1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 7 phần ca dao dân ca việt nam

25 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 174 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như chúng ta đã biết khi theo dõi kết quả học sinh giỏi các cấp nhiều nămgần đây thì thấy học sinh của mình điểm vẫn không cao mặc dù các em làm bàicũng thấy có khả quan vì trong quá trì

Trang 1

IV Giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao- dân ca 4

VI Các dạng bài tập về tìm hiểu ca dao- dân ca 15

Trang 2

trong giai đoạn hiện nay Để hoàn thành nhiệm vụ đó, ngành giáo dục không

ngừng đổi mới công tác quản lí giáo dục, chương trình SGK, đặc biệt là công tácbồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp

Trong nhiều năm giảng dạy bộ môn ngữ văn ở trường THCS và nhiều nămbồi dưỡng học sinh giỏi lớp 7, chúng tôi nhận thấy việc rèn kỹ năng học và cảmthụ là vấn đề then chốt trong việc rèn tư duy cho học sinh vừa có được kiến thứcvừa bồi dưỡng cảm xúc tình cảm

Như chúng ta đã biết khi theo dõi kết quả học sinh giỏi các cấp nhiều nămgần đây thì thấy học sinh của mình điểm vẫn không cao mặc dù các em làm bàicũng thấy có khả quan vì trong quá trình làm bài các em chưa biết cách và xácđịnh được các loại câu hỏi ở dạng nào

Từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu và thực nghiệmtrong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả khả quan, đồng thờirút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp để cùngnhau tìm ra phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn đạt kết quả caohơn

II Phạm vi nghiên cứu:

Chuyên đề có phạm vi nghiên cứu “Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ vănlớp 7- Phần Ca dao- dân ca Việt Nam” với một số kĩ năng cơ bản để học tốt vàlàm bài thi HSG tốt

III Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng mà đề tài hướng tới nghiên cứu và áp dụng thực nghiệm là họcsinh lớp 7 và đội tuyển học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 7

IV Giá trị sử dụng của đề tài.

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên bồi dưỡng họcsinh giỏi môn ngữ văn 7

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM CA DAO- DÂN CA:

Ca dao, dân ca là những khái niệm tương đương chỉ các thể loại trữ tình dângian, kết hợp giữa lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người Hiện nayngười ta có phân biệt hai khái niệm dân ca và ca dao Dân ca là những sáng tác kếthợp lời và nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễn xướng Ca dao là lời thơcủa dân ca Ca dao còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệthuật chung với lời thơ của dân ca Khái niệm ca dao còn được dùng để chỉ mộtthể thơ của dân gian- thể ca dao

Theo Chu Xuân Diên trong giáo trình “Văn học dân gian” viết: “Giữa ca dao

và dân ca không có sự phân biệt rõ rệt Sự phân biệt này chỉ là ở chỗ khi nói đến

ca dao người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân cangười ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa ”

II NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CA DAO- DÂN CA:

Thực thể mà ta gọi là ca dao không chỉ tồn tại trong đời sống tinh thần ngườiTrung Quốc, người Việt Nam mà có ở tất cả các dân tộc trên thế giới Nó khôngphải chỉ mới tồn tại mà theo các nhà nghiên cứu thơ ca dân gian thế giới thì nó bắtđầu từ thời nguyên thủy Trong thuyết “Sự hỗn hợp giữa sáng tác tập thể và cánhân”- R A Vvitham có viết: “Dân ca bắt đầu sinh ra từ người dân bình thường,

đó là đặc trưng của đời sống tinh thần nguyên thủy Khi đó ở trong nhà hoặc cáccuộc tụ hội, họ hát lên những bài ca kể chuyện Thi nhân thời đó không biết viết,dân chúng thời đó không biết đọc Một người nào đó đọc lên hoặc hát lên, ngâmlên cho họ nghe Xã hội thời đó là xã hội đồng chất, tình cảm và hứng thú của mọingười giống nhau Xã hội cử lễ ăn mừng, uống rượu, nhảy múa là lúc mọi ngườivui chơi ca hát.”

Bước phát triển thứ hai lại khéo ở người sửa chữa thêm Các loại ca hát vàvui chơi ấy đều được coi là của chung dân chúng, một loại tác giả không có dụngtâm làm tác giả Về sau, dân chúng dần dần coi trọng người hát một mình (hát lẻ),

do đó mà có những ca công có tài đáng khen đã lấy việc ca hát làm nghề nghiệp.Những người này không chỉ lấy tài liệu truyền thống mà có thể từ mình cảm hứnglàm thành bài hát Bước phát triển này làm cho chúng ta có nhiều bài hát tự sự vàtrữ tình hoàn thành

III ĐẶC ĐIỂM CỦA CA DAO- DÂN CA:

Là một thể loại văn học dân gian, ca dao cũng mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của văn học thời kì này

1 Tính tập thể:

Ca dao là sáng tác của quần chúng nhân dân lao động, là tiếng nói, câu hátchung của mọi người Mỗi bài ca dao dân ca được kết tinh từ tiếng nói tâm hồncủa biết bao con người Bởi vậy, dưới mỗi bài ca dao ta không hề thấy tên một tác

Trang 4

giả nào cũng là điều dễ hiểu Và cũng chính bởi vậy mà ca dao cũng có sức layđộng, cuốn hút tới đông đảo quần chúng nhân dân.

2 Tính truyền miệng:

Ca dao ra đời từ khi loài người chưa có chữ viết Cách sáng tác và lưu truyềnduy nhất đó là truyền miệng Mọi người cùng nhau hát lên một bài ca nào đó,người nọ hát cho người kia nghe, ông bà hát cho cháu nghe, bố mẹ hát cho connghe Ca dao, dân ca được nhân rộng ra là nhờ thế Cũng từ ca dao mà cuộc sốngtinh thần của nhân dân trở nên phong phú, giàu có, vui tươi hơn gấp nhiều lần

3 Tính dị bản:

Đặc tính này nảy sinh là do quá trình truyền miệng- “Tam sao thất bản”.Trong khi truyền miệng một bài ca dao từ người này sang người khác, từ nơi nàyđến nơi khác hoặc do ngôn ngữ nhiều địa phương khác nhau nên có nhiều dị bảnkhác nhau Tuy nhiên, các dị bản đó đều không làm thay đổi ý nghĩa câu ca màngược lại chúng góp phần làm cho ca dao thêm phong phú, đa dạng về số lượng vàhình thức thể hiện

IV GIÁ TRỊ NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO- DÂN CA:

1 Giá trị nội dung:

+ Ca dao phản ánh hiện thực cuộc sống của các tầng lớp nhân dân lao động.Qua ca dao ta thấy được bức tranh nhiều màu sắc về đời sống xã hội thời bấy giờ

“Mặt trời tang tảng rạng ĐôngChàng ơi trở dậy ra đồng kẻo trưa

Phận nghèo bao quản nắng mưa, Cày sâu bừa kĩ được mùa có phen.”

+ Ca dao thể hiện những tình cảm thiêng liêng, cao đẹp của ông cha ta,những tình cảm thấm nhuần tư tưởng nhân văn của mọi thời đại: tình cảm giađình, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống, yêu lao động, tình yêu đôilứa, yêu thương con người

“Ngày nào em bé cỏn conBây giờ em đã lớn khôn thế nàyCơm cha, áo mẹ, chữ thầy Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.”

+ Có khi ca dao cất lên những tiếng thở than ai oán, đồng cảm, xót thươngvới những kiếp người đau khổ trong xã hội:

“Nước non lận đận một mìnhThân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

Ai làm cho bể kia đầy

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”

Trang 5

+ Cũng có khi ca dao mỉa mai, châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội,khuyên con người hướng tới những điều tốt đẹp:

“Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”

2 Giá trị nghệ thuật:

+ Hầu hết các bài ca dao đều được viết theo thể lục bát, thể thơ truyền thống

của dân tộc, cách gieo vần, ngắt nhịp dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người

+ Về giọng điệu, ca dao chính là những lời hát nên rất giàu chất nhạc Mỗibài ca dao cất lên với một giong điệu khác nhau:

Có khi tha thiết, bồi hồi:

“Con cò bay lả bay la,Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng”

Có khi cháy bỏng, mãnh liệt:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”

Có khi lại nhẹ nhàng, sâu lắng:

“Rủ nhau xuống bể mò cua Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau.”

+ Ngôn ngữ trong ca dao rất giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, các từ láy tươngthanh, tượng hình… khiến các sự vật, sự việc, hiện tượng hiện lên sinh động, gợicảm vô cùng:

“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm”

“Công cha như núi ngất trời,

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông

Núi cao, biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.”

+ Các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ…cũngđược các tác giả dân gian vận dụng rất thành công để làm nổi bật tư tưởng tìnhcảm muốn diễn đạt:

- So sánh:

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

“Cổ tay em trắng như ngà

Trang 6

Đôi mắt em sắc như là dao cau

Miệng cười chúm chím hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.”

- Nhân hóa;

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ cây lúa trổ bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.”

- “Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?

- Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.”

-”Ở đâu năm cửa nàng ơi

Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?

- Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi

Sông lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng”

* Tóm lại, với giá trị nội dung, nghệ thuật đặc sắc, ca dao thực sự xứng đáng

là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc Ca dao- dân ca đã tạo mộtnền móng vững chắc cho văn học các thời kì sau kế thừa và phát huy

Trang 7

V MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TRONG CA DAO- DÂN CA:

1 Chủ đề ca dao về tình cảm gia đình:

1.1 Lòng tôn kính ông bà, tổ tiên:

Trong mỗi gia đình Việt Nam từ xưa đến nay, con cháu các thế hệ luôn nhớ

về cội nguồn của mình, luôn tôn kính ông bà, tổ tiên Rất nhiều bài ca dao đã nóilên điều đó:

“Con người có cố, có ông

Như cây có cội như sông có nguồn.”

“Ngó lên nuộc lạt mái nhà

Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.”

1.2 Tình cảm yêu thương giữa cha mẹ và con cái

Công cha, nghĩa mẹ sinh thành nuôi dưỡng làm sao kể cho xiết, đó cũng làchủ đề trong rất nhiều bài ca dao:

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ, kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Ơn cha nặng lắm ai ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.”

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”

“Tu đâu cho bằng tu nhà,

Thờ cha, kính mẹ ấy là chân tu.”

1.3 Tình cảm anh em:

Tình cảm anh em ruột thịt một nhà “máu chảy ruột mềm”, keo sơn gắn bócũng luôn được nhân dân ta coi trọng Anh em sống hòa thuận cũng là một cáchbáo hiếu với cha mẹ để cha mẹ có thể vui vẻ lúc về già Mỗi câu ca dao là mỗi lờinhắc nhở, động viên anh em phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau:

“Anh em như chân, như tay

Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”

“Anh em nào phải người xa

Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân

Yêu nhau như thể tay chân

Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.”

“Khôn ngoan đá đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.”

Trang 8

1.4 Tình cảm vợ chồng:

Xưa nay đạo vợ chồng trăm năm gắn bó, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, thủychung son sắt đến khi đầu bạc răng long Điều đó được thể hiện hết sức xúc độngqua những câu ca dao giản dị mà chan chứa ân tình

“Chồng em áo rách em thương

Chồng người áo gấm sông Hương mặc người.”

“Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.”

“Gái thương chồng đương đông buổi chợ

Trai thương vợ nắng quái chiều hôm.”

“Rủ nhau lên núi đốt than

Chồng mang đòn gánh, vợ mang quang rành

Củi than nhem nhuốc với tình

Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên”

2 Chủ đề ca dao về tình yêu quê hương, đất nước

2.1 Yêu nước là yêu những gì thân thương, bình dị, gần gũi nhất xung quanh ta

+ Yêu những cánh đồng cò bay thẳng cánh, lúa tốt bời bời:

“Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, mênh mông bát ngát,

Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, bát ngát mênh mông,

Thân em như chẽn lúa đòng đòng

Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.”

+ Yêu những món ăn dân dã, yêu những con người lao động cần cù vất vả: “Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà rầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

+ Yêu những cánh cò trong lời ru của mẹ:

“Cái cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về

Cò về thăm quán cùng quê

Thăm cha, thăm mẹ cò về thăm anh.”

2.2 Yêu nước gắn liền với tình cảm quý trọng những danh lam thắng cảnh nổi tiếng khắp mọi miền đất nước

+ Miền Bắc với vẻ đẹp của Hồ Tây đầy thơ mộng và Hồ Gươm xanh làchứng tích của một nền văn hiến lâu đời:

Trang 9

“Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.”

“Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ

Xem cầu Thê Húc, Xem chùa Ngọc Sơn

Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn

Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”

+ Miền Trung ai đã từng qua quên làm sao được xứ Huế mộng mơ: nào chùaThiên Mụ, nào lăng Tự Đức và cả những làn điệu ca Huế trên sông Hương sayđắm lòng người:

“Đường vô xứ Huế quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Huế thì vô ”

+ Miền Nam với những địa danh mà chỉ nghe tên gọi trong lòng đã muốn ghéthăm:

“Nhà Bè nước chảy chia hai

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

Tay cầm bầu rượu nắm nem

Mải vui quên hết lời em dặn dò.”

+ Miền xuôi cũng đâu thiếu những cảnh đẹp níu bước chân người kháchphương xa Đầm sen thơm ngào ngạt, những bông sen trắng trong tinh khiết tượngtrưng cho tâm hồn cao đẹp của con người Việt Nam chẳng phải đáng tự hào lắmsao?

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

2.3 Yêu nước là tự hào về truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc

Trang 10

+ Từ xưa đến nay, con Rồng cháu Tiên vẫn luôn tự hào về nòi giống của

mình và ghi nhớ công ơn của các đời Vua Hùng dựng nước Truyền thống “Uốngnước nhớ nguồn” đó đã in đậm trong các câu ca dao như dòng máu Lạc Hồng vẫnchảy trong mỗi thế hệ Việt Nam:

“Ai về Phú Thọ quê ta

Vui ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười

Dù ai đi ngược về xuôi,

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”

“Ai về đến huyện Đông Anh,

Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương.”

+ Đất nước Việt Nam anh dũng, phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất trước kẻthù Ca dao đã ghi lại hình ảnh tuyệt đẹp Bà Triệu cưỡi voi, đánh cồng dẹp giặc Ngô:

“Ai về Phú Lộc, Phú Điền,

Nhớ đây Bà Triệu trận tiền xung phong.”

+ Thế kỉ XV, Lê Lợi đã làm nên trang sử chói ngời bằng cuộc kháng chiếnchống quân Minh thắng lợi vẻ vang:

“Sâu nhất là sông Bạch Đằng

Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan

Cao nhất là núi Lam Sơn

Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”

+ Không chỉ tự hào về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, ca dao cònthể hiện sự hãnh diện của nhân dân về nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt:

“Dịu dàng nết đất An Dương

Xưa nay là chốn văn chương nổi tài.”

“Ai về Thọ Lão hát chèo,

Có thương lấy phận nàng Kiều thì thương”

3 Chủ đề ca dao về tình yêu lao động, tinh thần lạc quan trong cuộc sống:

3.1 Tình yêu lao động:

Nhân dân ta vốn có đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, hay lam hay làm

Từ thuở khai thiên lập địa, không một tấc sắt trong tay, ông cha ta chưa bao giờchùn bước trước khó khăn gian khổ Vẫn còn đó những câu ca tràn đầy niềm hăngsay phấn khởi trong công việc cấy cày:

“Ơn trời mưa nắng phải thì

Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu

Công lênh chẳng quản bao lâu

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng

Trang 11

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.”

Tình yêu lao động đã tạo nên sức mạnh để người nông dân vững tin hơn vàongày mai tươi sáng, mùa vàng bội thu:

“Văn chương phú lục chẳng hay,

Trở về làng cũ học cày cho xong

Sớm ngày vác cuốc thăm đồng

Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên

Hết mạ ta lại quẩy thêm,

Hết lúa ta lại mang tiền đi đong

Nữa mai lúa chín đầy đồng

Gặt về đạp, sẩy bõ công cấy cày.”

Nhiều khi từ cuộc sống lao động vất vả, các thi sĩ dân gian lại có dịp trổ tàibằng những câu ca đầy lãng mạn:

“Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

3.2 Tinh thần lạc quan trong cuộc sống:

Cuộc sống vô vàn những khó khăn gian khổ nhưng nhân dân ta vẫn gắng sứcvượt lên Ngọn lửa niềm tin chưa bao giờ tắt trong trái tim những con người lầmlụi khổ đau Ngược lại, họ luôn động viên nhau cùng vượt khó:

“Rủ nhau đi cấy đi cày

Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.”

Những câu hát hài hước nhiều khi cũng làm cho cuộc sống đáng yêu hơn, thi

vị hơn và con người xích lại gần nhau hơn:

“Lấy anh thì sướng hơn vua

Anh đi đánh giậm được cua kềnh càng

Mang về nấu nấu rang rang

Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua.”

Ngay cả khi tưởng như sự khó khăn, bất hạnh đẩy người ta vào đường cùngthì ta vẫn thấy tia hi vọng lóe lên trong bóng tối mịt mùng Nhân dân ta vẫn vữngbước đi lên một cách đầy khâm phục:

“Tháng giêng

Tháng hai

Tháng ba

Trang 12

Mua con gà mái

Về nuôi hắn đẻ ra mười trứng

Một cái trứng ung

Hai cái trứng ung

Ba cái trứng ung

Bốn cái trứng ung

Năm cái trứng ung

Sáu cái trứng ung

Bảy cái trứng ung

Còn ba cái trứng, nở ra ba con:

Con diều tha

Con quạ bắt

Con cắt lôi

Chớ than phận khó ai ơi

Còn da- lông mọc, còn trồi- nảy cây.”

4 Chủ đề ca dao về tình yêu đôi lứa:

Tình yêu luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca mọi thời đại Đối vớingười nghệ sĩ dân gian, tình cảm đó lại được thể hiện rất tế nhị, duyên dáng, tinhtúy với nhiều cung bậc khác nhau Dù ở cung bậc nào, ta luôn cảm nhận được vẻđẹp dung dị, thuần khiết trong tình yêu của những con người gắn bó với bờ tre,ruộng lúa

4.1 Lời tỏ tình

Khởi nguồn của tình yêu là lời tỏ tình “Vạn sự khởi đầu nan ”, quả thực lời nói ban đầu là vô cùng khó Ấy vậy mà người xưa vẫn diễn đạt được thật khéo léo biết bao !

Có khi là một lời gợi ý:

“Cô kia cắt cỏ bên sông

Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây ”

Có khi là lời giới thiệu hóm hỉnh:

“Cô kia đi đằng này với ta

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w