1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018

93 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018(Luận văn thạc sĩ) Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018

Trang 1

-

KHỔNG VŨ LỘC

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG (TỈNH TUYÊN QUANG) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 2

-

KHỔNG VŨ LỘC

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG (TỈNH TUYÊN QUANG) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2018

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 8229015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐOÀN THỊ YẾN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Với tinh thần và thái độ làm việc, nghiên cứu khoa học nghiêm túc, tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì được công bố trong luận văn của mình

Thái Nguyên, 7/2020

Tác giả

Khổng Vũ Lộc

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên Kho lưu trữ Văn phòng Thành ủy, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Phòng Kinh tế của Thành phố Tuyên Quang đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình khai thác và tìm kiếm tư liệu Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, 7/2020

Tác giả

Khổng Vũ Lộc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

5.1 Cơ sở lý luận 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu 7

5.3 Nguồn tư liệu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Kết cấu luận văn 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 10

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nông thôn thành phố Tuyên Quang trước năm 2008 10

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 10

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 11

1.1.3 Thực trạng khu vực nông thôn của thành phố trước năm 2008 15

1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 21

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 21

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 24

Tiểu kết chương 1 26

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2018 28

Trang 6

2.1 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang về xây dựng nông

thôn mới 28

2.2 Chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng bộ thành phố 34

2.2.1 Chỉ đạo công tác tổ chức, thực hiện chương trình 34

2.2.2 Chỉ đạo hoàn thiện hệ thống khung khổ pháp luật và văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình 36

2.2.3 Chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao năng lực cho cán bộ phụ trách xây dựng nông thôn mới các cấp 38

2.2.5 Chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình 42

2.3 Kết quả thực hiện 44

2.3.1 Về quy hoạch và thực hiện quy hoạch: 44

2.3.2 Về xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội 44

2.3.3 Về kinh tế và tổ chức sản xuất 47

2.3.4 Về văn hóa, xã hội và môi trường 48

2.3.5 Về hệ thống chính trị 49

Tiểu kết chương 2 51

CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM 53

3.1 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 53

3.1.1 Ưu điểm 53

3.1.2 Hạn chế 62

3.2 Một số kinh nghiệm 66

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤC LỤC 83

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một trong những nội dung quan trọng Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng năm

1991 đã xác định: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định kinh tế, xã hội” Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Hiện nay và trong nhiều năm tới đây vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược quan trọng”

“Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Thực hiện chương trình xây dựng mới nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống ấm no, văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu dân cư đô thị hóa Phát huy dân chủ, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các

tệ nạn xã hội ở nông thôn”

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Nông nghiệp phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất liên tục đổi mới Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa xứng tầm với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp còn phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày

Trang 9

càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng

Trước những yêu cầu mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra chương trình mục tiêu phát triển nông thôn mới nhằm giải quyết tốt những vấn đề trên và đạt

được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Chính

vì vậy, xây dựng nông thôn mới chiếm vị trí chiến lược trong phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

Thành phố Tuyên Quang là trung tâm của tỉnh Tuyên Quang, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thấp kém, song là địa phương có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Đồng thời, trong cơ cấu kinh tế của thành phố, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn, dân cư tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn Vì vậy, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn càng trở nên cấp thiết

Quán triệt quan điểm của Đảng, Đảng bộ thành phố Tuyên Quang đã tập trung lãnh đạo, đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp để giải quyết vấn đề này, trong đó đặc biệt quan trọng là chủ trương lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Sau 10 năm thực hiện chủ trương trên, quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Tuyên Quang

đã đạt được nhiều kết quả tích cực

Phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói riêng và của tỉnh Tuyên Quang nói chung Bởi chỉ có thông qua phân tích, đánh giá khách quan đặc điểm tình hình, thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố mới có cơ sở khoa học, căn cứ thực tiễn để tiếp tục xác định phương hướng, nhiệm vụ, những giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện tốt công cuộc xây dựng nông thôn mới ở thành phố Tuyên Quang trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay và trong tương lai

Trang 10

Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của vấn đề đó, tác giả

chọn đề tài: “Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018” làm luận văn thạc sỹ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong nhiều năm qua, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết các vấn đề nông dân là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước Trong đó liên quan đến đề tài có một số công trình sau:

Trên thế giới, trước hết phải kể đến công trình: “Chính sách nông nghiệp

trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nhà xuất bản

Nông nghiệp ấn hành năm 1994; công trình “Một số vấn đề về nông nghiệp,

nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” của các tác giả Benedicttria

Kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu,

Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2000 Tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước châu Á, châu Phi và

Mỹ latinh Tác giả đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay như tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học…

Ở trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ngoài Theo hướng này, một số nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở Việt Nam như của các tác giả: Chu Hữu Quý, Nguyễn Thế Nhã, Phạm Thị Mỹ Dung, Đoàn Trọng Tuyến, Nguyễn Sinh Cúc đã có những công trình nghiên cứu công phu và có giá trị Điểm chung của các công trình này là sau khi phân tích thực tiễn giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính sách phát triển

Trang 11

nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài, các tác giả đều cố gắng gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng cho giải quyết những vấn đề thực tiễn của Việt Nam

Các tác giả Nguyễn Đình Phan, Trần Minh Đạo, Nguyễn Văn Phúc:

“Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng; Đặng Kim Sơn (2007): “Nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển”, Nxb Chính trị quốc gia; TSKH

Phan Xuân Dũng (2005): “Nông nghiệp, nông thôn trước yêu cầu phát triển

nhanh và bền vững”, tạp chí Cộng sản, số 82; Nhật Tân (2007): “Xây dựng nông thôn một vùng chiêm trũng”, tạp chí Cộng sản số 23; Công trình

Nguyễn Xuân Thảo (2004): Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt

Nam, Nxb Chính trị quốc gia; Đặng Kim Sơn (2007): Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia; Bùi Tất

Thắng (2006): Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam, Nxb Khoa học

xã hội; Nguyễn Trần Quế (chủ biên) (2004): Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt

Nam trong những năm đầu thế kỷ 21, Nxb Khoa học Xã hội; PGS.TS Nguyễn

Văn Bích (2007): Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi

mới: Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia; TS Lê Quang Phi (2007): Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong thời

kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia; GS.TS Nguyễn Kế Tuấn (2006): Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước

đi, Nxb Chính trị quốc gia… Các công trình này đã nêu rõ vấn đề chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sự tác động của các yếu tố đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và đời sống người nông dân, đồng thời, nêu lên phương hướng và một số giải pháp phát triển nông nghiệp

Trần Thị Minh Châu (chủ biên): Về chính sách đất nông nghiệp ở nước

ta hiện nay của Nxb Chính trị quốc gia; Lê Quang Phi (2008): Đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb Chính trị quốc

gia; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ NN&PTNT (2002): Con đường

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính

Trang 12

trị quốc gia… Những công trình này đi sâu nghiên cứu, đánh giá vai trò lãnh

đạo của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới là một vấn đề mới, có

thể kể đến một số công trình như: Phạm Anh Đào (2013): Đảng bộ Bắc Giang

lãnh đạo nhân dân xây dựng nông thôn mới 2008 - 2013, Luận văn Thạc sĩ,

Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn; Nguyễn Thị Nga (2014): Công

tác vận động nông dân xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ xã Hiệp Hòa - Bắc Giang 2008 - 2015 của tác giả, Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học xã

hội & Nhân văn; Vương Đình Thắng (2015): Xây dựng nông thôn mới ở

huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang Các công trình này đã đi sâu tìm hiểu về

thực trạng và nêu lên phương hướng, giải pháp xây dựng nông thôn mới tại các địa phương

Luận án “Huy động nguồn lực tài chính phá triển giao thông nông

thôn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” của Dìu Đức Hà; Nghiên cứu “Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tại Tuyên Quang” của Chu Thị Diễm Hương (Tạp chí Tài chính); Nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại tại Tuyên Quang” của Trương Thị Thu Hà; sách “Nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tuyên Quang qua kết quả tổng điều tra năm 2011” của Nxb Thống kê; … Các

công trình này đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng và nêu lên phương hướng, giải pháp xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Tuyên Quang nói chung và thành phố Tuyên Quang nói riêng

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có những bài viết, bài đăng trên các báo, tạp chí của Trung ương và địa phương cũng đề cập đến nội dung liên quan đến nông thôn mới

Qua đây, có thể thấy, vấn đề nông nghiệp, nông thôn từ trước tới nay đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ, mục đích, phương pháp khác nhau giúp cho người đọc, người nghiên cứu có được nhận thức đầy

đủ, sâu sắc hơn về chủ trương của Đảng đối với vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

Trang 13

nước Tuy nhiên, xét dưới góc độ Lịch sử Đảng, xây dựng nông thôn mới ở thành phố Tuyên Quang thì chưa có công trình nghiên cứu nào được tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống

Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tiếp thu, sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng , Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang và Đảng bộ thành phố Tuyên Quang về xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2018;

- Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Tuyên Quang vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng nông thôn mới vào điều kiện địa phương;

- Phân tích quá trình Đảng bộ thành phố chỉ đạo xây dựng nông thôn mới

và những kết quả đạt được trong giai đoạn 2008 - 2018, trên cơ sở đó rút ra

những ưu điểm, hạn chế, một số kinh nghiệm từ thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang đối với nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới trong giai đoạn 2008 - 2018

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn thành phố Tuyên

Quang (gồm 5 xã: Tràng Đà, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn)

Trang 14

Về thời gian: Từ năm 2008 (mốc bắt đầu có chủ trương xây dựng Nông thôn mới) đến năm 2018

Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quá trình Đảng bộ thành phố Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2008 – 2018) trên các nhóm lĩnh

vực: Về quy hoạch; Về xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội; Về kinh tế và tổ

chức sản xuất; Về văn hóa, xã hội và môi trường; Về hệ thống chính trị

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam về xây dựng nông thôn mới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp đặc thù của chuyên ngành Lịch sử Đảng là kết hợp phương pháp lô gic với phương pháp lịch sử Ngoài

ra, luận văn còn kết hợp sử dụng các phương pháp liên ngành khác như: khảo sát thực địa, phân tích với tổng hợp, thống kê, so sánh, …

5.3 Nguồn tư liệu

Các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX, X,

XI, XII; các nghị quyết, chỉ thị, quyết định … của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư VII, VIII, IX, X, XI, XII và Chính phủ về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Các văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Tuyên Quang từ các Đại hội XVII đến Đại hội XIX; các nghị quyết chuyên đề, báo cáo, quyết định, chỉ thị, công văn, thông báo, kết luận … của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố; báo cáo nhiệm kỳ hằng năm

Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn: Sách, tạp chí, các bài báo, luận văn, luận án, …

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng, thành phố Tuyên Quang về xây dựng nông thôn mới

Trang 15

- Hệ thống, khái quát chủ trương, biện pháp của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang trong quá trình vận dụng quan điểm của Đảng và Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong xây dựng Nông thôn mới Đúc kết một số kinh nghiệm góp phần vào quá trình thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của thành phố nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng đạt hiệu quả hơn trong thời gian tiếp theo

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử Đảng nói chung, Lịch sử Đảng bộ thành phố Tuyên Quang nói riêng (thời kỳ Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới)

7 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1 Những yếu tố tác động đến công cuộc xây dựng Nông thôn mới ở thành phố Tuyên Quang

Chương 2 Quá trình lãnh đạo thực hiện xây dựng Nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang từ năm 2008 đến năm 2018

Chương 3 Nhận xét và những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

Trang 16

LƯỢC ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

(TỈNH TUYÊN QUANG)

[Nguồn: Ủy ban nhân dân thành phố Tuyên Quang, năm 2019]

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nông thôn thành phố Tuyên Quang trước năm 2008

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Tuyên Quang nằm ở phía nam tỉnh Tuyên Quang, cách Hà Nội khoảng 165 km theo Quốc lộ 2 và 130 km theo đường Sơn Nam, có vị trí địa lý: Phía nam giáp huyện Sơn Dương Các phía còn lại giáp huyện Yên Sơn Thành phố Tuyên Quang có diện tích 184,38 km², dân

số năm 2018 là 191.118 người, mật độ dân số đạt 1.037 người/km²

Thành phố nằm hai bên bờ sông Lô, được che chắn bởi các dãy núi cao

và xen kẽ nhiều đồi núi thấp Độ cao trung bình dưới 500m và hướng thấp dần từ bắc xuống nam, độ dốc thấp dần dưới 25° [32]

Khí hậu của thành phố Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, có 4 mùa rõ rệt, mùa đông nhiệt đới lạnh - khô hạn, mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều, mùa xuân và mùa thu ngắn, mang ý nghĩa chuyển tiếp giữa 2 mùa chính là đông và hè Lượng mưa trung bình hằng năm đạt 1.295 - 2.266 mm Nhiệt độ trung bình 22°-

23 °C Độ ẩm bình quân năm là 85%

Thành phố Tuyên Quang là đầu mối giao thông trong tỉnh và liên tỉnh giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của Việt Nam Trên địa bàn có các tuyến quốc lộ và đường tỉnh chạy qua: Quốc lộ 2 dài 20km, nối Tuyên Quang với

Hà Nội qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc về phía nam, với Hà Giang về phía bắc; Quốc lộ 37 dài 11km nối Tuyên Quang với Yên Bái và các tỉnh Tây Bắc; với Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và các tỉnh Đông Bắc; Quốc lộ 2C dài 9,1km; đường ĐT.186 dài 4 km

Đường thủy có sông Lô, tàu lớn xuôi tới Việt Trì, Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng Mùa mưa, tàu nhỏ có thể ngược sông Lô lên đến thành

Trang 18

phố Hà Giang; hoặc ngược sông Gâm lên đến Chiêm Hóa rất thuận lợi để giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh

Địa hình chủ yếu của thành phố Tuyên Quang là vùng đồi núi thấp, có

độ cao từ 75 m - 200 m so với mực nước biển Thành phố Tuyên Quang được bao bọc bởi dãy núi Dùm có đỉnh cao nhất 529 m ở phía đông bắc; dãy núi

Là, đỉnh cao nhất 948 m ở phía tây bắc và phía đông nam là dãy núi Nghiêm, đỉnh cao nhất 482 m

Nguồn nước từ ba dãy núi cao đổ về sông Lô chảy ngang qua thành phố Tuyên Quang tạo thành hệ thống ngòi, suối, ao hồ tương đối dày, gồm suối

Là, suối Chả, suối Thục, suối Kỳ Lãm, suối Yên Lĩnh, suối Thôn Thượng, hồ Tân Quang, hồ Cô Ve, hồ Trung Việt, hồ Kỳ Lãm Đặc biệt, có dòng sông

Lô chảy qua trung tâm thành phố theo hướng bắc - nam (từ Ghềnh Gà đến Tân Tạo), dài gần 20km

Với nguồn tài nguyên: Có 9 điểm mỏ đá vôi ở Tràng Đà với tổng trữ lượng cấp P2: 783 triệu m3, chất lượng tốt, có khả năng sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng quy mô lớn Ngoài ra, còn có mỏ chì - kẽm

Sự ưu đãi của thiên nhiên đã mang lại sắc thái một đô thị đặc thù có rừng, có núi, có sông, có suối; tạo nét đặc sắc về kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và sự cân bằng về môi trường sinh thái cho thành phố Tuyên Quang Với vị trí địa lý quan trọng, tài nguyên, khi hậu như vậy địa bàn thành phố Tuyên Quang ngày nay đã sớm trở thành nơi tụ cư của người Kinh, Tày, Cao Lan thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng …

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Trong quá trình lịch sử, thành phố Tuyên Quang luôn là một địa bàn có

vị trí chiến lược quan trọng, là thủ phủ của một vùng "an biên" che chắn cho kinh đô Thăng Long về phía bắc Sau năm 1954, thị xã Tuyên Quang có 3 phường: Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang Ngày 26/7/1968, chuyển 4 xã:

Ỷ La, Hưng Thành, Nông Tiến, Tràng Đà thuộc huyện Yên Sơn về thị xã Tuyên Quang quản lý Thị xã Tuyên Quang lúc này có 3 phường nội thị là Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang và 4 xã ngoại thị: Ỷ La, Hưng Thành,

Trang 19

Nông Tiến và Tràng Đà Sau năm 1975, thị xã Tuyên Quang vẫn giữ nguyên

tổ chức hành chính gồm 3 phường và 4 xã Những năm 1975 - 1991, thị xã Tuyên Quang giữ vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tuyên (do hợp nhất 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang) Ngày 12/8/1991, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, thị xã Tuyên Quang trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Quang

Năm 2008, thị xã Tuyên Quang được điều chỉnh địa giới hành chính, nhập thêm 5 xã: An Tường, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn (thuộc huyện Yên Sơn); đồng thời, thành lập phường Ỷ La và phường Tân Hà trên cơ sở xã Ỷ La; nâng cấp hai xã Nông Tiến và Hưng Thành lên thành phường Dân số thị xã đạt mức gần 100.000 người, tăng gần gấp 2 lần so với năm 1990 [32]

Ngày 25/6/2009, thị xã Tuyên Quang được công nhận là đô thị loại III Ngày 02/7/2010, thị xã Tuyên Quang chính thức trở thành thành phố Tuyên Quang Thành phố Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 11.917,45 ha và 110.119 nhân khẩu

Dân cư của 5 xã nông thôn thành phố là 25.356 người, chiếm 4,4% so với dân cư thành phố (năm 2019)

Thành phố Tuyên Quang có 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 3 dân tộc có số dân đông là dân tộc Kinh, dân tộc Tày và nhóm Cao Lan thuộc dân tộc Sán Chay

Thành phố Tuyên Quang với vị thế là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá - xã hội, đầu mối giao thông của tỉnh, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sau 5 năm thành lập, thành phố Tuyên Quang đã không ngừng phát triển, diện mạo đô thị ngày càng đổi thay khang trang và đẹp đẽ hơn Đây là động lực quan trọng để thành phố tiếp tục phát triển trong tương lai Bên cạnh đó, thành phố có tiềm năng về đất đai, nguồn nhân lực, hạ tầng đô thị được đầu tư xây dựng với điểm nhấn là cụm Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang gắn với Quảng trường Nguyễn Tất Thành và các thiết chế văn hóa; có các di tích lịch sử, văn hoá, thắng cảnh đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch, dịch vụ Càng thuận lợi hơn

Trang 20

trong thời gian 2015 - 2018, tỉnh Tuyên Quang tích cực thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư một số dự án trên địa bàn thành phố; đặc biệt khi tuyến đường cao tốc đoạn Tuyên Quang - Phú Thọ nối vào đường cao tốc Côn Minh - Lào Cai

- Hải Phòng được đầu tư xây dựng, thành phố Tuyên Quang sẽ kết nối với các trung tâm kinh tế, các tỉnh, thành phố Đây chính là điều kiện rất thuận lợi để thành phố Tuyên Quang hội nhập và phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, đạt hiệu quả cao hơn Tính đến đầu năm 2010, toàn thành phố có 28 hợp tác xã thủ công nghiệp, 391 doanh nghiệp đóng trên địa bàn (trong đó 56 công ty cổ phần, 257 công ty trách nhiệm hữu hạn, 78 doanh nghiệp tư nhân), tổng thu ngân sách nhà nước ước tính gần 160 tỷ đồng Trên địa bàn thành phố còn có Khu Công nghiệp Long Bình An với quy mô 109 ha và 2 điểm công nghiệp tập trung tại phường Tân Hà và phường Nông Tiến cùng với một số khu đô thị đã và đang hình thành như khu đô thị Tân Bình (phường Nông Tiến), khu

đô thị Tân Phát (phường Ỷ La), khu đô thị Minh Thanh (phường Tân Hà), khu đô thị Đông Sơn (phường Ỷ La và phường Hưng Thành)

Cùng với sự phát triển về kinh tế, tình hình văn hóa - xã hội của thành phố cũng đạt được nhiều kết quả tích cực Giáo dục - đào tạo được quan tâm, chất lượng giáo dục được nâng cao, giữ vững thành quả phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đến năm 2010, trung học cơ sở thành phố có 5/13 trường đạt chuẩn Quốc gia

Văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao có nhiều hoạt động sôi nổi phục

vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao Các lễ hội truyền thống được duy trì Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai sâu rộng; việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc được đẩy mạnh Tỷ lệ gia đình văn hoá đạt 90,2% (so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố tăng 0,8%); tỷ lệ thôn, xóm, tổ dân phố văn hoá đạt 73,9% (so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố tăng 1,2%)

Trang 21

Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em tiếp tục được triển khai, đảm bảo các mục tiêu đề ra Lao động, việc làm và đời sống xã hội luôn được quan tâm

Thành phố Tuyên Quang là nơi có bề dày về lịch sử, văn hóa Di tích thành cổ Tuyên Quang được xây dựng vào cuối XVI (thời Nhà Mạc), có cấu trúc theo kiểu hình vuông, tường thành dài 275 m, cao 3,5m, dày 0,8m Tổng diện tích thành cổ là 75.625 m² Ngoài thành là hào nước; gạch xây thành làm bằng thứ đất có quặng sắt rất rắn.Với địa hình và cấu trúc đó khiến cho thành

có một vị trí phòng thủ lợi hại và là vị trí quân sự trọng yếu Nơi đây đã được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử hào hùng của nhân dân Tuyên Quang Di tích còn lại gồm có hai cổng thành ở phía tây và phía bắc cùng một số đoạn tường thành

Di tích Đền Hạ (phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang): Được xây dựng vào năm 1738, thời vua Lê Cảnh Hưng (thời Hậu Lê), thờ Mẫu thần Đền có mái đao cong duyên dáng với những biểu tượng rồng, phượng đắp nổi trên lớp mái ngói vẩy Các ngày lễ lớn được diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch Khu đền in bóng bên dòng sông Lô, nơi có khúc sông uốn lượn hình rồng Di tích mang đậm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo Hiện nay, trong đền còn có nhiều pho tượng cổ có giá trị về mặt nghệ thuật và lịch sử cùng nhiều bức tranh chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao

Hội đua thuyền trên Sông Lô được tổ chức vào dịp tết Nguyên Đán; là hoạt động phản ánh đời sống sinh hoạt gắn với vùng sông nước của cư dân đôi bờ sông Lô; đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ không chịu khuất phục của nhân dân Tuyên Quang trước những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, với ước muốn chinh phục cải tạo tự nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ giang sơn bờ cõi Lễ hội được tổ chức vào mùng 4 tết hằng năm

Tuyên Quang được biết đến là nơi vào dịp Trung thu hằng năm diễn ra

Lễ hội đường phố Đây là hoạt động văn hoá đặc sắc của nhân dân các dân tộc Tuyên Quang Lễ hội mới được hình thành và phát triển trong mấy năm gần đây và trở thành hoạt động văn hóa được nhân dân thành phố Tuyên Quang yêu thích và hưởng ứng nhiều nhất

Trang 22

1.1.3 Thực trạng khu vực nông thôn của thành phố trước năm 2008

Thành phố Tuyên Quang có 5 xã ven đô là Tràng Đà, An Khang, Lưỡng Vượng, Thái Long và Đội Cấn Những xã này đều nằm quanh thành phố, bên dòng sông Lô

Xã Tràng Đà nằm ở phía Bắc của thành phố cách trung tâm thành phố

5km, phía bắc và đông bắc giáp xã Tân Long huyện Yên Sơn, phía nam giáp

phường Minh Xuân, phía đông và đông nam giáp phường Nông Tiến, phía tây

và tây nam giáp phường Tân Hà - thành phố Tuyên Quang Xã có tổng diện

tích đất tự nhiện 1.324,77 ha, trong đó đất nông nghiệp 911,15 ha, đất phi

nông nghiệp 301,4 ha, đất chưa sử dụng là 112,22 ha Toàn xã có 1.557 hộ với 5.818 khẩu trong đó nữ là 2.978 người Có 11 dân tộc anh em cùng chung sống, có 89 hộ và 320 người là dân tộc thiểu số chiếm 5,5% dân số, số người dân tộc thiểu số sống rải rác, xen kẽ trong cộng đồng dân cư, số lao động trong độ tuổi 3.387 người Cơ sở hạ tầng kinh tế của xã được quan tâm đầu tư,

có 04 trường học (02 trường mầm non, 01 trường tiểu học, 01 trường trung

học cơ sở) 01 Trạm y tế xã phục vụ tốt công tác phòng chống dịch bệnh,

khám, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Trên địa bàn xã có trên 20 công ty, doanh nghiệp, HTX đóng trên địa bàn, 02 chợ và các cửa hàng đại lý phục vụ buôn bán giao thương hàng hóa và giải quyết việc làm, phát triển kinh tế- xã hội của xã [49]

Năm 2009, khi thành phố triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu

quốc gia xây dựng nông thôn mới xã đã rà soát đánh giá đạt 5 tiêu chí (xem phụ lục 1)

Phát huy tiềm năng, lợi thế vị trí và tài nguyên phong phú, trong những năm qua xã Tràng Đà đã tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ, tạo điều kiện của của tỉnh, thành phố đồng thời tập trung phát huy nội lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội

Xã Lưỡng Vượng nằm ở phía nam của thành phố, phía đông giáp xã An

Khang, phía bắc giáp xã An Tường, phía nam xã Thái Long, phía tây giáp xã

An Tường Xã có 16 thôn Xã có tổng diện tích đất tự nhiên 1.198 ha, trong

đó đất trồng lúa: 199,2 ha (1 vụ lúa: 134 ha, 2 vụ lúa: 199,7 ha); dân số có:

Trang 23

1.816 hộ, 6.731 nhân khẩu, có 3.746 lao động, trong đó: lao động nông, lâm nghiệp có: 1.333 người chiếm 31,3% tổng số lao động của toàn xã Tỷ lệ tăng

dân số bình quân 2%/năm (bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ

học) Lao động trên địa bàn xã chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động

nông, lâm nghiệp qua đào tạo 1890 người, bằng: 44,4 % trên số lao động nông, lâm nghiệp; xã có 5 dân tộc nhưng chủ yếu có 2 dân tộc trong đó: Dân tộc Kinh: 4.577 người (68,1%), Cao Lan: 1.723 người (26,5%) và các dân tộc khác: 431 người (6,4%) [52]

Năm 2009 xã có chủ trương đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động và giới thiệu việc làm trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng đi xuất khẩu lao động và đi lao động tại các khu công nghiệp, các công ty trong

nước (Số lao động được giải quyết việc làm mới: 190 người, xuất khẩu lao

động: 11 người) Thực hiện tốt kế hoạch xoá đói giảm nghèo Ngoài trồng lúa

ra, nhân dân còn trồng các loại cây ngắn ngày như rau, củ, quả; trồng cây lâm nghiệp, cây chè Bên cạnh đó, tiến hành chăn nuôi đàn gia súc (trâu, bò, lờn, ) và gia cầm (gà, vịt, ) [51]

Xã Đội Cấn cách trung tâm thành phố Tuyên Quang khoảng 12 km về

phía nam hướng đi Quốc lộ 2 Hà Nội, phía đông giáp xã Cấp Tiến, xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương; phía bắc giáp xã Thái Long; phía nam giáp thị trấn Tân Bình, phía tây giáp xã Đội Bình và xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn; diện tích đất tự nhiên của xã là 2.595,54 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 2.189,27 ha [50]

Xã Đội Cấn hiện có 20 thôn, với 2.173 hộ và 7.562 nhân khẩu, là nơi sinh sống của 7 dân tộc nhưng chủ yếu có 2 dân tộc trong đó: Dân tộc Kinh: 4.320 người (57,1%), Cao Lan: 2.995 người (39,6%) và các dân tộc khác: 247 người (3,3%) Là xã thuần nông với lực lượng trong độ tuổi là 4.721, tạo điều kiện thuận lợi đối với các ngành kinh tế có nhu cầu về lao động phổ thông, song khó khăn cho việc phát triển với những ngành kinh tế đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao

Nhân dân các dân tộc xã Đội Cấn luôn giữ vững truyền thống đoàn kết, thương yêu nhau giữ vững bản thân thật thà, thẳng thắn, cần cù, chịu thương,

Trang 24

chịu khó trong lao động sản xuất, tích cực phòng chống thiên tai, khai phá đất hoang tạo ra những cánh đồng lúa, cánh đồng ngô rộng lớn, tốt tươi như ngày nay Để đảm bảo cho cuộc sống tự lập, tự túc, tự cấp, nhân dân các dân tộc xã Đội Cấn đã phải học hỏi đóng khung dệt vải, thêu may quần áo của đồng bào Cao lan, dùng mây, tre đan thúng mủng, dần sàng của dân tộc Kinh, Tày và các đồ dùng khác phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân

Trong quá trình phát triển, xã Đội Cấn có thêm nhiều đồng bào di cư từ các tỉnh khác đến sinh sống, lập nghiệp như: Hưng Yên, Hà Tây (nay là Hà Nội), Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Ninh Bình , và hàng trăm hộ gia đình cán bộ, công nhân viên của Nhà máy Z113 trên địa bàn thị trấn Tân Bình huyện Yên Sơn về nghỉ chế độ cư trú, sinh sống trên địa bàn xã Từ đặc điểm

đó, đã tạo nên cho Đội Cấn có những nét văn hóa, đặc trưng của nhiều vùng miền trong cả nước như: Hát dân ca, hát chèo, hát trầu văn, thơ ca cách mạng, đan xen những tập quán văn hóa truyền thống của các dân tộc Cao lan như: Múa chim gâu, múa xúc tép, hát sình ca , tạo thành bản sắc văn hóa độc đáo, phong phú, đậm nét văn hóa dân tộc

Ngoài trồng lúa ra, nhân dân trong xã còn trồng các loại cây ngắn ngày như rau, củ, quả; trồng cây lâm nghiệp phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng cây mía nguyên liệu cho nhà máy đường Sơn Dương Bên cạnh đó, tiến hành chăn nuôi đàn gia súc (trâu, bò, lờn, ) và gia cầm (gà, vịt, )

Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh, mạnh về kinh tế - xã hội, với lợi thế về vị trí địa lý, xã Đội Cấn được chọn để quy hoạch Khu Công nghiệp của tỉnh Tuyên Quang Đến nay, khu công nghiệp cơ bản đã giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, hoàn thành và đưa vào sử dụng công trình đường giao thông nội bộ; hệ thống thoát nước mặt khu công nghiệp; hệ thống điện chiếu sáng và các thiết yếu hạ tầng trong khu công nghiệp (giai đoạn 1) Năm 2014, Khu công nghiệp Long Bình An đã thu hút đầu tư được 3 dự án đầu tư trong nước, nâng tổng số dự án trong khu công nghiệp lên 7 dự án Trong đó, 01 dự

án đầu tư nước ngoài tổng số vốn đầu tư là 70 triệu USD; 6 dự án đầu tư trong

Trang 25

nước, tổng số vốn đầu tư trên 322 tỷ đồng Hiện một số dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, gồm: Nhà máy phôi thép của công ty liên doanh khoáng nghiệp Hằng nguyên; nhà máy chè Long Phú của công ty cổ phần chè Long Phú, nhà máy Hợp kim sắt MIMECO- Tuyên Quang của công ty cổ phần khoáng sản và cơ khí; Trạm chiết nạp gas và nhà máy sản xuất vỏ bình gas của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Vạn Lộc Tuyên Quang

Trải qua các giai đoạn lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền cấp trên, đảng bộ, nhân dân các dân tộc xã Đội Cấn luôn đoàn kết, tự lực, tự cường, phát huy những tiềm năng sẵn có của địa phương để phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp Trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ xã tập trung lãnh đạo, vận động nhân dân phát huy lợi thế và địa lý, những nguồn lực thế mạnh của xã để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với dịch vụ, khai thác tài nguyên, khoáng sản, các ngành thủ công nghiệp; phân công lao động hợp lý, do đó những năm qua kinh tế của xã phát triển mạnh, tăng trưởng bình quân hằng năm Cơ sở hạ tầng đường giao thông được kiên cố hóa đi lại thuận lợi, nhà văn hóa, khu thể thao, điện lưới quốc gia đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân; trường học khang trang, sạch đẹp, trạm y tế được đầu

tư cải tạo xây dựng; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Xã Thái Long cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 9 km về phía nam,

có diện tích tự nhiên 1.185,84 ha, trong đó đất lúa 171,46 ha; phía đông giáp

xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương; phía tây giáp với xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn; phía nam giáp với xã Đội Cấn thành phố Tuyên Quang; phía bắc giáp với xã An Khang, xã Lưỡng Vượng thành phố Tuyên Quang Xã có 878 hộ dân với 3.668 nhân khẩu, là nơi sinh sống của 9 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh

và Cao Lan là chủ yếu [55]

Xã Thái Long là xã thuần nông với lực lượng lao động trong độ tuổi là 2.541 lao động, tạo điều kiện thuận lợi đối với các ngành kinh tế có nhu cầu

Trang 26

về lao động phổ thông, song khó khăn cho việc phát triển với những ngành kinh tế đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao

Ủy ban nhân dân xã Thái Long tập trung chỉ đạo các hộ nông dân tổ chức sản xuất đảm bảo theo đúng kế hoạch, thời vụ sản xuất, tích cực chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho lúa, ngô Ngoài ra, người dân trong xã còn trồng thêm cây lạc, đậu tương, khoai lang, cây chè, mía, cây thức ăn gia súc Bên cạnh đó, chăn nuôi đán gia súc, gia cầm phát triển bình thường, không có dịch bệnh Và làm tốt công tác trồng rừng (3 ha, năm 2010), bảo vệ rừng [53]

Xã An Khang là xã sản xuất nông nghiệp thuần nông nằm ở phía đông

nam thành phố Tuyên Quang, có vị trí địa lí thuận lợi, cách trung tâm thành phố 5 km (phía đông giáp xã Thái Bình, huyện Yên Sơn và xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương; phía tây giáp xã Lưỡng Vượng, phía bắc giáp xã An Tường, phái nam giáp xã Thái Long, thành phố Tuyên Quang) Tổng diện tích

tự nhiên của xã là 1.335,38 ha, trong đó đất nông nghiệp 423,74 ha, đất ở 40,83 ha, đất khác 253,3 ha; toàn xã có 12 thôn với 1085 hộ, 4418 khẩu, xã có

10 dân tộc anh em chung sống trên địa bàn [47]

Song song với việc trồng cây lúa nước cho năng suất ổn định, người nông dân trong xã cũng trồng thêm cây ngô, cây rau màu, cây chè, cây ăn quả Bên cạnh đó người dân cũng tiền hành chăn nuôi gia súc, gia cầm nhưng do không có chỗ chăn thả nên số lượng ít [46] Dân cư của 5 xã là 25.356 người, chiếm 4,4% so với dân cư toàn thành phố

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, những năm

2000 - 2008, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương ven đô có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực

Cơ cấu kinh tế tăng trưởng và chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ Nông nghiệp tuy giảm tỷ trọng nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng qua các năm Cơ cấu lao động nông thôn cũng đã có sự chuyển biến tích cực là giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp là tiền đề cho việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn phát triển khá, nông nghiệp phát triển tương đối

ổn định góp phần đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm cho nội thành

Trang 27

Hạ tầng kỹ thuật ngày càng được đầu tư mạnh mẽ, nhất là giao thông, các cơ sở trường, lớp học, trạm y tế, thủy lợi, điện, hạ tầng về thôn tin …làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi tích cực tạo điều kiện nâng cao chất lượn cuộc sống của nhân dân góp phần phát triển kinh tế

Các mặt văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm phát triển Tỉ lệ học sinh đến trường, chất lượng giáo dục đào tạo ngày càng được nâng lên Số lao động nông thôn được đào tạo hằng năm tăng lên đáng kể Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được nâng cao Phong tục tập quán của nhân dân được bảo tồn và phát huy, các tập tục lạc hậu được cải tạo tích cực, cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng phát triển, số thôn bản, đạt tiêu chuẩn văn hóa qua các năm ngày một tăng

Hệ thống chính trị được quan tâm đặc biệt nên trình độ cán bộ ngày càng được nâng lên, các cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã ngày càng chủ động, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, chất lượng hoạt động của hệ thống các đoàn thể chính trị, xã hội cấp xã được nâng lên tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội về cơ bản được ổn định và giữ vững, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố.Bên cạnh những kết quả đó, bộ mặt nông thôn Tuyên Quang còn nhiều mặt hạn chế Các xã chưa có quy hoạch phát triển đồng bộ; hạ tầng kinh

tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu đời sống của nhân dân cũng như phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá; trình độ sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường, khoa học công nghệ của lao động nông thôn còn thấp; kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm; sản xuất phi nông nghiệp chưa mạnh; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ít quan tâm đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn; phần lớn lao động chưa qua đào tạo, thiếu việc làm, thu nhập không ổn định; y tế xã nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân; cơ sở vật chất văn hoá, thông tin, giáo dục

Trang 28

còn hạn chế nhất là ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa; vệ sinh môi trường nông thôn chưa được chú trọng để bảo vệ sức khoẻ người dân; nhiều cán bộ cấp xã còn hạn chế về trình độ chuyên môn

1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trục cơ bản để giải quyết nhiệm vụ phát triển đất nước Trong trục này công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là nội dung quan trọng bậc nhất, là nhiệm

vụ đầu tiên phải ưu tiên giải quyết trong quá trình công nghiệp hóa Định hướng chiến lược này bắt nguồn từ nhận thức điều kiện phát triển thực tiễn của Việt Nam - xuất phát từ một quốc gia nông nghiệp với nông dân chiếm đại bộ phận dân số cả nước, do đó, sứ mệnh lịch sử của quá trình công nghiệp hóa là cải biến nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn lạc hậu cổ truyền, xây dựng nông thôn mới

Sau hơn 20 năm đổi mới, vấn đề xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những bước tiến quan trọng Cơ sở kinh tế ở nông thôn

là nông nghiệp đã chuyển từ nền sản xuất tự cung tự cấp, sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước chuyển

cơ bản làm thay đổi cấu trúc kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn, tạo động lực xây dựng kinh tế nông thôn

Xây dựng NTM là một trong 15 chương trình mục tiêu quốc gia được Chính phủ phê duyệt Đây là chương trình lớn, có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo diện mạo mới cho nông thôn Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp từ ngày 18 đến ngày 25/4/2006 Đại hội một lần nữa đã khẳng định vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông thôn: “Hiện nay và trong nhiều năm tới đây, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược quan trọng”, “xây dựng hoàn chỉnh các quy

Trang 29

định phát triển nông nghiệp và nông thôn Thực hiện xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống ấm no, văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu dân cư đô thị hóa Phát huy dân chủ, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các tệ nạn xã hội ở nông thôn” [22]

Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có ý nghĩa chiến lược trong

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” Chính vì vậy, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp, nông thôn nước ta là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân thì phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng lĩnh vực để giải phóng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội [3]

Nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ

tướng đã ban hành “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị

quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Chương trình hành động của Chính phủ nêu

rõ: “Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn” Chương trình cũng nêu rõ: “Chương trình

mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới với nội dung chính là: xây

Trang 30

dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn phù hợp với quy hoạch không gian xây dựng làng (ấp, thôn, bản), xã và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; kết hợp giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức tốt đời sống văn hóa cơ sở Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực hiện “mỗi làng một nghề”

Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 đã nêu một cách tổng quát

về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới Mục tiêu xây dựng nông thôn mới được Đảng ta xác định là: “Xây dựng nông thôn mới

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn, dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao” [3]

Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và

Trang 31

môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ Đây là chương trình mang tính tổng hợp, sâu rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng” [4]

Cùng với đó là hàng loạt các thông tư, quyết định, hướng dẫn của các

bộ, ban ngành cấp quốc gia đã được ban hành nhằm cụ thể hóa các chỉ thị của Trung ương về xây dựng NTM

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

Phát triển kinh tế nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005 - 2010 nhấn mạnh: “Giai đoạn 2005 - 2010, sản xuất nông, lâm nghiệp tiếp tục phát triển và chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành và phát triển một số vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu tập trung phục vụ sản xuất công nghiệp; an ninh lương thực được đảm bảo Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 8,1%/năm Tổng sản lượng lương thực đạt trên 32 vạn tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 440 kg/năm Giá trị chăn nuôi trong giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản, đến năm 2010 đạt 35,6% Tỉnh đã hoàn thành quy hoạch phát triển lâm nghiệp và quy hoạch điều chỉnh hợp lý diện tích 3 loại rừng, cắm mốc phân loại phân định 3 loại rừng trên thực địa; quy hoạch, phát triển vùng nguyên liệu cho các nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh Điều chỉnh, ban hành một số chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng thu nhập của người trồng rừng Diện tích trồng rừng tập trung giai đoạn 2006 - 2010 đạt 55.300 ha; tỷ lệ che phủ của rừng 64%” [59]

Sau khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai

Trang 32

đoạn 2010-2020, tỉnh đã chỉ đạo rà soát, đánh giá hiện trạng 129/141 xã, phường, thị trấn thuộc diện xã xây dựng nông thôn mới để triển khai thực hiện

Qua rà soát thực trạng các xã trên địa bàn tỉnh cho thấy: Bộ mặt nông thôn Tuyên Quang còn nhiều mặt hạn chế, các xã chưa có quy hoạch phát triển đồng bộ; hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu đời sống của nhân dân cũng như phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá; trình độ sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường, khoa học công nghệ của lao động nông thôn còn thấp; kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm; sản xuất phi nông nghiệp chưa mạnh; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ít quan tâm đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn; phần lớn lao động chưa qua đào tạo, thiếu việc làm, thu nhập không ổn định; y tế xã nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân; cơ sở vật chất văn hoá, thông tin, giáo dục còn hạn chế nhất là ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa; vệ sinh môi trường nông thôn chưa được chú trọng để bảo vệ sức khoẻ người dân; nhiều cán bộ cấp xã còn hạn chế về trình độ chuyên môn

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với những nội dung cơ bản như sau:

- Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn như thủy lợi, giao thông, điện, cơ sở dịch vụ sản xuất, lưu thong nông sản hàng hóa; thực hiện phương châm “kết hợp nhà nước và nhân dân cùng làm”

- Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm việc xây dựng thí điểm mô hình thôn, bản nông thôn mới, lấy xãvà thôn bản làm địa bàn chính để thực hiện; xây dựng tiêu chí về làng, xã nông thôn mới phù hợp với điều kiện của tỉnh

Trang 33

- Hoàn thành việc quy hoạch các trung tâm cụm xã, trung tâm xã, các điểm dân cư nông thôn Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát ở nông thôn; ưu tiên thực hiện các dự án di dân ra khỏi vùng nguy hiểm, vùng có nguy cơ cao xảy ra thiên tai Đầu tư xây dựng các trụ sở xã và

bố trí, sắp xếp dân cư nông thôn ổn định, bền vững theo quy hoạch ” [37]

Chủ trương trên đây đã tạo tiền đề quan trọng để Đảng bộ Thành phố Tuyên Quang có những bước đi mới khởi sắc trong việc lãnh đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới để đạt được nhiều thành tựu vững chắc trong giai đoạn 2008 - 2018

Tiểu kết chương 1

Thành phố Tuyên Quang với vị thế là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá - xã hội, đầu mối giao thông của tỉnh, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vấn đề nông nghiệp, nông thôn nói chung

và vấn đề xây dựng nông thôn mới nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của thành phố Nhận thức được vai trò của nông nghiệp, nông thôn, ngay từ trước khi tiến hành xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy Đảng của Thành phố đã có nhiều cố gắng nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở thành phố Tuyên Quang trước năm 2008 còn nhiều hạn chế, kinh tế nông nghiệp phát triển chậm só với tiềm năng, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn thấp, sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ, hiệu quả thấp Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Thực trạng đó đặt đặt ra yêu cầu phải có những chính sách cụ thể, phù hợp nhằm phát triển nông thôn một cách đồng bộ Việc nắm vững những đặc điểm, vị trí, vai trò và tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn trước năm

2008 là một trong những tiền đề quan trọng để nghiên cứu chủ trương, chính sách, từ đó rút ra một số kinh nghiệm nhằm phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục hạn chế và nâng cao kết quả quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn thành phố

Trang 34

Trong bối cảnh đó, Đảng đã đề ra chủ trương xây dựng nông thôn mới, được cụ thể hóa trong hàng loạt các nghị quyết, chương trình hành động tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và XI Trong đó, đã khẳng định được tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời đề ra những nhiệm vụ, giải pháp nhằm xây dựng nông thôn mới Những chủ trương của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng nông thôn mới là những tiền đề quan trọng để Đảng bộ Thành phố Tuyên Quang đưa ra những chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới sao cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương

Tóm lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và trực tiếp là Đảng bộ Tỉnh Tuyên Quang đã tạo tiền đề quan trọng, là kim chỉ nam để Đảng bộ Thành phố Tuyên Quang có những bước đi mới khởi sắc trong việc lãnh đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới để đạt được nhiều thành tựu vững chắc trong giai đoạn 2008 - 2018

Trang 35

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

Nhóm 1, là quy hoạch, gồm một tiêu chí là quy hoạch và thực hiện quy

hoạch Trong đó có quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện

có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Nhóm 2, là hạ tầng kinh tế, xã hội, gồm 8 tiêu chí (từ tiêu chí 2 đến tiêu

chí 9) Tiêu chí về giao thông (tỉ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa

hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; tỉ lệ

km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vân tải; tỉ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; tỉ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại

thuận tiện); tiêu chí về thủy lợi (hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỉ lệ km kệnh mương do xã quản lý được kiên cố hóa); tiêu

chí điện (hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện; tỉ lệ hộ sử

dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn); tiêu chí trường học (tỉ lệ

trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiêu học, THCS có cơ sở vật chất đạt

chuẩn quốc gia); tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa (nhà văn hóa và khu thể

Trang 36

thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT&DL; tỉ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể

thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT&DL); tiêu chí về chợ nông thôn (đạt chuẩn của Bộ Xây dựng); tiêu chí về bưu điện (có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; có Internet đến thôn); tiêu chí về nhà ở dân cư (không có nhà tạm,

dột nát; tỉ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng)

Nhóm 3, là kinh tế và tổ chức sản xuất, gồm 4 tiêu chí (từ tiêu chí 10

đến tiêu chí 13) Tiêu chí về thu nhập (Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh); tiêu chí về hộ nghèo (giảm tỉ lệ hộ nghèo theo vùng); tiêu chí về cơ cấu lao động (tỉ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp); tiêu chí về hình thức tổ chức (có tổ

hợp tác hoặc hợ tác xã hoạt động có hiệu quả)

Nhóm 4, là văn hóa - xã hội - môi trường, gồm bốn tiêu chí (từ tiêu chí

14 đến tiêu chí 17) Tiêu chí giáo dục (phổ cập giáo dục trung học, tỉ lệ học

sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học

nghề; tỉ lệ lao động qua đào tạo); tiêu chí về y tế (tỉ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế; y tế xã đạt chuẩn quốc gia); tiêu chí về văn hóa (xã

có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của

Bộ VH-TT&DL); tiêu chí về môi trường (tỉ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp

vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định)

Nhóm 5, là hệ thống chính trị, gồm hai tiêu chí (tiêu chí 18 và tiêu chí

19) tiêu chí về hệ thống tổ chúc chính trị xã hội vững mạnh (Cán bộ xã đạt

chuẩn; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng

bộ và chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức

đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên); tiêu chí về an

ninh trật tự an toàn xã hội (An ninh, trật tự xã hội được giữ vững)

Trang 37

Bộ tiêu chí cũng quy định rất rõ, xã đạt nông thôn mới khi xã thực hiện

đủ 19 tiêu chí trên; huyện nông thôn mới đạt danh hiệu nông thôn mới khi có 75% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới; tỉnh được công nhận nông thôn mới khi có 80% số huyện trong tỉnh đạt tiêu chuẩn nông thôn mới [14]

Tiếp đó ngày 4 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 800/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế

và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất

và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[15]

Những năm tiếp theo Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo thực hiện chương trình xây dựng NTM: Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 sửa đổi cơ chế nguyên tắc hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình xây dựng NTM; Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Cùng với đó là nhiều thông tư, quyết định, hướng dẫn của các bộ, ban ngành cấp quốc gia đã được ban hành nhằm cụ thể hóa các chỉ thị của Trung ương về xây dựng NTM

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 23/11/2011, Ban Chấp hành

Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (khóa XV) đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU

về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020, trong đó xác định mục tiêu: Đến năm 2015, có ít nhất 7 xã (mỗi huyện, thành

Trang 38

phố 1 xã) đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới; đến năm 2020, duy trì và giữ vững số xã đã đạt chuẩn, toàn tỉnh có trên 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (40/129 xã); thành phố Tuyên Quang đạt chuẩn nông thôn mới cấp huyện

Để đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng, đạt được các mục tiêu theo nghị quyết đề ra, Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang tổ chức hội nghị sơ kết để đánh giá kết quả thực hiện và xác định những nội dung trọng tâm, giải pháp chủ yếu cần tập trung chỉ đạo trong thời gian tới

Chương trình nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh

ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp, giúp đỡ của các

cơ quan, ban, ngành của tỉnh Đảng bộ và nhân dân các dân tộc luôn phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, sáng tạo, phát huy nội lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách Đội ngũ cán bộ từng bước được đào tạo, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực lãnh đạo không ngừng được nâng lên Các phong trào thi đua luôn được sự hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, góp phần tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Đây là những yếu tố thuận lợi

để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Tuyên Quang nói chung và thành phố Tuyên Quang nói riêng bước vào công cuộc xây dựng nông thôn mới

Trên cơ sở phân tích tình hình thực tiễn của địa phương, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Tuyên Quang lần thứ XVIII, nhiệm kì 2010 -

2015 xác định: “Tiếp tục chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng nông thôn mới

giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020 Phát triển hạ tầng kinh tế -

xã hội thiết yếu Huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, tập trung vào các lĩnh vực: Giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở vật chất văn hóa thể thao, nhà ở dân cư nông thôn” [38]

Trang 39

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, ngày 16/6/2012, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Tuyên Quang ban hành Chương trình hành động số 13-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TU về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020 Ngày 31/7/2012, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch

số 45/KH-UBND về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012 - 2015, định hướng đến năm 2020 Trong đó, Đảng bộ xác định rõ quan điểm về xây dựng NTM:

1 Xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong

sự phát triển kinh tế, xã hội thành phố Tuyên Quang văn minh, giàu đẹp Xây dựng NTM thành phố Tuyên Quang cần sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của đề án đề ra

2 Xây dựng NTM phải tuân thủ nguyên tắc theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội thành phố phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh

3 Xây dựng NTM đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH, vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng thành phố Tuyên Quang phát triển bền vững, có môi trường xanh, sạch, đẹp

4 Xây dựng NTM trên tinh thần phát huy nội lực của cộng đồng, ý chí

tự chủ, tự lực tự cường của nhân dân là chính, kết hợp với sự hỗ trợ của nhà nước với điều kiện từng cơ sở

5 Xây dựng NTM cần triển khai đồng bộ, toàn diện trên địa bàn toàn thành phố, có sự ưu tiên, tập trung cho những vùng điểm Đồng thời triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu và phát triển kinh tế xã hội, phấn đấu đến năm 2015 các xã cơ bản hoàn thành xây dựng NTM đạt 19 tiêu chí đề ra, đến năm 2020 có 100% số xã hoàn thành xây dựng NTM [26]

Mục tiêu chung của xây dựng NTM trên toàn thành phố là:

Trang 40

Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn, tạo sự đột phá chuyển biến nhanh hơn nữa giữa các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn Nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao

Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, cơ cấu kinh

tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, phát triển nông thôn ổn định, đời sống nông dân không ngừng được nâng cao, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc Trình độ dân trí được nâng lên, môi trường sinh thái được bảo vệ

Hệ thống chính quyền ổn định, nâng cao trình độ cán bộ được đào tạo chuyên sâu An ninh địa phương giữ vững, hạn chế và đẩy lùi các tệ nạn xã hội

Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015, thành phố 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Đến năm 2020: Duy trì và giữ vững số xã đã đạt chuẩn, Thành phố Tuyên Quang đạt chuẩn nông thôn mới cấp huyện [56]

Giai đoạn bắt đầu triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố, đời sống nhân dân còn khó khăn Xuất phát điểm để tiến hành xây dựng nông thôn mới

ở các xã ở mức thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, điện, trường học) còn nhiều khó khăn, đổi mới phương thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng suất, chất lượng, giá trị thấp

Với quyết tâm cao độ, Đảng bộ thành phố Tuyên Quang đã lãnh đạo chính quyền và nhân dân thực hiện quyết tâm xây dựng nông thôn mới, hoàn thành nhiệm vụ đề ra

Ngày đăng: 15/10/2020, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ NN&PTNT (2002), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ NN&PTNT
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quết số 26/TW, ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quết số 26/TW, ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2008
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quết số 24/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quết số 24/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2008
5. Ban Chỉ đạo trung ương (2010), Kế hoạch số 435/KH-BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010, về triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 435/KH-BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010, về triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Tác giả: Ban Chỉ đạo trung ương
Năm: 2010
6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (khóa XI) (2011), Chương trình hành động số 13-CTr/TU ngày 16/6/2012 về thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 23/11/2011 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, Tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (khóa XI)
Năm: 2011
7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2011), Nghị quyết số 27/NQ-TU ngày 23/11/2011 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, Tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Năm: 2011
8. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Tuyên Quang (2009), Lịch sử Đảng bộ Thị xã Tuyên Quang giai đoạn 1940 - 2008, Tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Thị xã Tuyên Quang giai đoạn 1940 - 2008
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Tuyên Quang
Năm: 2009
10. Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2009), Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Năm: 2009
11. Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2009), Báo cáo quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Năm: 2009
12. Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2010), Thông tư số 07/TT- BNNPTNT, ngày 08/02/2010, Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/TT-BNNPTNT, ngày 08/02/2010, Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Năm: 2010
14. Chính phủ (2009), Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Số 491/QĐ-TTg, Quyết định về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
16. Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng (2013), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới
Tác giả: Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
17. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
18. Phan Xuân Dũng (2005), “Nông nghiệp, nông thôn trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững”, Tạp chí Cộng sản, số 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững”
Tác giả: Phan Xuân Dũng
Năm: 2005
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1996
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2006
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2011
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w