1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tích hợp kiến thức các môn lịch sử, địa lí, gdcd vào giảng dạy đoạn trích đất nước (trích trường ca mặt đường khát vọng

41 31 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chương trình Ngữ văn lớp 12, tôi thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học tích hợp các kiến thức liên môn này hơn hẳn nhữ

Trang 1

1

MỤC LỤC

1 Lời giới thiệu 3

2 Tên sáng kiến: 4

3 Tác giả sáng kiến: 4

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: 4

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 4

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4

7 Mô tả bản chất của sáng kiến: 4

7.1 Cơ sở sáng kiến: 4

7.1.1 Cơ sở lí luận của vấn đề 4

7.1.2 Cơ sở thực tiễn 7

7.1.3 Biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 8

* Tích hợp kiến thức môn Lịch sử trong dạy học đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm 9

* Tích hợp môn Địa lí trong dạy học văn bản Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm 11

* Tích hợp môn Giáo dục công dân trong dạy học đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm 12

* Tích hợp nội môn trong dạy học văn bản Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm 13

7.4 Khả năng áp dụng của sáng kiến 38

8 Những thông tin cần được bảo mật (không): 38

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 38

9.1 Với nhà trường: 38

9.2 Với giáo viên: 38

9.3 Với học sinh: 39

10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu 39

10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 39

10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân 40

11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): 40

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 3

3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác Học môn Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Ngữ văn Cho nên tự nó cũng toát lên yêu cầu tăng cường tính

thực hành giảm lý thuyết, gắn với đời sống

Hơn nữa, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hình thành nên những kiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn bị cho các em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên những bậc học cao hơn Đó cũng chính là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai

Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung và

Ngữ văn lớp 12 nói riêng đồng thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy theo tinh thần đổi mới sách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cần được quan tâm nhất hiện nay Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy học hiện đại

Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả nhận thức,

có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời từng phương diện kiến thức, đồng thời phát triển tư duy biện chứng, khả năng thông hiểu và vận dụng kiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn học, phân môn cụ thể trong chương trình học tập theo nhiều cách khác nhau Và vì thế việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu

bền hơn

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chương trình Ngữ văn lớp 12, tôi thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học tích hợp các kiến thức liên môn này hơn hẳn những phương pháp trước đây được vận dụng Tính ưu việt của phương pháp thể hiện rõ qua thái độ, niềm say mê, kết quả tiếp nhận của học sinh trong từng bài học Tiếp nối vấn đề đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài

“Tích hợp kiến thức các môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân vào giảng dạy

Trang 4

4

đoạn trích Đất Nước (Trích trường ca “Mặt đường khát vọng”, Nguyễn Khoa

Điềm, Ngữ văn 12)”

2 Tên sáng kiến:

TÍCH HỢP KIẾN THỨC CÁC MÔN LỊCH SỬ, ĐỊA LÍ, GDCD

VÀO GIẢNG DẠY ĐOẠN TRÍCH

ĐẤT NƯỚC (TRÍCH TRƯỜNG CA “MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG”–

NGUYỄN KHOA ĐIỀM) MÔN NGỮ VĂN 12

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Lê Thị Hải Yến (15/07/1990)

Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Lê Xoay – Thị trấn Vĩnh Tường huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc

Số điện thoại: 091 555 3832 E_mail: haiyenk53spnv@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

Lê Thị Hải Yến – Trường THPT Lê Xoay – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

- Giảng dạy văn bản đoạn trích Đất Nước – trích trường ca Mặt đường khát vọng

của Nguyễn Khoa Điềm; Ngữ văn lớp 12

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

Trang 5

Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống

Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung DH trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình DH Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết

Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là một trong những quan điểm

GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong DH

và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định

Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống Trước hết phải thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại thành của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp Mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ

Trang 6

Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổ sung lẫn nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận đựợc để tạo nên tính bền vững của quá trình DH các môn học

Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với các mức độ thấp và khác nhau như: Lồng ghép - là đưa thêm nội dung cần học tương tự với môn học chính; tích hợp - là sự kết hợp tri thức của nhiều môn học tạo nên môn học mới

Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã được

GV tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn GV lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn” Các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng

7.1.1.2 Tích hợp trong môn Ngữ văn

Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt HS từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất Giờ học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt động, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân môn”

Ngày nay nhiều lí thuyết hiện đại về quá trình học tập đã nhấn mạnh rằng hoạt động của HS trước hết là học cách học Theo ý nghĩa đó, quan điểm dạy học tích hợp đòi hỏi GV phải có cách dạy chú trọng phát triển ở HS cách thức lĩnh hội kiến thức và năng lực, phải dạy cho HS cách thức hành động để hình thành kiến thức và kĩ năng cho chính mình, phải có cách dạy buộc HS phải tự đọc, tự học để hình thành thói quen tự đọc, tự học suốt đời, coi đó cũng là một hoạt động đọc hiểu trong suốt quá trình học tập ở nhà trường

Trang 7

7

Quan điểm dạy học tích hợp hay dạy cách học, dạy tự đọc, tự học không coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho HS Vấn đề là phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành, phát triển năng lực, tiềm lực cho HS Đây thực chất là biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình HS tự ý thức về phương pháp chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng Muốn vậy, chẳng những cần khắc phục khuynh hướng dạy tri thức hàn lâm thuần tuý đã đành, mà còn cần khắc phục khuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, ít có khả năng sử dụng vào đọc hiểu văn bản, vào những tình huống có ý nghĩa đối với HS, coi nhẹ kiến thức, nhất là kiến thức phương pháp

Tóm lại, “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong SGK, tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo Quan điểm “lấy HS làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của HS, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho HS thì các em mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và

như vậy đào tạo mới có kết quả.” (Chương trình THPT môn Ngữ văn - Bộ

GD&ĐT, năm 2002)./

7.1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy phương pháp giảng dạy truyền thống giữa các phân môn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau tách rời từng phương diện kiến thức, học sinh hoạt động chưa tích cực, hiệu quả đem lại cũng chưa cao

Chính vì lẽ đó, dạy học theo quan điểm tích hợp là một xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống

và lôgic Qua đó học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong chương trình, vận dụng các kiến thức lí thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được những kiến thức về văn, Tiếng Việt vào quá trình tạo lập văn bản một cách hiệu quả

Có nhiều hình thức tích hợp: Kiểu tích hợp giữa các phân môn trong cùng một bộ môn (chẳng hạn ở môn Ngữ văn có Văn - Tiếng Việt -Tập làm văn) Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa các phân môn một cách đồng bộ và

Trang 8

8

sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phân môn khác và đều hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao trình độ sử dụng tiếng mẹ đẻ và năng lực cảm thụ văn học cho học sinh

Hình thức tích hợp được các GV vận dụng và hiện đang được đẩy mạnh là tích hợp liên môn

Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học với các kiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ thuật khác, cũng như các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh

7.1.3 Biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

7.1.3.1 Một số kinh nghiệm dạy học tích hợp môn Ngữ văn THPT

* Xác định đúng nội dung, mục tiêu tích hợp

Để vận dụng phương pháp dạy học tích hợp có hiệu quả, người dạy cần phải xác định chính xác, đúng đắn mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, phương pháp tích hợp trong bài dạy

- Mục tiêu:

+ Khắc sâu kiến thức bài học

+ Thể hiện tính liên kết, mối quan hệ hữu cơ của chương trình

+ Rèn luyện kĩ năng tiếp nhận văn học cho HS

- Nội dung:

+ Các nội dung kiến thức có những điểm liên quan, tương đồng với các bài đã học + Các nội dung kiến thức cần đến việc sử dụng kiến thức của các bộ môn khác, phân môn khác để làm phương tiện, công cụ khai thác

- Nguyên tắc

+ Căn cứ vào mục tiêu cần đạt của tiết học

+ Căn cứ vào nội dung chương trình (các bài học trước hoặc sau bài cần dạy có liên quan)

- Phương pháp:

+ Xác định nội dung, phạm vi kiến thức cần tích hợp

Trang 9

GV cần xác định mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp cụ thể để tích hợp

* Sử dụng linh hoạt các hình thức tích hợp: Có ba hình thức tích hợp cơ bản sau:

- Tích hợp ngang: Là hình thức tích hợp liên phân môn và là hình thức tích hợp theo từng thời điểm Đối với môn Ngữ văn, GV sử dụng tri thức của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Lí luận văn học để giải mã văn bản văn học hoặc ngược lại

- Tích hợp dọc: Tích hợp theo thể loại, đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học Mục đích của việc tích hợp này chủ yếu là so sánh, đối chiếu giữa các bài học có cùng

đề tài, chủ đề, các đơn vị kiến thức có quan hệ tương đồng để khắc sâu kiến thức cho HS, giúp HS nhận ra những điểm giống nhau và khác biệt của các nội dung cần quan tâm trong bài dạy văn bản văn học

- Tích hợp liên môn: Đây là mô hình giáo dục khá phù hợp với chương trình dạy học Ngữ văn tại các trường THPT Để thực hiện tích hợp môn Ngữ văn với các môn học khác, GV cần có hiểu biết rộng về nội dung các môn học khác như: Lịch

sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Sinh học, Tiếng Anh… Điều này đòi hỏi GV phải

mở rộng kiến thức, tăng cường trao đổi kiến thức với GV các bộ môn khác

7.1.3.2 Phạm vi kiến thức vận dụng tích hợp liên môn và biện pháp cụ thể để giảng dạy đoạn trích “Đất Nước”

Một trong những phương pháp giúp HS hứng thú, say mê học tập văn bản

Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm là GV và HS vận dụng kiến thức liên môn và

nội môn vào chiếm lĩnh văn bản một cách phù hợp Sau đây là một số giải pháp cụ thể:

* Tích hợp kiến thức môn Lịch sử trong dạy học đoạn trích Đất Nước của

Nguyễn Khoa Điềm

Mục I Tiểu dẫn; mục 2 Tác phẩm; mục a Hoàn cảnh ra đời, GV tích hợp kiến

thức môn Lịch sử lớp 12 (Bài 22 Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống

đế quốc Mĩ xâm lược 1965-1973) để giúp HS hiểu rõ hơn hoàn cảnh ra đời bài

thơ

Trang 10

10

GV dùng máy chiếu cho HS quan sát hình ảnh và hỏi: Em hãy quan sát hình ảnh và trình bày những hiểu biết của mình về cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta trong những năm 1965 – 1973?

HS quan sát tranh và dùng những hiểu biết về cuộc kháng chiến chống Mĩ giai đoạn này để trả lời GV nhận xét, bổ sung, chốt ý:

+ Sau thất bại của chiến tranh cục bộ, vào đầu năm 1969, Mĩ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đồng thời mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương

+ “Việt Nam hóa chiến tranh” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ, được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần của Mĩ và vẫn do cố vấn Mĩ chỉ huy nhằm chống nhân dân ta Tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ tiếp tục thực hiện âm mưu

“Dùng người Việt đánh người Việt” để giảm xương máu người Mĩ trên chiến trường

+ Một số hình ảnh về vụ thảm sát ở Mĩ Lai – một tội ác của đế quốc Mĩ trên đất nước ta giai đoạn 1969-1971

+ GV thuật lại lời kể của nhà thơ về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để HS hiểu rõ hơn về đoạn trích đồng thời tạo tâm thế tiếp nhận và định hướng tiếp nhận cho HS:

“Chương V là một chương lớn Tôi viết chương này trong những ngày mưa triền miên sau Tết Đó là thời kì máy bay Mĩ đánh phá dữ dội B52 giội liên tục, làm cho mọi thứ tối tăm mù mịt Chúng tôi ngồi trong hầm và viết, cảm xúc được cộng hưởng bởi tiếng bom nổ, bởi khói bom và mưa rừng Có khi viết xong, một trận bom làm cho bản thảo bay tung tóe, lượm lại trang còn trang mất, lại ngồi viết tiếp Tôi viết rất nhanh, như cảm xúc đã dồn tụ một cách mãnh liệt giờ chỉ có việc tuôn chảy ra thôi Tôi viết về những điều giản dị của chính tôi, về tuổi trẻ và các bạn bè đang tranh đấu ở trong thành phố Nên nhân vật của tôi là anh và em Đó là lời đằm thắm của một người con trai nói với một người con gái Chúng tôi, mỗi người

có một số phận khác nhau nhưng đều gắn kết trong một số phận chung là số phận đất nước Đất nước với các nhà thơ khác là của những huyền thoại, của những anh hùng, nhưng với tôi là của những con người vô danh, của nhân dân”

Ý nghĩa:

Trang 11

11

- Từ biện pháp tích hợp kiến thức Lịch sử vào dạy học bài thơ Tây Tiến của Quang

Dũng, chúng ta thấy rõ hiệu quả bài học như sau:

- Đặt bài thơ trong bối cảnh lịch sử ra đời thì toàn bộ giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm mới được bộc lộ một cách đầy đủ và sâu sắc

- Tích hợp kiến thức Giáo dục công dân: Giáo dục học sinh lòng yêu nước, thái độ

trân trọng, biết ơn trước sự hy sinh, tinh thần chiến đấu anh dũng, quả cảm của các thế hệ cha anh đi trước Từ đó, hướng HS đến những việc làm cụ thể, thiết thực để tiếp nối truyền thống dân tộc, góp phần dựng xây đất nước giàu đẹp

- Biện pháp này giúp cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn, mở rộng kiến thức liên môn, tránh sự nhàm chán, đơn điệu

Tuy nhiên trong quá trình vận dụng, GV phải lựa chọn tài liệu phù hợp, đảm bảo hai tiêu chuẩn: giá trị giáo dục và giá trị văn học Tài liệu lịch sử không làm mất đi đặc trưng nội dung văn bản văn học, phân tán sự chú ý của HS vào những vấn đề đang học

* Tích hợp môn Địa lí trong dạy học văn bản Đất Nước của Nguyễn Khoa

Điềm

- Mục II Đọc – hiểu văn bản; Mục 2 Đoạn 2: Tư tưởng cốt lõi: Đất Nước của Nhân dân Khi phân tích đoạn thơ “Những người vợ nhớ chồng đã góp cho đất

nước những núi Vọng Phu…… Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”, GV chiếu

hình ảnh về cảnh đẹp non sông và cung cấp thêm thông tin về các địa danh này Cụ thể như sau: núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, đền Gióng, đền thờ các vua Hùng, núi Bút, non Nghiên, sông Cửu Long, núi bà Đen, núi Bà Điểm, sông Ông Đốc,…

Tuy nhiên để thực hiện được biện pháp liên môn này đòi hỏi GV phải khéo léo, nắm chắc phương pháp, kiến thức khoa học và thực tiễn

Trang 12

12

* Tích hợp môn Giáo dục công dân trong dạy học đoạn trích Đất Nước của

Nguyễn Khoa Điềm

- Mục II Đọc – hiểu văn bản; Mục 2 Đoạn 2: Tư tưởng cốt lõi: Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân Khi nói về lí tưởng, khát vọng của người chiến sĩ Tây Tiến,

GV tích hợp với Giáo dục công dân Lớp 10 (Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc)

GV chiếu câu hỏi lên bảng: từ sự đóng góp, hy sinh của những con người vô danh, bình dị đối với đất nước, em hãy liên hệ đến tinh thần trách nhiệm, lí tưởng của thế hệ trẻ ngày nay đối với công cuộc bảo vệ đất nước?

GV phát và yêu cầu HS điền câu trả lời vào phiếu học tập mà mình đã chuẩn

bị sẵn Câu trả lời của HS có thể hướng đến một số nội dung sau:

Bác Hồ đã dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Ngày nay, đất nước đã hoàn toàn thống nhất nhưng chúng ta

vẫn phải luôn cảnh giác, chống lại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù để bảo vệ Tổ quốc

Là những công dân trẻ tuổi yêu nước, thanh niên HS chúng ta có trách nhiệm:

- Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa Cảnh giác trước mọi âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái

độ, việc làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

- Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe

- Tham gia đăng kí nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc

- Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa các gia đình thương binh, liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng do nhà trường, địa phương tổ chức

- Vận động bạn bè, người thân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc

- Sống có lí tưởng, hoài bão vì đất nước

Trang 13

13

Lưu ý là khi tích hợp với kiến thức GDCD, GV nên để cho HS suy nghĩ và trình bày quan điểm của mình Từ đó đi đến những định hướng đúng đắn nhất Kiến thức tích hợp ở đây cần tiêu biểu và sát với nội dung bài học

* Tích hợp nội môn trong dạy học văn bản Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

- Mục II Đọc – hiểu văn bản; Mục 1 Đoạn 1: Những cảm nhận mới mẻ của tác giả về Đất nước

- Khi giảng câu thơ: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn/ Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” GV chiếu hình ảnh, tích hợp văn

học dân gian (Ngữ văn 6, tập một):

+ Truyện cổ tích Trầu cau: Sự tích thuộc dạng văn học truyền miệng và có nhiều dị bản Câu chuyện kể là vào đời vua Hùng Vương thứ tư có hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau Tân sau khi có vợ thì không còn chăm sóc đến em như trước nữa Lang lấy làm buồn rầu và bỏ nhà ra đi Tới bên bờ suối thì Lang mệt quá, gục xuống chết và hóa thành tảng đá vôi Tân, không thấy em về, vì thương em nên quyết đi tìm Đi đến bờ suối thì Tân mệt lả và chết, biến thành cây cau bên tảng đá vôi Vợ Tân không thấy chồng cũng bỏ đi tìm Nàng tìm đến bờ suối, ngồi dựa vào thân cau mà chết, biến thành dây trầu không Trầu, cau và vôi khi quyện lại với nhau tạo ra sắc đỏ như máu nên sau có vua Hùng Vương đi tuần qua đó, nghe thấy câu chuyện trên mà dạy cho dân Việt hãy dùng ba thứ vôi, cau và trầu làm biểu tượng tình nghĩa thắm thiết anh em, vợ chồng Ngôi đền thờ ba người hiện nay là đền Tam Khương ở làng Nam Hoa, huyện Nam Đàn (Nghệ An) mà các triều đại phong kiến vẫn có sắc phong tặng

+ Truyền thuyết Thánh Gióng: Vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão tuy chăm chỉ làm ăn, lại có tiếng là phúc đức nhưng mãi không có con Một hôm bà vợ ra đồng ướm chân vào một vết chân to, về thụ thai và mười hai tháng sau sinh ra một cậu con trai khôi ngô Điều kì lạ là tuy đã lên ba tuổi, cậu bé chẳng biết đi mà cũng chẳng biết nói cười Giặc Ân xuất hiện ngoài

bờ cõi, cậu bé bỗng cất tiếng nói xin được đi đánh giặc Cậu lớn bổng lên Cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa may xong đã chật, bà con phải góp cơm gạo nuôi cậu Giặc đến, cậu bé vươn vai thành một tráng sĩ, mặc giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt xông ra diệt giặc Roi sắt gẫy, Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường đánh tan quân giặc Giặc tan, Gióng một mình một ngựa trèo lên đỉnh núi rồi bay thẳng lên trời Nhân dân lập đền thờ, hàng năm mở hội làng để tưởng nhớ

Trang 14

“Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt

Đèn thương nhớ ai,

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo phiền,

Lo vì một nỗi không yên một bề ”

- Tích hợp văn học dân gian: Khi giảng câu thơ “Đất là nơi chim về/ Nước là nơi Rồng ở” GV gợi nhắc đến Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên:

Xưa, ở miền đất Lạc Việt có một vị thần thuộc nòi Rồng, tên là Lạc Long Quân Trong một lần lên cạn giúp dân diệt trừ yêu quái, Lạc Long Quân đã gặp và kết duyên cùng nàng Âu Cơ vốn thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc Sau đó Âu Cơ có mang và đẻ ra cái bọc một trăm trứng Sau đó, bọc trứng nở ra một trăm người con Vì Lạc Long Quân không quen sống trên cạn nên hai người đã chia nhau người lên rừng, kẻ xuống biển, mỗi người mang năm mươi người con

Người con trưởng theo Âu Cơ, được lên lên làm vua, xưng là Hùng Vương, đóng đô

ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang Khi vua cha chết thì truyền ngôi cho

Trang 15

cùng cảm hứng:

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

Nhưng tuổi 20 thì làm sao không tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20

Thì còn chi Tố quốc?

(Thanh Thảo)

Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

+ Các dòng thơ : “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi/ Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội/ Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu” được lấy ý từ những câu ca dao quen thuộc:

Yêu em từ thuở trong nôi

Em nằm em ngủ, anh ngồi anh ru

Cầm vàng mà lội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

Cách thức tổ chức dạy học tích hợp đoạn trích Đất nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

Trang 16

- Nắm được một số nét đặc sắc về nghệ thuật: giọng thơ trữ tình- chính luận, sự vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố của văn hoá và văn học dân gian làm sáng tỏ thêm tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”

1.4 Văn hóa – khoa học

- Vận dụng tích hợp kiến thức nhiều ngành khoa học như: văn hóa, du lịch,

2 Kĩ năng:

- Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản theo đặc trưng của thể loại thơ trữ tình – chính luận

- Kĩ năng vận dụng kiến thức các môn Địa lí, Lịch sử, GDCD để chiếm lĩnh tri thức bài học một cách sâu sắc nhất

3 Tư duy, thái độ:

- Bồi dưỡng tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc

- Trân trọng những địa danh lịch sử, danh nhân lịch sử và văn hóa

- Giáo dục tính cẩn thận, tinh thần say mê học tập

4 Định hướng phát triển năng lực:

Trang 17

17

4.1 Năng lực chung: Năng lực tự học, giải quyết vấn đề, sử dụng CNTT, hợp tác,

giao tiếp

4.2 Năng lực chuyên biệt: tư duy tổng hợp vấn đề, năng lực cảm thụ văn học, năng

lực phân tích ngôn ngữ, năng lực đọc – hiểu văn bản,…

II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

- GV nêu vấn đề, phát vấn kết hợp với diễn giảng

- Hoạt động song phương tích cực giữa GV và HS

III PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

+ Soạn nội dung bài học

+ Tìm những tác phẩm có cùng tư tưởng chủ đề về hình tượng đất nước trong giai đoạn 1945-1975

+ Sưu tầm tranh ảnh, phim tư liệu về đất nước trong chiến tranh

+ Tri thức về địa lí, lịch sử Việt Nam

IV TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:

Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cần đạt

Hoạt động 1 : GV hướng dẫn I- TÌM HIỂU CHUNG

Trang 18

18

HS tìm hiểu chung:

- GV yêu cầu HS trình bày ngắn

gọn những hiểu biết về tác giả

Nguyễn Khoa Điểm

- GV yêu cầu HS tiếp tục dựa

vào phần tiểu dẫn để trình bày

hiểu biết về đoạn trích “Đất

Nước”

- HS dựa vào SGK trình bày

- GV thuật lại lời kể của nhà thơ

về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

để HS hiểu rõ hơn về đoạn trích

đồng thời tạo tâm thế tiếp nhận

và định hướng tiếp nhận cho HS:

“Chương V là một chương lớn

Tôi viết chương này trong những

ngày mưa triền miên sau Tết Đó

là thời kì máy bay Mĩ đánh phá

dữ dội B52 giội liên tục, làm cho

mọi thứ tối tăm mù mịt Chúng

tôi ngồi trong hầm và viết, cảm

xúc được cộng hưởng bởi tiếng

bom nổ, bởi khói bom và mưa

rừng Có khi viết xong, một trận

bom làm cho bản thảo bay tung

tóe, lượm lại trang còn trang

mất, lại ngồi viết tiếp Tôi viết

rất nhanh, như cảm xúc đã dồn

tụ một cách mãnh liệt giờ chỉ có

việc tuôn chảy ra thôi Tôi viết về

những điều giản dị của chính tôi,

về tuổi trẻ và các bạn bè đang

tranh đấu ở trong thành phố

Nên nhân vật của tôi là anh và

em Đó là lời đằm thắm của một

1 Tác giả

a Tiểu sử

- Sinh ra trong một gia đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng

- Học tập và trưởng thành trên miền Bắc, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở miền Nam

b Phong cách sáng tác

- Giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén

- Giọng thơ trữ tình chính luận

2 Tác phẩm

a Hoàn cảnh sáng tác: Hoàn thành ở chiến

khu Trị -Thiên 1971, in lần đầu năm 1974

- Tích hợp kiến thức về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1969-1971 khi Mĩ tiến hành chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam:

+ Sau thất bại của chiến tranh cục bộ, vào đầu năm 1969, Mĩ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đồng thời

mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương

+ “Việt Nam hóa chiến tranh” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ, được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần của Mĩ và vẫn do cố vấn Mĩ chỉ huy nhằm chống nhân dân ta Tiến hành “Việt

Trang 19

19

người con trai nói với một người

con gái Chúng tôi, mỗi người có

một số phận khác nhau nhưng

đều gắn kết trong một số phận

chung là số phận đất nước Đất

nước với các nhà thơ khác là của

những huyền thoại, của những

anh hùng, nhưng với tôi là của

những con người vô danh, của

nhân dân”

Nam hóa chiến tranh”, Mĩ tiếp tục thực hiện

âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt”

để giảm xương máu người Mĩ trên chiến trường

+ Một số hình ảnh về vụ thảm sát ở Mĩ Lai – một tội ác của đế quốc Mĩ trên đất nước ta giai đoạn 1969-1971:

b Nội dung: thức tỉnh tuổi trẻ đô thị vùng tạm

chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược

c Nghệ thuật: mang đậm phong cách thơ

Nguyễn Khoa Điềm

3 Đoạn trích :

a Vị trí: Trích chương V của trường ca

b Cảm hứng chủ đạo: tư tưởng “Đất Nước

Trang 20

20

của Nhân dân”

c Bố cục: Hai phần

- Phần I : 42 câu đầu : Những cảm nhận mới

mẻ của tác giả về Đất nước

- Phần II: 47 câu cuối: Tư tưởng cốt lõi: Đất nước của Nhân dân

triển khai mạch suy nghĩ và cảm

xúc của tác giả: đoạn trích là

những suy ngẫm của tác giả về

đất nước, tự đặt ra và trả lời

những câu hỏi: đất nước có từ

bao giờ?, đất nước là gì?, ai đã

làm nên đất nước?

- GV đọc lại 9 câu thơ đầu, HS

lắng nghe và trả lời câu hỏi : chín

câu thơ đầu đã trả lời câu hỏi gì

về đất nước?

- Nguyễn Khoa Điềm đã cảm

nhận về đất nước qua những hình

II- ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1 Đoạn 1(42 câu đầu): Đất nước được cảm

nhận từ nhiều phương diện lịch sử văn hoá dân tộc, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian

a) Chín câu đầu : Đất nước có từ bao giờ

- Một đoạn thơ ngắn nhưng gợi dậy biết bao nét văn hóa và văn học dân gian quen thuộc:

+”ngày xửa ngày xưa” : câu mở đầu các truyện

cổ dân gian +miếng trầu : gợi nhớ tục ăn trầu của người

Việt và truyện cổ tích Trầu cau cảm động

+trồng tre đánh giặc : truyền thuyết Thánh gióng đánh giặc ngoại xâm…

+Tóc mẹ thì bới sau đầu : phong tục búi tóc thành cuộn sau gáy của người dân Việt

+gừng cay muối mặn: gợi nhớ thói quen tâm lí tình cảm

- Tích hợp văn học dân gian (Ngữ văn 6, tập một):

+ Truyện cổ tích Trầu cau: Sự tích thuộc dạng văn học truyền miệng và có nhiều dị bản Câu chuyện kể là vào đời vua Hùng Vương thứ

tư có hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau Tân sau khi có vợ thì không còn chăm

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Ân (1996), Một số vấn đề về dạy học giảng văn, ĐHQG TPHCM, Trường ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy học giảng văn
Tác giả: Nguyễn Đức Ân
Năm: 1996
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1995
3. Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) (2010), Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học (Dự án Việt – Bỉ), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Ngữ văn 12(tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo viên Ngữ văn 12(tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
6. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
7. Nguyễn Thành Kính (2009), “Dạy học hợp tác và vấn đề xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, Tạp chí giáo dục (218), tr 19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hợp tác và vấn đề xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thành Kính
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w