1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy học bài “thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh

56 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 369,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nếuđưa được cách dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” và bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 theo định hướng phát triển năng lực HS thì bài học

Trang 1

UBND HUYỆN YÊN LẠC

Trang 4

MỤC LỤC

1 Lời giới thiệu 1

2 Tên sáng kiến 2

3 Tác giả sáng kiến: 2

4 Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến: 2

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 2

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 2

7 Mô tả bản chất của sáng kiến 2

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN 2

1.1 Năng lực 2

1.2 Thao tác lập luận bác bỏ 5

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 8

2.1 Thuận lợi 8

2.2 Khó khăn 8

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 13

3.1 Cách tiến hành thực nghiệm 13

3.2 Khảo sát giáo án, thiết kế 16

3.3 Khảo sát hoạt động dạy học qua dự giờ 18

3.4 Khảo sát qua bài văn của học sinh 18

3.5 Thực nghiệm dạy học 18

3.6 Đề xuất giáo án mới dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho HS 21

3.7 Xây dựng bài tập, đề kiểm tra trong dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh 31

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 36

KẾT LUẬN 38

8 Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): không 38

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 38

10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được 39

11 Danh sách những tổ chức/ cá nhân đã áp dụng thử 40

PHỤ LỤC 41

TÀI LỆU THAM KHẢO 52

Trang 5

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

1.1 Nền Giáo dục – Đào tạo nước ta luôn được Đảng và Nhà nước coi làquốc sách hàng đầu Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về đổi

mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh

mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”

Bộ GD-ĐT cũng đề ra trong công văn 791/HD-Bộ GD-ĐT, chuyển từphương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy học tích cực, lấy

HS làm trung tâm, nhằm hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục vànăng lực học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay

Môn Ngữ văn là một môn học chính, giữ vai trò quan trọng trong việc pháttriển năng lực và phẩm chất của người học nên các giáo viên dạy môn Ngữ văncần nỗ lực trong công cuộc đổi mới này

1.2 Năng lực phản biện là một năng lực mới được bổ sung vào trongnhóm năng lực cần phát triển ở HS cấp phổ thông nói chung và khối BT THPT

nói riêng Đồng thời bài học “Thao tác lập luận bác bỏ” là bài học trọng tâm

PTNL phản biện cho học sinh, đặc biệt là trong viết văn nghị luận Bởi trong xãhội ngày nay có rất nhiều ý kiến trái chiều với thực tại, nên bản thân mỗi ngườicần có kiến thức sâu rộng để gạt đi, bác đi những ý kiến sai lệch và bảo vệ,thuyết phục người khác đồng tình với quan điểm của mình Trong văn nghị luậncũng không thể thiếu kĩ năng bác bỏ để bài văn của mỗi học sinh hay hơn,thuyết phục hơn

1.3 Thực trạng dạy học bài Thao tác lập luận bác bỏ trong nhà trường

phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế, các giáo viên chủ yếu dạy lí thuyết màkhông chú trọng kĩ năng, cũng như không sử dụng các phương pháp, phươngtiện mới vào dạy học nên học sinh chưa hứng thú và bài học còn nhiều hạn chế

Bản thân tôi cũng muốn nghiên cứu việc dạy học theo định hướng PTNLhọc sinh để qua đó có thể trang bị cho mình kiến thức, kĩ năng phát triển năng

Trang 6

lực nghề nghiệp, nhằm phần nào đáp ứng được yêu cầu đổi mới của giáo dụcphổ thông hiện nay.

2 Tên sáng kiến

Dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng

lực cho học sinh

3 Tác giả sáng kiến:

Họ và tên: Đường Thị Huệ

Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc

Số điện thoại: 0915257427 E-mail: huegdtxyenlac@gmail.com

4 Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến:

Họ và tên: Đường Thị Huệ

Địa chỉ: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh VĩnhPhúc

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Năng lực

1.1.1 Khái niệm về năng lực

Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”, ngàynay có nhiều khái niệm năng lực được hiểu theo các nghĩa khác nhau

“Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúcnhư là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiệnthực hóa qua ý chí” (John Erpenbeck 1998)

Trang 7

Từ đó, chúng ta có thể nhận định: Năng lực của HS là khả năng làm chủnhững hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành(kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giảiquyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống.

1.1.2 Định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong nhà trường

Theo Weinert (2001) định nghĩa “Năng lực là những khả năng và kỹ xảohọc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như

sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đềmột cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”

* Sơ đồ khái quát các năng lực chung cần hình thành ở HS

1.1.3 Định hướng phát triển năng lực môn Ngữ văn cho học sinh trong nhà trường

Theo cuốn sách “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh” thì sau năm 2015 sẽ triển

khai thực hiện dự thảo đề án đổi mới chương trình SGK giáo dục phổ thông theođịnh hướng năng lực Đối với HS THPT khi học môn Ngữ văn cần hình thànhcác năng lực chuyên biệt sau [5, tr50 – 56]

Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ: là khả năng của mỗi cá

nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mỹ của sự vật, hiện tượng, conngười và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cáithiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện[4, 56]

Năng lực sáng tạo

Năng lực sử dụng công nghệ thông tin

Năng lực

sử dụng ngôn ngữ

Năng lực tính toán

tự học

Năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực tự quản

Trang 8

Năng lực sáng tác: đó là việc tiếp thu các kiến thức kết hợp với kiến thức

của bản thân viết nên tác phẩm, có thể là thơ, truyện, sách, báo để có được tácphẩm có giá trị và giàu cảm xúc người đọc cần tích lũy kĩ năng tạo lập văn bản,tìm hiểu kết cấu, bố cục, nội dung của thể loại mình muốn sáng tác, xác định đốitượng cần viết và xây dựng bố cục chặt chẽ Cần nắm chắc các thủ pháp nghệthuật từ đó có thể tạo một tác phẩm văn học hấp dẫn

Năng lực lí luân, phê bình: Từ việc tiếp nhận một tác phẩm văn học,

người học sẽ được tiếp nhận các tri thức mới và tự nói lên quan điểm, tư tưởngriêng của mình đối với tác phẩm văn học Như vậy, để có sự đánh giá đúng đắn

về tác phẩm, người học cần biết văn bản đó có giá trị nội dung và nghệ thuậtnào? Đồng thời cũng cần có kĩ năng tìm tòi, phát hiện những giá trị mới trongvăn bản đó Qua đó, tổng hợp lại viết thành một bài lí luận hoàn chỉnh

Năng lực giải quyết vấn đề: năng lực này cần được triển khai và áp dụng

nhiều khi dạy học một số nội dụng cụ thể trong môn Ngữ văn như: xây dựng kếhoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một số thể loại văn học mới, viếtmột kiểu loại văn bản, lý giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua vănbản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học GVtạo ra càng nhiều tình huống có vấn đề trong tiết học thì càng khơi gợi đượchứng thú tìm tòi, khám phá cái mới, tinh thần trách nhiệm của học sinh và sựphối hợp, tương tác giữa các em [4,50]

Năng lực sáng tạo: đây cũng là một trong những năng lực mà môn Ngữ

văn muốn hình thành ở HS Năng lực này được thể hiện trong việc xác định cáctình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong cácvăn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ nhữnggóc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HStrước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống Nó còn bộc lộ thái độ đam mê vàkhát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức[4, 51]

Năng lực giao tiếp Tiếng Việt: là một trong những năng lực quan trọng

cần hình thành ở HS khi dạy học môn Ngữ văn Năng lực này được thể hiện ở 4

kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Năng lực này coi trọng khả năng thực hành, vậndụng những kiến thức Tiếng việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng củacuộc sống [4, 55]

Trang 9

Năng lực hợp tác: Đây là một năng lực cần thiết trong xã hội hiện đại, khi

mà chúng ta đang sống và làm việc trong một môi trường phát triển với xu thếhội nhập Trong tiết học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện rõ khi HS cùng chia

sẻ phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm

vụ học tập diễn ra trong giờ học Từ đó, HS được bày tỏ những suy nghĩ, cảmnhận của mình về các vấn đề đặt ra đồng thời biết cách lắng nghe những ý kiếntrao đổi, thảo luận của các bạn trong nhóm để tự điều chỉnh hành vi và suy nghĩcủa bản thân Đây là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành nhân cáchcho HS [4, 52]

Năng lực tự quản bản thân: năng lực này giúp mỗi con người luôn chủ

động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉluật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình

Muốn HS có được các năng lực này thì dạy học không được thiên quánhiều về lý thuyết mà cần dành đa số thời gian để HS được trải nghiệm và vậndụng

Để đạt được mục tiêu trên GV cần đổi mới phương pháp dạy học, đổi mớicách kiểm tra đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực

Tức là, GV phải thiết kế giáo án theo các hoạt động dạy học mới, trongphần mục tiêu bài học GV cần chỉ rõ những năng lực mà HS cần hình thành vàrèn luyện Đối với những nội dung dạy học mới hoặc có sự thay đổi về mục tiêubài học, cần có sự thay đổi thống nhất giữa các GV trong tổ, nhóm chuyên môn

để đưa ra mục tiêu và những nội dung, hình thức dạy học cụ thể, thống nhất

- Ngoài việc phát huy tối đa tác dụng của những hình thức và phươngpháp dạy học truyền thống, nên tiến hành dạy học theo những hình thức mớinhư: nghiên cứu bài học, dạy học theo dự án… kết hợp với hệ thống các câu hỏigợi mở, dẫn dắt nhằm đánh giá mức độ năng lực của HS Đặc biệt, cần ứng dụngcông nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS,hình thành cho các em phương pháp tự học để có năng lực học tập suốt đời

- Tăng cường các bài tập tình huống nhằm liên hệ, nối kết các nội dung,

sự kiện, nhân vật, kiến thức, kĩ năng trong các bài học với cuộc sống, hiện thựcđang diễn ra hàng ngày; từ lời ăn tiếng nói đến cách diễn đạt, suy nghĩ, cách thểhiện sự đồng cảm, chia sẻ…

1.2 Thao tác lập luận bác bỏ

1.2.1 Khái niệm

Trang 10

Thao tác lập luận bác bỏ là một hoạt động tư duy nhằm giúp cho conngười nhận thức được cái đúng, biết phê phán cái sai, bảo vệ chân lí, lẽ phải.Tuy nhiên đây là thao tác khá mới trong dạy học Làm văn Bởi lẽ trước đây,trong dạy Làm văn chỉ đưa ra những kiểu bài nghị luận (phân tích, chứng minh,

so sánh, bình luận ) Nhưng do việc thay đổi chương trình và xuất phát từ thực

tế viết văn nghị luận là phải vận dụng kết hợp thao tác lập luận trong một bàivăn, các em học sinh cần nhận biết được các thao tác lập luận nên chương trình

SGK Ngữ văn 11 đã đưa ra một số thao tác lập luận cơ bản, trong đó có thao tác

bác bỏ Vì đây là một thao tác mới nên những công trình nghiên cứu về thao tác

và dạy học thao tác bác bỏ là chưa nhiều

Thao tác lập luận bác bỏ cũng được nghiên cứu trong SGK Việc nghiêncứu này chỉ mang tính chất khái quát về lập luận bác bỏ, chưa đi sâu nghiên cứucác bài tập mới ngoài SGK Trong SGK cũng đã có có cả hai phần lý thuyết vàthực hành luyện tập thao tác lập luận bác bỏ nhưng hầu như cả hai phần này đềuchưa thực sự đi sâu vào kết quả cần đạt đến Trong bài dạy lý thuyết, SGK chỉmới đề cập tới các vấn đề đó là: Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận và cáchbác bỏ; cách bác bỏ vẫn còn rất mơ hồ, chưa cụ thể, không mới mẻ Vì vậy, nếuđưa được cách dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” và bài “Luyện tập thao

tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 theo định hướng phát triển

năng lực HS thì bài học sẽ đạt được kết quả rất cao

Cùng với đó là cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn lớp 11, tập 2 do Phan

Trọng Luận chủ biên đã đề cập tới lập luận bác bỏ, nhưng công trình này cũngchưa đi sâu nghiên cứu các bài tập ngoài SGK mà chỉ định hướng việc dạy thaotác lập luận bác bỏ trong dạy học lý thuyết và thực hành Nếu đưa các bài tậpngoài SGK nhất là những bài tập ngay trong đời sống xã hội, văn học theo hướngphát triển năng lực thì kỹ năng lập luận bác bỏ của HS sẽ tốt hơn rất nhiều

Theo SGK Ngữ văn 11, tập 2 đưa ra khái niệm như sau: “Lập luận bác bỏ

là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếuchính xác, … từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe (ngườiđọc)

1.2.2 Vai trò của bác bỏ và lập luận bác bỏ

Bác bỏ là một khái niệm trong logic học Khái niệm này được sử dụng

thường xuyên trong cuộc sống, học tập và công việc Khi cần trao đổi, tranhluận để phản bác một ý kiến sai lầm, lệch lạc, phản khoa học, người ta thường

Trang 11

sử dụng lập luận bác bỏ.Tư duy bác bỏ thể hiện rất rõ trình độ hiểu biết, khảnăng suy nghĩ độc lập và tính tự chủ của người nói, người viết.Vì vậy, muốn làmviệc hiệu quả, muốn nhận thức thấu đáo chân lí và sự thật, muốn hiểu bản chấtcủa vấn đề một cách vững chắc, chúng ta phải biết cách bác bỏ.

Trong thực tế, HS có thể đã biết bác bỏ nhưng lập luận còn thiếu cơ sở,thiếu logic dẫn đến kết quả bác bỏ không có sức thuyết phục Mục tiêu của giáodục trong nhà trường phổ thông hiện nay là nhằm phát triển năng lực toàn diệncho HS, trong đó đề cao năng lực sáng tạo, suy nghĩ độc lập, biết bảo vệ chân lí,

lẽ phải… nên việc dạy học thao tác lập luận bác bỏ là rất cần thiết Không phảingẫu nhiên mà trong Chương trình Ngữ văn lớp 11 (mới), LLBB được coi làmột trong bốn thao tác lập luận chính cần dạy cho HS LLBB vừa rèn luyện khảnăng tư duy ngược chiều một cách độc lập tự chủ, vừa nâng cao năng lực nghịluận cho HS khi nói và viết Đồng thời giúp HS có ý thức hơn trong việc nângcao trình độ hiểu biết của bản thân để bảo vệ chính kiến của mình, bảo vệ chân

lí, thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, lệch lạc Đó cũng chính là việc hình thành vàbồi dưỡng cho HS ý thức dân chủ, công khai, đức tính trung thực, tôn trọng chân

lí và sự thật trong cuộc sống, trong khoa học

Từ điển tiếng Việt giải thích: “Bác bỏ (đg): Bác đi, gạt đi, không chấp

nhận Bác bỏ ý kiến Bác bỏ luận điệu vu khống Dự án bị bác bỏ” [24; tr37]

Trong logic học “Bác bỏ là thao tác logic nhằm xác lập tính giả dối haytính không có căn cứ của luận đề đã được nêu ra Phán đoán cần bác bỏ gọi làluận đề của bác bỏ Các phán đoán dùng để bác bỏ gọi là các luận cứ Có bacách bác bỏ: 1 Bác bỏ luận đề (bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp); 2 Bác bỏluận cứ và 3 Làm sáng tỏ tính không vững chắc của luận chứng” [25; tr193]

Trong văn nghị luận muốn cho lập luận chặt chẽ, khi viết cần biết soi sángvấn đề dưới nhiều góc cạnh bằng cách tự đặt ra các câu hỏi như là chất vấn, đốithoại để làm nổi bật sự thật, để phơi bày mặt trái, mặt vô lí của một vấn đề nàođấy Ở đây, thao tác LLBB thường được vận dụng một cách triệt để

Như vậy, rèn kĩ năng lập luận bác bỏ cho HS cũng chính là rèn luyệnnăng lực tư duy, suy luận, năng lực thuyết phục cho HS khi nói và viết

Trang 12

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 2.1 Thuận lợi

Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc, nơi tôi công tác, là một ngôi trườngkhang trang, đảm bảo vệ sinh môi trường, nhà trường đã có sự đầu tư về cơ sởvật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học

Đồng thời luôn có sự chỉ đạo sát sao của Chi bộ, Ban giám đốc trong mọilĩnh vực hoạt động đặc biệt là trong công tác giảng dạy

Bản thân tôi luôn trau dồi, học hỏi kiến thức cho mình Là người giáo viêngiảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi luôn yêu nghề, nguyện đem hết khả năng củamình để phục vụ cho sự nghiệp

+ Hàng tháng tôi luôn được Ban giám đốc, các anh chị đồng nghiệp trong

tổ nhóm chuyên môn dự giờ, rút kinh nghiệm

+ Đồng thời thông qua bạn bè đồng nghiệp tôi đã học hỏi được một sốkinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy Đó là điều kiện thuận lợi để bản thân

có thể dạy tốt môn học này Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng không thểtránh những khó khăn trong quá trình giảng dạy

2.2 Khó khăn

2.2.1.Thực trạng về tài liệu dạy học

* Tìm hiểu nội dung dạy bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2).

A Mục tiêu bài học

Mục tiêu bài học của bài: “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn

11, tập 2 bao gồm 3 phần: kiến thức, kĩ năng, thái độ, cụ thể như sau:

* Về kiến thức

Giúp học sinh nắm được:

- Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ

Trang 13

- Viết một đoạn văn, bài văn bác bỏ một ý kiến với cách bác bỏ phù hợp.

* Về thái độ:

- Có quan điểm, lập trường vững vàng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn, bác

bỏ các quan điểm, ý kiến sai lệch

Nhìn chung về mục tiêu bài học đối với bài “Thao tác lập luận bác bỏ”

(SGK Ngữ văn 11, tập 2) về lí thuyết đã chỉ ra những mục tiêu cơ bản về kiến

thức, kĩ năng và thái độ Tuy nhiên, cần phải khai thác sâu hơn nữa về mục tiêubài học và theo hướng phát triển năng lực của HS

B Nội dung bài học

Đối với bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) có những

nội dung chính như sau:

I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ

Nội dung dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2)

về cơ bản vẫn còn đơn giản, ở phần I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luậnbác bỏ trong phần này mới chỉ ra bác bỏ là gì? (theo từ điển tiếng Việt) Phần II.Cách bác bỏ, với mục 1 là phân tích các ngữ liệu nhưng sang đến mục 2 SGKchỉ viết hãy cho biết các cách thức bác bỏ, không đưa ra các ví dụ hay những lờinhận xét Qua đây, chúng ta có thể thấy trong mục I thiếu phần khái niệm, trong

Trang 14

SGK chưa chỉ ra các bước LLBB và ở phần II tên đề mục chưa đầy đủ Như vậy,với nội dung bài “Thao tác lập luận bác bỏ” như trong SGK thì còn quá chungchung, sơ sài, cần phải thay đổi các phần và sắp xếp hợp lí để nội dung bài họcđược chi tiết hơn.

Trong thực tế, yêu cầu phát triển năng lực cho HS THPT nói chung và HS

BT THPT nói riêng xuất phát từ khả năng trí tuệ của HS đã có những bước hoànthiện về thế chất lẫn tâm lí

Tài liệu dạy học cụ thể là SGK, SBT, SGV cũng đã bước đầu định hướngcác kiến thức, kỹ năng cơ bản để HS có thể biết cách lập luận bác bỏ

Tuy nhiên qua việc khảo sát các tài liệu dạy học tôi thấy, vẫn chưa cóbước định hướng vào phát triển năng lực cho HS.Thao tác lập luận bác bỏ làkiểu bài lí thuyết về kĩ năng, vì thế mà mục tiêu chính của bài là phải rèn luyệncho học sinh kĩ năng lập luận bác bỏ SBT mặc dù đã đưa ra cho HS một số bàitập nhưng vẫn còn ít và chưa đa dạng, chưa rèn luyện được kĩ năng sửa chữa,lập luận cho HS Do đó, trong quá trình dạy học cần phải tăng cường, đa dạnghoá hệ thống ngữ liệu và hệ thống bài tập để rèn luyện nhiều về kĩ năng lập luậnbác bỏ cho học sinh

Tài liệu dạy học về kiểu bài này còn ít, giữa những tài liệu còn chưa có sựthống nhất cao trong việc phát triển năng lực cho học sinh và chưa có tài liệu

nào thiết kế bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực

cho HS một cách cụ thể

Vì vậy, tôi nhận thấy tài liệu dạy học chưa đề ra những kiến thức nhằmrèn luyện kĩ năng cũng như phát triển năng lực cho HS bởi vậy mới dẫn đến tìnhtrạng bài học chưa sâu, chưa đạt được mục tiêu rèn luyện và phát triển nhữngnăng lực cần thiết cho HS

2.2.2 Thực trạng về hoạt động dạy của GV

Qua nhiều dịp dự giờ thăm lớp, các giờ dạy của đồng nghiệp, tôi nhậnthấy việc tổ chức dạy học của tôi và các GV khác đã hướng vào việc định hướngcho HS kiến thức lí thuyết về cách lập luận bác bỏ và cung cấp cho HS một số kĩnăng làm bài

Đa số các GV đều cho rằng việc vận dụng các PPDH tích cực trong giảngdạy là cần thiết và sẽ đem lại hiệu quả cao hơn so với các phương pháp truyềnthống Tuy nhiên, nhiều GV còn ngần ngại vận dụng các PPDH tích cực, nhất là

Trang 15

PPDH dự án vì phải đầu tư nhiều thời gian, công sức Còn một số GV đã quenvới các phương pháp truyền thống nên ngại đổi mới.

Về việc dạy học để phát triển các NLCB cho HS vẫn chưa được các GVviên chú trọng Đa số GV giảng dạy theo lối truyền thụ tri thức là chủ yếu, nênviệc phát triển các NLCB cho HS trong bài thao tác lập luận bác bỏ còn nhiềuhạn chế Như: việc dạy học kiểu cũ chỉ chú ý tới tiếp nhận kiến thức mà chưachú ý tới phát triển năng lực cho HS Tri thức mà HS tiếp nhận còn phiến diện,một chiều, đôi chỗ còn làm các em mơ hồ

2.2.3 Thực trạng về hoạt động học của HS

Văn nghị luận là một loại văn khó, đòi hỏi người viết phải có trí tuệ, có sựquan sát, tổng hợp, khái quát, đánh giá….nên không phải học sinh nào cũng cóthể tiếp nhận dễ dàng

Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc, nơi tôi đang giảng dạy là trườngthuộc khối GDTX, đa số các em HS ở đây có học lực trung bình và một số ít HS

có học lực khá Nhiều em ý thức còn kém, việc dạy - học theo kiểu cũ về thaotác lập luận bác bỏ còn rất mơ hồ Rất nhiều HS chưa nhận thức rõ được tầmquan trọng của thao tác này trong bài văn nghị luận

Hệ thống bài tập chưa có sự đa dạng, chưa có sự phân hoá, phân loại theochủ đề, theo sở thích, năng lực của HS Vì vậy hoạt động của các em rất thụđộng, không có sự sáng tạo, hứng thú trong học tập Đặc biệt, hệ thống bài tậpchưa có những bài tập ứng dụng, bài tập vận dụng năng lực giao tiếp để rènluyện cho HS năng lực nói - trình bày vấn đề cũng như thể hiện cách lập luận,dẫn dắt vấn đề, nói một cách rõ ràng, thuyết phục cho mọi người về các vấn đềđặt ra

Một số phụ huynh còn coi nhẹ và chưa sát sao với việc học tập của con

em mình, thường xuyên cho con nghỉ học tuỳ tiện nên ít nhiều cũng làm ảnhhưởng tới kết quả học tập của các em

Tôi nhận thấy rằng việc dạy học cần điều chỉnh hoạt động học cho HSthông qua việc chú trọng các kiến thức, kĩ năng nhằm nâng cao năng lực cho các

em để các em thành thục kĩ năng lập luận so sánh, tiếp cận những đề bài mộtcách chủ động, sáng tạo; đồng thời tạo hứng thú học tập, kích thích, khơi gợi ởcác em khả năng tự bộc lộ suy nghĩ, quan điểm của mình… như thế bài học mớiđạt được mục tiêu giáo dục đề ra là: Dạy học văn gắn liền với với đời sống, pháthuy năng lực của người học để lĩnh hội và chủ động chiếm lĩnh tri thức Việc kết

Trang 16

hợp dạy học vào việc phát triển năng lực cho HS là vô cùng cần thiết, nó phảiđược định hướng một cách cụ thể bằng những phương pháp dạy học tích cực đểnâng cao năng lực làm văn nghị luận cho HS.

Trang 17

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

3.1 Cách tiến hành thực nghiệm

* Thực nghiệm thăm dò: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm phỏng vấn

GV và phát phiếu điều tra khảo sát HS ở một số lớp khối 11, để thăm dò thực

trạng dạy và học kiểu bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2).

* Tác giả khảo sát qua điều tra phỏng vấn (phiếu điều tra GV và HS)

Để tìm hiểu được thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ”

(SGK Ngữ văn 11, tập 2) của giáo viên và thực trạng học bài “Thao tác lập luận

bác bỏ” ở học sinh, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra, khảo sát với 4 GVtrong nhóm chuyên môn Ngữ văn (phiếu điều tra, khảo sát số 1), phát phiếu điềutra, khảo sát đối với học sinh lớp 11A2 trong trường (phiếu điều tra, khảo sát số2) Kết quả đạt được như sau:

Phiếu khảo sát số 1:

- Số phiếu phát ra: 04

- S phi u thu v : 04ố phiếu thu về: 04 ếu thu về: 04 ề: 04

BCD

1003

1120

103

25%

0%

75 %

Trang 18

21

50%

25%

BCD

1012

25%

75%

7 - Học sinh hiểu bài nhưng khi vào bài viết không phải học sinh nào

cũng áp dụng được, số áp dụng được không nhiều

- Ngữ liệu của bài “Thao tác lập luận bác bỏ” thường dài nên khitìm hiểu mất nhiều thời gian Vì vậy, trong giờ dạy phân tích được ítngữ liệu

- Câu hỏi còn khó Các dạng đề kiểm tra ít sử dụng thao tác LLBB

- Nội dung lý thuyết còn sơ sài

- Trình độ nhận thức của học sinh còn thấp, thiếu tính tích cực, chủđộng, sáng tạo Học sinh không hứng thú khi học bài “Thao tác lậpluận bác bỏ”

8 - Các dẫn chứng chưa thật sự sinh động, phong phú, cần bổ sung

thêm

- Có nhiều cách để bác bỏ một luận điểm, luận cứ tuy nhiên khi dạyhọc bài “Thao tác lập luận bác bỏ” cần đưa ra một số cách cơ bản đểhọc sinh áp dụng

- Phần I, mục đích, yêu cầu của bài “Thao tác lập luận bác bỏ” cần

bổ sung khái niệm về “Thao tác lập luận bác bỏ”

- Dạy học kết hợp với các phương tiện hỗ trợ (máy chiếu, sơ đồ,tranh ảnh, bảng phụ…) để tạo hứng thú cho học sinh và nâng caochất lượng giờ dạy

- Cần có trong chương trình một bài viết văn có sử dụng thao tác lậpluận bác bỏ để biết được khả năng nhận thức và vận dụng của HS

Trang 19

17114

43,8%

56,2%

9 - Em mong được học theo phương pháp hiện đại, có sử dụng máy

chiếu, video, tranh ảnh minh họa, được học theo nhóm để làm giờhọc không nhàm chán

- Em muốn kiểm tra những câu hỏi tùy vào lực học của mỗi HS,kiểm tra với kiến thức vừa phải Khi kiểm tra bài cô giáo nên cho

Trang 20

HS lập luận về một vấn đề nào đó mà bản thân mình quan tâm nhất

và cô giáo nhận xét

- Em muốn tìm hiểu kĩ thêm về thao tác lập luận bác bỏ, bài họcđược mở rộng và nâng cao hơn (nâng cao phương pháp giảng dạy,đưa ra nhiều ví dụ và bài tập để nâng cao kĩ năng làm văn)

- Em muốn được học theo phương pháp hiện đại, thầy (cô) giúphoàn thiện kĩ năng lập dàn ý để có thể có kiến thức chắc hơn

- Em muốn được học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” với cách côgiáo cho bài tập ngoài SGK, sau đó bản thân tự làm và được cô giáochữa, xem mình có làm đúng hay không, khả năng tự lập luận nhưthế nào để biết được khả năng nắm bài và kĩ năng của mình đến đâu

- Mong thầy cô giảng chậm và kĩ hơn về bài học này

3.2 Khảo sát giáo án, thiết kế

* Khảo sát giáo án

Để biết thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn

11, tập 2) trong nhà trường diễn ra như thế nào thì chúng tôi đã tiến hành khảo

sát 2 giáo án của 2 GV khác nhau ở trường, chúng tôi nhận thấy như sau:

Giáo án số 1:

- Về mục tiêu bài học: với kiến thức GV mới chỉ giúp HS nắm được mụcđích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ mà chưa chỉ ra cần phải giúp HS nắmđược khái niệm về thao tác LLBB Tiếp theo là giúp HS nắm được cách bác bỏ,vậy cách bác bỏ ở đây là gì thì GV vẫn chưa chỉ ra cụ thể mà nói một cách rấtchung như phần II Cách bác bỏ trong SGK, cuối cùng là giúp HS nắm được một

số vấn đề xã hội và văn học, vậy vấn đề xã hội và văn học là cái gì? GV cần xácđịnh đủ vấn đề hơn như giúp HS biết bác bỏ một ý kiến sai, thiếu chính xác vềmột vấn đề nào đó trong xã hội và trong văn học

- Về nội dung bài học: ở phần I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luậnbác bỏ GV có chỉ ra bác bỏ là bác đi, gạt đi, không chấp nhận nhưng đây thựcchất là khái niệm của bác bỏ chứ không phải mục đích của thao tác LLBB và

GV lại chỉ ra nghị luận về bản chất là tranh luận, tranh luận để bác bỏ nhữngquan điểm, ý kiến không đúng, bày tỏ và bênh vực những ý kiến đúng đắn Để

Trang 21

chất đây chính là khái niệm của nghị luận Như vậy GV vẫn chưa chỉ ra mụcđích của thao tác LLBB Đến phần II Cách lập luận bác bỏ, GV cho phân tích 3ngữ liệu trong SGK thì phần này cần chuyển thành mục một số dạng bác bỏ sẽthích hợp hơn

- Về phần luyện tập: GV cũng mới chỉ chữa 2 bài tập trong SGK đơngiản, không có bài tập củng cố, nâng cao kiến thức cho HS, chưa rèn luyện được

kĩ năng nói, kĩ năng viết cho HS

- Thời gian dạy học diễn ra trong thời gian rất ngắn, GV không sử dụngcác phương tiện hỗ trợ dạy học như: máy chiếu, phiếu học tập… GV có chiahoạt động nhóm nhưng nhìn chung giáo án này vẫn rất đơn giản, sơ sài, GVchưa chú ý tới quá trình dạy và học Làm văn

Giáo án số 2:

- Về mục tiêu bài học: với kiến thức như ở giáo án số 1 GV mới chỉ giúp

HS nắm được mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ mà chưa chỉ ragiúp HS nắm được khái niệm về thao tác LLBB Tiếp theo là giúp HS nắm đượccách bác bỏ, vậy cách bác bỏ ở đây là gì thì GV vẫn chưa chỉ ra mà nói một cáchrất chung như phần II Cách bác bỏ trong SGK và ở giáo án này GV chưa chỉ ramục tiêu về kiến thức cần giúp HS biết bác bỏ một ý kiến sai, thiếu chính xác vềmột vấn đề nào đó trong xã hội và trong văn học

- Về nội dung bài học: GV để mục I Mục đích và yêu cầu của thao tácLLBB như trong SGK nhưng lại chia ra thành các phần nhỏ hơn đó là: kháiniệm thao tác LLBB, mục đích, yêu cầu là hoàn toàn không hợp lí Nếu chia cácphần nhỏ như vậy thì phần I phải là Thao tác lập luận bác bỏ Đến phần II Cáchlập luận bác bỏ GV cần chuyển thành phần một số dạng bác bỏ thì sẽ hợp lí hơn

- Về luyện tập: GV cũng chỉ cho HS làm 2 bài tập trong SGK và không cóbài tập củng cố, nâng cao kiến thức cho HS, chưa rèn luyện được kĩ năng nói và

kĩ năng viết cho HS

- Ở giáo án này GV không sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học như:máy chiếu, phiếu học tập…, không sử dụng các hoạt động học như hoạt độngnhóm Cũng như giáo án số 1, giáo án số 2 cũng rất đơn giản và sơ sài, khôngphát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo của người học

Trên đây là những nhận xét về 2 giáo án mà chúng tôi đã khảo sát đượccủa 2 giáo viên dạy tại trường, về cơ bản giáo án vẫn còn rất đơn giản, sơ sài,không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS khi dạy và học, trong giáo

Trang 22

án vẫn theo lối truyền thống, chưa sử dụng các hoạt động tích cực cũng như cácphương pháp mới.

3.3 Khảo sát hoạt động dạy học qua dự giờ

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát hoạt động dạy học bài “Thao tác lập luận

bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) qua dự giờ của 2 giáo viên tại hai lớp khác

nhau thì nhận thấy rằng: cả hai GV chúng tôi dự giờ đều dạy học bài “Thao tác

lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo cách truyền thống, nội dung bài

đơn giản chỉ đơn thuần trong SGK, chưa thiết kế những hoạt động để HS chủđộng thực hiện theo hướng phát triển năng lực, GV không sử dụng các thiết bịdạy học tích cực HS học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” không sôi nổi, trầmtrong hoạt động học

3.4 Khảo sát qua bài văn của học sinh

Theo như chúng tôi có khảo sát các lớp ở khối 11của trường, thì hầu nhưcác em không có bài kiểm tra riêng về thao tác lập luận bác bỏ (15 phút, 1 tiết,bài viết ở nhà…) Như vậy, chứng tỏ rằng đối với bài “Thao tác lập luận bác bỏ”các em không được vận dụng vào trong việc viết một bài văn nghị luận có sử

dụng thao tác bác bỏ Cũng như trong chương trình SGK Ngữ văn 11, tập 2 đến

bài viết văn số 6: nghị luận xã hội phần II Gợi ý một số đề cũng không có đềnào có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong khi thao tác lập luận bác bỏ cũng

là một thao tác rất quan trọng trong đời sống

3.5 Thực nghiệm dạy học

3.5.1 Cách thức tiến hành

Chúng tôi tiến hành dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực học sinh với giáo án mà

chúng tôi đã đề xuất ở lớp thực nghiệm, cụ thể là lớp 11A2 Sau đó chúng tôi

tiến hành dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo

giáo án truyền thống ở lớp đối chứng, cụ thể là lớp 11A3 Đây là 2 lớp với học lực của học sinh là tương đương nhau, nhằm mang lại kết quả chính xác nhất

3.5.2 Định hướng dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho HS

A Về mục tiêu dạy học

Mục tiêu bài học của bài: “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướngphát triển năng lực HS bao gồm 3 phần: kiến thức, kĩ năng, thái độ hướng đến

Trang 23

phát triển các năng lực cho người học Các nội dung ở mỗi phần đưa ra phảibám sát vào chuẩn kiến thức kĩ năng theo quy định của Bộ Giáo Dục, bám sátvào nội dung bài học có trong SGK, và phải phù hợp với trình độ nhận thức của

- Rèn kĩ năng bác bỏ vấn đề, các kĩ năng sau:

+ Tự nhận thức bài học cho bản thân

+ Giao tiếp, trình bày suy nghĩ

- Từ đó, HS có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến ngữ liệu

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các ngữ liệu

+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa thao táclập luận bác bỏ

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận

3 Về thái độ

- Có quan điểm, lập trường vững vàng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn, bác

bỏ các quan điểm, ý kiến sai lệch

B Về nội dung dạy học

Đối với nội dung dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn

11, tập 2) theo hướng phát triển năng lực học sinh, chúng tôi xây dựng nội dung

bài học có một vài điểm khác so với SGK chuẩn Ngữ văn 11, tập 2 như sau:

I Thao tác lập luận bác bỏ

1 Khái niệm

a Ví dụ

b Nhận xét

Trang 24

2 Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ

3 Bài tập sửa chữa

C Về phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học

- Về phương pháp dạy học: Đối với dạy học bài “Thao tác lập luận bác

bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực về phương

pháp dạy cần sử dụng những phương pháp sau: Vấn đáp, thảo luận nhóm, bìnhgiảng…

- Về hình thức: Khi dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực cần dạy học theo các hình

thức như: Tổ chức các hoạt động dạy học theo mô hình VNEN nhằm phát triểnnăng lực HS, dạy học theo lớp kết hợp với dạy học theo nhóm

- Về phương tiện dạy học: Khi dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ”

(SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực cần kết hợp sử dụng những phương tiện: SGK Ngữ văn 11, tập 2; SGV Ngữ văn 11, tập 2; giáo

án; máy tính; máy chiếu; phiếu học tập…

D Về kiểm tra đánh giá

Đối với kiểm tra đánh giá, GV nên đưa những vấn đề trong thực tiễn,những vấn đề trong cuộc sống vào đề kiểm tra để đánh giá được mức độ nắm bài

Trang 25

cũng như kĩ năng của HS Từ đó tạo lập được kĩ năng giao tiếp trong cuộc sốngmột cách tốt hơn.

3.6 Đề xuất giáo án mới dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho HS

3.6.1 Nội dung thực nghiệm

Nội dung chủ yếu của thực nghiệm là tiến hành dạy học theo 2 loại giáo

án khác nhau: giáo án thực nghiệm (dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ”

trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 theo định hướng phát triển năng lực cho HS) và

giáo án đối chứng (giáo án truyền thống) Sau đợt thực nghiệm, HS lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng được tiến hành kiểm tra trong cùng một điều kiện vớicùng một đề kiểm tra 15 phút mà chúng tôi đã thiết kế để đánh giá kết quả Đểtiến hành dạy thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành thiết kế giáo án sau:

Trang 26

+ Tự nhận thức bài học cho bản thân

+ Giao tiếp, trình bày suy nghĩ

3 Thái độ

- Có quan điểm, lập trường vững vàng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn, bác

bỏ các quan điểm, ý kiến sai lệch

4 Năng lực

- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến ngữ liệu

- Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các ngữ liệu

- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa thao tácLLBB

- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, phản biện

B Chuẩn bị

1 Giáo viên

- SGK Ngữ văn 11, tập 2; SGV Ngữ văn 11, tập 2; Máy chiếu

- Bộ câu hỏi định hướng.

- Các phiếu đánh giá, phiếu câu hỏi (trước khi bắt đầu Thực nghiệm:phiếu điều tra người học, hợp đồng học tập; trong khi thực hiện thựcnghiệm: phiếu học tập định hướng, phiếu tự đánh giá; kết thúc thực nghiệm:thông tin phản hồi, phiếu đánh giá, tổng kết)

2 Học sinh

- Chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện để hoàn thành thực nghiệm: sách

giáo khoa,vở ghi, vở soạn, bút, bản báo cáo sau thực nghiệm

C Phương pháp:

- Tổ chức các hoạt động dạy học theo mô hình VNEN nhằm PTNL HS

- Vận dụng kết hợp các phương pháp: vấn đáp; truyền đạt trực tiếp; thảoluận nhóm; phân tích mẫu kết hợp với các kĩ thuật dạy học tích cực

D Tổ chức hoạt động dạy - học

1 Ổn định tổ chức

Trang 27

2 Kiểm tra bài cũ

Câu 1: Vì sao‘‘Vội vàng’’được coi là một trong những bài thơ tiêu biểu

nhất cho hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng Tháng 8?

A. Vì bài thơ thể hiện triết kí sống vội vàng của Xuân Diệu

B. Vì bài thơ bộc lộ niềm khát khao giao cảm với đời và nhiều sáng

tạo mới lạ trong hình thức thể hiện (Đáp án đúng)

C. Vì bài thơ phô bày mọi vẻ đẹp của thiên đường trần thế

D. Vì bài thơ thể hiện cái nhìn nhạy cảm với thời gian của Xuân Diệu

Câu 2: Với 2 câu thơ :

‘‘Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương quaXuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già’’

Xuân Diệu đã thể hiện quan niệm về thời gian như thế nào?

A. Thời gian luân chuyển tuần hoàn

B. Thời gian tĩnh tại và chậm chạp

C Thời gian phát triển theo đường thẳng, không quay trở lại (Đáp

án đúng)

3 Bài mới

* Hoạt động 1 : Trải nghiệm (khởi động)

GV: Kể một câu chuyện cười

Có một chàng ngốc có nói rằng:

‘‘Vợ mình con của người taCon mình do vợ sinh raNgẫm đi nghĩ lại chẳng bà con chi.’’

Theo em cách lập luận này của chàng ngốc là đúng hay sai? Nếu em cho

là sai thì em có phản bác hay phủ định ý kiến này không?

HS: Trả lời

GV: Đó là cách phủ định vấn đề mà mình cho là không đúng Thao tácnày trong văn nghị luận gọi là thao tác lập luận bác bỏ Vậy bác bỏ là gì? Thaotác lập luận bác bỏ là gì? Cách bác bỏ như thế nào? Ngày hôm nay cô và các em

Trang 28

sẽ đi tìm hiểu một thao tác nữa trong văn nghị luận, đó là thao tác lập luận bácbỏ.

GV: chia lớp thành 2 nhóm lớn tương ứng và nêu câu hỏi

+ Bằng kiến thức đã học, một em nhắc lại lập luận là gì?

*

Hoạt động 2: Hoạt động khám phá (hình thành kiến thức)

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

TT1 Tìm hiểu về thao tác lập luận bác

Nguyễn Tuân là một người bình

thường như bao bậc anh hùng khác và

cũng không quá tài giỏi.)

Có ý kiến cho rằng : Nhân vật Huấn

Cao trong tác phẩm ‘‘Chữ người tử tù’’ của Nguyễn Tuân là một người

bình thường như bao bậc anh hùngkhác và cũng không quá tài giỏi

*Phân tích ví dụ

Lí lẽ, dẫn chứng :

- Huấn Cao là một nho sĩ tài hoa :+ Tài văn : viết chữ rất nhanh và rấtđẹp

+ Tài võ: bẻ khóa, vượt ngục

- Huấn Cao là người có thiên lươngtrong sáng:

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w