Giáo dục phổ thông có vị trí hết sức quan trọng, mang tính nền tảng của hệ thốnggiáo dục quốc dân.Trong chương trình giáo dục, môn Ngữ văn là một môn học cóvai trò quan trọng không chỉ g
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu.
Giáo dục phổ thông có vị trí hết sức quan trọng, mang tính nền tảng của hệ thốnggiáo dục quốc dân.Trong chương trình giáo dục, môn Ngữ văn là một môn học cóvai trò quan trọng không chỉ giúp học sinh trau dồi kiến thức, rèn luyện tư duy màcòn góp phần vào quá trình hình thành, phát triển các năng lực cần thiết cho các
em
Đề án đổi mới Chương trình và Sách giáo khoa (CT&SGK) giáo dục phổ thôngsau 2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển Chương trình theo
định hướng năng lực Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và
có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, … nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động,kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thựchiện một loại công việc nào đó
Nghị quyết 88/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sáchgiáo khoa giáo dục phổ thông nêu rõ mục tiêu “chuyển nền giáo dục nặng về truyềnthụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và nănglực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗihọc viên” và yêu cầu “đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phươngpháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáodục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học viên; khắc phụctình trạng quá tải; tăng cường thực hành và gắn với thực tiễn cuộcsống”
Hơn nữa, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từchỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vậndụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo điều đó, nhất định phải thực hiện thành
Trang 2công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạyhọc sinh cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất
Nắm bắt được tinh thần đổi mới, trong những năm qua ngành giáo dục nói chung
và tập thể giáo viên đã và đang nghiên cứu đề xuất và thực hiện nhiều giải pháphiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đạt đượckhông ít những thành công Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để ngành giáo dụcthực hiện mục tiêu đổi mới Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của đơn vị cho thấy sựsáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của họcsinh chưa nhiều nhất là đối tượng học sinh theo học chương trình GDTX cấp THPTnói chung và tại Trung tâm GDNN-GDTX Tam Đảo nói riêng Dạy học vẫn nặngtruyền thụ kiến thức, hoàn thành đầy đủ nội dung giáo án đã định sẵn Việc rènluyện kỹ năng có được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao Hoat động kiểm tra đánhgiá chưa chú trọng đến đánh giá cả quá trình học tập của học sinh Tất cả nhữngđiều đó dẫn tới việc học sinh thụ động, lúng túng khi giải quyết những vấn đề trongthực tiễn
Sinh ra tại vùng quê Bắc Ninh giàu truyền thống văn hóa, Kim Lân được biếtđến là một trong những nhà văn thành công khi viết về người nông dân và cuộcsống nông thôn Là tác phẩm tiêu biểu của một trong những nhà văn “thuộc hàng
những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại”, Vợ nhặt cũng
ra đời bởi nỗi ám ảnh của Kim Lân về nạn đói lịch sử Ất Dậu (1945) Tác phẩm Vợ nhặt đã được lựa chọn vào chương trình giảng dạy Ngữ văn 12, được đông đảo bạn
Trang 3nhặt phát huy sự sáng tạo, năng lực của học sinh, đặc biệt là giáo dục ý thức đạo
đức, vận dụng vào cuộc sống thực những bài học cuộc sống: sự nhân ái, sẻ chia…cho học sinh Trung tâm GDNN-GDTX Tam Đảo
2 Tên sáng kiến:
Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học qua truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Tạ Thị Thanh Hòa
- Địa chỉ: Trung tâm GDNN - GDTX Tam Đảo
- Số điện thoại: 0915696603 Email: tathanhhoa.pt@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tạ Thị Thanh Hòa - Trung tâm GDNN-GDTX Tam Đảo
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Áp dụng dạy học môn Ngữ văn cho học sinh cấp THPT lớp12
- Hỗ trợ giáo viên có thêm kinh nghiệm trong giảng dạy tác phẩm truyện ngắn theođịnh hướng phát triển năng lực người học
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 05/1/2017
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Nội dung sáng kiến:
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM
Trang 4+ Năng lực:
Năng lực là một khái niệm then chốt chi phối việc đổi mới căn bản chươngtrình giáo dục mới Nội hàm khái niệm năng lực cũng tùy vào cách tiếp cận và lĩnhvực áp dụng mà hiểu khác nhau Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có giải
thích: Năng lực là:“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Tài liệu tập huấn về dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triểnnăng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 nhấn mạnh:
“Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể
hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức
và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện mộtloại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động,
mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung,cốt lõi”.
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông(GDPT) sau năm 2015 đã xácđịnh một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải cónhư:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học+ Năng lực giải quyết vấn đề+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực quản lý bản thân
- Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp+ Năng lực hợp tác
- Năng lực công cụ, bao gồm:
Trang 5+ Năng lực tính toán+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT)
Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộ môn,học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng với thái độ,tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợpcủa hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định
Trong định hướng phát triển chương trình sau 2015, môn Ngữ văn được coi làmôn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thứcvăn học, cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra,
Trang 6năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lựchợp tác, năng lực tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũng đóng vai trò quantrọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học.
Ngoài những năng lực chung mà môn Ngữ văn cũng như các môn học khác đềuhướng đến, môn Ngữ văn còn hướng đến những năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực đọc hiểu văn bản
Đọc hiểu văn bản chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là HS, trong môitrường lớp học, có hướng dẫn và đánh giá Có 4 cấp độ yêu cầu cơ bản của hoạtđộng đọc hiểu:
Nhận biết Kể lại câu chuyện, tóm tắt cổ truyện, nhớ tên nhân vật, tên
tác giả, thuộc lòng bài thơ, đoạn thơ
Thông hiểu Hiểu được đặc điểm thể loại, hình thức, bố cục,tình huống,
tư tưởng, nội dung, nghệ thuật tác phẩm
Vận
dụng
Vận dụng Vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các vấn đề
trong phạm vi nhà trường, cuộc sống với yêu cầu ở mức
và xã hội với yêu cầu sáng tạo cao có chủ kiến cá nhân
+ Năng lực tạo lập văn bản:
Năng lực tạo lập văn bản chính là khả năng tự tạo nên một chỉnh thể văn bản đạt được mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp rõ ràng và có thái độ của người giao tiếp
+ Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việcnhận ra ñược các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống,thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng
Trang 7những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện
Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp HS hình thành và pháttriển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rènluyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói Với đặc trưng của môn học,môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dung bao gồm các phân môn Văn học, TiếngViệt, Tập làm văn nhằm hướng dẫn HS đọc hiểu các văn bản và tạo lập được cácvăn bản theo các kiểu loại khác nhau
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Nội dung đề án đổi mới chương trình và SGK
Một trong những định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng lầnthứ XI đã nêu là “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và pháttriển nhanh giáo dục đào tạo”, trong đó nhấn mạnh vào việc đổi mới mãnh mẽ nộidung và phương pháp, chương trình dạy và học ở tất cả cá cấp, các bậc học
Theo Đề án được phê duyệt, chương trình mới, SGK mới được xây dựng theohướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả phẩm chất và nănglực Bên cạnh đó là chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạođức, nhân cách, lối sống; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghềnghiệp cho mỗi học sinh Đồng thời tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học, kỹnăng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương trình SGK mới xây dựng trên nguyên tắc lấy HS làm trung tâm, pháthuy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của HS, đồng thời tăngcường tính tương tác trong dạy học giữa thầy và trò, trò với trò, giáo viên với giáoviên
2.2 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay.
Nói đến phương pháp dạy học ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện naykhông thể không nhắc tới các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học văn hiệnnay: dạy học đọc chép, dạy nhồi nhét, học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo, thiếuhứng thú đam mê
Trang 8Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học tập trì trệ, thụ động, thiếu hàohứng của học sinh Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa họccông nghệ, dể hiểu là đại đa số HS chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩthuật, kinh tế…ít có HS hứng thú học văn, bởi phần đông HS nghĩ rằng năng lựcvăn là năng lực tự nhiên của con người xã hội, không học vẫn biết đọc, biết nói chonên học văn không thiết thực Có thể đó là lí do làm cho đa số HS không cố gắnghọc ngữ văn
Về phía giáo viên, xã hội ta là xã hội tư duy theo kiểu giáo điều đã lâu năm,không biết đối thoại, không cho đối thoại, thậm chí theo lối phong kiến xưa, coi đốithoại là hỗn, là láo, thầy bảo gì chỉ biết cắm đầu nghe Xã hội như thế thì nhà trườngnhư thế không sao khác được Nếu trong giờ học mà tổ chức đối thoại, thảo luận thìcũng là thảo luận vờ vịt Xã hội sao thì nhà trường như vậy Nếu không thay đổi xãhội khó mà thay đổi giáo dục
Thực trạng dạy học văn như trên không phải do một lí do cục bộ nào, khôngphải do giáo viên thiếu nhiệt tình dạy học, không cố gắng, mà chủ yếu là do vẫn tồntại một quan niệm sai lầm, cũ kĩ, lạc hậu về việc dạy học nói chung và dạy học vănnói riêng Nói một cách khác cho đến nay lí luận dạy học đặc biệt là lí luận dạy họcngữ văn ở ta vẫn còn chưa hề đổi mới hoặc chỉ mới là hô hào mà chưa thực sự cóquan niệm mới về dạy học, tập trung ở mấy nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, phương pháp dạy học cũ, chỉ dựa vào giảng, bình, diễn giảng Văn
học trong nhà trường được gọi là môn “Văn học trích giảng”, “Văn học giảngbình”, “Giảng văn”, “Văn học giảng luận”, “Phân tích tác phẩm văn học” Việc dạyvăn hầu như chỉ có một đường là “giảng”, “bình”, “luận”, “phân tích” Giáo ánsoạn ra là để cho GV “giảng”, biểu diễn trên lớp Khái niệm “đọc” chỉ được hiểu làđọc thành tiếng, đọc diễn cảm, mà không thấy nói là đọc hiểu Đối với phân mônLàm văn thì chỉ dạy lí thuyết rồi ra đề cho HS tập làm theo những đề yêu cầu HSviết lại những điều đã học mà ít nêu yêu cầu khám phá, phát hiện những cái mớitrên cơ sở những điều đã biết Đề thi tuy có sự đổi mới về kiểm tra đánh giá nănglực người học nhưng không ít đề kiểm tra ra theo dạng tái hiện kiến thức, ghi nhớ
Trang 9Thứ hai là phương pháp dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt, HS phải
học thuộc kiến giải của thầy Đây cũng là phương pháp phản sư phạm, bởi vì bảnchất của quá trình dạy học là quá trình “dạy” của GV và quá trình “học” của HS
Quá trình học tập không phải là tiếp nhận những gì được đưa trực tiếp từ ngoài vào,
mà là sự kiến tạo tri thức mới dựa trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và kinh
nghiệm đã được tích luỹ Học tập thực chất không phải là học thuộc mà là tự biến
đổi tri thức của mình trên cơ sở các tác động của bên ngoài và của hoạt động củangười học Do đó việc áp đặt kiến thức chỉ có tác dụng tạm thời, học xong là quênngay, không để lại dấu ấn trong tâm khảm người học, không trở thành kiến thức hữu
cơ của một bộ óc biết suy nghĩ và phát triển
Thứ ba, chưa xem HS là chủ thể của hoạt động học văn, chưa trao cho các
em tính chủ động trong học tập Coi HS là chủ thể của hoạt động học tập của mìnhthì HS phải là người chủ thể trong các hoạt động học tập, là người chủ động kiếntạo các kiến thức của mình mà GV chỉ là người tổ chức các hoạt động học tập cho
HS Giáo án của GV phải là kế hoạch hoạt động của HS để tự kiến tạo kiến thức,chứ không phải là Giáo án để GV giảng và bình ở trên lớp
Thứ tư, chúng ta chưa xem dạy học tác phẩm văn học là là dạy học đọc văn,
một hoạt động có quy luật riêng của nó Nhiều tài liệu thường nói dạy học văn làdạy cảm thụ văn học Nói như vậy là chưa thật chính xác, bởi vì HS không phảicảm thụ các dòng chữ in, mà trước hết phải đọc để biến các kí hiệu chữ thành nghĩa,thành thế giới hình tượng, trên cơ sở đó mới cảm thụ thế giới nghệ thuật bằng ngôn
từ Cảm thụ văn học khác hẳn cảm thụ âm nhạc hay hội hoạ, là cảm thụ trực tiếp âmthanh và màu sắc, bố cục bức tranh Trong văn học chính người đọc phải tự kiến tạobức tranh mà mình sẽ thưởng thức Đọc không hiểu thì không có gì để cảm thụ cả
Với HS khối GDTX nói chung và HS của Trung tâm GDNN-GDTX TamĐảo nói riêng, năng lực đọc hiểu, tạo lập văn bản và cảm thụ thẩm mĩ văn học cònrất kém Nguyên nhân xuất phát từ hai phía: người dạy (GV) và người học (HS).Học sinh đa phần có xuất phát điểm, mặt bằng kiến thức, năng lực tự học yếu kém
Về phía người dạy còn thiếu kỹ năng, phương pháp Vì vậy, vấn đề đặt ra làm làmsao tạo được sự hứng thú và phát huy được năng lực cho học sinh là điều cần thiết
Trang 10PHẦN II: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT NGƯỜI HỌC
Là tác phẩm tiêu biểu của một trong những cây bút truyện ngắn “viết ít mà
ngày càng được khâm phục nhiều”, Vợ nhặt cũng ra đời bởi nỗi ám ảnh của Kim
Lân về nạn đói lịch sử Ất Dậu (1945) - nạn đói đã cướp đi sinh mạng hơn hai triệuđồng bào ta lúc bấy giờ
Cũng như Nam Cao, Kim Lân vốn rất am hiểu về nông thôn cho nên ông cónhững trang viết sâu sắc, thấm thía về những người dân quê nghèo khổ Thế giớinghệ thuật của ông là khung cảnh làng quê hồn hậu và những người nông dân cần
cù, chất phác Đó là mảng hiện thực mà ông gắn bó và hiểu biết sâu sắc Nếu như
Tô Hoài mang đến cho người đọc những trang viết vô cùng sinh động về phong tụctập quán và đời sống của người dân miền núi thì Kim Lân lại đem đến những tácphẩm đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Ông viếtchân thật và xúc động về đời sống người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ vàtâm lí của họ - những con người gắn bó tha thiết, thủy chung với quê hương và cáchmạng Sáng lên trong các tác phẩm của Kim Lân là vẻ đẹp tâm hồn của người nôngdân Việt Nam, những người sống cực nhọc, lam lũ nhưng vẫn yêu đời, lạc quan,hóm hỉnh và tài hoa
Trong quá trình dự giờ thực tế, tôi nhận thấy các giờ dạy của đồng nghiệp đều
cụ thể hóa được các đơn vị kiến thức đã chuẩn bị sẵn trong giáo án nhưng phươngpháp vẫn còn nhiều điều bất ổn Việc vận dụng kết hợp những phương pháp cầnthiết và tối ưu để truyền đạt tới HS một cách hiệu quả và dễ dàng thì vẫn còn nhiềuhạn chế Trong quá trình dạy học, GV thường chỉ vận dụng phương pháp truyềnthống như nêu vấn đề, HS tìm phương án trả lời Tiếp theo đó GV phân tích, chốtlại ý chính Vì vậy, tiết học chưa thực sự thu hút được HS
Qua quá trình nhiều năm dạy tác phẩm “Vợ nhặt” ở chương trình Ngữ văn
12, tôi đức rút được một số kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy tác phẩm vừa tạođược hứng thú cho HS vừa giúp phát triển được một số năng lực: giao tiếp, hợp tác,
tự chủ và các phẩm chất: biết cảm thông chia sẻ, giúp đỡ người cùng cảnh ngộ, lòngbao dung
Trang 111 Tạo hứng thú thông qua phần khởi động
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩađối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động.Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạtđộng, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người Hứng thú có vaitrò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm
được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp
HS học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo
Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê củachủ thể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơthúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Trong bất cứ công việc gì,nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó làđộng cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó.Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết quảcao Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không cóhứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuấthiện cảm xúc tiêu cực
Người học chỉ tự giác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú Hứng thúkhông có tính tự thân, không phải là thiên bẩm Hứng thú không tự nhiên nảy sinh
và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi Hứng thúđược hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt,hướng dẫn, tổ chức của giáo viên Giáo viên là người có vai trò quyết định trongviệc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS
Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho HS ý thức được lợiích của việc học để tạo động cơ học tập Ngoài việc khai thác sự lí thú trong chínhnội dung dạy học, hứng thú của HS còn được hình thành và phát triển nhờ cácphương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em
Đó chính là cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt
Trang 12động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án, tổ chức dạyhọc ngoài không gian lớp học, xem các trích đoạn phim, video clip Trong thực tếdạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hàohứng, thoải mái, vui nhộn Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kíchthích hứng thú và trí tưởng tượng, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em
Hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sự ảnh hưởngbởi giáo viên Do đó, giáo viên cần không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạođức, nghề nghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thứcngày càng chính xác, hấp dẫn, có chất lượng Giáo viên cần giúp cho học sinh thấyđược ý nghĩa và vai trò của các kiến thức môn học đối với cuộc sống; giúp học sinhbiết cách học thích hợp đối với mỗi bộ môn, tăng cường thời lượng, chất lượng thựchành cho mỗi bộ môn, nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụng các kiến thức đãhọc vào cuộc sống và giải quyết các tình huống trong đời sống theo các khía cạnhkhác nhau Quá trình kích thích hứng thú không chỉ diễn ra ở bài giảng này hay bàigiảng khác mà cần phải diễn ra trong suốt quá trình Do đó, trong quá trình giảngdạy, người giáo viên cần tạo ra trò chơi nhằm kích thích hứng thú học tập của họcsinh, tăng tính tích cực của trí tuệ.
Nhà văn Kim Lân cũng không xa lạ với HS bởi trong chương trình Ngữ văn
THCS các em đã được học truyện ngắn “Làng”, vì vậy, thay bằng tạo ra trò chơi ô
chữ, ghép hình đoán tên tác giả tôi sử dụng trích đoạn phim tư liệu,hình ảnh về nạnđói năm 1945 và đặt câu hỏi để khởi động bài học Những hình ảnh, thước phimsống động đã lôi cuốn HS bước vào không gian ảm đạm, cái đói bủa vây làm nềncho nhân vật xuất hiện của tác phẩm
Trang 13Hình ảnh minh họa
2 Gợi sự cảm thông, lòng trắc ẩn từ nhan đề tác phẩm
Văn học luôn gắn bó với đời sống, nhà văn thâm nhập và biểu hiện cuộc sốngtheo những con đường khác nhau Nhan đề tác phẩm giữ vai trò như một cột mốcđánh dấu từng chặng đường thâm nhập cuộc sống của tác giả Nhan đề tác phẩm làcửa sổ nhìn thế giới do nghệ sĩ mở ra, là “chìa khoá nghệ thuật” giúp người đọc mở
ra cánh cửa chìm của tác phẩm Nhan đề như một một mã của thông điệp thẩm mỹ,
một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc giả biếttrước: văn bản này viết về cái gì, có thể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào
Nhan đề của tác phẩm là một tín hiệu nghệ thuật quantrọng, nhưng một số GV vẫn còn coi nhẹ, bỏ qua yếu tố này Trongquá trình giảng dạy tôi luôn lưu ý học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan
đề của tác phẩm Đây là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thíchhứng thú của các em
Ở truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân đã tạo sự tò mò ngay bởi nhan
đề tác phẩm vừa lạ lẫm vừa chứa dựng điều gì đó oái oăm, éo le, nghịch cảnh “Vợ
nhặt” nghĩa là gì? Sao tác giả không gọi là “Nhặt vợ”? Cái khácbiệt là ở chỗ: “nhặt vợ” là một động từ, còn “vợ nhặt” là một danh
từ Và đọc xong tác phẩm, người đọc mới thấy hết được tính chấtvừa hài hước, vừa xót xa, bi thảm trong cái nhan đề ấy
Trang 14Với kỹ thuật dẫn dắt khéo léo, GV có thể tạo ra một tình huống thảo luận đầy
hứng thú từ nhan đề GV có thể đặt câu hỏi: Nhan đề “ Vợ nhặt” gợi cho em suy nghĩ gì?”
“Vợ nhặt” vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có ý nghĩa nhân đạo rất lớn Nói như
nhà văn Kim Lân “Nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ Trong cảnh đói năm 1945người nông dân dường như khó ai thoát khỏi cái chết Bóng tối của nó phủ xuốngmọi xóm làng.Trong hoàn cảnh ấy, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng,người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được
vợ như tôi nói trong truyện”
Cái đói đã đẩy đến những cảnh bi hài kịch: mạng người trở nên rẻ rúng có thể
“nhặt” được như người ta nhặt cái rơm, cái rác ngoài đường, ngoài chợ Người tanhặt nhau về và về với nhau không phải chỉ vì muốn có miếng ăn, có một chốnnương thân Thẳm sâu của chuyện nhặt vợ ấy là khát khao về mái ấm gia đình, làtình yêu thương, đùm bọc “một miếng khi đói bằng một gói khi no” của người dânlao động
Đằng sau nhan đề ấy, Kim Lân muốn gửi gắm một thông điệp khác: “khi đóingười ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống Dù ởtrong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫnhướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống,sống cho ra con người
Vợ nhặt là một nhan đề hàm súc Nó có ý nghĩa tố cáo xã hội đã gây ra nạn
đói hủy diệt con người Mặt khác, nhan đề ấy cũng nói lên rằng, trong hoàn cảnhkhắc nghiệt của cuộc sống, trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, conngười vẫn hướng về sự sống, về hạnh phúc, tương lai Tình yêu thương, khát vọng
hạnh phúc vẫn mạnh hơn cái chết Đó là ý nghĩa sâu sắc của nhan đề Vợ nhặt
3 Kết hợp linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung và nghệ thuật tác phẩm
3.1 Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm
Trang 15Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của mộtlớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm
tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc.Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước cả lớp
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợptác, dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học nhóm không phải một phương pháp dạy học
cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học
Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố mộtchủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới Ở mức độ cao, có thể
đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnh vực đề tài vàtrình bày kết quả của mình cho những học sinh khác ở dạng bài giảng
Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nênhình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và pháthuy sự sáng tạo Điều quan trọng là HVcần phải biết mình làm gì và làmnhư thế nào khi tham gia làm việc nhóm
Tùy theo hoạt động học tập, có lúc HS sẽ làm việc theo cặp trongnhóm Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm là những hoạt độngnhằm giúp HS phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ
và tính cộng đồng
Những lưu ý khi tổ chức hoạt động nhóm:
+ Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -6 học sinh Nhiệm vụ của cácnhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phầntrong một chủ đề chung
+ Để hoạt động nhóm thực sự có hiệu quả, ngay từ đầu GV nên tìm hiểu và phânloại HS về nhận thức, năng lực, phẩm chất làm tiền đề cho việc chia nhóm Cácthành viên trong nhóm cần có vai trò, nhiệm vụ rõ ràng
+ Sau mỗi hoạt động nhóm, các thành viên cần thay đổi vai trò cho nhau, tránhtình trạng mỗi thành viên chỉ đảm nhiệm một vai trò trong thời gian quá lâu
Trang 16+ Khi giao nhiệm vụ cho HS, câu hỏi của Gv phải rõ ràng, mạch lạc để đảm bảo cho
HS hiểu rõ yêu cầu của nhiệm vụ GV có thể hỏi thêm những câu hỏi phụ để kiểmtra xem HS đã nắm được nhiệm vụ hay chưa
+ Các vấn đề đưa ra cho HS hợp tác nhóm dược biên soạn trong phiếu học tập hoặcbảng phụ và chỉ giao cho HS một làn Các phiếu được biên soạn đơn giản, rõ mụcđích, có tính trực quan cao, không gây khó hiểu hoặc mất thời gian
+ Trong thời gian HS làm việc, GV phải thường xuyên theo dõi để hướng dẫn, giúp
đỡ các nhóm trao đổi, thảo luận đúng yêu cầu bài học, hoặc GV gợi mở thêm kiếnthức và giáo dục kỹ năng sống cho HS
Ví dụ: GV tổ chức thảo luận nhóm: Chia lớp thành 4 nhóm, phát phiếu học
tập và cùng thảo luận một nội dung : Cảm nhận của anh (chị) về diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng (lúc quyết định để người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ).
Để tìm hiểu các nhân vật trong truyện, GV chia lớp thành 3 nhóm, mỗi
nhóm tìm hiểu một nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ.
Lần lượt đại diện từng nhóm trình bày, các nhóm khác góp ý bổ sung ( nhóm sau không nhắc lại nội dung nhóm trước đã trình bày)
Giáo viên định hướng, nhận xét và nhấn mạnh những ý cơ bản
- Tràng là nhân vật có bề ngoài thô, xấu, thân phận lại nghèo hèn, mắc tậthay vừa đi vừa nói một mình, là dân ngụ cư (lớp người bị xã hội khinh nhất trongquan niệm lúc bấy giờ), lại đang sống trong những ngày tháng đói khát nhất nạn đói1945
Nhưng ở Tràng lại là con người tốt bụng và cởi mở: giữa lúc đói khát nhất bản thân mình cũng đang cận kề với cái đói cái chết vậy mà Trang sẵn lòng đãingười đàn bà xa lạ ăn 4 bát bánh đúc
Chi sau hai lần gặp gỡ và cho ăn 4 bát bánh đúc, vài câu nói nửa đùa nửathật(…)
- Niềm hạnh phúc khi có vợ :
Trang 17+ Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư: Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt
cứ vênh lên như thể chứng tỏ với mọi người- Tràng đã có vợ
+ Tràng khi đưa vợ về đến nhà: Tràng sốt ruột mong ngóng mẹ về để còn ramắt cô vợ nhặt
+ Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau: Tràng thấy mình như bước ra từ mộtgiấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ” Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi Từ buổisáng đó, anh mới thấy mình nên người Anh nghĩ đến tương lai, đến sự sinh sôi nảy
nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng
Tương tự như vậy, GV có thể đưa ra các câu hỏi khác để HS thảo luận:
+ Trong cái đói khát, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết gần kề, những
nhân vật trong truyện ngắn Vợ nhặt vẫn cưu mang đùm bọc lẫn nhau, em có nhận
xét gì về tinh thần “tương thân tương ái” trong xã hội hiện nay?
+ Truyện ngắn Vợ nhặt được bao bọc bởi không gian “tối sầm vì đói khát”
nhưng nhân vật nào cũng ánh lên niềm tin vào tương lai để vượt qua ranh giới giữa
sự sống và cái chết Suy nghĩ của em về vai trò của niềm tin trong cuộc sống?
+ Sự xuất hiện của người vợ nhặt đã đem đến cho gia đình Tràng nguồn sinhkhí mới Suy nghĩ của em về vai trò của người phụ nữ đối với gia đình?
3.2 Thiết kế và sử dụng phiếu học tập
Phiếu học tập( PHT) là phương tiện định hướng hoạt động độc lập của họcsinh trong quá trình dạy học Trên cơ sở của phiếu học tập, HS độc lập tiếp thu kiếnthức mới hoặc củng cố kiến thức đã học Phiếu học tập còn là phương tiện rèn luyệncho học sinh các kĩ năng nhận thức như: Phân tích - so sánh, khái quát hoá, trừutượng hoá phiếu học tập đưa học sinh vào hoạt động tìm tòi, khám phá Trên cơ sở
đó rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh
Thông qua tổ chức các hoạt động bằng phiếu học tập, giáo viên có thể thuđược thông tin ngược về kiến thức và kĩ năng của học sinh để có biện phápđiềuchỉnh kịp thời
Phiếu học tập phải được thiết kế sẵn trước giờ dạy Nội dung phiếu học tậpphải vừa đủ, bám sát mục tiêu bài học và chuẩn kiến thức kĩ năng, phù hợp đối
Trang 18tượng học sinh lớp giảng dạy, phù hợp với trình độ, hoạt động của học sinh, vớilượng thời gian thích hợp Hình thức phiếu học tập phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểuthể hiện tính sư phạm, tạo hứng thú cho học sinh.
Sử dụng phiếu học tập cần kết hợp với các tài liệu và phương tiện dạy họckhác như sách giáo khoa, tranh ảnh, tài liệu tham khảo Giáo viên công bố đáp ánkịp thời, đúng cách Đặc biệt, không được lạm dụng phiếu học tập
Nội dung phiếu học tập cần lựa chọn hình thức biểu hiện phù hợp, có những
dữ liệu nên trình bày bằng văn bản bình thường, có loại đưa vào sơ đồ, biểu mẫu,bài tập thực hành, bài tập xử lí tình huống Tất cả đều phải phù hợp với đối tượnghọc sinh và nội dung bài học
Để thiết kế một PHT tốt, đáp ứng được các vai trò trên, theo tôi phải tuânthủ các quy tắc sau:
- Có mục đích rõ ràng, nội dung ngắn gọn, chính xác trong diễn đạt ý
- Có khối lượng công việc vừa phải, có phần chỉ dẫn nhiệm vụ rõ ràng
- Có khoảng trống phù hợp để học sinh điền kết quả của công việc đã làm
- Có quy định thời gian hoàn thành
- Trình bày phiếu khoa học
- Có đánh số thứ tự nếu biên soạn nhiều phiếu học tập trong một tiết học+ Phát phiếu học tập
VD: anh/ chị hãy điền vào khoảng trống các chi tiết miêu tả nhân vật Tràng:
Trang 19……… ….
………
………
………
………
………
Ngoại hình ………
………
Tính cách ………
………
………
Khát vọng hạnh phúc ………
………
………
Nhận xét của giáo viên: ………
………
………
………
………
………
3.4 Đặt học sinh vào những câu hỏi khám phá, tình huống có vấn đề để giáo dục
ý thức, phẩm chất.
Hệ thống câu hỏi là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động dạy học nêu vấn
đề Tuy nhiên người giáo viên cần có sự lựa chọn các câu hỏi khai thác nội dung sao cho phù hợp Các kỹ năng đặt câu hỏi cần được chú ý Câu hỏi phải bám sát nội dung bài học và có sự mở rộng vấn đề để kích thích sự tìm tòi của các em Trên cơ
sở những hiểu biết vừa được trang bị, các em giải quyết được các vấn đề đi từ tác phẩm văn học ra hiện thực đời sống, áp dụng vào những tình huống thiết thực trong đời sống đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực của HS, đổi mới kiểm tra đánh giá của ngành giáo dục Thông qua dạy tác phẩm văn học để dạy các kỹ năng sống
Trang 20Những vấn đề GV nêu ra đặt HS trước những “tình huống có vấn đề”, đâycũng là nhân tố kích thích tâm lí chủ thể HS, khiến chủ thể tích cực chủ động vậndụng những hiểu biết của mình vào hoạt động tư duy Tình huống là điểm khởi đầucủa hoạt động tư duy, khơi dậy nhu cầu tư duy và là điều kiện để hình thành, pháttriển tư duy sáng tạo Khi “tình huống có vấn đề” trở thành “vấn đề” đối với bảnthân chủ thể, chủ thể sẽ có nhu cầu giải quyết “vấn đề” đó và do đó, chủ thể sẽ tíchcực vận dụng hiểu biết vào hoạt động tư duy Và với loại tư duy sáng tạo này - tưduy từ bên trong, là nội lực, không mang tính nhất thời mà tích cực diễn ra trongsuốt quá trình giải quyết tình huống - chủ thể sẽ phát huy được tính chủ động, tíchcực nhận thức từ đó phát triển tiềm năng sáng tạo của bản thân Sáng tạo ở đâyđược hiểu là tìm thấy những kiến thức mới đối với riêng bản thân, không phải làmột phát minh khoa học hay sáng tạo ra một cái gì mới cho xã hội Khi HS biếtchuyển tri thức vào giải quyết một nhiệm vụ nhận thức là đã biết cách chiếm lĩnhtri thức mới và hình thành kĩ năng mới
Tuy nhiên, điều quyết định kết quả của một giờ dạy học văn không phải chỉ ởkhâu xây dựng “vấn đề” từ các “tình huống có vấn đề” mà chính là ở phương pháp:triển khai vấn đề và xử lí tình huống như thế nào ở GV, HS Xác định được hệthống “vấn đề” mới chỉ là bước xác định nội dung của bài dạy, nội dung này quyđịnh phương pháp, nhưng ngược lại, phương pháp tốt sẽ đem lại hiệu quả tối ưu chonội dung Vì thế khả năng xử lí “vấn đề” của GV là rất quan trọng, điều này phụthuộc vào nhiều năng lực: lựa chọn “vấn đề”, tạo tâm thế cảm thụ, gợi mở phát hiện
“tình huống” xây dựng “vấn đề” và giải đáp “vấn đề”, sơ kết, làm chủ về thời gian
GV càng có nhiều những năng lực này, hiệu quả của một giờ dạy học nói chung,dạy học nêu vấn đề nói riêng sẽ càng cao
Câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ đến vấn đề và tình huống có vấn đề.Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi mà GV tạo đượctình huống có vấn đề, tức là xác định được cái chưa biết, cuốn hút sự quan tâm của
HS và tiên đoán được khả năng giải quyết của các em Câu hỏi nêu vấn đề có hìnhthức gần gũi với các loại câu hỏi thường gặp khi phân tích một tác phẩm vănchương Tuy nhiên, chỉ những câu hỏi nhằm xác định rõ vấn đề và tạo ra tình huống