1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn tập làm văn mẫu 5

13 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 273,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mã số - Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn Tập làm văn.” - Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến được áp dụng cho các giáo viên văn

Trang 1

Mã số

- Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn Tập làm văn.”

- Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến được áp dụng cho các giáo viên văn hóa đang

dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 4 trong tất cả các trường Tiểu học để giải quyết vấn đề học sinh chưa có nhiều hứng thú trong phân môn Tập làm văn

- Họ tên tác giả: Nguyễn Thị Hải

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Xuân – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.

Phú Xuân, năm 2020

Trang 2

Họ tên, chữ ký người chấm điểm, điểm Mã số

Người số 1:………

Người số 2:………

- Mô tả sáng kiến:

+ Về nội dung của sáng kiến:

*Cơ sở lý luận:

Như chúng ta đã biết, mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực con người, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước thời kì hội nhập

Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục bậc Tiểu học là bậc học vô cùng quan trọng, nó được ví như viên gạch đầu tiên giúp hình thành và phát triển tri thức cho học sinh Trong đó đặc biệt là môn Tiếng Việt có vị trí rất lớn, rất quan trọng trong việc hình thành khả năng giao tiếp, phát triển ngôn ngữ, và còn là cơ sở phát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu các môn học khác Nó góp phần tiên quyết vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở Tiểu học theo đặc trưng môn học, giúp các em thành thạo kĩ năng nghe, nói, đọc, viết

Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Tập làm văn có vị trí rất quan trọng vì

nó tận dụng tất cả các hiểu biết và kĩ năng trong môn Tiếng Việt Học sinh vận dụng các kiến thức Tiếng Việt khi làm bài văn, trong quá trình vận dụng này, các kiến thức đó hoàn thiện và dần được nâng cao Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh văn bản Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập

Như chúng ta biết thì hứng thú là một hiện tượng tâm lí khá phức tạp Song đó cũng là một lĩnh vực lí thú, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Những nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau cho thấy thuật ngữ “ hứng thú ” được sử dụng khá rộng rãi, thậm chí có nhiều quan niệm, nhiều cách giải thích khác nhau về hứng thú Mỗi quan niệm “ hứng thú ” lại theo các góc độ khác nhau Quan niệm của các nhà tâm lí học và giáo dục học cũng rất khác nhau Một số coi hứng thú như thuộc tính bẩm sinh của con người, một số khác lại chú trọng đến nguồn gốc sinh vật của hứng thú, tiêu biểu là S.Klaparet, năm 1946, trong công trình Tâm lí

học trẻ em và giáo dục học thực nghiệm thì cho rằng : “ Hứng thú là dấu hiệu của

Trang 3

nhu cầu, bản năng, khát vọng đòi hỏi được thỏa mãn ” hoặc có một số lại đồng

nhất hứng thú với bản năng

Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân Hứng thú tạo ra sự say mê học tập, giúp học sinh có thể vượt qua mọi khó khăn để nắm bắt tri thức một cách nhanh nhất

Hứng thú học tập phân môn Tập làm văn chính là thái độ lựa chọn đặc biệt

của học sinh đối với việc lĩnh hội và vận dụng những tri thức Tiếng Việt trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống, do sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của

môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn đối với bản thân các em trong

cuộc sống

Qua thực tế dạy học nhiều năm ở trường tiểu học, tôi nhận thấy hứng thú của học sinh trong việc học tập phân môn Tập làm văn còn chưa cao, gặp nhiều hạn chế so với các môn học khác Mặc dù học sinh có nhiều điều kiện tốt để học tập như chương trình giáo dục phù hợp, trình độ nhận thức tương đối đồng đều, sự quan tâm của gia đình, thầy cô và bạn bè,…Thực tế tôi thấy một số em có khả năng nắm bắt và hứng thú học rất tích cực thông qua việc các em làm bài rất tốt chỉ sau khi nghe giáo viên hướng dẫn lập dàn ý và đáp ứng được yêu cầu đặt ra Song bên cạnh đó, có những học sinh chưa có hứng thú trong việc tiếp cận tri thức mới, các

em còn thụ động nên bài làm còn nhiều hạn chế Nguyên nhân tình trạng này xuất phát từ điều kiện chủ quan và khách quan

Nguyên nhân chủ quan là do các em còn chưa tích cực tìm hiểu bài, chóng chán và giảm chú ý, chậm tiếp thu kiến thức…

Nguyên nhân khách quan là do phương pháp dạy học của giáo viên còn mang tính chất truyền thống, việc áp dụng công nghệ thông tin, đồ dùng trực quan vào trong dạy học còn gặp khó khăn, bên cạnh đó khối lượng kiến thức ngày càng

mở rộng… nên chưa phát huy được tính tích cực của học sinh cũng như chưa thực

sự tạo được sức hấp dẫn đối với học sinh, đặc biệt là đối với học sinh lớp 4

Từ những suy nghĩ trên tôi mạnh dạn quyết định chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn Tập làm văn” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp thiết thực nhất

để làm tăng hứng thú học tập môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng cho các em học sinh

*Cơ sở thực tiễn:

Đứng trước thực trạng dạy và học nêu trên, yêu cầu bức thiết đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy và học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn một

Trang 4

cách hứng thú, say mê, yêu thích, từ đó các em học tốt hơn nhờ các em nâng cao hứng thú, say mê học tập và viết bài đúng yêu cầu

Để đạt được mục tiêu nêu trên tôi cần phải tiến hành tìm hiểu rõ nguyên nhân thực trạng của học sinh trong lớp.Từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hứng thú cho học sinh

Ngay từ đầu năm học, qua tìm hiểu, quan sát học sinh trong các giờ học Tập làm văn, tôi nhận thấy ở trong lớp 4A tôi chủ nhiệm chỉ có một số ít em là hào

hứng với môn học, phần lớn các em ít tập trung, ít phát biểu xây dựng bài so với

các môn học khác, một số em còn nói chuyện hay làm việc riêng giờ học

Từ đó tôi đã tiến hành điều tra hứng thú học phân môn Tập làm văn của học sinh trong lớp đầu năm học và thu được kết quả như sau :

* Kết quả về mức độ yêu thích phân môn Tập làm văn của HS trong lớp :

Tổng số học

sinh

* Kết quả về mức độ yêu thích phân môn Tập làm văn với các môn học khác :

Toán TLV T.Anh K.học Lịch

sử -ĐL

Đạo đức

Kĩ thuật

Âm nhạc

Thể dục

Mĩ thuật

Tin học

Kết quả khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm học 2019 – 2020

Môn Tổng

số

học

sinh

Số hs dự kiểm tra

Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 – 6 Điểm < 5

Qua kết quả điều tra trên, tôi thấy được việc học sinh hứng thú với phân môn Tập làm văn nhìn chung là rất thấp và thấp hơn so với các môn học còn lại Xuất

Trang 5

phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng phải là người truyền cảm hứng cho các em, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao hứng thú cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn Tập làm văn

Giải pháp 1: Tạo hứng thú bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Trong thời kì hội nhập và phát triển thì cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời và phát triển ở đỉnh cao Chắc hẳn cụm từ “4.0” này không còn xa lạ đối với bất kì ai Cũng như guồng quay của cuộc sống, người giáo viên phải luôn tự “làm mới mình” cũng như “làm mới” các hình thức dạy học linh hoạt Ngoài việc tích cực tiếp thu

sự đổi mới về phương pháp dạy học, thì tôi thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cũng làm tăng tính hấp dẫn cho bài dạy, từ đó lôi cuốn học sinh đến với giờ Tập làm văn Học sinh của tôi không còn chán ngán phân môn Tập làm văn, thay vào đó là sự hứng thú trong mỗi giờ học được thể hiện rõ rệt

Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu thuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước đây Nên bất cứ giờ dạy nào có thể tôi cũng đều sử dụng bài giảng

powerpoint để tăng hứng thú cho học sinh và thay thế phần nào lối dạy học truyền thống Tôi thấy hiệu quả rõ rệt Học sinh của tôi tiếp thu bài nhanh hơn, thích thú hơn

Mà tôi thấy việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn sau:

+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh, tư liệu bài giảng từ mạng Internet

+ Khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí

+ Khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, bản đồ, hình vẽ thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính

+Giáo viên cũng có thể tự mình thiết kế những bài giảng giàu hình ảnh, sinh động, hấp dẫn bằng cách lồng ghép các hình ảnh liên quan đến bài dạy, cũng có thể

sử dụng video để tăng tính hấp dẫn và làm cho bài học trở nên thú vị hơn

Trong quá trình dạy học, chức năng của các phương tiện dạy học được xác định qua các yếu tố: mục đích dạy học, tính chất của các phương tiện dạy học và phương pháp tiến hành hoạt động dạy học Phương tiện dạy học bao gồm các chức năng sau: truyền thụ tri thức, hình thành kĩ năng, phát triển hứng thú học tập và điều khiển quá trình dạy học

Phương tiện dạy học cũng nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh nhờ tính hấp dẫn của các hình thức thông tin Do vậy tôi thấy việc lồng ghép, ứng dụng công nghệ thông tin là rất cần thiết đối với phân môn Tập làm văn nói riêng

và các môn học trong chương trình Tiểu học nói chung

Ví dụ trong tiết Tập làm văn bài “Luyện tập xây dựng đoạn văn kể

chuyện” (Trang 64 Tiếng Việt 4/ tập 1) Tôi sử dụng bài giảng powerpoint gây

hứng thú cho học sinh bằng cách lần lượt đưa ra từng bức tranh trong câu chuyện

Trang 6

“Ba lưỡi rìu” rồi cho HS tìm hiểu tranh, phân tích tranh, đọc lời kể dưới tranh và sau đó tự mình phát triển ý nêu dưới mỗi tranh thành một đoạn văn kể chuyện

(Tranh minh họa cho bài giảng powerpoint bài “Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện” (Trang 64 Tiếng Việt 4/ tập 1)

Trong khi các em nêu tôi có thể gợi ý các em hình dung đầy đủ diễn biến trong mỗi đoạn tương ứng với từng bức tranh trong câu chuyện Khi kể các em cũng chú ý chắt lọc câu từ miêu tả ngoại hình và lưới dìu đề từng đoạn văn trở nên hấp dẫn Như vậy rõ ràng tiết học trở nên thú vị khi có bài giảng powerpoint, hình ảnh trở nên sinh động hấp dẫn các em Làm cho các em hứng thú say mê, tiếp thu và vận dụng kiến thức tốt hơn

Giải pháp 2: Gây hứng thú qua việc sử dụng phương pháp động viên, khích lệ, khen ngợi kịp thời.

Tôi hiểu thuộc tính tâm lí của các em học sinh Tiểu học rất nhạy cảm, muốn được khen và rất hiếu thắng Vì thế khi nhận xét học sinh, giáo viên động viên, khích lệ, biểu dương, khen ngợi học sinh bằng những cách sau:

+Dùng những lời nói có ý nghĩa tích cực như “em đã tiến bộ”, “cô rất vui”,

“cô tin em sẽ làm được”, “cô biết em sẽ làm được”, “cô khen ngợi đối với sự tiến

bộ của em”, “ em đã làm mọi người ngạc nhiên vì sự tiến bộ của mình”…

Trang 7

+Dùng ngôn ngữ cơ thể tích cực như vỗ tay, nét mặt tươi vui, mỉm cười với các em…

+Thể hiện thái độ thân thiện - tích cực, vui vẻ, hòa nhã, cầu tiến, chân thành với các em học sinh…

+Giáo viên có thể động viên các em bằng các va chạm tích cực - vỗ vai, xoa đầu, bắt tay học sinh…

Bên cạnh đó, giáo viên không được dùng những lời lẽ chê bai, mỉa mai, mắng mỏ, quát tháo, chửi bới đe dọa…., không đánh đập, gây đau thương…, hay

tỏ thái độ coi thường, dè bỉu, thiếu tin tưởng học sinh

Theo tôi một người giáo viên tốt cần phải có nhiều lời khen ngợi, khen đúng lúc, kịp thời trong quá trình dạy học và tùy từng đối tượng học sinh để đưa ra lời khen phù hợp

Với những học sinh tiếp thu chậm thì tôi cần phải tìm được những điểm tiến

bộ tuy nhỏ để động viên các em Với những học sinh tiếp thu nhanh, có năng khiếu tôi cần khen đúng lúc, đúng chỗ để khuyến khích các em tích cực trong hoạt động học tập, đồng thời để các em biết được khả năng thực của mình ở mức nào Tránh trường hợp các em ngộ nhận, chủ quan trong học tập

Có nhiều hình thức để khen ngợi, khích lệ cho học sinh Có thể sử dụng lời nói trực tiếp, lời nhận xét, góp ý tích cực như tôi đã trình bày ở trên hoặc tặng thưởng sticker ngôi sao mặt cười như tôi vẫn thường áp dụng trong lớp học của mình

Ví dụ : Khi tổ chức các nhóm hoạt động trong dạy học phân môn Tập làm

văn, nếu như nhóm nào có kết quả nhanh và chính xác hơn thì nhóm đó sẽ được tôi thưởng nhiều sticker hơn các nhóm còn lại hoặc chẳng hạn khi ra bài tập viết văn cho học sinh, em nào có bài viết tốt hoặc có tiến bộ vượt bậc so với các bài viết trước thì các em đó cũng sẽ được tặng thưởng sticker mang về cho mình Các sticker đó mang lại hứng thú, niềm vui trong học tập cho các em

Qua quá trình áp dụng, tôi thấy đây thực sự là một cách tạo hứng thú học tập cho học sinh vô cùng hiệu quả, từ các em nhút nhát cho đến các em hay mất tập trung trong giờ học cũng hoạt động một cách rất tích cực

Giải pháp 3: Tạo hứng thú học tập bằng cách tăng cường cho học sinh nhận xét, góp ý.

Theo tinh thần của Thông tư 22/2016-TT-BGDĐT, tôi đã tiến hành cho học sinh tăng cường góp ý, nhận xét bài văn của bạn mình, thông qua các tiết học có phần thực hành viết câu, đoạn, bài văn Ngoài lời nhận xét của tôi thì các em có thể tham gia nhận xét bạn mình và ngược lại, chính điều này đã giúp cho các em có sự thân ái và gắn bó với nhau hơn, ngoài ra các em còn có thể học hỏi ở bạn bè rất

Trang 8

nhiều, chính những lời góp ý chân thành của bạn bè đã giúp các em mau tiến bộ hơn Đúng như câu: “Học thầy không tày học bạn.”

Tôi đã đưa ra tiêu chí giúp học sinh làm điểm tựa để các em nhận xét bài của bạn mình một cách chính xác nhất Thông qua vở Thực hành Tiếng Việt và vở rèn

kĩ năng tập làm văn, tôi có thêm công cụ hỗ trợ cho việc dạy Tập làm văn đạt hiệu quả cao hơn

Để tăng cường cho học sinh nhận xét góp ý thì người giáo viên còn cần tạo mối quan hệ gắn bó, gần gũi, thân thiện giữa học sinh với nhau Người giáo viên cần đưa ra cách làm bài đúng để học sinh kiểm tra và từ đó có thể phát hiện ra lỗi sai trong bài làm của bạn Sau đó nêu ra những lỗi sai sót mà các em mắc phải, yêu cầu soát lỗi bài làm của bạn Cuối cùng là gơi ý sửa lỗi hoặc khuyến khích học sinh trao đổi với nhau để tìm cách sửa lỗi

Học sinh tiểu học có thể tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn theo những hình thức như: đổi bài cho nhau, cả nhóm cùng đánh giá một bài, cả lớp cùng nhận xét một bài làm…

Theo đó tôi tiến hành như sau:

Để học sinh nhận xét được bạn, nhóm bạn tôi cho học sinh phân tích mẫu:

Phân tích mẫu để giúp học sinh hiểu thấu đáo mẫu đã nêu ra và làm theo mẫu, rồi từ đó có kiến thức để nhận xét Để làm được điều này, giáo viên cần phải

sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp tổ chức nhiều hình thức dạy học phong phú Trong giải pháp này tôi thường sử dụng phương pháp quan sát để học sinh quan sát mẫu, đọc thầm mẫu Sau đó sử dụng phương pháp vấn đáp gợi

mở để học sinh hiểu mẫu giúp cho việc định hướng bài học tốt hơn Sau đó giáo viên sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ tóm lại những điều cơ bản mẫu nêu ra

Như vậy văn bản dài giáo viên cần tổ chức hướng dẫn hoạt động học tập hợp

lý để học sinh nhận diện nhanh nhất

Chẳng hạn, khi dạy bài ''Thế nào là miêu tả" ?(Tiếng Việt 4/tập 1)

Tôi tiến hành cho học sinh đọc yêu cầu, đọc thầm mẫu (hình thức học cá nhân)

Sau đó tôi yêu cầu hoc sinh hãy quan sát mẫu và cho biết (phương pháp quan sát, phương pháp hỏi đáp hình thức học cả lớp)

-Giáo viên hỏi: Tên sự vật đầu tiên được miêu tả là gì?

Học sinh trả lời: Cây sòi

-Giáo viên hỏi: Cây sòi có đặc điểm gì nổi bật?

Học sinh trả lời: Cao lớn, lá đỏ chói lọi, lá rập rình lay động như những đốm lửa -Giáo viên hỏi: "Cao lớn" tả về đặc điểm gì của cây sòi?

Học sinh trả lời: Hình dáng

-Giáo viên hỏi: "Lá đỏ chói lọi" miêu tả đặc điểm gì của cây sòi?

Học sinh trả lời: Màu sắc

Trang 9

-Giáo viên hỏi: Theo em, tác giả miêu tả lá cây sòi đang ở trạng thái nào?

Học sinh trả lời: Chuyển động

-Giáo viên hỏi: Từ nào cho biết lá của cây sòi đang ở trạng thái chuyển động?

Học sinh trả lời: Rập rình

Giáo viên tóm lại: Phần mẫu đã chỉ ra một số đặc điểm của sự vật đầu tiên được miêu tả về hình dáng, màu sắc, chuyển động

Sau khi thực hiện biện pháp phân tích mẫu tôi thấy các em đã biết vận dụng mẫu và làm tốt các phần tiếp theo Sau đó các em tự làm các phần còn lại rồi nhận xét cho nhau, chỉ ra được chỗ đúng chỗ sai của bạn và gợi ý cho bạn cách sửa lỗi dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Tăng cường cho học sinh nhận xét, góp ý bằng việc hình thành lý thuyết

- tìm đặc điểm nổi bật

Trong quá trình hình thành lý thuyết miêu tả cho học sinh lớp 4, giáo viên cần sử dụng một số phương pháp đặc trưng như phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, phương pháp vấn đáp gợi mở, phương pháp phân tích ngôn ngữ kết hợp với một số hình thức dạy học phù hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học

Ở các bài hình thành lý thuyết văn miêu tả, giáo viên thường tiến hành

hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm loại văn bản miêu tả thông qua gợi ý, nhận xét trong sách giáo khoa Các thao tác cần được thực hiện theo trình tự sau:

- Yêu cầu học sinh đọc mục nhận xét trong sách giáo khoa, khảo sát văn bản

để trả lời từng câu hỏi gợi ý

- Hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận nhằm rút ra những nhận xét về đặc điểm văn miêu tả

Ví dụ: Dạy bài: "Quan sát đồ vật" (Tiếng việt 4/ tập 1 trang 153) Giáo viên

sử dụng phương pháp trực quan, phương pháp quan sát ở chỗ giáo viên cho học sinh quan sát đồ chơi mà các đem tới lớp kết hợp quan sát tranh một số đồ chơi như gấu bông, con lật đật, con búp bê

Học sinh đọc phần gợi ý trong sách giáo khoa (học cá nhân) trang 154, sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu Giáo viên sử dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu, học sinh luyện tập theo mẫu đã gợi ý

Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh:

- Hãy quan sát một số đồ chơi em thích và ghi lại những điều quan sát được

- Học sinh vừa quan sát vừa ghi chép lại ý quan sát, sau đó sắp xếp ý để tạo thành một dàn ý tả đồ chơi mà em thích

- Giáo viên cho học sinh trình bày những ý đã ghi được sau khi quan sát theo một dàn bài sẽ luyện thực hành giao tiếp cho học sinh

Sau đó khi nghe các bạn trình bày trước lớp về dàn ý cho bài văn miêu tả đồ chơi mà em đã chọn.Học sinh có thể tham gia nhận xét, góp ý cho bạn để phần dàn

ý của bạn được hoàn thiện hơn, góp phần tích cực trong quá trình viết đoạn văn, bài văn miêu tả đồ chơi sau này

Trang 10

Khi tham gia nhận xét, góp ý cho bạn, học sinh của tôi rất hào hứng, tiếp thu bài nhanh hơn, hiệu quả bài dạy của tôi được nâng lên rõ rệt

Giải pháp 4: Gây hứng thú học tập bằng cách đảm bảo yếu tố vừa sức trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn.

Để đảm bảo yếu tố vừa sức tôi cần điều chỉnh nội dung và thời lượng cho phù hợp với lớp mình, trước hết tôi cần nắm được tình hình học sinh lớp mình: Có bao nhiêu học sinh có thể đạt được ở mức chuẩn, bao nhiêu học sinh cần được phát triển năng khiếu và phát triển được ở mức nào? phát triển năng khiếu ở mảng nào? Sau đó là điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học có thể đáp ứng được đến mức nào và thiết kế bài học như thế nào cho phù hợp với các điều kiện trên là điều quan trọng nhất

Và qua nhiều kênh thông tin, tôi xác định được những em nào cần giáo dục để đạt đến chuẩn (các em còn “non” ở kiến thức nào? “non” về phần nào) ở đối tượng này trong từng tiết học đều được chú ý kèm cặp hơn

Những em đạt chuẩn ở mức vững chắc, sẽ phân công cho các học sinh nhận thức tốt, có năng khiếu giúp đỡ Còn với đối tượng học sinh có năng khiếu tôi tranh thủ hết thời gian còn “dư” để giúp các em phát triển năng khiếu theo khả năng của mình

Đồng thời, kết hợp các biện pháp dạy học với công tác chủ nhiệm để khuyến khích các em tự chủ trong việc nắm bắt kiến thức và phát huy hết khả năng học tập Từ

đó các em tự chủ trong việc học, làm cho các em tự tin hứng thú học hơn

Ví dụ: Khi kể câu chuyện về nàng tiên Ốc, với học sinh nhận thức chậm tôi

chỉ yêu cầu học sinh đó kể được các sự việc chính của câu chuyện gắn với nhân vật chính (bà lão và nàng tiên Ốc) và nêu được ý nghĩa câu chuyện Nhưng với học sinh nhận thức tốt, các em ấy có thể kể câu chuyện nàng tiên Ốc kết hợp với miêu

tả hình dáng bên ngoài của bà lão và miêu tả được vẻ đẹp của nàng tiên Ốc Còn đối với học sinh có năng khiếu tôi lại yêu cầu cao hơn một chút, các em vừa có thể

kể chi tiết các tình tiết câu chuyện vừa có thể tả được sự nghèo khó, tần tảo của bà

cụ thông qua việc miêu tả ngôi nhà và bộ quần áo bà mặc, miêu tả vẻ đẹp, sự phúc hậu của nàng tiên Ốc thông qua nét mặt, nước da, dáng đi…vừa kể các em vừa tả vừa có thể xen lẫn tình cảm của mình vào câu chuyện một cách khéo léo, từ đó rút

ra được bài học ý nghĩa mà câu chuyện mang lại

*Kết quả:

Khi vận dụng sáng kiến này vào quá trình dạy học, tôi thấy học sinh của

tôi hứng thú hơn nên chất lượng học tập phân môn Tập làm văn của học sinh được nâng lên rõ rệt Cụ thể:

-Phát huy tính tích cực, chủ động, tăng cường sự tham gia của học sinh như: mọi học sinh tích cực trình bày ý kiến, học sinh tự tìm ra tri thức, nắm bài chắc

Ngày đăng: 15/10/2020, 21:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trong khi các em nêu tôi có thể gợi ý các em hình dung đầy đủ diễn biến trong mỗi đoạn tương ứng với từng bức tranh trong câu chuyện - Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh lớp 4 trong dạy học phân môn tập làm văn mẫu 5
rong khi các em nêu tôi có thể gợi ý các em hình dung đầy đủ diễn biến trong mỗi đoạn tương ứng với từng bức tranh trong câu chuyện (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w