Nhận thức rõ được tầm quan trọng của phân môn, tôi mạnh dạn nghiên cứu chuyên đề “làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức phân môn luyện từ và câu và tự tin trong học tập?”.Chính vì t
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU , ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
I Lời giới thiệu
Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội Trong xu thế phát triển toàn cầu như hiện nay, việc phát triển con người toàn diện là việc thiết yếu Là người Việt Nam sử dụng thuần thục ngôn ngữ tiếng mẹ
đẻ là việc thiết thực Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở tiểu học nói riêng, phân môn Luyện từ và câu giúp cho học sinh hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt Môn tiếng Việt tập trung thể hiện ở bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Đồng thời
là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở các lớp trên Thông qua việc dạy và học, tiếng việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ góp phần cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường qui nạp
và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết), bên cạnh đó còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu còn giúp học sinh bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt Phân môn Luyện từ và câu góp phần giúp học sinh hình thành nhân cách và nếp sống văn hoá của con người Việt Nam Các môn học ở tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn… song song tồn tại với các môn học khác Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các
môn học khác Trong bộ môn Tiếng Việt 5 phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có
nhiệm vụ cung cấp kiến thức về từ và câu, làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em Cụ thể là:
Được phân công dạy lớp 5, qua một thời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt Nhưng
Trang 2trong thực tế khi học sinh thực hành thì nhiều em còn lúng túng Nhận thức rõ được tầm quan trọng của phân môn, tôi mạnh dạn nghiên cứu chuyên đề “làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức phân môn luyện từ và câu và tự tin trong
học tập?”.Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp
5 học tốt phân môn Luyện từ và câu nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt ở lớp 5A1” để viết sáng kiến kinh nghiệm.
2 Tên sáng kiến
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt phân môn Luyện từ và câu nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt ở lớp 5A1
3 Đồng tác giả sáng kiến
- Nguyễn Thị Huyền Trang
- Lê Thị Thư
-Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Nhân Đạo – Sông Lô- Vĩnh Phúc -Số điện thoại: 0328517457 – 0978102406
-Email: huyentrangtanlap1992gmail.com
lethithu.gvc1nhandao@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng việt lớp 5
Phần I : Thực trạng của vấn đề
Chuyên đề dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên hoặc áp dụng thử: 25/8/2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Về nội dung của sáng kiến
7.1.1 Thuận lợi
Trang 3Nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có hiệu quả, góp phần nâng cao tay nghề cho GV
Giáo viên đều được trang bị đầy đủ SGK, sách giáo viên, sách tham khảo, các phương tiện dạy học như máy chiếu để dạy giáo án điện tử Đội ngũ giáo viên có năng lực, yêu nghề dã áp dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh một cách linh hoạt và hiệu quả
100 % cán bộ giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên Phần lớn giáo viên được phân công phụ trách khối lớp 5 có kinh nghiệm công tác nhiều năm và có vốn hiểu biết nhất định về kiến thức Hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
Giáo viên nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh; luôn tích cực tự học và sáng tạo trong giảng dạy
Hầu hết các em học sinh lớp 5 đã có những kiến thức sơ giản về ngữ âm
và ngữ pháp đã được làm quen ở các lớp dưới
Một số em đã có ý thức tự học và tự rèn luyện
Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng môn học nói riêng và môn tiếng việt nói chung
7.1.2 Khó khăn
Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế Chưa quan tâm đến tất cả học sinh trong lớp, giáo viên chỉ chú trọng vào các em học sinh hoàn thành tốt và coi đây là chất lượng chung của lớp
Trình độ giáo viên chưa đồng đều đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ, chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức
và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, còn lệ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này Tâm lí giáo viên sợ hết giờ nên sử dụng phương pháp rèn theo mẫu cho nhanh, học sinh chưa phát huy được tính tích cực
Bên cạnh đó, hình thức tổ chức dạy học của một số giáo viên còn đơn điệu, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
Trang 4Điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, các tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy Luyện từ và câu cũng như tranh ảnh, vật chất và các đồ dùng dạy học khác chưa phong phú
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 5, được tiếp xúc và tâm sự với nhiều đối tượng học sinh, được dự giờ đồng nghiệp, tôi đã cập nhật và thu nhận rất nhiều thực trạng cũng như những sai sót, nhầm lẫn của học sinh khi thực hành các bài tập luyện từ và câu:
Khi học các em còn có thói quen chờ thầy cô làm rồi chép bài, khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu Học sinh còn học vẹt, nhớ máy móc khi học phân môn này
Các từ cần giải nghĩa đa số là các từ Hán Việt nên học sinh khó hiểu, khó giải thích Diễn đạt thì lủng củng, tâm lí sợ sai, không mạnh dạn
Các em ít sử dụng từ điển nên vốn từ còn hạn chế
Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn
7.1.3 Nguyên nhân
Một số ít giáo viên không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này
Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn
“Luyện từ và câu” nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này
Học sinh không có hứng thú học phân môn này Các em đều cho đây là phân môn vừa “khô” vừa “khó”
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó dẫn đến việc nhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầm lẫn nhiều
Trang 5Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôi chảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài không đạt yêu cầu Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn
7.1.4 Các biện pháp giải quyết vấn đề
Để giúp các đối tượng học sinh khắc phục và hoàn thiện những thực trạng nêu trên là một vấn đề không đơn giản Với thực tiễn đặt ra hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục nói chung, mỗi thầy cô giáo chúng ta nói riêng, cần phải giúp học sinh học tập tốt hơn phân môn luyện từ và câu Để làm được điều đó tôi đề
ra cho mình những giải pháp sau:
Biện pháp 1: Giáo viên giúp học sinh nắm vững nội dung chương trình, các kiến thức, kỹ năng cần đạt được trong phân môn luyện từ và câu lớp 5
Với mạch kiến thức được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm tuỳ theo ở mỗi lớp mà có những yêu cầu khác nhau Tuy nhiên nếu các em nắm chắc những kiến thức ở lớp dưới thì lớp 5 các em sẽ nắm kiến thức dễ dàng hơn
Từ những mạch kiến thức của chương trình, tôi rút ra một số kiến thức trọng tâm cần lưu ý cho học sinh khi học các nội dung trong phân môn Luyện từ
và câu lớp 5 như sau:
Về nghĩa của từ ( từ đồng âm, từ nhiều nghĩa)
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được tập trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu Trong quá trình dạy học, tôi thường nhận thấy các em học sinh sau khi học hai bài “Từ trái nghĩa”, “Từ đồng nghĩa” thì các em dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũng không mấy khó khăn Song sau khi học hai bài “Từ đồng âm”, “Từ nhiều nghĩa” thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt
từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cũng không được như mong đợi của giáo viên, kể cả học sinh khá, giỏi đôi khi cũng còn thiếu chính xác Vì vậy sau khi mở rộng cho học sinh một số khái niệm cơ bản cần thiết về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi đã hướng dẫn học sinh so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa chúng:
Khác nhau:
Trang 6Từ đồng nghĩa Từ đồng âm Từ nhiều nghĩa
- Đặc điểm: Khác nhau về
âm thanh nhưng giống nhau
hoặc gần giống nhau về ý
nghĩa
- Ví dụ:
+ xây dựng, kiến thiết,
+ vàng xuộm, vàng lịm, vàng
hoe, …
- Đặc điểm: Giống nhau
về âm thanh, khác nhau
về ý nghĩa
-Vídụ:
+ câu cá, câu văn
+Cái bàn, bàn bạc công việc
- Đặc điểm: Có một nghĩa gốc và có một hoặc nhiều nhiều nghĩa chuyển Các nghĩa có mối liên hệ với nhau
- Ví dụ: Từ mắtcó những nét nghĩa như sau:
+ Đôi mắt của bé mở to + Quả na mở mắt
Giống nhau:
Từ nhiều nghĩa và từ đồng âm đều có hình thức âm thanh giống nhau
Chính vì sự giống nhau này học sinh rất khó xác định từ nhiều nghĩa và từ đồng âm nên thường dễ nhầm lẫn Để khắc phục vấn đề trên theo tôi hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm, cơ chế tạo từ nói chung và cơ chế tạo từ đồng âm,
từ nhiều nghĩa nói riêng trong Tiếng Việt
Mở rộng vốn từ
Đối với dạng bài mở rộng và hệ thống hóa vốn từ giáo viên nên vận dụng vốn sống của học sinh và chủ động dẫn dắt, gợi ý, giải nghĩa từ ngữ bằng nhiều hình thức khác nhau để bổ sung vốn tiếng Việt, giúp các em dễ thực hiện yêu cầu của bài tập
Trong quá trình dạy luyện từ và câu: mở rộng vốn từ giáo viên phải thể hiện đầy đủ về quan hệ biện chứng với nhau giữa các nội dung sau:
Gia tăng vốn từ có hệ thống
Hiểu nghĩa của từ
Biết cách sử dụng từ ngữ
Có thể tuần tự hoặc đan xen lồng ghép lẫn nhau giữa ba nội dung trên Phát triển vốn từ trước hết phải chú ý về số lượng càng nhiều từ ngữ càng tốt Nhưng để vốn từ đó tồn tại và đảm bảo chất lượng cần phải cho học sinh hiểu nghĩa của từ và biết cách sử dụng
Trang 7Từ những yêu cầu trên khi dạy mở rộng vốn từ cần thưc hiện theo 3 bước sau:
Giúp HS nắm vững khái niệm chủ đề
Lựa chọn sơ đồ để mở rộng vốn từ, kết hợp giải nghĩa từ
Giúp HS vận dụng từ ngữ vừa học trong việc luyện tập thực hành
Vì thế để giúp học sinh mở rộng được hệ thống vốn từ của mình tôi hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ để phát triển vốn từ
Quan hệ từ – Nối câu ghép bằng quan hệ từ
Để dạy tốt quan hệ từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5 thì người giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của quan hệ từ đó là giúp các
em học tốt hơn bộ môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác và còn giúp cho các em biết cách giao tiếp, cư xử với mọi người trong cuộc sống hàng ngày lịch
sự nhã nhặn hơn Giáo viên cần nhận thức được quan hệ từ như là “chất keo dính” nối kết các từ ngữ, câu văn, đoạn văn lại với nhau một cách chặt chẽ hơn có ý nghĩa hơn Khi dạy quan hệ từ tôi bám vào chuẩn kiến thức kĩ năng, mục tiêu của tiết học mà chủ động trong việc lựa chọn ví dụ, lựa chọn nội dung các bài tập, phương pháp, hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, giúp các em dễ tiếp thu kiến thức của bài học Phân ra từng dạng quan hệ từ để dạy và giúp học sinh biết tác dụng của từng loại quan hệ từ cụ thể
Ví dụ: Tiết Luyện từ và câu (tuần 11, Tiếng việt 5, trang 109, 110)
Để hình thành khái niệm quan hệ từ thì tôi lựa chọn bài tập 1 sách giáo khoa để dạy: Trong mỗi ví dụ dưới đây từ in đậm được dùng để làm gì ?
Bài 1 ở sách giáo khoa tôi chọn để giúp học sinh hình thành kiến thức: Tác dụng của tất cả quan hệ từ là dùng để nối các từ ngữ đứng trước và sau nó lại với nhau và làm cho ý của các câu văn, đoạn văn chặt chẽ hơn
Trên cơ sở các kiến thức đã nắm được trong sách giáo khoa để giúp học sinh hiểu được thấu đáo hơn ý nghĩa của quan hệ từ và sử dụng được quan hệ từ trong nói và viết tôi hướng dẫn cho học sinh Hình thành kiến thức về một số quan hệ từ thường gặp: rồi, và, của, hoặc, nhưng……
Dấu câu
Trang 8Trong chương trình tiểu học đang hiện hành, nội dung về dấu câu được học từ lớp 2 Có 10 dấu câu thường dùng và được học ở tiểu học là : dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu chấm phẩy và dấu ba chấm Dấu câu là kí hiệu chữ viết để biểu thị ngữ điệu khác nhau Những ngữ điệu này lại biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau và những mục đích nói khác nhau Nếu sử dụng dấu câu sai dẫn đến việc người đọc, người nghe hiểu sai nội dung diễn đạt Vì thế, dạy cho học sinh sử dụng đúng các loại dấu là yêu cầu quan trọng của giáo viên tiểu học
Để giúp học sinh học tốt trước hết giáo viên thông qua các bài tập để rèn
kĩ năng thực hành sử dụng dấu
+ Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống
+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trống
+ Đoạn văn đã sử dụng dấu câu sai, hãy sửa lại cho đúng
+ Điền dấu và giải thích tác dụng sử dụng của dấu câu đó trong câu + Tập viết đoạn văn theo chủ đề có sử dụng các dấu câu đã học
Luôn kết hợp ôn luyện về cách sử dụng dấu với đọc Qua đọc, hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ hơi, nâng cao, hạ thấp giọng, nhấn giọng để thể hiện đúng giọng đọc của từng kiểu câu Điều đó hỗ trợ tốt cho việc rèn kĩ năng nghe, đọc, nói, viết cho học sinh tiểu học
Mặt khác trên cơ sở các bài tập về dấu câu tôi tự xác định và chia các loại bài tập thành 3 loại như sau để phát triển và nâng cao:
+ Loại bài tập nhận biết: Loại bài tập này đòi hỏi các em chỉ ra được một đặc điểm khác nào đó của từ ngữ, câu đã nêu
+ Loại bài tập sửa chữa: Loại bài tập này đòi hỏi các em phải vận dụng các kiến thức ngữ pháp đã học để phát hiện chỗ sai và viết lại cho đúng một câu, một đoạn văn
+ Loại bài tập sáng tạo: Loại bài tập này đòi hỏi phải tự tìm tòi và nêu lên một cách dùng từ, đặt câu nào đó theo yêu cầu cụ thể về ngữ pháp
Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học nâng cao hiệu quả phân môn luyện từ và câu
Trang 9Đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của học sinh giáo viên cần chú ý đối với mọi đối tượng học sinh phân ra nhiều mức độ để có phương pháp dạy thích hợp Muốn phát huy được tính tích cực của học sinh người giáo viên phải có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài thật cụ thể phù hợp với mọi đối tượng học sinh Giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân,… Thường xuyên thay đổi các hình thức học tập cho học có thể tổ chức dạy học dưới hình thức trò chơi để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, nhằm đạt kết quả cao trong giờ học mà các em không nhàm chán
Việc đổi mới phương pháp dạy học có thành công, hiệu quả hay không là một phần phải có hình thức tổ chức học tập phong phú và đa dạng Hình thức phải xây dựng phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh Hình thức phù hợp thì tạo nên tiết học sinh động, đạt hiệu quả cao và phát huy được tính cực tự học, chủ động và tự sáng tạo của học sinh
Bên cạnh đó việc dạy học theo mô hình trường học mới thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh Lớp học do học sinh tự quản và được tổ chức theo các hình thức như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu Học sinh được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em Vào mỗi giờ học, học sinh được trao đổi chia sẻ các kiến thức của môn học được mở rộng vốn từ tăng khả năng giao tiếp Học sinh thường được phát huy hơn, tự thể hiện,
tự khẳng định khả năng của mình nhiều hơn Tạo được không khí nhẹ nhàng, thoải mái; các em có điều kiện trao đổi với bạn, với cô những điều mà mình chưa biết, chưa hiểu…điều đó có tác dụng khơi dậy niềm ham thích, say mê tìm tòi khám phá lĩnh vực kiến thức của tiếng Việt Với phương pháp tổ chức này học sinh nắm kiến thức một cách sâu sắc có cơ sở, được đối chứng qua nhận xét của bạn, của giáo viên
Trong năm học này lớp tôi cũng đã áp dụng hình thức học theo nhóm và theo tôi quan sát trong tiết luyện từ và câu các em tự tin trao đổi bài với nhau Đây là hình ảnh các em học tập theo nhóm Các em học sinh đều rất hào hứng được chia sẻ bài với bạn
Ví dụ: Khi dạy tiết luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ nam và nữ
Trang 10Ở bài 1 các em được tự bày tỏ phẩm chất mà mình thích ở một bạn nam
và ở một bạn nữ Và tôi thấy em Hoàng một học sinh rất nhút nhát ở lớp tôi mà
em cũng đã chia sẻ với các bạn : “Mình thích phẩm chất dũng cảm ở bạn nam, phẩm chất đó thể hiện một bạn nam can đảm, không sợ nguy hiểm” Mặc dù trả lời còn nhỏ chưa mạnh dạn lắm nhưng các bạn trong nhóm đã thưởng cho Hoàng một tràng pháo tay lớn để động viên bạn cố gắng hơn nữa
Qua đây tôi thấy việc thay đổi hình thức dạy học cũng đã góp một phần để giúp các em tự tin học tập tốt hơn các môn học nói chung và phân môn luyện từ
và câu nói riêng
Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong tiết học phân môn luyện từ và câu
Để có thể học tốt phân môn luyện từ và câu, tôi cho rằng, ngay từ đầu tiết học giáo viên phải khơi sự tò mò, hứng thú cho học sinh Khi hướng dẫn học sinh học giáo viên có thể sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học khác nhau (phương pháp trò chơi, phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề để tổ chức hoạt động, phương pháp thực hành giao tiếp… ) phù hợp với từng loại bài
để cuốn hút các em vào tiết học
Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 gồm 2 dạng bài: dạng bài lý thuyết (hình thành kiến thức mới) và dạng bài thực hành
Khi đã nắm vững được cấu trúc của một bài trong phân môn Luyện từ và câu thì giáo viên có thể linh hoạt phối hợp các phương pháp dạy học khác nhau trong một tiết dạy sao cho phù hợp Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng nói và viết cho học sinh Chính vì thế, trong quá trình dạy Luyện từ và câu việc sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau sẽ giúp học sinh tích cực hóa hoạt động học tập, hình thành kiến thức và kĩ năng mình Tuy các phương pháp này không mới mẻ nhưng phần ít giáo viên sử dụng chưa đúng lúc, chưa đúng bài, chưa đúng hoạt động
Một số phương pháp dạy học tôi thường sử dụng:
* Phương pháp thực hành:
Dùng phương pháp thực hành để dạy tri thức, để rèn luyện khả năng cho học sinh Hình thức phổ biến để hình thành kiến thức cho học sinh tiểu học là thông qua thực hành, có nghĩa là việc cung cấp kiến thức mới không phải là trực