Nếutrong quá trình dạy và học văn mà thiếu kiến thức về lí luận văn học thì ngườihọc văn không tránh khỏi việc cảm thụ tác phẩm văn học một cách hời hợt, mơ hồ, chung chung, thiếu chiều
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
1 Lời giới thiệu 1
2 Tên sáng kiến: “ Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học” 2
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 2
4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 2
5 Mô tả bản chất của sáng kiến: 2
5.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 2
5.2 Thực trạng, nguyên nhân: 3
5.2.1 Thực trạng: 3
5.2.2 Nguyên nhân: 4
5.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: 4
5.3.1 Kiến thức về văn nghị luận: 4
5.3.1.1 Những vấn đề chung về văn nghị luận: 4
5.3.1.1.1 Nắm chắc khái niệm về văn nghị luận: 4
5.3.1.1.2 Nắm chắc các yếu tố cơ bản của bài văn nghị luận: 5
2.1 Luận điểm: 5
2.2 Luận cứ: 5
2.3 Lập luận: 5
5.3.1.1.3 Nắm chắc các kiểu bài văn nghị luận: 5
5.3.1.1 4 Nắm chắc bố cục của bài văn nghị luận: 6
5.3.1.1.5 Rèn cho học sinh nắm chắc phương pháp chung khi làm bài văn nghị luận: 6
5.1 Tìm hiểu đề và tìm ý: 6
5.1.1.Tìm hiểu đề: 6
5.1.2 Tìm ý: 7
5.2 Lập dàn ý: 8
5.3 Viết bài: 9
5.4 Đọc và sửa lỗi: 11
5.3.1.1.6 Giáo viên cung cấp cho học sinh dạng đề nghị luận văn học và phương pháp làm từng dạng đề 11
5.3.2 Kiến thức về lí luận văn học 13
5.3.2.1 Nắm các trục quy chiếu và các cặp phạm trù 13
5.3.2.1.1 Cặp quy chiếu nhà văn- tác phẩm- bạn đọc 13
5.3.2.1.2 Cặp phạm trù lí luận văn học 14
5.3.2.2: Kiến thức về chức năng của văn học 14
5.3.2.3: Phong cách văn học 16
5.3.2.4: Tiếp nhận văn học 18
5.3.2.5 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học 21
5.3.2.6 Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống 24
5.3.2.6.1 Vai trò của hiện thực cuộc sống 24
Trang 25.3.2.6.2 Vai trò của người nghệ sĩ trong nhận thức hiện thực cuộc sống 25
5.3.2.7 Đặc trưng của thơ 26
5.3.2.8 Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật 28
5.3.3 Cách thức để học sinh giỏi nắm kiến thức lí luận văn học 30
5.3.3.1 Các cấp độ lí luận 30
5.3.3.2 Kiến thức lí luận văn học nằm ở đâu trong bài NLVH 30
5.3.3.3 Tiến trình giải quyết dạng bài một vấn đề lí luận văn học 32
5.3.3.3.1 Tìm hiểu đề và tìm ý 32
5.3.3.3.2 Xây dựng dàn ý 32
5.3.3.3.3 Hướng dẫn học sinh cách viết các phần 36
8 Đánh giá lợi ích thu được 42
8.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng theo ý kiến của tác giả: 42
8.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 43
9 Danh sách tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: 44
Trang 41 Lời giới thiệu.
Bàn về giáo dục và vai trò của những nhân tài Thân Nhân Trung đã
nêu:“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh
rồi lên cao, nguyên khí suy thì nước yếu rồi xuống thấp” Ý kiến trên dù đã trải
qua bao thế kỉ cho đến tận hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị Quả đúng như
vậy trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọngđối với sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế pháttriển toàn cầu như là hiện nay thì giáo dục- đào tạo được xem là chính sách, biệnpháp quan trọng hàng đầu Giáo dục- Đào tạo góp phần nâng cao dân trí- đào tạonhân lực và bồi dưỡng nhân tài Giáo dục và đào tạo nhằm phát huy năng lực nội
sinh “ đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời gian công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước
Tại Hội nghị 8 ban chấp hành Trung ương khóa XI, Tổng bí thư NguyễnPhú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm2013: “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế” Theo đó, mục tiêu tổng quát của đổi mới giáo dục là: “Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục; khắc phục cơ bảncác yếu kém kéo dài đang gây bức xúc trong xã hội để giáo dục và đào tạo trởthành một nhân tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.Phấn đấu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khuvực và hội nhập quốc tế” Một trong những mục tiêu cụ thể là: “Giáo dục conngười Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu tổ quốc; có hiểu biết và
kĩ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việchiệu quả - thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân;đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước”
Môn Ngữ văn là một môn học nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông củanước ta Với đặc trưng riêng biệt- môn Ngữ văn là môn học về cái đẹp với haikhâu liên hoàn: cảm thụ cái đẹp trong văn chương (văn), ngôn ngữ (tiếng Việt)
để tạo lập ra cái đẹp văn bản nói và viết (Tập làm văn) Với đặc trưng như trênmôn Ngữ văn sẽ hình thành và phát triển hai năng lực quan trọng cho thế hệ trẻ:Năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ Do vậy, cùng với các môn học khác thìmôn Ngữ văn cũng góp phần vào việc nâng cao dân trí đào tạo nhân lực và bồidưỡng nhân tài Để đáp ứng những mục tiêu trên, việc bồi dưỡng, nâng cao chấtlượng dạy và học môn Ngữ văn là nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên và
Trang 5mỗi nhà trường Có HS có năng lực mới có người tài và có nguồn lực để pháttriển đất nước
Trong nhiều năm giảng dạy, bằng kinh nghiệm của bản thân trong côngtác bồi dưỡng HSG cũng như nâng cao chất lượng đại trà tôi nhận thấy cần phải
bổ sung và hướng dẫn HS làm dạng đề lí luận văn học trong văn nghị luận Xuất
phát từ những yêu cầu trên tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp “ Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học”
2 Tên sáng kiến: “ Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về một
vấn đề lí luận văn học”.
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn bậc THCS- Đặc biệt là
tích hợp trong một số giờ giảng Văn và các tiết học chuyên đề nâng cao cũngnhư là bồi dưỡng học sinh giỏi Vấn đề mà sáng kiến cần giải quyết là: Hướngdẫn học sinh giải quyết một vấn đề liên quan đến lí luận văn học
4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng 8
năm 2016 đến hết tháng 5 năm 2017
5 Mô tả bản chất của sáng kiến:
5.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Lý luận văn học, hiểu một cách đơn giản là một bộ môn nghiên cứu vănhọc ở bình diện khái quát, nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học.Kiến thức lí luận văn học sẽ giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi khái quátnhư: Văn học bắt nguồn từ đâu? Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạothành? Văn học được sáng tác và tiếp nhận như thế nào? Văn học được sinh ra
để làm gì?
Các kiến thức lí luận văn học đang phát triển từng ngày từng giờ với rấtnhiều các khuynh hướng, các luồng tư tưởng, các quan niệm khác nhau, có khithống nhất nhưng cũng có khi phủ nhận lẫn nhau Các nghiên cứu về lí luận vănhọc sẽ tạo cho chúng ta có những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về văn học Nếutrong quá trình dạy và học văn mà thiếu kiến thức về lí luận văn học thì ngườihọc văn không tránh khỏi việc cảm thụ tác phẩm văn học một cách hời hợt, mơ
hồ, chung chung, thiếu chiều sâu, thiếu sự bàn bạc chứng minh vấn đề không có
cơ sở lí luận vững chắc không thể thuyết phục người đọc
Đối với học sinh nói chung và HSG nói riêng việc trang bị kiến thức líluận văn học giúp cho học sinh có những bình luận, đánh giá, nhận xét chuẩn
Trang 6xác hơn về một hiện tượng văn học nào đó, khiến cho bài viết của các em trởnên sâu sắc hơn về ý tưởng, chặt chẽ hơn về lập luận, thuyết phục hơn khi đưa racác luận cứ Cho nên việc trang bị kiến thức lí luận, hướng dẫn các em giảiquyết một vấn đề liên quan đến lí luận trong một số buổi học nâng cao, đặc biệt
là bồi dưỡng HSG là hết sức cần thiết
Bản thân tôi thực hiện đề tài này nhằm hướng tới một số mục đích cơ bảnsau:
Thứ nhất: Cung cấp, trang bị thật tốt kiến thức lí luận văn học - một mảngkiến thức cần có đối với học sinh giỏi môn Ngữ văn
Thứ hai: Giải quyết khó khăn của học sinh vì thiếu kiến thức lí luận khi làmcác đề thi học sinh giỏi, các dạng đề thi chuyên Các em có được kiến thức líluận khi học phân tích, bình giảng một tác phẩm văn học Khi học sinh có nềntảng lí luận vững chắc sẽ không còn “ngại”, lúng túng khi gặp các dạng đề liênquan đến lí luận văn học – dạng đề thường thấy trong các đề thi học sinh giỏi,các đề thi chuyên
Thứ ba: Nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi
5.2 Thực trạng, nguyên nhân:
5.2.1 Thực trạng:
Nhằm tìm hiểu thực trạng giải quyết những vấn đề liên quan đến lí luận vănhọc trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài kinh nghiệm của bản thân tôicòn tiến hành khảo sát bằng hình thức phỏng vấn một số giáo viên dạy văn.Bước đầu tôi đã thu nhận được một số kết quả sau:
Trước hết thực trạng về phía giáo viên: Bên cạnh nhiều thầy cô ý thức đượctầm quan trọng của lí luận văn học nên đã có cách giảng dạy hợp lý đã biết cáchlồng luồn kiến thức lí luận một cách hiệu quả Song một số giáo viên khác chưathực sự chú trọng vào dạng bài này- ngay cả trong khi bồi dưỡng HSG Tiếptheo đó là một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết đối với công tác bồi dưỡngnâng cao chất lượng đại trà, nâng cao chất lượng HGS nên cũng chưa đầu tư vềbài giảng, chuẩn bị đề…
Thứ hai về thực trạng học sinh: Nhận thức về kiến thức lí luận văn học cònhạn chế Các em còn thiếu khả năng vận dụng kiến thức lí luận vào một dạng bàinghị luận cụ thể Nhiều em còn thấy lúng túng ngay cả trong khi tiếp cận với cáctiết giảng văn liên quan đến việc tìm hiểu một số kiến thức lí luận như khi tìm
Trang 7hiểu về truyện ngắn các em còn chưa hiểu cốt truyện là gì? Tình tiết là gì? Điềunày làm cho chất lượng giải qua các cuộc thi HSG của học sinh chưa cao Đâycũng là nguyên nhân dẫn đến việc lấy học sinh vào đội tuyển văn của giáo viêngặp rất nhiều khó khăn.
Khảo sát thực trạng:
Tỉ lệ hứng thú đạt: 70%
Chất lượng giải: Năm học 2013-2014: Có ba học sinh đi thi HSG: NguyễnMinh Ánh: 7 điểm- Giải 3; Phùng Thị Linh: 6,5- Giải 3; Bùi Hoài Linh: 5,5điểm- Không đạt giải
5.2.2 Nguyên nhân:
Trước hết tôi nhận thấy hiện nay kiến thức về lí luận văn học trong SGKcấp THCS đã bị cắt bỏ cho nên học sinh không được học kiến thức về lí luậnvăn học ở một tiết học cụ thể nên nhiều khi bản thân giáo viên cũng chưa có ýthức trong việc ghi chép, tổng hợp lích lũy kiến thức, giải đề Giáo viên cũngchưa chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh giỏi tiếp cận các dạng đề liên quanđến lí luận văn học
Như trên đã đề cập đến tầm quan trọng của kiến thức lí luận văn học đốivới học văn, đọc văn, cảm thụ văn chương; càng quan trọng hơn với học sinhgiỏi môn Văn Nhưng thực tế chương trình sách giáo khoa hiện nay những bàihọc lí luận không có Trong khi đó nhiều năm gần đây trong các cuộc thi họcsinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh đề thi đề cập đến hầu hết các phạm trù lí luận vănhọc
Từ những thực trạng và nguyên nhân trên tôi đưa ra một số giải pháp giúphọc sinh có hứng thú và biết cách giải quyết các vấn đề văn học có liên quan đến
lí luận
5.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
5.3.1 Kiến thức về văn nghị luận:
5.3.1.1 Những vấn đề chung về văn nghị luận:
5.3.1.1.1 Nắm chắc khái niệm về văn nghị luận:
Nghị luận là bàn bạc, lý giải, đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó
Văn nghị luận viết ra nhằm xác lập một tư tưởng, quan điểm nào đógiúp người đọc, người nghe hiểu rõ, tin tưởng và có định hướng hành động đúng
Trang 8đắn trước những vấn đề về cuộc sống, xã hội hoặc văn học nghệ thuật Muốnthế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lý lẽ, dẫn chứng thuyết phục.
Có nhiều cách để bàn luận: Có khi là dùng bằng chứng để người ta tintưởng hơn ( chứng minh), có khi phải giảng giải, đưa ra lý lẽ để hiểu cặn kẽ hơn(giải thích), cũng có khi phát biểu ý kiến của mình (bình luận), hay chỉ ra giá trịcủa một tác phẩm văn học (phân tích tác phẩm)…vv
Dù là chứng minh hay giải thích… thì người viết văn nghị luận vẫn phải cónhững hiểu biết đầy đủ về vấn đề sẽ trình bày, phải có lập trường quan điểmđúng đắn
5.3.1.1.2 Nắm chắc các yếu tố cơ bản của bài văn nghị luận:
2.1 Luận điểm:
Luận điểm trong bài văn nghị luận là ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởngcủa bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định) đượcdiễn đạt rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán Luận điểm là linh hồn của bài văn nghịluận Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng được nhu cầu thực tế thì mới
có sức thuyết phục
2.2 Luận cứ:
Luận cứ trong bài văn nghị luận là những lý lẽ, dẫn chứng đưa ra để làm cơ
sở cho luận điểm, làm sáng tỏ cho luận điểm Luận cứ phải đúng đắn, chân thật,đáp ứng được nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục
5.3.1.1.3 Nắm chắc các kiểu bài văn nghị luận:
Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ có hai kiểu bài văn nghị luận chính
1 Kiểu bài nghị luận xã hội: Nghị luận xã hội là những bài văn nghịluận bàn về các vấn đề xã hội nhằm thể hiện suy nghĩ, thái độ, tiếng nóichủ quan của người viết về vấn đề đặt ra, góp phần tạo những tác động tíchcực tới con người, bồi đắp những giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ
Trang 9chung của xã hội Trong bài văn nghị luận xã hội người ta chia làm haidạng: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về mộtvấn đề tư tưởng đạo lý.
2 Kiểu bài nghị luận văn học: Là một dạng bài văn nghị luận mà cácvấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đạivăn học
5.3.1.1 4 Nắm chắc bố cục của bài văn nghị luận:
Bài văn nghị luận có bố cục ba phần:
a Mở bài ( Đặt vấn đề): Nêu vấn đề nghị luận
b Thân bài (Giải quyết vấn đề): Trình bày các nội dung chủ yếu để làmsáng tỏ vấn đề cần nghị luận bằng hệ thống luận điểm, luận cứ, lập luận
c Kết bài ( Kết thúc vấn đề): Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái
độ, quan điểm của bài
5.3.1.1.5 Rèn cho học sinh nắm chắc phương pháp chung khi làm bài văn nghị luận:
5.1 Tìm hiểu đề và tìm ý:
5.1.1.Tìm hiểu đề:
Tìm hiểu đề là một trong những bước rất quan trọng giúp cho học sinhkhông bị lạc đề, có định hướng tốt về kiểu bài Đề bài văn nghị luận bao giờcũng nêu ra một vấn đề để bàn bạc và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình
về vấn đề đó Yêu cầu của việc tìm hiểu đề là xác định đúng vấn đề, phạm vi,tính chất của bài nghị luận để bài văn không bị sai lệch
Cách tìm hiểu đề:
- Thứ nhất: Đọc kĩ đề Gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề có tínhchất định hướng làm bài về nội dung và phương pháp ( Chú ý các từ: suy nghĩ,phân tích, cảm nhận để thực hiện đúng phương pháp làm bài)
- Thứ hai: Tìm hiểu yêu cầu về kiểu bài để tránh lẫn về phương pháp
- Thứ ba: Tìm hiểu yêu cầu về nội dung ( Đây chính là tìm hiểu về vấn đềcần nghị luận) để tránh lạc đề
- Thứ tư: Tìm hiểu về thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bìnhluận
Trang 10- Thứ năm: Tìm hiểu về phạm vi dẫn chứng cần có trong bài: Trong thực tếhay trong văn học.
Ví dụ:
Đề 1: Phân tích “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Với đề văn trên giáo viên hướng dẫn học sinh xác định:
- Kiểu bài: Nghị luận văn học ( phân tích nhân vật)
- Nội dung nghị luận: Giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực, giá trị nghệthuật
- Thao tác nghị luận chính: Phân tích, chứng minh
- Phạm vi dẫn chứng: Trong tác phẩm “ Chuyện người con gái NamXương” của Nguyễn Dữ
- Xác định giá trị nghệ thuật để làm nổi bật giá trị nội dung, nhà văn
sử dụng những hình thức nghệ thuật nào? Thủ pháp nghệ thuật quan trọng nhất
mà tác giả sử dụng để gây ấn tượng cho người đọc là thủ pháp gì? Chi tiết nào,hình ảnh nào,… làm em thích thú nhất? Vì sao? Nhà văn đã sử dụng nghệ thuật
gì ở đó?
Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi xoay quanh vấn
đề được đề yêu cầu Tìm ý xác định được đối tượng cần nghị luận ( nhân vật,chủ đề, nội dung, nghệ thuật…) gắn với những câu hỏi tìm ý để có ý kiến cụ thể( điểm nổi bật nhất? nét biểu hiện cụ thể? chi tiết nào thể hiện? Có ý nghĩa gì?Giá trị tiêu biểu ra sao?) Tùy đối tượng mà có những câu hỏi khác nhau
Ví dụ: Cho đề văn sau: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn
“Làng” của nhà văn Kim Lân.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi và trả lời các câu hỏi nhưsau:
Trang 11- Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai:
+ Ở nơi tản cư nhớ làng
+ Theo dõi tin tức kháng chiến
+ Tâm trạng khi nghe tin đồn làng chợ Dầu theo Tây
+ Niềm vui khi tin đồn được cải chính
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Tình huống truyện đặc sắc
+ Các chi tiết miêu tả nhân vật
+ Các hình thức trần thuật
5.2 Lập dàn ý:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách lập dàn ý:
Phần này ở sách giáo khoa hướng dẫn khá kĩ, học sinh dựa vào để làmcác bài tập xây dựng dàn ý
Mục đích của việc lập dàn ý, Gơt-tơ nhà văn nổi tiếng của Đức quảquyết: Tất cả đều lệ thuộc vào bố cục Còn Đốt-tôi-ep-xki, nhà văn Nga của thế
kỉ XX ao ước: Nếu tìm được một bản bố cục đạt thì công việc sẽ nhanh nhưtrượt băng Ix-pen, một nhà văn Thụy Điển đã để hẳn một năm lao động xâydựng bố cục cho bản trường ca và ông đã hoàn thành bản trường ca đó trongvòng ba tháng
Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn Nói cách khác, đó là những hệthống suy nghĩ tìm tòi, nhận xét, đánh giá của học sinh dựa trên yêu cầu cụ thểcủa đề bài Lập dàn ý trước khi viết bài văn có những cái lợi như sau:
- Nhìn được một cách bao quát, toàn cục nội dung chủ yếu mà bài văn cầnđạt được, đồng thời thấy được mức độ giải quyết vấn đề nghị luận và đáp ứngnhững yêu cầu đề bài đặt ra, tránh làm bài xa lệch trọng tâm
- Thông qua việc lập dàn ý có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàn diện hơn
để điều chỉnh hệ thống luận điểm Lập dàn ý sẽ tránh được tình trạng bỏ sótnhững ý quan trọng hoặc tránh những ý thừa
- Khi có dàn ý cụ thể người viết có thể chủ động phân chia thời gian chohợp lý Tránh tình trạng bài làm mất cân đối “ đầu voi đuôi chuột”
Dàn ý của một bài văn nghị luận gồm:
Trang 12* Mở bài: - Dẫn dắt vấn đề nghị luận (xuất xứ, hoàn cảnh…)
- Nêu vấn đề nghị luận: Trích dẫn lại nhận định ý kiếnhoặc câu văn, câu thơ trong đề tài
- Phạm vi giới hạn của đề
* Thân bài: Phân tích, lý giải, chứng minh, bàn luận để làm rõ vấn
đề nghị luận đã nêu ở phần mở bài Phần thân bài phải đủ ý, các ý phảiđược trình bày một cách rõ ràng, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý Mỗi ý trong phần thân bài được coi là một luận điểm
Có luận điểm lớn lại được chia thành các luận điểm nhỏ và mỗi luậnđiểm lại được trình bày bằng một đoạn văn
- Giới thiệu ý lớn thứ nhất (Luận điểm 1)
+ Ý nhỏ thứ nhất để phân tích, chứng minh bằng lí lẽ,dẫn chứng
Sau đó chuyển sang ý nhỏ thứ hai…
- Giới thiệu ý lớn thứ hai….Cứ như vậy cho đến hết bài
* Kết bài: - Tóm tắt, khẳng định (mở rộng và nâng cao vấn đề).
- Rút ra suy nghĩ, bài học cho bản thân
5.3 Viết bài:
a Kĩ năng viết mở bài, kết bài:
+ Khi viết mở bài cần nêu xuất xứ của vấn đề, nội dung vấn đề (nên tríchdẫn lại ý kiến, nhận định, câu tục ngữ, ca dao )
+ Có thể mở bài bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp
+ Kết bài phải khẳng định được ý nghĩa giá trị của vấn đề
+ Cả hai phần đều phải ngắn gọn, súc tích
b Kĩ năng viết đoạn văn trình bày luận điểm:
+ Luận điểm phải rõ ràng, có thể đặt vị trí đầu hoặc cuối câu tuỳ cách trìnhbày diễn dịch hay quy nạp Các lí lẽ và dẫn chứng cũng phải được sắp xếp theotrình tự hợp lí để làm nổi bật luận điểm (thứ tự thời gian, không gian, mức độtiêu biểu )
Trang 13+ Cách đưa dẫn chứng cũng phải khéo léo: có khi liệt kê, có khi vừa nêuvừa phân tích
c Kĩ năng liên kết đoạn văn:
Có thể dùng từ ngữ hoặc dùng câu để liên kết các đoạn văn.
có thể là: Tóm lại, nhìn chung, nói tóm lại, vậy là tổng kết lại, chung qui lại.
Trang 14+… Càng A (nội dung đoạn trước) … càng B (nội dung khái quát củađoạn sau)
Ví dụ: Khi nghị luận về bài thơ “Khi con tu hú” hoặc bài thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu: “Bị giam cầm cách biệt với thể giới bên ngoài, càng cảm thấy cô đơn bao nhiêu, nhà thơ (Tố Hữu) càng khao khát cuộc sống tự do bấy nhiêu…”
+ Nếu A (nội dung đoạn trước)… thì B (nội dung khái quát của đoạn sau)
Ví dụ khi nghị luận về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố:”… Nếu bọn quan lạidâm dục, tham ô, tàn ác bao nhiêu thì bọn địa chủ lại bủn xỉn, keo kiệt bấynhiêu…”
- Dùng câu hỏi để tự mở ra một ý cho đoạn mới (đoạn văn sau):
+ Ví dụ 1: Khi nghị luận về câu tục ngữ Ăn quả nhớ người trồng cây: “… Vấn đề đặt ra ở đây là, vì sao khi “ăn quả” ta phải nhớ đến “người trồng cây? ””
+ Ví dụ 2: Khi nghị luận về hai câu thơ trong bài “Nửa đêm” (trích Nhật kí trong tù) của Hồ Chí Minh:“… Quan niệm mà Bác nêu ra ở hai câu thơ này có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta cần vận dụng như thế nào cho đúng?”
* Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ đoạn thơ
- Dẫn bài thơ, đoạn thơ
Trang 15Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ trong việc thể hiện nộidung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
* Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
Mở bài: Giới thiệu tác giả tác phẩm Khái quát nội dung và nghệ thuật
chính
Thân bài:
- Tóm tắt tác phẩm
- Làm rõ nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề
- Nêu cảm nhận đánh giá về tác phẩm, đoạn trích
Kết bài:
Nhận xét khái quát về tác phẩm hoặc đoạn trích ( cái hay, độc đáo)
* Nghị luận về nhân vật.
Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu về nhân vật- đánh giá sơ bộ của người viết về nhân vật
Thân bài:
- Phân tích các đặc điểm của nhân vật Dùng lí lẽ, dẫn chứng để làm
sáng tỏ các đặc điểm đó
- Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Dùng lý lẽ và dẫn chứng làm
sáng tỏ Tác dụng của nghệ thuật bao giờ cũng làm nổi bật đặc điểm củanhân vật
Trong quá trình phân tích có thể kết hợp phân tích giữa các đặc điểmnhân vật và nghệ thuật
- Đánh giá chung: Nhân vật đó tiêu biểu cho hạng người nào trong xãhội? Nhân vật đó góp phần đem lại sự thành công cho tác phẩm như thế nào?
Kết bài: Khẳng định lại đặc điểm nhân vật Liên hệ, bài học cho bản
Trang 16- Dẫn ra nguyên văn ý kiến đó.
Thân bài:
- Triển khai các ý, vận dụng các thao tác để làm sáng tỏ nhận định Kết luận:
Khẳng định lại vấn đề, nêu ý kiến, liên hệ bản thân
5.3.2 Kiến thức về lí luận văn học.
5.3.2.1 Nắm các trục quy chiếu và các cặp phạm trù.
5.3.2.1.1 Cặp quy chiếu nhà văn- tác phẩm- bạn đọc
Trục Kiến thức lí luận văn
học liên quan Trả lời cho các câu hỏi
Nhà văn
- Cái tâm và cái tài
- Phong cách văn học
Quá trình sáng tác đòi hỏi điều
gì ở nhà văn? Nhà văn muốn khẳngđịnh được mình thì phải cần nhữngđiều kiện nào? Những điều kiện ấyliên quan gì đến vấn đề cần bàn?
Độc giả
Quá trình tiếp nhận Người đọc mong chờ điều gì
khi tìm đến tác phẩm văn học? Làmthế nào để tác phẩm có thể ghi dấu
ấn trong tâm hồn độc giả? Nhữngđiều ấy có liên quan gì đến vấn đềcần bàn? Quá trình tiếp nhận cónhững đặc điểm gì? Những đặcđiểm ấy liên quan gì đến vấn đề cầnbàn?
5.3.2.1.2 Cặp phạm trù lí luận văn học.
Trang 17Trong hệ thống kiến thức lí luận văn học có những yếu tố gắn liềnvới nhau, chúng có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời Học sinh cầnnắm chắc một số cặp phạm trù sau: Tư tưởng- tình cảm; Nội dung- hìnhthức; cái tâm- cái tài;sáng tạo- đồng sáng tạo…vv
Một vấn đề lí luận chỉ trọn vẹn khi nó được đặt trong mối quan hệ
biện chứng với các yếu tố liên quan Ví dụ: “Thơ hay cả hồn lẫn xác hay cả bài” Đề văn này đề cập đến cặp phạm trù nội dung và hình thức trong tác
phẩm văn học
5.3.2.2: Kiến thức về chức năng của văn học.
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích, ý nghĩa xã hội củavăn học Mĩ học và lí luận nghệ thuật macxít hiện nay cho rằng văn học có nhiềuchức năng song tựu chung lại nó có các chức năng chủ yếu sau đây: Chức năngnhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ
Trước hết là chức năng nhận thức
Văn học với chức năng nhận thức, phản ánh có thể đưa lại cho con ngườibiết bao tri thức Văn học có thể đưa ta về với quá khứ xa xưa, làm sống lạitrong ta hình ảnh các phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ, niềm vui nỗi buồn,cái sướng cái khổ, lời ăn tiếng nói…; tóm lại là đời sống tinh thần và đời sống
vật chất của cha ông, của nhân loại bao đời nay Người ta nói: Văn học là bộ Bách khoa toàn thư về cuộc sống.
Nội dung chính của chức năng nhận thức văn học là nhận thức về conngười Ý nghĩa nhận thức về con người của văn học bộc lộ trong nhiều mặt khácnhau: trong việc khám phá ra tính cách xã hội điển hình của một giai đoạn, một
xã hội, một tầng lớp nào đó (ví dụ: Lão Hạc, chị Dậu…); trong những lí giải về
số phận con người (như Truyện Kiều, …); và đặc biệt là sự thâm nhập vào thế
giới bên trong của con người, vào các quá trình tư duy và tình cảm con người.Nghệ thuật không giải phẫu cơ thể nhưng nó là sự giải phẫu tinh thần con người,
đi vào những ngõ ngách tâm hồn con người, cao hơn là giúp con người nhậnthức bản thân mình: giá trị của mình, vị trí của mình, biết mình phải làm gì và cóthể làm gì cho cuộc sống
Một đặc điểm đáng chú ý của nhận thức nghệ thuật là ở đây dường như
“biết” chưa đủ mà còn “hiểu” mới là cái chính Tác phẩm thường không nói cái
gì hoàn toàn chưa biết, chưa nghe, chưa nói bao giờ Nghệ thuật là sự ngạc nhiên
Trang 18vì khám phá ra điều mới mẻ trong cái quen thuộc hàng ngày, nhận ra cái chí lýsâu xa trong những gì bình thường, đơn giản.
Thứ hai là: Chức năng giáo dục
Văn học có chức năng giáo dục ở chỗ nó góp phần tích cực trong việc bồidưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức…, nói một cách khái quát là góp phầnhình thành, nâng cao, phát triển nhân cách con người Nghệ thuật trở thànhphương tiện tác động quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, tư tưởng, tìnhcảm; bởi vì văn nghệ chính là tình cảm, văn nghệ tác động vào con người cũng
là tác động vào tình cảm Văn nghệ giáo dục con người bằng con đường tìnhcảm, vì thế mà văn nghệ là vũ khí rất sắc bén
Con đường văn nghệ đến với độc giả, tác động, cải biến độc giả rất tinh tế.Văn nghệ không phải là người thầy thuyết giáo đạo đức mà như một người bạnđồng hành tâm tình, đối thoại với độc giả về những vấn đề nhân cách: lương tri
và tội lỗi, cao thượng và thấp hèn, thiện và ác…Văn nghệ như một tấm gương
để người đọc tự soi mình vào đó, người đọc hiểu mình và tự thanh lọc tình cảm
của mình theo cái thiện Văn nghệ chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục.
Người đọc say mê vẻ đẹp hình tượng, tự nguyện sống theo vẻ đẹp hình tượng.Cuối cùng cũng cần lưu ý thêm rằng, sở dĩ nghệ thuật dễ tác động, cải biếnđược con người là vì nó hấp dẫn, vui tươi Ở đây dường như giáo dục, giải trí,vui chơi là một Thậm chí chính trong những tác phẩm có vẻ thiếu “nghiêmchỉnh” nhất (như các thể loại hài hước, châm biếm) thì việc giáo dục, trước hết
là giáo dục đạo đức, lại được đặt ra hết sức nghiêm chỉnh Chính vì sức mạnh cảibiến, tác động của văn học âm thầm mà mãnh liệt như vậy nên rất đòi hỏi ởngười nghệ sĩ lương tâm, trách nhiệm trước ngòi bút của mình; tránh lối viết cẩuthả để rồi gây nên những tác động xấu đến sự phát triển, hoàn thiện nhân cáchcủa con người
Thứ ba là: Chức năng thẩm mĩ
Nhìn chung chức năng thẩm mĩ của văn học bộc lộ ở chỗ nó có nhiệm vụthỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Cần hiểu rằng nhu cầu hưởng thụ cáiđẹp là nhu cầu rất tự nhiên, mang tính bản chất của con người Dù ở đâu, làm gì,khi nào con người cũng luôn có xu hướng vươn tới cái đẹp Thỏa mãn nhu cầu
về cái đẹp không phải chỉ riêng văn học nhưng văn học thiên về cái đẹp nhiềuhơn cả Nhà mĩ học, nhà phê bình văn học nổi tiếng nước Nga Biêlinxki đã nói:
Trang 19“Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật Đó là một định lý”.
Văn học thể hiện chức năng thẩm mĩ, nghĩa là đưa cái đẹp đến với đến vớicon người thông qua hình tượng nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật trong tácphẩm văn học là kết quả sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ sau quá trình côngphu nhào nặn chất liệu tự nhiên Một Nguyễn Bá Ngọc dũng cảm cứu bạn thoátchết khỏi bom Mĩ nhưng mình lại hy sinh Một Phan Đình Giót lấy thân mìnhlấp lỗ châu mai cho bộ đội ta tiến lên diệt giặc Pháp Một cuộc đời “nâng niu tất
cả chỉ quên mình" của Bác Hồ Một tiếng chửi của Hồ Xuân Hương “Chém chacái kiếp lấy chồng chung” Một tiếng chim chiền chiện hót trên cao Một ángmây chiều nhè nhẹ trôi trên bầu trời Tất cả đều đẹp! Văn học sẽ giúp ta nhận racái đẹp đó Mặt khác, thấy Sở Khanh ta ghét, Bá Kiến ta thù…Cái ghét, cái thù
đó cũng đưa ta đến với cái đẹp bằng con đường phản cảm Đưa con người đếnvới cái đẹp, lí luận coi đó là chức năng thẩm mĩ của văn học
5.3.2.3: Phong cách văn học.
5.3.2.1 Khái niệm phong cách văn học.
Phong cách văn học là những nét độc đáo, riêng biệt trong cách cảm nhận
và tái hiện đời sống của một tác giả, được thể hiện qua các yếu tố nội dung vàhình thức nghệ thuật của từng tác phẩm cụ thể Yếu tố cốt lõi của phong cách là
cái nhìn mang tính phát hiện , in đậm dấu ấn riêng của người nghệ sĩ: “ Thế giới được tạo lập không phải một lần mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (M Pru- xtơ).
Phong cách còn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Trong phong cáchriêng của mỗi tác giả, người ta có thể nhận ra diện mạo tâm hồn, tính cách của
một dân tộc và “ Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại, mà nó ra đời” (Tô Hoài).
Chẳng hạn qua những hiểu biết phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, cóthể thấy nét riêng của tâm hồn Việt Nam và dấu ấn thời đại “ dâu bể”
Phong cách văn học hay phong cách nghệ thuật nảy sinh do chính nhữngnhu cầu của cuộc sống, bởi vì cuộc sống luôn đòi hỏi sự xuất hiện những nhân tốmới mẻ, những cái không lặp lại Phong cách là những nét riêng biệt, độc đáocủa một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, những nét độcđáo ấy thể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của từng tác phẩm.Nói cách khác, phong cách là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việcđưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương
Trang 20thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân người sáng tác Vì thế,
Buy-phông viết: “Phong cách chính là người” Trong tác phẩm của Sếch-xpia
“mỗi một ưu điểm nhỏ nhất cũng in dấu ấn riêng, dấu ấn đó có thể lập tức nói với toàn thế giới rằng: Tôi là Sếch-xpia” (Lét-xinh).
5.3.2.2 Những biểu hiện của phong cách văn học.
+ Phong cách vãn học trước hết được biểu hiện qua cái nhìn và giọng điệuđộc đáo, riêng biệt của tác giả Ví dụ: Cái nhìn tài hoa, có khả năng khám phámọi đối tượng từ phương diện thẩm mĩ của Nguyễn Tuân Qua cái nhìn ấy, thiênnhiên hiện lên như những công trình mĩ thuật hoàn hảo của tạo hoá; con ngườiluôn tiềm ẩn tư chất nghệ sĩ, tài hoa, tài tử Giọng điệu trào phúng của NguyễnKhuyến thì hóm hỉnh, thâm trầm trong khi tiếng cười của Tú Xương lại châmbiếm sâu cay, đả kích quyết liệt
+ Các lớp nội dung của tác phẩm như đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, cũng là những yếu tố thể hiện phong cách văn học Nói đến Nam Cao là người tanghĩ ngay tới một nhà văn của "những kiếp lầm than”, một người cầm bút vớitâm hồn rộng mở để đón nhận "những vang động của đời"
+ Phong cách văn học còn được biểu hiện qua hệ thống các phương tiệnnghệ thuật mà nhà văn lựa chọn để tái hiện đời sống, từ cách dùng từ, lối cấu tạocâu đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức kết cấu Tô Hoài nổi tiếng là nhàvăn giỏi miêu tả phong tục, giỏi khắc hoạ nét đẹp riêng trong cảnh vật và tínhcách con người của một vùng đất Nguyễn Tuân xứng đáng với danh hiệu bậcthầy trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ với khả năng sáng tạo những từ ngữ, hìnhảnh mới lạ, bất ngờ; những câu văn giàu chất nhạc, chất hoạ, linh hoạt như "biết
co duỗi nhịp nhàng"
+ Trong biểu hiện của phong cách văn học luôn có sự hoà quyện giữa cácyếu tố định hình, thống nhất và sự biến đổi đa dạng, phong phú Và điều quantrọng nhất là phong cách phải có ý nghĩa thẩm mĩ - mang đến cho người đọcnhững tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ phong phú
Độc đáo, đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới, nhưng phong cách còn phải
có phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ
mĩ cảm dồi dào qua những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, hay, sinh động, hấpdẫn Chỉ khi đó dấu ấn của phong cách trong quá trình văn học mới được ghinhớ mãi mãi, nói một cách hình ảnh như nhà thơ Lê Đạt:
Mỗi công dân đều có một dạng vân tay
Trang 21Mỗi nhà thơ thứ thiệt có một dạng vân chữ Không trộn lẫn.
(Vân chữ)
5.3.2.4: Tiếp nhận văn học.
* Khái niệm: Tiếp nhận văn học là sống với tác phẩm, rung động với nó,vừa đắm chìm trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm, vừa tỉnh táo lắng nghetiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp và tài nghệ của tác phẩm vàtác giả Tiếp nhận văn học còn là dùng tưởng tượng, kinh nghiệm sống và tâmhồn mình để hình dung hình tượng tác phẩm một cách sinh động
- Hai tính chất cơ bản:
+ Tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận Cácyếu tố thuộc về cá nhân có vai vai trò quan trọng: năng lực, thị hiếu, sở thích,lứa tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống, Tính khuynh hướng trong tưtưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm mĩ làm cho sự tiếp nhận mang đậm nét cánhân Chính sự chủ động, tích cực của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sứcsống cho tác phẩm
+ Tính đa dạng, không thống nhất: cảm thụ, đánh giá của công chúng vềmột tác phẩm rất khác nhau, thậm chí cùng một người ở nhiều thời điểm cónhiều khác nhau trong cảm thụ đánh giá Nguyên nhân ở cả tác phẩm (nội dungphong phú, hình tượng phức tạp, ngôn ngữ đa nghĩa, ) và người tiếp nhận(tuổi tác, kinh nghiệm, học vấn, tâm trạng, )
*Các cấp độ tiếp nhận văn học
- Cảm thụ chỉ tập trung vào nội dung cụ thể muốn tìm xem toàn bộ câuchuyện tác giả muốn nói gì
- Cảm thụ qua nội dung trực tiếp để thấy nội dung tư tưởng của tác phẩm
- Cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức nghệ thuật, thấy được cả giátrị tư tưởng và giá trị nghệ thuật Đây là cách đọc sâu sắc nhất đòi hỏi ngườiđọc không chỉ hiểu mà còn phải có năng lực cảm thụ văn chương
5.3.2.3.1 Tiếp nhận trong đời sống văn học:
Bên cạnh hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để tồn tại và phát triển,loài người còn có hoạt động sản xuất rất quan trọng đó là sản xuất ra của cải tinhthần Văn chương nghệ thuật là một trong những dạng sản xuất của cải tinh thần
Trang 22của con người Quá trình sản xuất ra của cải tình thần – tác phẩm nghệ thuậtdiễn ra như thế nào? Phải chăng khi nhà văn nung nấu ý đồ rồi lập sơ đồ, viết,sửa chữa và hoàn thành tác phẩm là quá trình sản xuất tinh thần đã hoàn tất?Không phải như vậy Hiểu một cách đúng đắn và nghiêm ngặt thì xong khâu sửachữa, việc sáng tạo nghệ thuật mới chỉ hoàn thành được một công đoạn trong cảquá trình sản xuất Đó là công đoạn hoàn thành văn bản tác phẩm Nếu ví tácphẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của nhà văn, nhà văn thai nghén, mangnặng đẻ đau thì hoàn thành văn bản tác phẩm chỉ ứng với lúc đứa con sinh ra,đứa con chào đời Còn sự sống, cuộc đời, số phận của nó thế nào thì chưa đượcnói đến Số phận của đứa con sẽ được định đoạt như thế nào là tùy thuộc vào nó
và xã hội xung quanh Số phận của tác phẩm nghệ thuật như thế nào là tùy thuộcvào nó và những người tiếp nhận nó Chỉ đến khi được người đọc tiếp nhận thìhoạt động sáng tạo nghệ thuật mới hoàn tất Hoạt động sản xuất tinh thần nàycũng giống như hoạt động sản xuất vật chất Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hànhđộng sản xuất Một vật phẩm làm ra nhưng không được đưa vào sử dụng thì nóchẳng có ích lợi gì cho sự sống, nó chẳng có giá trị gì cả Một tác phẩm nghệthuật được viết xong nằm im trong ngăn kéo của nhà văn hoặc không được aiđoái hoài tới thì chưa phải là tác phẩm nghệ thuật thực sự Vì nó chưa được sửdụng Nghệ thuật có chức năng giao tiếp, khi chưa được giao tiếp với người đọcthì nghệ thuật chưa sống đúng với vai trò của nó Quá trình giao tiếp của nghệthuật là quá trình sử dụng sản phẩm của nghệ thuật, là quá trình phát huy tácdụng chức năng của nghệ thuật Quá trình đó xác định con đường sống, số phậnlịch sử của tác phẩm nghệ thuật
Sơ đồ của quá trình sáng tác – giao tiếp của văn chương như sau:
Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọcNhư vậy, có 3 giai đoạn của quá trình sinh tồn tác phẩm văn chương: Giaiđoạn 1 là giai đoạn hình thành ý đồ sáng tác, giai đoạn 2 là giai đoạn sáng tác.Đây là giai đoạn ý đồ sáng tác cộng với tài năng sáng tạo được vật chất hóatrong chất liệu ngôn ngữ, thành tác phẩm Giai đoạn 3 là giai đoạn tiếp nhận củabạn đọc Đây là giai đoạn văn bản tác phẩm thoát li khỏi nhà văn để tồn tại mộtcách độc lập trong xã hội, trong từng người đọc
5.3.2.3.2 Bàn về sự đồng cảm giữa nhà văn và bạn đọc.
M.Gor-ki từng khẳng định: “Người tạo ra tác phẩm là tác giả nhưng người quyết định số phận tác phẩm là độc giả” Tác phẩm văn chương chỉ sống
Trang 23được trong lòng độc giả Thế nhưng không phải bạn đọc nào cũng hiểu được tácphẩm, hiểu được thông điệp thẩm mĩ của tác giả Thực tế văn học đã có biết baochuyện đáng buồn: Người đọc hiểu hoàn toàn sai lệch giá trị của tác phẩm và tưtưởng của nhà văn Cho nên ở bất cứ thời đại nào, bất cứ nền văn học của dântộc nào cũng đều rất cần tiếng nói tri âm của bạn đọc dành cho tác giả Tiếpnhận văn học thực chất là một quá trình giao tiếp Sự giao tiếp giữa tác giả vớingười tiếp nhận là mối quan hệ giữa người nói với người nghe, người viết vàngười đọc, người bày tỏ và người sẻ chia cảm thông Bao giờ người viết cũngmong người đọc hiểu mình, cảm nhận được những điều mình muốn gửi gắm, kí
thác “ Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà ta bỏ xuống được.
Ta sẽ dùng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ Tất cả tâm hồn chúng ta đọc”.
Thế nhưng cơ sở nào đem lại sự cảm thông, chia sẻ giữa người đọc vàngười viết? Trước hết cần được bắt đầu bằng qui luật sáng tạo nghệ thuật Ngườinghệ sĩ cầm bút trước tiên là để giải bày lòng mình Khi những trăn trở, suynghĩ, day dứt, dằn vặt, vui hay buồn không thể nói với ai thì người nghệ sĩ tìm
đến văn học, bởi “thơ là tiếng lòng”, là tiếng nói hồn nhiên nhất của trái tim.
Người nghệ sĩ sáng tác trước hết là cho chính mình và cho những người thực sựhiểu mình mà thôi Phải chăng vì vậy mà khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến
đã đắn đo: “Câu thơ nghĩ đắn đo không viết/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa” Thế nhưng thơ là “tiếng nói đồng điệu đi tìm những tâm hồn đồng điệu” Nhà thơ đồng thời là bạn đọc thơ, như Tế Hanh nói: Đọc thơ đồng chí ngỡ thơ mình Nhà
văn viết tác phẩm như rải phấn thông vàng đi khắp nơi, mong có người theophấn mà tìm về Cho nên, bạn đọc là một mắt xích quan trọng trong chu trìnhsáng tác – tiếp nhận tác phẩm Bạn đọc cũng là người có suy nghĩ, tình cảm,cảm xúc, có niềm vui và nỗi buồn, có cảnh ngộ và tâm trạng, nhiều khi bắt gặp
sự đồng điệu với nhà văn, nhà thơ Khi hai luồng sóng tâm tình ấy giao thoa thìtác phẩm sẽ rực sáng lên, trở thành nhịp cầu nối liền tâm hồn với tâm hồn, tráitim với trái tim Muốn vậy, người nghệ sĩ ngôn từ phải là người vừa hiểu mình,vừa hiểu người Hiểu khát khao mà mình muốn hướng tới và hiểu người đọcmong muốn điều gì, nói cách khác là phải thấu hiểu mong muốn, khát vọng, củacon người, phải xem những nhu cầu của người đọc là mục đích sáng tạo của thơca
Trang 24Những câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thếnào? luôn là những câu hỏi mà mỗi người nghệ sĩ ngôn từ cần đặc biệt quan tâmmỗi khi cầm bút
Như vậy, tiếng nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn họcdân tộc nào, thời đại nào cũng hướng tới Điều đó đặt ra yêu cầu đối với nghệ sĩphải sáng tác những tác phẩm bằng những cảm xúc chân thành nhất, da diếtnhất, hướng tới và ngợi ca những giá trị Chân - Thiện - Mĩ muôn đời Và ngườiđọc, hãy sống hết mình với tác phẩm để hiểu được thông điệp thẩm mĩ của tácgiả, để chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu nỗi lòng, những khát vọng tác giả gửi gắm
5.3.2.5 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học.
Nội dung và hình thức tác phẩm văn học là hai phương diện cơ
bản thống nhất không thể tách rời của các tác phẩm văn học.
Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảmnhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau Trước hết, tác phẩm văn họccung cấp cho người đọc những biểu hiện phong phú, nhiều vẻ và độc đáo củađời sống mà tính loại hình của chúng tạo thành đề tài của tác phẩm Vấn đề quantrọng nhất nổi lên từ đề tài, buộc tác giả phải bày tỏ thái độ, có ý kiến đánh giá
là chủ đề Ý kiến của tác giả trước vấn đề được nêu ra trong tác phẩm là tưtưởng Thái độ đánh giá, nhiệt tình bảo vệ tư tưởng tạo nên cảm hứng chủđạo hay cảm hứng tư tưởng Quan niệm về thế giới và con người được dùng làm
hệ quy chiếu để tác giả xác định đề tài, chủ đề, lý giải thế giới của tác phẩm cócội nguồn sâu xa trong thế giới quan Cuối cùng, tương quan giữa sự biểu hiệncủa đời sống và sự cảm thụ chủ quan tạo nên nội dung thẩm mỹ của hình tượng.Nội dung tác phẩm là kết quả khám phá, phát hiện khái quát của nhà văn Sựlược quy nội dung này vào các phạm trù xã hội học sẽ làm nghèo nàn nội dungtác phẩm
Nội dung tác phẩm văn học chỉ tồn tại bằng hình thức và qua hình thức tácphẩm Đó là cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào nộidung tác phẩm Văn bản ngôn từ là yếu tố thứ nhất của hình thức tác phẩm có
hai chức năng: vẽ ra bức tranh đời sống và biểu hiện thái độ, cái nhìn của chủ
thể lời nói bằng phương tiện ngôn ngữ Đến lượt mình, “bức tranh đời sống” của
tác phẩm lại trở thành văn bản hình tượng mà ý nghĩa của các thành tố của nó
như chi tiết, tình tiết, nhân vật, cốt truyện, nhịp điệu trong toàn bộ thể hiện các