Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lờicho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát,nghiên cứu tài liệu hay điều
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN
5 Những vấn đề cần quan tâm khi vận dụng PP Bàn tay nặn bột vào thực
6 Tầm quan trọng của dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột 12
7 Sự khác biệt giữa dạy học theo quan niệm truyền thống và dạy học theo
CHƯƠNG 2: SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO
PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT BÀI “TỪ THÔNG CẢM ỨNG
ĐIỆN TỪ” – VẬT LÝ 11 CƠ BẢN Ở TRƯỜNG THPT
5 Soạn thảo tiến trình dạy học theo Bàn tay nặn bột bài “Từ thông Cảm
ứng điện từ”
18
Trang 2MỤC LỤC HÌNH
Hình 2 Sơ đồ cấu trúc nội dung bài “Từ thông Cảm ứng điện từ” 16
Hình 3.1.Bộ dụng cụ thí nghiệm chuẩn bị day học theo Bàn tay nặn bột bài
Trang 3Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề trung tâm của nền giáodục thế giới trong nhiều năm gần đây và cũng là một trong những chủ trương quantrọng về giáo dục của Đảng và Nhà nước ta Luật giáo dục điều 24.2 đã ghi: “Phươngpháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo củahọc sinh; Phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Khác các bộ môn khác, Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm Gắn liền với đờisống của con người Mục đích của việc Dạy – Học Vật lí không chỉ dừng lại ở việctruyền thụ cho học sinh những kiến thức, kỹ năng Vật lí mà loài người đã tích lũyđược, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho học sinh năng lực suy nghĩđộc lập, không dập khuôn, năng lực sáng tạo, năng lực hành động thực tiễn để tạo ranhững kiến thức mới, phương pháp mới, những năng lực giải quyết vấn đề mới nhạybén, hiệu quả, thiết thực và phù hợp với thực tế
Muốn đạt được mục đích này trong dạy học Vật lí thì việc dạy học vật lí phảiđược tiến hành thông qua các hoạt động của học sinh Muốn đổi mới cách học thì phảiđổi mới cách dạy, đổi mới cách dạy chính là đổi mới phương pháp Thế nhưng việcdạy học vật lí ở trường phổ thông hiện nay có một thực trạng là học sinh chủ yếu học líthuyết và vận dụng lí thuyết để giải bài tập mà ít có cơ hội tham gia tích cực vào cáchoạt động hình thành kiến thức như: hoạt động nhóm, hoạt động chế tạo, tiến hành thínghiệm hoặc các mô hình ứng dụng thực tế Để cải thiện thực trạng này và đáp ứngyêu cầu của xã hội thì chúng ta cần phải áp dụng những phương pháp dạy học tích cựcnhư phương pháp dạy học theo trạm, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, và đặc
biệt là phương pháp bàn tay bặn bột, một phương pháp dạy học đang rất phát triển
trên thế giới và được áp dụng nhiều tại Việt Nam trong một vài năm gần đây Phươngpháp Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm tìm tòi
- nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên
Mọi người hay nghĩ rằng PP BTNB chỉ áp dụng và phù hợp với cấp tiểu học.Nhưng trong thực tế, trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy có thể áp dụng PP BTNBcho một số bài thuộc chương trình Vật lí THPT, đem lại hiệu quả cao trong quá trìnhgiảng dạy và học tập, nổi bật lên cả là bài: “Từ thông Cảm ứng điện từ”
Trang 4Vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học bài “Từ thông Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 cơ bản
3 TÁC GIẢ SÁNG KIẾN.
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Hải
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Tam Đảo – Vĩnh phúc
- Số điện thoại: 0979142198
E_mail: nguyenthithanhhai.gvtamdao@vinhphuc.edu.vn
4 CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN.
Nguyễn Thị Thanh Hải – Trường THPT Tam Đảo – Vĩnh phúc.
5 LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.
- Vật lý cơ bản lớp 11, phương pháp dạy học bàn tay nặn bột
- Hoạt động dạy và học bài “ Từ thông Cảm ứng điện từ”
6 NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU
Trong giảng dạy chính khóa: tháng 2/2019 lớp 11A1 trường THPT Tam Đảo
7 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN.
7.1 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
1 Khái niệm phương pháp bàn tay nặn bột
Trang 5Phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột" (BTNB), tiếng Pháp là La main à la pâte viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ
-sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lí năm1992) Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lờicho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát,nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình
Phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệmtìm tòi- nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên
BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thínghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt
ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hayđiều tra
Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh làtrung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hộikiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên
Mục tiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá
và say mê khoa học của HS Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phươngpháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữnói và viết cho HS
2 Cơ sở khoa học của phương pháp BTNB
2.1 Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi - nghiên cứu
Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phương pháp dạy và họckhoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của HS, bản chất của nghiêncứu khoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũng như kĩ năng mà HS cần nắmvững Phương pháp dạy học này cũng dựa trên sự tin tưởng rằng điều quan trọng làphải đảm bảo rằng HS thực sự hiểu những gì được học mà không phải đơn giản chỉ làhọc để nhắc lại nội dung kiến thức và thông tin thu được Không phải là một quá trìnhhọc tập hời hợt với động cơ học tập dựa trên sự hài lòng từ việc khen thưởng, dạy họckhoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu đi sâu với động cơ học tập được xuất phát từ sựhài lòng của HS khi đã học và hiểu được một điều gì đó Dạy học khoa học dựa trên
Trang 6tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lượng thông tin được ghi nhớ trong một thờigian ngắn mà ngược lại là những ý tưởng hay khái niệm dẫn đến sự hiểu biết ngàycàng sâu hơn cùng với sự trưởng thành của HS.
2.1.1 Bản chất của nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB
Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là một vấn đềcốt lõi, quan trọng Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là mộtđường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp Học sinh tiếp cận vấn đề đặt raqua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầucủa mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định(giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhómkhác; nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thínghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thíchcho vấn đề đặt ra ban đầu Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, traođổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiếnthức
2.1.2 Lựa chọn kiến thức khoa học trong phương pháp BTNB
Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với HS theo độ tuổi là một vấn đềquan trọng đối với GV GV phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiết giới thiệu kiếnthức này không? Cần thiết giới thiệu kiến thức này vào thời điểm nào? Cần yêu cầu
HS hiểu kiến thức này ở mức độ nào? GV có thể tìm câu hỏi này thông qua việcnghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tài liệu hỗ trợ GV (sách GV, sách thamkhảo, hướng dẫn thực hiện chương trình) để xác định rõ hàm lượng kiến thức tươngđối với trình độ cũng như độ tuổi của HS và điều kiện địa phương
2.1.3 Cách thức học tập của HS
Phương pháp BTNB dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho phép GV hiểu rõhơn cách thức mà HS tiếp thu các kiến thức khoa học Phương pháp BTNB cho thấycách thức học tập của HS là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xungquanh mình qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu Các hoạt động nghiên cứucũng gợi ý cho HS tìm kiếm để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sự tương tácvới các HS khác cùng lớp để tìm phương án giải thích các hiện tượng Các suy nghĩ
Trang 7ban đầu của HS rất nhạy cảm ngây thơ, có tính lôgic theo cách suy nghĩ của HS, tuynhiên thường không chính xác về mặt khoa học.
2.1.4 Quan niệm ban đầu của HS
Quan niệm ban đầu là những biểu tượng ban đầu, ý kiến ban đầu của học sinh
về sự vật, hiện tượng trước khi được tìm hiểu về bản chất sự vật, hiện tượng Đây lànhững quan niệm được hình thành trong vốn sống của học sinh, là các ý tưởng giảithích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của học sinh, còn gọi là các "khái niệm ngâythơ" Biểu tượng ban đầu không phải là kiến thức cũ, đã được học mà là quan niệm củahọc sinh về sự vật, hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học kiến thức đó
Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu là một đặc trưng quan trọngcủa phương pháp dạy học BTNB Biểu tượng ban đầu của học sinh là rất đa dạng vàphong phú Biểu tượng ban đầu là một chướng ngại trong quá trình nhận thức của họcsinh Chướng ngại chỉ bị phá bỏ khi học sinh tự mình làm thí nghiệm, tự rút ra kếtluận, đối chiếu với quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mình đúng haysai
2.2 Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi - nghiên cứu
Dạy học theo phương pháp BTNB hoàn toàn khác nhau giữa các lớp khácnhau phụ thuộc vào trình độ của học sinh Giảng dạy theo phương pháp BTNB bắtbuộc giáo viên phải năng động, không theo một khuôn mẫu nhất định (một giáo ánnhất định) Giáo viên được quyền biên soạn tiến trình giảng dạy của mình phù hợp vớitừng đối tượng học sinh, từng lớp học Tuy vậy, để giảng dạy theo phương phápBTNB cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
- HS cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học Để đạtđược yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vào bước hình thành các câu hỏi
- Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học
- Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng Một trong các kĩnăng cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích
- Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ thí nghiệm màhọc sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi; biết viết cho mình và cho người kháchiểu
- Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi - nghiên cứu
Trang 8- Khoa học là một công việc cần sự hợp tác
2.3 Một số phương pháp tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp thí nghiệm trực tiếp
Một thí nghiệm yêu cầu học sinh trình bày nên đảm bảo 4 phần chính:
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
3 Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp BTNB
3.1 Nguyên tắc về tiến trình sư phạm
- Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũivới đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó
- Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tậpthể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mànếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên
- Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiếntrình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho cácchương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn
- Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài Sựliên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốtthời gian học tập
- Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghichép theo cách thức và ngôn ngữ của các em
Trang 9- Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuậtđược thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh.
3.2 Những đối tượng tham gia
- Các gia đình, khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớphọc
- Ở địa phương, các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiêncứu…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
- Ở địa phương, các viện đào tạo giáo viên (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học
Sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học
- Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđunkiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giảipháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với cácđồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học Giáo viên là người chịutrách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách
4 Tiến trình dạy học theo phương pháp BTNB
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
* Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viênchủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phảingắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câuhỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêuvấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huốngxuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trườnghợp cụ thể)
* Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà họcsinh sẽ được học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gâymâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinhnhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáo viênphải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không)đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trênthì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Trang 10Hình thành biểu tượng ban đầu từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh làbước quan trọng, đặc trưng của phương pháp BTNB Trong bước này, giáo viênkhuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khiđược học kiến thức Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, giáo viên cóthể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói (thông quaphát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Từ những quan niệmban đầu của học sinh, giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi Chú ý xoáy sâu vàonhững quan niệm liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay mô đun kiếnthức).
Giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số quan niệm ban đầu khác biệt trong lớp
để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bàihọc Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các quan niệm banđầu tiêu biểu trong số hàng chục quan niệm của học sinh một cách nhanh chóng theomục đích dạy học, đồng thời điều khiển sự thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh
đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học Việc chọn lựa cácquan niệm ban đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của học sinhgặp khó khăn
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của học sinh, giáo viêngiúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó Chú ý xoáy sâu vào những
sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài (hay mô đun kiến thức)
Ở bước này giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khácbiệt trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đếnnội dung bài học Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa cácbiểu tượng ban đầu tiêu biểu trong số hàng chục biểu tượng của học sinh một cáchnhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của họcsinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạyhọc Việc chọn lựa các biểu tượng ban đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đềxuất câu hỏi của học sinh gặp khó khăn
- Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các
em đề xuất thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó
Trang 11- Sau khi học sinh đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, giáo viênnêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứuthích hợp, giáo viên có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án.
Lưu ý rằng phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành - thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viênkhéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để học sinh tiến hành Ưu tiên thực hiện thínghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trênvật thật có thể làm cho mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ
Tiến hành thí nghiệm tương ứng với môđun kiến thức Làm lần lượt các thínghiệm nếu có nhiều thí nghiệm Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để họcsinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng)
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dần đượcgiải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưachuẩn xác một cách khoa học Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại
để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học
5 Những vấn đề cần quan tâm khi vận dụng PP Bàn tay nặn bột vào thực tiễn
5.1 Hiệu quả của phương pháp đối với GV và HS
5.1.1 Giáo viên
- Không phải tốn thời gian cho việc thuyết trình giảng giải
- Kiến thức được HS tiếp nhận một cách tự nhiên, thoải mái, không gò ép
- Rèn được kĩ năng xử lí tình huống
5.1.2 Học sinh
- Có được kĩ năng phán đoán, lập luận , bảo vệ ý kiến cá nhân
- Mạnh dạn tự tin trước đám đông
- Phát huy khả năng tìm tòi, lòng say mê khoa học
- Tự chiếm lĩnh kiến thức qua thực nghiệm sẽ nhớ lâu
- Rèn luyện kĩ năng diễn đạt
Trang 125.2 Những vấn đề cần quan tâm khi vận dụng phương pháp vào thực tiến
5.2.3 Thời lượng tiết học
a Khó khăn: 35 - 40 phút / tiết rất khó áp dụng cho phương pháp BTNB
Lí do: HS ghi vở thực nghiệm tốn thời gian
Tốn nhiều thời gian cho việc trình bày ý tưởng cá nhân
Làm thí nghiệm có thể thất bại nhiều lần
b Biện pháp:
- Cần giải quyết ít vấn đề trong một lần thí nghiệm
-Sử dụng phương pháp này thường xuyên để rèn thói quen cho HS
- Rèn cho HS có kĩ năng diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc để đảm bảo thời gian
- Trong quá trình thực nghiệm GV cần có mặt kịp thời nhằm giúp nhóm trình bày ý tưởng, có thể điều chỉnh kịp thời để tránh thất bại nhiều lần
Trang 13- Những vấn đề chưa cần thiết giải quyết trong tiết học GV hẹn dịp khác.
- Đề xuất ý kiến lên các cấp quản lí GD
- Có chỗ dành riêng để vật liệu thí nghiệm
5.3 Những điều lưu ý khi sử dụng phương pháp BTNB
- Thực hiện phương pháp này không thể nóng vội, cần thực hiện từng bước đểtạo thói quen cho học sinh, lúc đó việc dạy học với phương pháp BTNB sẽ dễ dàng vàđem lại hiệu quả cao
- Tất cả các câu hỏi của học sinh đưa ra ta không bỏ vào sọt rác mà sẽ trả lời quabài học (câu hỏi nào chưa có trong bài học ta cần khéo léo dẫn dắt, khi nào có kiếnthức ở các bài khác liên quan ta sẽ trả lời cho các em)
- Trước giờ ta vẫn làm củng cố bài là phải nhắc lại nội dung kiến thức để các emnhớ được thì nay với phương pháp BTNB sẽ là những thử thách mới để các em tìm tòikhám phá ở nhà và đây cũng là bước chuẩn bị cho bài sau
6 Tầm quan trọng của dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Đối với nhà trường:
- Nâng cao được chất lượng GD của trường, đào tạo những con người có các kĩnăng tư duy cao, kĩ năng cộng tác, giao tiếp; tạo cho HS lòng tin vào kiến thức hànlâm
- Tạo môi trường học tập thân thiện, HS tích cực và ganh đua trong quá trình họctập
- Tối ưu hóa sự bình đẳng giữa các cơ hội GD Môi trường làm việc hợp tác sẽ tạocho mọi HS có ý thức làm việc; vai trò và trách nhiệm được phân chia theo khả năng phùhợp với năng lực cá nhân nên ai cũng có cơ hội thể hiện mình
Đối với giáo viên:
Trang 14- Đạt được mục tiêu: nâng cao chất lượng bài giảng và hình thành, phát triểncác kĩ năng sống, nhân cách cho HS Góp một phần nhỏ vào việc đổi mới PPDH.
- Trong quá trình học tập luôn có sự trao đổi ý kiến qua lại về các vấn đề liênquan đến nhiệm vụ học tập, từ đó tạo mối quan hệ gần gũi giữa thầy và trò, giúp nhiềucho GV trong quá trình giáo dục HS, nhất là HS cá biệt
- Với kiểu tổ chức dạy học theo BTNB, GV có cơ hội thể hiện nhiều vai trò khácnhau, không chỉ là người truyền thụ kiến thức, mà còn là người tổ chức, quản lí, giámsát, động viên cũng như nhắc nhở khi HS làm việc
- GV có cơ hội phát hiện năng lực của HS, từ đó lên kế hoạch bồi dưỡng những
HS khá - giỏi, khắc phục những HS yếu kém
Đối với học sinh:
- HS nắm được kiến thức bài học nhưng vẫn bảo đảm có tính thực tế, từ đó kếtquả học tập của HS sẽ được nâng cao nhờ sự hiểu biết sâu sắc
- Trong quá trình làm việc, mỗi HS sẽ học hỏi được các hành vi ứng xử vớingười khác, với tập thể; từ đó giúp cho mỗi HS dễ dàng hòa nhập với cuộc sống
- Trong quá trình làm việc thông qua thảo luận, các HS sẽ được trao đổi, tranhluận với các bạn trong nhóm, với nhóm khác; từ đó HS sẽ tự nhận xét về ưu và nhượcđiểm của bản thân và có định hướng nghề nghiệp sau này cho bản thân
7 Sự khác biệt giữa dạy học theo quan niệm truyền thống và dạy học theo PP BTNB
Ngày nay, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông,chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều phương pháp và hình thức dạy học mới như: Dạyhọc giải quyết vấn đề; Dạy học nêu và giải quyết vấn đề; Dạy học theo lí thuyết kiếntạo với nhiều kĩ thuật tố chức hoạt động học tích cực cho học sinh Tuy có nhữngđiểm khác biệt nhau nhưng nhìn chung thì các chiến lược dạy học, phương pháp dạyhọc đó đều được xây dựng trên tinh thần dạy học giải quyết vấn đề thông qua việc tổchức cho học sinh hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển nănglực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ
Đối chiếu với tiến trình sư phạm của phương pháp BTNB, chúng ta có thể nhậnthấy điểm tương đồng của phương pháp này so với các phương pháp dạy học tích cựckhác là ở chỗ đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn
đề Về cơ bản thì tiến trình dạy học cũng được diễn ra theo 3 pha chính là: 1-chuyển
Trang 15giao nhiệm vụ cho học sinh; 2-học sinh hoạt động tự chủ giải quyết vấn đề; 3-báo cáo,hợp thức hóa và vận dụng kiến thức mới Điểm khác biệt của phương pháp BTNB sovới các phương pháp khác là ở chỗ các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề lànhững sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận
và các em sẽ thực hành trên những cái đó Đặc biệt, phương pháp BTNB chú trọngviệc giúp cho học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thứclàm cơ sở đề xuất các câu hỏi và giả thuyết Hoạt động tìm tòi - nghiên cứu trongphương pháp BTNB rất đa dạng, trong đó các phương án thí nghiệm nếu được tiếnhành thì chủ yếu là các phương án được đề xuất bởi chính học sinh, với những dụng cụđơn giản, dễ kiếm Đặc biệt, trong phương pháp BTNB, học sinh bắt buộc phải có mỗi
em một quyển vở thí nghiệm do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữcủa chính các em Thông qua các hoạt động như vậy, phương pháp BTNB nhằm đạtđược mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và
kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói
Trang 16CHƯƠNG 2 SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT BÀI “TỪ THÔNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”
VẬT LÝ 11 CƠ BẢN Ở TRƯỜNG THPT
1 Mục tiêu dạy học của bài “Từ thông Cảm ứng điện từ” – Vật
lý 11 Cơ bản
1.1 Kiến thức
- Viết được công thức và hiểu được ý nghĩa vật lí của từ thông
- Phát biểu được định nghĩa và hiểu được khi nào có hiện tượng cảm ứng điện từ
Đề xuất được những phương án thí nghiệm kiểm tra
- Phát biểu được định nghĩa định luật Len- xơ theo những cách khác nhau và biếtvận dụng để xác định chiều dòng điện cảm ứng trong các trường hợp khác nhau
- Phát biểu được định nghĩa và nêu được một số tính chất của dòng điện Fu- cô
1.2 Kĩ năng
- Kĩ năng quan sát và quan sát có chủ đích
- Có khả năng làm việc độc lập và kĩ năng làm việc nhóm
- Kĩ năng đề xuất và sử dụng thành thạo các dụng cụ thí nghiệm, biết cách xử líkết quả thí nghiệm và từ kết quả rút ra kết luận cần thiết
- Rèn luyện ngôn ngữ nói và viết, đặc biệt là thuật ngữ khoa học
- Rèn kĩ năng tự lực học tập, độc lập tư duy và năng lực sáng tạo
1.3 Thái độ
- Tích cực học tập, yêu thích môn vật lí nói riêng và khoa học nói chung
- Có cái nhìn khoa học đối với các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và hứng thúmuốn tìm hiểu chúng
- Có tinh thần đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập
- Có tinh thần trách nhiệm, khách quan, trung thực, tỉ mỉ và cẩn thận
- Có tác phong làm việc như nhà khoa học
1.4 Định hướng phát triển năng lực
- Năng lực giải quyết vấn đề;
- Năng lực hợp tác;
Trang 17- Năng lực tự học, tự nghiên cứu;
Hình 2 Sơ đồ cấu trúc nội dung bài “Từ thông Cảm ứng điện từ”
3 Thực trạng dạy học bài: “Từ thông Cảm ứng điện từ” - Vật lý 11 ở trường THPT
- Về phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Phương pháp giảng dạy của giáo viên chủ yếu là thuyết trình và đàm thoại, tiếntrình dạy học theo đúng trình tự của SGK Các câu hỏi của giáo viên nêu ra chỉ mangtính đơn thuần là tái hiện kiến thức cũ có liên quan, học sinh thụ động nghe và ghichép
Mức độ sử dụng phương tiện thí nghiệm còn thấp, chưa được giáo viên quan tâm.Một số giáo viên chỉ sử dụng thí nghiệm được trình bày theo kiểu thuyết trình,
mô tả định tính mà không được tiến hành trên lớp hoặc chỉ tiến hành biểu diễn trênlớp, mặc dù các thí nghiệm trong bài tương đối đơn giản, không mất nhiều thời gian
Từ thông Cảm ứng điện từ
cảm ứng điện từ
Định luật Len - xơ