MỞ ĐẦU Trong cuộc sống của mỗi con người, ai ai cũng gặp phải những khó khăn những vấn đề phức tạp mà không thể tự mình giải quyết được. Những vấn đề mà mọi người gặp phải rất đa dang mà không phải chỉ giải quyết bằng vật chất. Khi những vấn đề này xảy đến, chúng ta thường rơi vào trạng thái mất bình tĩnh, không kiểm soát được cảm xúc, lý trí nên không đưa ra được những cách giải quyết hợp lý nhất, khi đó ta cần một người có thể đưa cho mình lời khuyên, những giải pháp để hỗ trợ, giúp ta giải quyết được những vấn đề đó. Chính vì thế nghề công tác xã hội đã ra đời và được xem như là nghề giúp đỡ. Công tác xã hội là một ngành, nghề mới tại Việt Nam. Do vậy, nhận thức của mọi người về Công tác xã hội vẫn còn rất nhiều hạn chế. Thứ nhất, nhiều người đồng nhất và nhầm lẫn công tác xã hội với làm từ thiện, ban ơn, ban phát hoặc nhầm lẫn công tác xã hội với các hoạt động xã hội của các tổ chức, đoàn thể... Thứ hai, vai trò, vị thế cũng như tính chất chuyên nghiệp của công tác xã hội ở Việt Nam chưa được khẳng định. Do vậy, để phát triển công tác xã hội ở Việt Nam cần có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, có sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và cơ sở thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp. Bởi vì, công tác xã hội là một hệ thống liên kết các giá trị, lý thuyết và thực hành. Công tác xã hội là trung tâm, tổng hợp, kết nối và trực tiếp tham gia vào đảm bảo an sinh xã hội.Giá trị của công tác xã hội dựa trên cơ sở tôn trọng quyền lợi, sự bình đẳng, giá trị của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng. Giá trị được thể hiện trong các nguyên tắc hoạt động cũng như các quy điều đạo đức của công tác xã hội. Sự hình thành và phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật hình thành và phát triển Công tác xã hội trên thế giới. Công tác xã hội ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở tình cảm tốt đẹp giữa con người và con người. Trải qua các giai đoạn lịch sử, tinh thần nhân đạo và lòng yêu thương đồng loại luôn luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của các chính sách xã hội, các luật lệ xã hội. Sử dụng nhóm trong CTXH như một phương pháp giúp đỡ tương đối mới, chỉ mới từ thập niên 1930 công tác nhóm mới được thừa nhận là một phần của nghề CTXH. Sử dụng nhóm như một phương tiện trị liệu trong bệnh viện, phòng khám … chỉ mới bắt đầu trong thế chiến thứ 2. Nghề CTXH góp phần giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ và cộng đồng những người yếu thế. Công tác xã hội – Nghề của lòng nhân ái, là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội : người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già .... Sứ mạng của ngành CTXH là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: Những rào cản trong xã hội, sự bất công và sự bất bình đẳng. Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, CTXH đã phát triển trở thành một nghề chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề CTXH mới chỉ ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh. Thực tế cho thấy, đa phần nhân viên làm CTXH chưa được đào tạo cơ bản. Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện. Họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết về CTXH. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững. Thực hành công tác xã hội nhằm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Nhân viên công tác xã hội sử dụng các kỹ năng, kỹ thuật và hoạt động đa dạng phù hợp với từng đối tượng thân chủ cụ thể. Các mô hình can thiệp trong thực hành bao gồm các tiến trình trợ giúp thân chủ đến việc tham gia vào chícnh sách, hoạch định và phát triển xã hội nhằm đảm bảo hệ thống an sinh xã hội toàn diện.Do vậy, thực hành công tác xã hội là một vấn đề quan trọng trong quá trình đào tạo công tác xã hội. Thông qua quá trình thực hành công tác xã hội, sinh viên được rèn luyện kỹ năng, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. Ngoài ra, giúp cho sinh viên thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm của công tác xã hội đối với cá nhân, nhóm và cộng đồng.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống của mỗi con người, ai ai cũng gặp phải những khó khănnhững vấn đề phức tạp mà không thể tự mình giải quyết được Những vấn đề màmọi người gặp phải rất đa dang mà không phải chỉ giải quyết bằng vật chất Khinhững vấn đề này xảy đến, chúng ta thường rơi vào trạng thái mất bình tĩnh, khôngkiểm soát được cảm xúc, lý trí nên không đưa ra được những cách giải quyết hợp
lý nhất, khi đó ta cần một người có thể đưa cho mình lời khuyên, những giải pháp
để hỗ trợ, giúp ta giải quyết được những vấn đề đó Chính vì thế nghề công tác xãhội đã ra đời và được xem như là nghề giúp đỡ
Công tác xã hội là một ngành, nghề mới tại Việt Nam Do vậy, nhận thức củamọi người về Công tác xã hội vẫn còn rất nhiều hạn chế Thứ nhất, nhiều ngườiđồng nhất và nhầm lẫn công tác xã hội với làm từ thiện, ban ơn, ban phát hoặcnhầm lẫn công tác xã hội với các hoạt động xã hội của các tổ chức, đoàn thể Thứhai, vai trò, vị thế cũng như tính chất chuyên nghiệp của công tác xã hội ở ViệtNam chưa được khẳng định Do vậy, để phát triển công tác xã hội ở Việt Nam cần
có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, có sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và cơ
sở thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp Bởi vì, công tác xã hội là một hệthống liên kết các giá trị, lý thuyết và thực hành Công tác xã hội là trung tâm, tổng
Trang 2hợp, kết nối và trực tiếp tham gia vào đảm bảo an sinh xã hội.Giá trị của công tác
xã hội dựa trên cơ sở tôn trọng quyền lợi, sự bình đẳng, giá trị của mỗi cá nhân,nhóm và cộng đồng Giá trị được thể hiện trong các nguyên tắc hoạt động cũngnhư các quy điều đạo đức của công tác xã hội
Sự hình thành và phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam cũng không nằmngoài quy luật hình thành và phát triển Công tác xã hội trên thế giới Công tác xãhội ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở tình cảm tốt đẹp giữa con người và conngười Trải qua các giai đoạn lịch sử, tinh thần nhân đạo và lòng yêu thương đồngloại luôn luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của các chính sách xãhội, các luật lệ xã hội Sử dụng nhóm trong CTXH như một phương pháp giúp đỡtương đối mới, chỉ mới từ thập niên 1930 công tác nhóm mới được thừa nhận làmột phần của nghề CTXH Sử dụng nhóm như một phương tiện trị liệu trong bệnhviện, phòng khám … chỉ mới bắt đầu trong thế chiến thứ 2
Nghề CTXH góp phần giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến đời sốngcủa từng cá nhân, từng nhóm nhỏ và cộng đồng những người yếu thế Công tác xãhội – Nghề của lòng nhân ái, là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặpkhó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội : người nghèo, người khuyết tật,trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già Sứ mạng của ngành CTXH là
nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: Những rào cản trong xã hội, sự bất công và sựbất bình đẳng
Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, CTXH đã phát triển trở thành một nghềchuyên nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề CTXH mới chỉ ở bước đầu hìnhthành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh.Thực tế cho thấy, đa phần nhân viên làm CTXH chưa được đào tạo cơ bản Độingũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể
Trang 3bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện Họ làm việc chủ yếu theokinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết
về CTXH Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, giađình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững
Thực hành công tác xã hội nhằm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội.Nhân viên công tác xã hội sử dụng các kỹ năng, kỹ thuật và hoạt động đa dạng phùhợp với từng đối tượng thân chủ cụ thể Các mô hình can thiệp trong thực hành baogồm các tiến trình trợ giúp thân chủ đến việc tham gia vào chícnh sách, hoạch định
và phát triển xã hội nhằm đảm bảo hệ thống an sinh xã hội toàn diện.Do vậy, thựchành công tác xã hội là một vấn đề quan trọng trong quá trình đào tạo công tác xãhội Thông qua quá trình thực hành công tác xã hội, sinh viên được rèn luyện kỹnăng, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Ngoài ra, giúp cho sinh viênthấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm của công tác xã hội đối với cá nhân, nhóm
Xét về năng lực hành vi, sinh viên là một phần quan trọng trong độ tuổi laođộng Họ có thể lực, trí lực rất dồi dào Xét về mục đích, sinh viên đi học là mong
có kiến thức để có thể lao động và làm việc sau khi ra trường
Hiện nay ở nước ta có khoảng gần 900.000 sinh viên ở các trường Đại học
và Cao đẳng trên cả nước, con số này không dừng lại ở đó mà nó tăng theo hàngnăm 2/3 trong số này là các sinh viên ngoại tỉnh, đối với các Sinh viên này để có
Trang 4thể yên tâm học hành mỗi tháng họ phải trang trải hơn 1 tháng lương của cha mẹ ởnhà chưa kể tiền học phí Đây cũng là mối lo chung của tất cả các sinh viên khác.Không những thế họ luôn luôn thường trực trong đầu mình câu hỏi: “Sau này ratrường minh sẽ làm gì và làm như thế nào?”.
Tùy vào tính chất của mỗi ngành học mà sinh viên lựa chọn việc làm thêmphù hợp, không thể phủ nhận rằng thời gian sinh viên học ở giảng đường đại họckhông dày đặc như thời gian biểu ở bậc trung học phổ thông Bước chân vào giảngđường, khái niệm “ học” còn được gắn với các hoạt động ở trường như: tham giacác câu lạc bộ về kỹ năng, tham gia các chương trình xã hội, sinh viên ngày càngnăng động đúng như tinh thần của những người trẻ Tùy vào tính chất của mỗingành học mà sinh viên lựa chọn việc làm thêm phù hợp, không thể phủ nhận rằngthời gian sinh viên học ở giảng đường đại học không dày đặc như thời gian biểu ởbậc trung học phổ thông Bước chân vào giảng đường, khái niệm “ học” còn đượcgắn với các hoạt động ở trường như: tham gia các câu lạc bộ về kỹ năng, tham giacác chương trình xã hội, sinh viên ngày càng năng động đúng như tinh thần củanhững người trẻ
Đông đảo sinh viên ngày nay nói chung đã nhận thức được rằng có rất nhiềucách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều sinh viên chọn cách thức học ởthực tế Đó là đi làm thêm Việc làm thêm hiện nay đã không còn là hiện tượng nhỏ
lẻ mà đã trở thành một xu thế, gắn chặt với đời sống học tập, sinh hoạt của sinhviên ngay khi vẫn còn ngồi trên ghế giảng đường Sinh viên đi làm thêm ngoài vìthu nhập, họ còn mong muốn tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn, học hỏi thực tếnhiều hơn Và sở dĩ việc làm thêm hiện nay đã trở thành một xu thế là vì đối vớisinh viên, đặc biệt khi sống trong xã hội cạnh tranh như hiện nay, kiến thức xã hội
và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư duy cũng như khả năng làmviệc của họ sau tốt nghiệp
Trang 5Do đó hiện nay ngoài một buổi học trên trường nửa số thời gian còn lại sinhviên dồn vào việc làm thêm Ta có thể thấy bất cứ chỗ nào có việc làm là xuất hiệnsinh viên Nhưng vấn đề đặt ra là “Sinh viên làm thêm” liệu đó có phải là giải pháptối ưu nhất và họ được gì mất gì khi phải vừa học vừa học vừa làm như vậy Đây làcâu hỏi cấp bách đặt ra cho những sinh viên đi làm thêm hiện nay.
Mỗi sinh viên đi làm thêm đều có những vấn đề riêng gặp phải trong việckết hợp giữa việc học trên lớp và việc đi làm thêm ngoài giờ, những khó khănkhông thể tự đưa ra được hướng giải quyết Khi đó cần có sự hỗ trợ của nhân viêncông tác xã hội Nhân viên Công tác xã hội bằng những kiến thức, kỹ năng vàphương pháp, nguyên tắc đạo đức có vai trò trợ giúp cá nhân, nhóm đang gặp phảinhững vấn đề về việc làm thêm ngoài giờ học
a. Trường học viên Báo chí và Tuyên truyền:
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy – Cầu Giấy – Hà Nội
Học viện Báo chí – Tuyên truyền là đơn vị trực thuộc Học viện Chính trị –Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luậnchính trị, cán bộ làm công tác tư tưởng, công tác Đảng, báo chí truyền thông và cáckhoa học xã hội và nhân văn khác ở các trình độ khác nhau Và cùng với đó, Họcviện còn có chức năng chính là cơ sở nghiên cứu khoa học phục vụ mục tiêu nângcao chất lượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ và phục vụ cho việc hoạch định đường
Trang 6lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chí và truyềnthông.
Học viện Báo chí – Tuyên truyền (thuộc Học viện Chính trị – Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh) được thành lập ngày 16-01-1962 Tính đến năm 2013, Họcviện Báo chí – Tuyên truyền hiện có 19 khoa, 3 Ban, 7 phòng, 3 Trung tâm, 1 việnnghiên cứu, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông và các đơn vị chức năngkhác Đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện và 395 người, cán bộ nghiên cứu,giảng dạy chiếm 70%, trong đó có 23 GS, PGS; 77 Tiến sĩ; 164 Thạc sĩ
Hoạt động chuyên môn của Nhà trường so với thời kỳ đầu đã có bước pháttriển mạnh mẽ Các chuyên ngành được mở rộng và đào tạo liên tục theo niênkhoá Bắt đầu từ năm 1991, Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại họcvới ngành đầu tiên là Triết học, sau đó mở ra các ngành Báo chí, Xuất bản, Chínhtrị học Công tác nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò to lớn trong hoạt độngchung, góp phần bổ sung và đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy
Học viện đã và đang hợp tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học vớinhiều trường ĐH có uy tín trên thế giới như ĐH Công nghệ Sydney (UTS), ĐHMonash, ĐH Latrobe của Australia, …
Về công tác đào tạo, Học viện đang đào tạo 28 ngành/chuyên ngành bậc đạihọc, 12 chuyên ngành bậc cao học, 2 chuyên ngành nghiên cứu sinh Sinh viên tốtnghiệp đại học được cấp bằng cử nhân và chứng nhận trình độ lý luận chính trị(cao cấp hoặc trung cấp tùy theo ngành đào tạo) Năm 2013, Học viện tuyển sinh
01 chuyên ngành mới bậc đại học là Báo chí đa phương tiện
Bên cạnh công tác đào tạo thì cơ sở vật chất cũng là yếu tố luôn được BanGiám đốc học viện luôn quan tâm, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu về thiết bị dạy vàhọc cho giảng viên và sinh viên trong trường.Khu giảng đường đạt tiêu chuẩn quốc
Trang 7180 lượt lớp/ngày Trung tâm Thông tin – Tư liệu – Thư viện gồm nhiều phòngchức năng với hang chục nghìn đầu sách chuyên ngành và nhiều tư liệu quý hiến; 2phòng truy cập Internet và 5 hệ thống wifi đảm bảo phục vụ nhu cầu tra cứu, họctập tại mọi địa điểm trong toàn Học viện.
Học viện có 3 phòng hội thảo khoa học, 9 phòng máy tính phục vụ học tinhọc và ngoại ngữ, 2 phòng diễn giảng phục vụ thực hành nghiệp vụ sư phạm, 1studio phát thanh và 1 studio truyền hình phục vụ thực hành nghiệp vụ báo chí
Hội trường Học viện với sức chứa 800 người, được trang bị hệ thống âmthanh, ánh sáng hiện đại, phục vụ tốt việc tổ chức các sự kiện lớn của Học viện vàcác hoạt động ngoại khóa của Đoàn Thanh niên, Đội Văn nghệ xung kích, các câulạc bộ sinh viên như: CLB Võ thuật, CLB Nhiếp ảnh, CLB Triết học,… Khi đếnHọc viện Báo chí – Tuyên truyền, không khó để có thể bắt gặp hình ảnh nhiềunhóm sinh viên đang tập hợp lại với nhau để tham gia vào các hoạt động tập hát,múa, tập võ thuật hay chỉ đơn giản là buổi sinh hoạt định kỳ của một câu lạc bộnào đó trong trường Những sinh viên Học viện Báo chí không chỉ có thành tíchhọc tập tốt mà còn được đánh giá cao bởi sự năng động khi tham gia các hoạt độngngoại khóa, các công tác xã hội, cũng như các chương trình văn nghệ ở trường vànhiều nơi khác
b. Ký túc xá học viên Báo chí và Tuyên truyền:
Địa chỉ: 123 – Nguyễn Phong Sắc – Cầu Giấy – Hà Nội
Ký túc xá là nơi cung cấp nhu cầu về chỗ ngủ cho số lượng lớn sinh viên vớichi phí thấp, đảm bảo cuộc sống sinh viên ổn định cho những sinh viên gặp khókhăn về kinh tế hay phương tiện đi lại.
Trang 8Ký túc xá của Học viện gồm 4 nhà cao tầng có sức chứa 1.500 sinh viên, họcviên trong nước và quốc tế Dự án xây dựng ký túc xá 15 tầng với sức chứa 1.200sinh viên đang chuẩn bị được khởi công.
Ký túc xã học viện gồm những phòng ở cung cấp đầy đủ tiện nghi về sinhhoạt cho mỗi sinh viên Ngoài ra ký túc xá học viện còn có căng tin và những hàngquán ăn cũng sân vân động, sân chơi tennis, bóng chuyền, bóng rổ, bóng đá, phục vụ cho nhu cầu của các sinh viên sống trong ký túc
Phòng Quản Lý KTX được thành lập tháng 9 năm 1994
- Từ 1996 đến 14/4/2009 lưu lượng sinh viên, học viên nội trú mức từ 1.100 người
1000 Từ năm 1999 – 2009 phòng được Học viện giao nhiệm vụ quản lý sinhviên Quốc tế
Nhằm quản lý, giám sát sinh viên, học viên trong việc đảm bảo cơ sở vậtchất của Học viện được trang bị tại KTX Xây dựng và giữ gìn cảnh quanh môitrường xanh, sạch, đẹp Giáo dục sinh viên nội trú về ý thức tự học tập, nghiên cứugóp phần và quy trình đào tạo chung của Học viện Đảm bảo giữ vững an ninh trật
tự và an toàn cho sinh viên, học viên ở nội trú là một trong những nhiệm vụ quantrọng của Phòng Quản lý KTX, bởi vì: địa bàn khu vực KTX phức tạp, số lượngsinh viên có nguyện vọng được vào ở nội trú năn sao đông hơn năm trước, điều đóđòi hỏi công tác quản lý an ninh trật tự tại KTX phải được đặt lên hàng đầu Giáodục sinh viên, học viên chấp hành tốt nội quy KTX, tự giác thực hiện việc tựnghiên cứu, học tập nâng cao chất lượng đào tạo Tuyên truyền, vận động sinhviên, học viên thực hiện phong trào xanh, sạch, đẹp tại khu vực KTX Thườngxuyên đông đốc kiểm tra chặt chẽ sinh viên, học viên trong công tác vệ sinh môitrường và phòng chống dịch bệnh tại KTX
Trang 9II. Đề xuất thành lập nhóm.
Để chuẩn bị cho hoạt động nhóm được diến ra tốt thì 1 khâu rất quan trọngkhông thể thiếu là phải viết đề xuất nhóm Đây là bước cuối cùng của giai đoạnchuẩn bị Bản kế hoạch đề xuất này sẽ nêu rõ mục tiêu, mục đích, đối tượng hưởnglợi, phương pháp thực hiện, kết quả, những yêu cầu hỗ trợ…trong qúa trình hoạtđộng nhóm
Trong qúa trình thực hành với nhóm sinh viên đi làm thêm tại ký túc xá họcviện Báo chí và Tuyên truyền đã nhận thấy một vấn đề nổi cộm của các trẻ ở đây
và cần thiết phải sử dụng công tác xã hội nhóm Và dưới đây là đề xuất nhóm:
Loại hình nhóm: Nhóm can thiệp – Sử dụng nhóm hỗ trợ trong loại hình
nhóm can thiệp
Nhóm hỗ trợ - Là loại hình hoạt động nhóm đặt trọng tâm vào việc xây dựngmôi trường hỗ trợ, tương hỗ lẫn nhau giữa các thành viên Hình thức sinh hoạt chủyếu là giúp các thành viên chia sẻ, cảm thông và trao đổi kinh nghiệm ứng phó vớicác sự kiện căng thẳng trong cuộc sống Sử dụng các chiến lược can thiệp hỗ trợnhằm trợ giúp các thành viên đối phó được với các sự kiện căng thẳng trong cuộcsông và để nâng cao khả năng ứng phó của thân chủ Vì vậy, những thân chủ nàysau khi tham gia nhóm có thể điều chỉnh một cách có hiệu qủa với các sự kiện căngthẳng có thể gặp phải trong tương lai
Đối tượng của nhóm: Là nhóm gồm 7 sinh viên của học viện Báo chí và
Tuyên truyền đang ở ký túc xã học viện mà đang gặp những khó khăn trong cuộcsông sinh hoạt hằng ngày, giữa học và việc làm thêm
Mục đích của nhóm: Sử dụng loại hình nhóm hỗ trợ nhằm cung cấp cho các
bạn sinh viên những cách giải quyết, đưa ra những giải pháp nhằm giải quyếtnhững khó khăn cũng như nhu cầu của các thành viên trong nhóm Tạo môi trườnglàm quen cho những thành viên trong nhóm cùng chia sẻ về những khó khăn trong
Trang 10công việc và trong học tập để từ đó các thành viên hiều nhau hơn và dễ dàng giúp
đỡ nhau trong những khó khăn cuộc sống Chỉ ra những tích cực cũng như hạn chếcủa việc làm thêm trong sinh viên, giúp sinh viên có sự định hướng nghề nghiệpđúng đắn, hình thành tư duy chủ động trong việc giải quyết vấn đề, áp dụng kiếnthức đã học vào thực tiễn
Lý do thành lập nhóm: Trong quá trình thành lập nhóm, chúng tôi nhận thấy
nhóm thân chủ có rất nhiều vấn đề cần có sự trợ giúp của nhân viên CTXH Sinhviên đi làm thêm sẽ gặp những khó khăn nhất định như việc điều phối thời giangiữa việc học và thời gian đi làm thêm, về sức khỏe, về phương tiện đi lại, Từ
đó, sinh viên cần sự trợ giúp từ nhưng nhân viên CTXH để giải quyết những vấn
đề xung quanh
Lãnh đạo nhóm: Người lãnh đao nhóm cần có khả năng lãnh đạo, điều hành
nhóm tốt, có khả năng kết nối các thành viên trong nhóm lại với nhau Nhóm đã đề
cứ bạn Liên – XHH-K33 làm nhóm trưởng
Quá trình đánh giá và tuyển thành viên nhóm: Nhóm được tuyển chọn gồm
7 sinh viên học tại học viên Báo chí và Tuyên truyền và cùng đăng ký nội trú tại kýtúc học viện Nhóm những sinh viên này được tuyển chọn với cùng những đặcđiểm chung như: đi làm thêm sau giờ học, gặp chung một vấn đề khó khăn xuấtphát từ việc làm thêm ngoài giờ học
Mặt khác chúng tôi dựa vào độ tuổi, sở thích của các sinh viên để có thểchọn nhóm viên từ độ tuổi 19 – 20 tuổi Ngoài ra để chọn được các thành viên cần
có sự hỗ trợ ban lãnh đạo nhà trường và quảnh lý KTX
Số thành viên nhóm: Nhóm có 7 thành viên, độ tuổi từ 19 – 20 tuổi, gồm 3
nam và 4 nữ
Trang 11Nhóm sẽ gặp gỡ buổi đầu tại phòng KTX của một thành viên trong nhóm(Phòng E2-202) Nhóm sẽ hoạt đông vào mỗi tối thứ 4 và thứ 7 hàng tuần (trừ tuầnnghỉ lễ).
Các thành viên tương lai của nhóm được chuẩn bị trước khi tham gia vào nhóm:
- Cách làm việc nhóm như thế nào cho đạt hiệu quả
- Khi làm việc nhóm cần chú ý những điều gì
- Những kỹ năng cũng như kiến thức cần thiết để làm việc nhóm
- Tìm hiểu trước về những vấn đề mà nhóm sẽ hướng đến
Những quy định cần thiết lập: Nhóm cần nhưng quy định về thời gian hoạt
động, quy định về cách thức hoạt động nhóm, nguyên tắc cần có trong nhóm,
Kiểm soát rủi ro: Trước khi hoạt động nhóm các nhân viên CTXH phải viết
kế hoạch lường trước được những vấn đề sẽ xảy ra trong quá trình làm việc, nhữngrủi ro và những khó khăn sẽ gặp phải Từ đó mới có thể kiểm soát được những khókhăn, rủi ro có thể xảy ra, linh hoạt trong xử lý vấn đề
Cách thức đánh giá kế hoạch:
- Đánh giá qua việc có thực hiện được những mục đích và mục tiêu củanhóm đề ra hay không
- Những điều đã đạt được và chưa đạt được của nhóm
- Nhóm đã làm được những gì trong các hoạt đông và còn vấn đề nàonhóm chưa làm được
Trang 12- Rút ra kinh nghiệm cho nhóm nhân viên CTXH cũng như cho bản thânmình.
Cách thức theo dõi kế hoạch:
- Theo dõi bằng cách trực tiếp tham gia vào kế hoạch đã đặt ra
- Quan sát những thay đổi của nhóm thân chủ qua từng giai đoạn của tiếntrình, những thay đổi dù nhỏ nhặt những vẫn cần thiết phải ghi nhớ, lưulại trong tiến trình
Kết quả mong đợi: Giải quyết được những vấn đề, khó khăn của nhóm thân
chủ đồng thời cũng giúp đỡ nhóm thân chủ trong cuộc sống
1. Các khái niệm cơ bản.
a. Công tác xã hội:
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động
nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5) CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho
cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999: ).
Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004): Định
nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP Nó không phải
Trang 13là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình.
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái
và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài
hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống
nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia
vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và
lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống
Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằmtrợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu vàtăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vàphòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Công tác xã hội hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm nâng
Trang 14cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếuthế Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hàihoà giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội.
Hoạt động nghề nghiệp Công tác xã hội hướng tới 2 mục đích cơ bản sau: Một là, nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình vàcộng đồng có hoàn cảnh khó khăn
Hai là, cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồngthực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả
b. Công tác xã hội nhóm.
Công tác xã hội nhóm là phương pháp công tác xã hội nhằm giúp tăngcường, củng cô chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm vàkhả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:
- Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng có liên quan đến tâm lý nhóm
- Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đếnvấn đề
- Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch
hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ,niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xãhội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyếtvấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu
Các mục tiêu của công tác xã hội với nhóm:
- Đánh giá (thẩm định) cá nhân: về nhu cầu/khả năng/hành vi qua việc tựđánh giá của nhóm viên, đanh giá cùa tác viên (NVXH), đánh giá của bạn
Trang 15bè trong nhóm (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha mẹ nuôi,trẻ em đường phố).
- Duy trì và hỗ trợ cá nhân: hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăncủa cá nhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyếttật, nhóm phụ huynh khuỵết tật)
- Thay đổi cá nhân : nhiều loại từ hành vi cho đến phát triển nhân cách :kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trongtương lai; xã hội hoá
- Cung cấp thông tin, giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ nănglàm cha mẹ, nhóm tình nguyện viên)
- Giải trí ( vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống )
- Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội: nhóm bệnh nhân
và bệnh viện
- Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ : nhóm gia đình -cải thiện vấn đề truyềnthông, nhóm trẻ phạm pháp-hướng hành vi tiêu cực sang những họatđộng tích
- Thay đổi môi trường : phát triển cộng đồng – nhóm ở cơ sở cải thiện chấtlượng cuộc sống, nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh laođộng …
- Thay đổi xã hội : Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực(nhóm chính quyền địa phương)
c. Việc làm thêm.
Trang 16Làm thêm: Là một định nghĩa mô tả một công việc không chính thức, khôngthường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định.
Theo ông Đinh Văn Hường, chủ nhiệm Khoa Báo chí ở một trường tại HàNội: “Việc làm thêm đối với sinh viên theo quan niệm của tôi có nghĩa là sự thamgia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn
vị, các hộ gia đình với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tíchluỹ kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống…”
Anh Quách Minh Cường, quản lý nhân sự công ty TV Plus lại cho rằng:
“Việc làm thêm theo quan điểm của tôi chỉ đơn giản chính là các bạn sinh viên chủđộng tham gia các hoạt động xã hội ở các tổ chức trong và ngoài trường để tích luỹkinh nghiệm cho bản thân”
Và theo bạn Linh Hương, cộng tác viên Ban Tuyên huấn – Văn phòng Đoàntại một trường Đại học ở Hà Nội: “…với riêng tôi, được làm cộng tác viên Bantuyên huấn, được viết các bài báo cho Bản tin cũng là một cách làm thêm, vừa códịp nâng cao các kỹ năng viết lách, vừa biết cách tổ chức và hoạt động của một tờbáo, lại có một khoản tiền nho nhỏ để tiêu pha”
Trên đây là một vài quan niệm về việc làm thêm đối với sinh viên hiện nay,
từ đó, có thể rút ra quan niệm chung về việc làm thêm như sau: “Việc làm thêm đốivới sinh viên có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tạicác công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăncấm, không làm ảnh hưởng nhiều đến học tập… với mục đích có thêm thu nhậphoặc với mục tiêu học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộcsống…”
2. Các thuyết ứng dụng.