kiểm tra, nên so sánh văn học dường như nếu
có chỉ được liên tưởng chút ít trong bài dạy chứ không được đề cập và xem xét nhưmột kiểu bài có vai trò quan trọng, cần quan tâm, đầu tư thời gian, công sức Giáoviên hầu hết ra đề qua loa, không bám sát tình hình thi cử không chịu tìm tòi, khaithác sự độc đáo trong mỗi tác giả, tác phẩm
7.2.1.2.Về phía học sinh
Qua khảo sát trước hết tôi nhận thấy phần lớn học sinh còn lúng túng, chưa
có kĩ năng so sánh văn học Khi làm văn các em còn làm một cách máy móc, quá lệthuộc vào khuôn mẫu , thiếu tư duy sáng tạo
Nếu câu nghị luận văn học chỉ là về một tác phẩm, đoạn trích…nói chungđơn giản, học sinh dễ dàng làm được Nhưng nếu là nghị luận về nhóm tác phẩm,đoạn trích…thì sẽ khó và phức tạp, đòi hỏi học sinh tư duy tổng hợp – so sánh.Dạng đề này rất phù hợp với đối tượng học sinh giỏi thi Tỉnh Và những câu nàyđược coi như là một thử thách đối với học sinh
Do nguyên nhân trên nên hầu hết học sinh rất lúng túng trước kiểu bài sosánh văn học Vì thế khi gặp đề bài này, học sinh chỉ biết đơn thuần cảm thụ lầnlượt hai đối tượng chứ không biết chỉ ra từng đặc điểm giống nhau và khác nhau,đặc biệt rất hiếm trường hợp học sinh biết lí giải nguyên nhân giống và khác nhau
ấy là do đâu, dựa trên cơ sở nào để giải thích
Thứ hai nhiều học sinh không thích học văn: Do tâm lí thi khối C được íttrường và sau này khó xin việc làm, còn thi khối D thì điểm cao, trong khi thi khối
A, B vừa nhiều ngành nghề lại dễ xin việc nên không ít các phụ huynh đã cấmkhông cho con học văn Vì thế thực tế các em chưa quan tâm đến những vấn đề cóliên quan đến môn Văn Do vậy, việc rèn kĩ năng so sánh văn học cho học sinh ởtrên lớp cũng gặp phải những khó khăn, bởi không phải em nào cũng hào hứng
Trang 107.2.2.Khảo sát thực trạng:
Khảo sát chất lượng học sinh giỏi:
- Năm học 2015-2016: Có 3 học sinh đi thi học sinh giỏi cấp huyện thì có 2học sinh đạt 5 điểm, một học sinh đạt 7 điểm
Khảo sát chất lượng đại trà:
Bảng1: Bảng kết quả khảo sát HS trước khi triển khai chuyên đề
Từ kết quả khảo sát trên ta thấy năng lực cảm thụ văn của học sinh còn thấp
Về phía giáo viên: Một số học sinh chưa vận dụng tốt các phương pháp dạyhọc văn đặc biệt là cách thức cảm thụ văn Hơn nữa thời gian học cũng ít, nênnhiều giáo viên cũng không có thời gian để hướng dẫn học sinh làm các dạng bàikhác nhau
Từ thực trạng và nguyên nhân trên tôi đưa ra một số giải pháp phát huy nănglực cảm thụ văn của học sinh THCS thông qua kiểu bài so sánh văn học
Trang 117.3.Các giải pháp cơ bản giúp học sinh có năng lực cảm thụ dựa trên kiểu bài
so sánh văn học.
7.3.1.Giúp học sinh nhận thức được cảm thụ văn học với việc dạy học tác phẩm văn chương
7.3.1.1.Cảm thụ văn học- một khâu thiết yếu của việc dạy học văn
7.3.1.1.1.Cảm thụ văn học là một hoạt động phù hợp với đặc trưng của môn văn.
Môn văn trong nhà trường là môn học vừa có tính nghệ thuật ngôn từ vừa mangtính chất của một môn học Đây là hai thuộc tính cơ bản cần được nhận thức đầy đủ
để có được một cách nhìn toàn diện về môn văn và việc dạy học văn trong nhàtrường
Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học là nghệ thuật lấy ngôn từ làmchất liệu phản ánh Con đường tiếp cận và tiếp nhận tác phẩm bao giờ cũng là mộtquá trình bắt đầu từ những ký hiệu ngôn ngữ, đến lớp âm thanh - nhịp điệu, rồi đến
từ vựng - ngữ điệu - đề tài, chủ đề và tư tưởng cảm xúc Chính vì thế quá trình tiếpnhận một tác phẩm văn học không thể chỉ dừng lại ở lớp vỏ âm thanh, ở mức nhậnthức bề mặt mà phải tìm hiểu nội dung biểu hiện, phần thông điệp mang tâm hồn,tình cảm của nhà văn qua nội dung phản ánh Hemingway cũng từng quan niệm:lĩnh hội một hình tượng văn học là phải khám phá phần chìm của tảng băng trôi, đóchính là nội dung tư tưởng của tác phẩm đã được cảm xúc hóa Một tác phẩm vănchương trong nhà trường bao giờ cũng được đặt trong một hệ thống gắn bó chặt chẽgiữa nội dung, tư tưởng cảm xúc hóa của tác phẩm, tâm hồn của GV và tâm hồncủa HS Tác phẩm văn học chỉ thật sự đến với bạn đọc chỉ khi nào tác phẩm đãđược bạn đọc nhận thức một cách khách quan, rõ ràng, và nội dung khách quan củahình tượng phải do nhà văn xây dựng trên cơ sở nhận thức theo vốn sống của bảnthân Điều này đòi hỏi dạy học văn không thể tách rời nhận thức với tư tưởng cảmxúc hóa, không thể tách rời chất lượng phản ánh với chất lượng biểu hiện của hìnhtượng tác phẩm trong khi tiếp nhận Và trong quá trình tiếp nhận tác phẩm cũngkhông thể tách rời biệt lập hoặc bỏ khâu tự nhận thức với khâu nhận thức hìnhtượng Có nghĩa là việc giảng dạy không chỉ có tính hình thức, mà phải khơi gợi
được những “ yếu tố bên trong” của chủ thể cảm thụ.
Nếu chỉ nhấn mạnh đến tính nghệ thuật ngôn từ, người GV dễ lệch hướng khithực hiện nhiệm vụ giáo dục và lúng túng trong khi lựa chọn những phương pháp
Trang 12giảng dạy thích hợp Bởi vì văn học trong nhà trường còn mang tính chất là mộtmôn học Môn văn cũng như các bộ môn khác có nhiệm vụ cung cấp cho HS nhữnghiểu biết, những kiến thức khoa học nhất định, góp phần hình thành và phát triểnnhân cách xã hội chủ nghĩa cho HS nhưng bằng phương tiện đặc thù của môn văn.Một trong những nhiệm vụ quan trọng của môn văn trong nhà trường phổthông là giáo dục nhận thức cho HS Cụ thể là cung cấp những hiểu biết về thế giớibên ngoài, xã hội và con người Những tác phẩm văn chương ưu tú bao giờ cũng lànguồn tri thức phong phú, khai thác không bao giờ vơi cạn Dạy văn là giúp cho HSnhận ra nguồn tri thức phong phú, đa dạng và bổ ích đó để giúp cho thế giới tinhthần của các em giàu có hơn, phong phú hơn, sâu sắc hơn, mở rộng hơn và tinh tếhơn.
Ngoài ra môn văn còn có nhiệm vụ cung cấp những hiểu biết có hệ thống vềlịch sử văn học Đây là phần tri thức khái quát cực kì quan trọng không chỉ giúpngười học cảm thụ, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương được sâu sắc hơn mà còn giúpcho HS có được những kiến thức công cụ để có thể tự mình tham gia vào các họatđộng văn học nghệ thuật một cách có ý thức, có hiệu quả Chính vì thế trong dạyhọc văn, điều cần thiết là phải phát huy cao độ sáng tạo cá nhân, cảm hứng cá nhân
và nhu cầu đồng cảm, đồng thời coi trọng khả năng hiểu biết, tính nhạy cảm vớitính chuẩn xác của tri thức Trong dạy học văn, cảm xúc và trí tuệ luôn hỗ trợ, bổsung cho nhau để cùng hướng tới mục tiêu quan trọng đó là phát triển hài hòa nhâncách của HS
Cũng như các môn học khác, môn văn cung cấp những hiểu biết, những kiếnthức khoa học cho HS Tuy nhiên, kiến thức môn văn chỉ thực sự trở thành tài sảncủa HS chỉ khi nào kiến thức đó được tiếp nhận thông qua sự vận động của bảnthân chủ thể HS Có nghĩa là nó đòi hỏi học sinh phải phát huy năng lực cảm thụ,sáng tạo văn học, năng lực chủ quan của bản thân chủ thể, tích cực và hứng thútham gia vào quá trình dạy và học văn Bản thân môn văn là một môn học phức tạp:một mặt, nó bao gồm những bộ phận mang tính chất nghệ thuật thẩm mỹ, mặt khác
nó lại chứa đựng những bộ phận tri thức khái quát Sự phức tạp đó đòi hỏi phải có
sự kết hợp nhịp nhàng và cân đối, toàn diện về tâm hồn, trí tuệ, về thẩm mỹ và hiểubiết của HS trong quá trình khám phá tác phẩm Tác phẩm văn chương vì thế chỉ cóthể tác động đến người học khi nào tác phẩm đó được tiếp nhận thông qua cảm xúc
rung động và những hoạt động tâm lí nghệ thuật của chủ thể HS “Tác phẩm văn
Trang 13chương chỉ thực sự phát huy được sức mạnh của nó khi nào nó được khơi dậy từ bên trong người tiếp nhận những hoạt động tâm lí sáng tạo, những khát vọng sống cao thượng, sống có ý nghĩa và ý thức hơn” Cho nên thực chất của việc phát huy
chủ thể HS là phát triển một cách cân đối hài hòa về tư duy hình tượng và tư duylôgíc trong văn học, nhằm từng bước hình thành nhân cách HS một cách tự nhiên
có hiệu quả vững chắc
7.3.1.1.2.Cảm thụ văn học là một hoạt động sáng tạo của học sinh
Cảm thụ văn học là một hoạt động tâm lí có những qui luật riêng do đặc thùcủa đối tượng cảm thụ qui định Trong thực tế, nếu không có lao động sáng tạo thìkhông thể có cảm thụ văn học thật sự
Quá trình sáng tác văn học đòi hỏi người nghệ sỹ phải phấn đấu vượt qua giankhổ, vượt lên trên sự ràng buộc hoặc giới hạn nhỏ hẹp để hòa mình vào cuộc sốngchung, để lắng nghe tiếng nói chung của mọi người, từ đó nâng một sự kiện, mộtchi tiết cụ thể, một hoàn cảnh cụ thể đến mức độ khái quát có ý nghĩa phổ biến,điển hình Chính vì thế, quá trình cảm thụ nghệ thuật của người đọc cũng phải đi từvốn kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân mình đến vốn kinh nghiệm, vốn sốngchung mà nhà văn đã khái quát ở trong hình tượng nghệ thuật Có như thế ngườiđọc mới có thể rung cảm, đồng cảm với nghệ sỹ Qua đó, có thể thấy cảm thụ có ýnghĩa rất lớn đối với quá trình phân tích tác phẩm văn chương Đối với người đọc,quá trình cảm thụ văn học là một quá trình lao động nhiều gian khổ để rèn luyệnnhững năng lực văn chương và cũng không ít sự hứng thú trong quá trình tiếp nhận.Người cảm thụ phải có một vốn sống tích cực, có một sự nổ lực quan sát rất lớn thìmới có được sự đồng cảm nghệ thuật
Cảm thụ văn học là một hoạt động tự giác Bởi vì hoạt động này do bản thânđối tượng cảm thụ quyết định Trong quá trình cảm thụ, người đọc, người nghe cầnphải nâng mình lên, phải vượt qua giới hạn nhỏ hẹp của bản thân thì mới tiếp nhận,mới đồng cảm được với nội dung sáng tạo có sức mạnh khái quát sâu sắc nội dungrộng lớn mà bản thân người nghệ sỹ đã phải nâng mình, vượt qua trong quá trìnhsáng tạo nghệ thuật Quá trình cảm thụ văn học luôn luôn là một quá trình mà chủthể cảm thụ phải tự giác vượt giới hạn về chất lượng tình cảm và vốn sống cá nhân.Chẳng hạn, đọc những câu thơ của Tố Hữu:
“ Trải bao gió dập sóng dồi
Trang 14Tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha Đau đớn thay phận đàn bà Hỡi ơi, thân ấy biết là mấy thân”
Nhà thơ đã khẳng định sức sống bất diệt của tác phẩm qua sự hồi tưởng về quákhứ xa xăm, qua sự khơi gợi thế giới hình tượng Truyện Kiều, đặc biệt là bằng sựtrải nghiệm cuộc sống, sự cảm thông, yêu mến và sự cảm nhận sấu sắc tấm lòngnhân hậu yêu thương con người của Nguyễn Du Như vậy, để đồng cảm, đồng điệuvới tiếng nói của nhà thơ, người đọc cần có sự huy động thật sâu xa kiến thức lịch
sử, văn học, và kinh nghiệm, vốn sống cá nhân được chắt lọc từ trong thực tiễn đểtiếp nhận tác phẩm
Trong nhà trường, cảm thụ của HS cũng tuân theo qui luật chung của cảm thụvăn học, bởi vì học sinh chính là chủ thể cảm thụ của quá trình phân tích tác phẩmvăn chương, cho nên kết quả dạy học tác phẩm văn chương phải là kết quả của sựcảm thụ tự giác sâu sắc của cả người dạy và người học GV trước hết phải cảm thụthật tốt, sau đó cũng phải giúp cho HS cảm thụ tốt Nếu không có sự đồng cảm vànhất trí giữa thầy và trò thì giờ học không thể thành công Đối với công việc dạyhọc văn, hơn bất cứ bộ môn nào, nguyên tắc tự giác và tích cực phải được phát huytriệt để Cảm thụ càng gắn với ý thức tự giác thì càng có tác dụng phát triển nhâncách của HS
Mặt khác, trong cảm thụ văn học nghệ thuật, nhu cầu tự ý thức là đặc trưng cơbản của sự chiếm lĩnh văn học nghệ thuật Chủ thể cảm thụ luôn trong nhu cầu vàkhát vọng tự ý thức Do sự thúc đẩy của những trạng thái cảm xúc, con người sốngvới những tâm trạng nhất định Khát vọng tự nhận thức, tự biểu hiện càng cao thìvăn học nghệ thuật lại càng là phương tiện có hiệu lực mạnh mẽ cho đối tượng cảmthụ Con người đến với tác phẩm nghệ thuật có thể lúc đầu là do sự tò mò ngẫunhiên, nhưng xét cả quá trình cảm thụ thì tác phẩm văn học luôn là phương tiện đểcho chủ thể tự ý thức, tự bộc lộ tâm trạng, cảm xúc và những nhu cầu tâm lý củamình
Tính sáng tạo của cảm thụ văn học còn thể hiện ở quá trình hoạt động của nhiềunăng lực nhận thức Để tiếp nhận một đối tượng thẩm mỹ, biến nó thành tài sản củamình, làm cho sản phẩm tinh thần của người khác hóa thành sở hữu tinh thần củabản thân thì người đọc phải nỗ lực vận dụng nhiều năng lực nhận thức như năng lực
Trang 15liên tưởng, hồi ức, sáng tạo, vốn sống, lý tưởng thẩm mỹ Chẳng hạn, khi cảm thụđoạn thơ của Hữu Thỉnh:
“ Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về”
Người đọc không sống ở Bắc Bộ, cũng không sống ở thời điểm ra đời của bàithơ nhưng không vì thế mà không cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong đoạn thơtrên Bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, bằng kinh nghiệm, kiến thức lịch
sử và bằng một tâm hồn nhạy cảm tinh tế, người đọc vẫn có thể cảm nhận đượcnhững dấu hiệu sang thu được bắt đầu từ đâu.Chỉ bằng một mùi hương của ổi chínđược phả vào trong gió se trong một buổi sáng thanh bình, yên ả Chỉ bằng một mùihương nhẹ nhưng có đủ sức làm thức dậy mọi giác quan để đón nhận Gió se lạnhbỗng trở nên thơm tho, nồng ấm hẳn lên, hào phóng đem hương ổi đi chia khắp nơi
Hương ổi luồn vào trong sương khiến sương “chùng chình”,bâng khuâng, lưu luyến
chẳng muốn đi mau qua ngõ.Thi sĩ cảm nhận thiên nhiên và phút giao mùa thật tinh
tế , sâu sắc Từ hương nhận ra gió, từ gió nhận ra sương Trong sương có gió, cóhương, có tình Nếu không có sự phối hợp của nhiều năng lực nhận thức thì khôngthể có quá trình cảm thụ, và sự liên tưởng, xúc cảm của nhà thơ cũng không thểkhơi dậy những liên tưởng và rung động ở người đọc
Quá trình cảm thụ sẽ diễn ra càng nhanh, càng sâu sắc và có sức thuyết phụckhi sự ngăn cách giữa nghệ sỹ và người đọc càng ít Sự gần gũi nhau về tư tưởngchính trị, về quan điểm thẩm mỹ, về vốn sống, kinh nghiệm, vốn hiểu biết sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho quá trình cảm thụ văn học nghệ thuật Tất nhiên, cảm thụvăn học không thể dễ dàng có được nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm sống mà cần có
sự nổ lực của nhiều năng lực nhận thức Văn học phản ánh cuộc sống, nhưng khicuộc sống đi vào trong văn học thì đã được khúc xạ qua lăng kính của người nghệ
sỹ Chính vì thế cảm thụ văn học không phải đơn thuần là đối chiếu vấn đề trongvăn học và vấn đề của thực tiễn Cảm thụ văn học phải vận dụng sự liên tưởng, hồi
ức, tưởng tượng để tiếp thu chân lí nghệ thuật Sức hoạt động của các năng lựcnhận thức càng mạnh thì sức cảm thụ càng sâu sắc và phong phú
Trang 16Quá trình cảm thụ văn học cũng có thể nói là sự tiếp tục quá trình sáng tạo
nghệ thuật, hay nói cách khác là hoạt động “đồng sáng tạo” Trong tác phẩm văn học, nhà văn không thể nào nói hết mọi điều mà luôn luôn nhờ vào sự “đồng sáng tạo” của người đọc.
Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị luôn gợi lên cho người đọc sự liên tưởng,tưởng tượng, hồi ức, suy nghĩ Người đọc phải dựa vào vốn sống, kinh nghiệmcủa bản thân để cùng sáng tạo với nhà văn Do mỗi người có vốn sống, quanđiểm khác nhau nên nội dung của một tác phẩm là vô hạn và hình tượng nghệthuật luôn luôn mới mẻ Ngược lại, khi tìm hiểu một tác phẩm, bao giờ người đọccũng có nhu cầu phát triển về năng lực văn học, có nhu cầu gặp gỡ, đồng cảm vớitác giả về vốn sống và về nhận thức, để từ đó được xúc động, rung cảm, được tri
âm với nhà văn, nhà thơ Điều này đòi hỏi người đọc phải có quá trình hoạt độngtâm lí nhận thức thì mới tiếp nhận điều nhà văn, nhà thơ muốn truyền đạt Hoạtđộng tâm lý nhận thức trong cảm thụ chính là đường dây nối liền nghệ sỹ với ngườiđọc, là đầu mối của những rung động thẩm mỹ, của những xúc cảm nghệ thuật, vốnsống, kinh nghiệm, hiểu biết càng nhiều và sức liên tưởng càng mạnh thì hiệu quả
cảm thụ càng rộng, càng sâu Ví dụ: Đọc đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du, mỗi người chắc chắn sẽ có một cách cảm nhận khácnhau Hoài Thanh trong quá trình theo dõi những biến thái phức tạp của tâm trạngnhân vật Thuý Kiều trong sự kiện xót xa này, đã đồng cảm với Nguyễn Du để nhận
ra kiểu “nhập vai” sâu sắc của tác giả Vận dụng tưởng tượng, so sánh, phân tích,
Hoài Thanh đã cảm nhận theo cách của mình.Hay mỗi chúng ta khi tiếp nhận tácphẩm cũng có những cảm nhận riêng
Cảm thụ văn học quả là một hoạt động đồng sáng tạo Hoạt động đó rất phongphú và khác nhau tùy thuộc vào trình độ của người đọc Nếu sức tưởng tượng tốt,khả năng đọc hiểu và cảm thụ của người tiếp nhận tốt sẽ chắp cánh thêm cho sứctưởng tượng của tác giả Hình tượng trong tác phẩm cũng sẽ được chắp cánh đểbay cao, bay xa hơn
Với ý nghĩa trên, đối tượng cảm thụ chính là những cộng sự đắc lực cho ngườinghệ sỹ Tác phẩm văn chương sẽ trở nên phong phú, sáng tạo hơn, có giá trị thẩm
mỹ hơn nếu được người đọc “nhập vai” Không có nhà văn, nhà thơ nào không
thấy hết sự gắn bó sâu sắc và to lớn của người đọc đối với sự thành công trong kếtquả lao động của mình Người đọc không những giúp cho họ vượt qua được cái
Trang 17giới hạn nhỏ hẹp của cuộc sống riêng, kinh nghiệm riêng để hoà mình vào cuộcsống chung, kinh nghiệm chung của cộng đồng mà còn là những người nuôi dưỡng,vun đắp cho sản phẩm sáng tạo của họ.
Cảm thụ văn học là một hoạt động sáng tạo, là một hoạt động tự giác, là sựvận động của nhiều năng lực chủ quan của con người, đồng thời là quá trình tiếpnối sự sáng tạo của nghệ sỹ Chính vì thế, dù cảm thụ chỉ là tiền đề để đi vào tácphẩm nhưng đây là bước quan trọng giúp người đọc tự giác, hứng thú tiếp tục đithêm một bước cao hơn đó là nhận định, đánh giá tác phẩm về nội dung tư tưởng
Nhờ sự “đồng sáng tạo” đó mà trong cảm thụ nghệ thuật, chuyện của ngày xưa
cũng trở thành chuyện của ngày nay, một tác phẩm xa lạ ở nước ngoài cũng trở nêngần gũi, chuyện của nhân vật trong tác phẩm cũng trở thành chuyện của cá nhânmình Từ đó mà tác phẩm có sự tác động sâu sắc, để lại dấu ấn bền chặt trong tâmhồn người đọc
7.3.2 Giúp học sinh phân biệt được các vấn đề về so sánh văn học.
7.3.2.1 So sánh dưới góc độ là một biện pháp tu từ nghệ thuật:
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì
“so sánh là nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém”.
Theo Từ điển Tu từ – phong cách học – thi pháp học của tác giả Nguyễn Thái
Hoà (NXB Giáo dục) thì “so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó
để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe”.
Từ những khái niệm trên vận dụng vào việc rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho họcsinh, có thể thấy so sánh giúp cho học sinh hiểu rõ hơn đối tượng (có thể là nhữngchi tiết, nhân vật, hình tượng, quan niệm, phát hiện…) cảm nhận được những mới
mẻ, độc đáo của đối tượng cũng như những sáng tạo của nghệ sĩ Để rèn luyện vàhướng dẫn học sinh thực hiện tốt phương pháp này nói riêng, cảm thụ văn học nóichung, về phía học sinh, giáo viên cần đặt ra những yêu cầu cụ thể
Như vậy, so sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một