1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng

7 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 495,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc so sánh phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và xét nghiệm nhanh urease (RUT) trong chẩn đoán nhiễm H. pylori từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày, xác định tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng bằng hai phương pháp PCR và RUT.

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Hà Thị Minh Thi, email: htmthi@huemed-univ.edu.vn

Ngày nhận bài: 16/3/2020; Ngày đồng ý đăng: 22/4/2020

Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân

bệnh lý dạ dày - tá tràng

Hà Thị Minh Thi, Nguyễn Thị Mai Ngân, Nguyễn Duy

Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế

Mục tiêu: (1) So sánh phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và xét nghiệm nhanh urease (RUT) trong chẩn

đoán nhiễm H pylori từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày; (2) Xác định tỷ lệ nhiễm H pylori ở bệnh nhân

bệnh lý dạ dày – tá tràng bằng hai phương pháp PCR và RUT Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 106

bệnh nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng được lấy mẫu mô sinh thiết qua nội soi dạ dày để thực hiện RUT, rồi tách

chiết DNA và thực hiện PCR với mồi đặc hiệu gene ureA của H pylori Kết quả: PCR đặc hiệu gene ureA và

RUT tương đồng cao trong chẩn đoán nhiễm H pylori (κ = 0,885; 95%CI: 0,796 – 0,974) Tuy nhiên, PCR phát hiện thêm 5 (10,4%) ca nhiễm H pylori trong số RUT âm tính; và chỉ 1 (1,7%) ca RUT dương tính có kết quả PCR âm tính Tỷ lệ nhiễm H pylori được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp là 53,7% Tỷ lệ này cao

nhất ở nhóm loét dạ dày – tá tràng, 75% (p = 0,015) và nhóm không biết về tiền sử nhiễm và điều trị, 63,5% (p = 0,029) Kết luận: Phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA có thể giúp phát hiện nhiều trường hợp nhiễm H

pylori bị bỏ sót khi chẩn đoán bằng RUT Tỷ lệ nhiễm H pylori còn khá cao, đặc biệt ở nhóm loét dạ dày – tá tràng, và nhóm không biết về tiền sử nhiễm và điều trị H pylori của bản thân.

Từ khoá: Gene ureA, H.pylori, bệnh lý dạ dày - tá tràng

Abstract

Diagnosis of Helicobacter pylori in gastric biopsy specimens of

patients with gastroduodenal diseases by polymerase chain reaction

using ureA gene-specific primers

Ha Thi Minh Thi, Nguyen Thi Mai Ngan, Nguyen Duy Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University

Objectives: (1) To compare PCR method using ureA gene-specific primers and rapid urease test (RUT)

for the diagnosis of H pylori infection in gastric biopsy specimens; and (2) to determine the prevalence

of H pylori infection among patients with gastroduodenal diseases by the combination of both methods

Materials and method: Gastric biopsy specimens were collected from by endoscopy from 106 patients with

gastroduodenal diseases H pylori infection was determined by the rapid urease test (RUT), followed by the PCR using ureA gene-specific primers Results: This study reveals a high-level concordance (κ = 0.885; 95%CI:

0.796 – 0.974) between PCR and RUT for the diagnosis of H pylori infection However, PCR detected H pylori in 5 (10.4%) of RUT-negative patients; and only 1 (1.7%) of RUT-positive cases were PCR-negative The prevalence of H pylori infection diagnosed by both PCR and RUT methods was 53.7% The H pylori infection

was prevalent in gastroduodenal ulcers and patients with unknown medical history, 75% (p = 0.015) and 63.5% (p = 0.029), respectively Conclusion: PCR using ureA gene-specific primers can detect several cases

with H pylori infection overlooked by RUT The prevalence of H pylori infection was still high, particularly in

gastroduodenal ulcers and patients with an unknown medical history

Key words: rapid urease test (RUT), H pylori, ureA gene-specific primers

DOI: 10.34071/jmp.2020.2.7

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Helicobacter pylori (H pylori) là một loại xoắn

khuẩn, vi hiếu khí gây bệnh ở người Khoảng 80%

loét dạ dày và 95% loét hành tá tràng là do nhiễm

H pylori [1] Từ năm 1994, Cơ quan nghiên cứu ung

thư quốc tế (IARC) đã xác nhận H pylori là tác nhân

gây ung thư dạ dày nhóm I [2] Vi khuẩn này có thể nhiễm ở mọi lứa tuổi, với tỷ lệ ở các khu vực thay đổi từ 20–80% [1], tỷ lệ nhiễm ở Việt Nam khoảng

55,5–74,6% [3] Việc chẩn đoán nhiễm H pylori để

Trang 2

điều trị tiệt trừ là hết sức cần thiết, đóng vai trò

quan trọng trong dự phòng ung thư dạ dày

Ngày nay, các kỹ thuật chẩn đoán nhiễm H pylori

đang được sử dụng chủ yếu dựa trên mẫu sinh thiết

niêm mạc dạ dày như nuôi cấy, mô bệnh học, xét

nghiệm nhanh urease (RUT: Rapid urease test) và kỹ

thuật PCR (Polymerase chain reaction); hoặc chẩn

đoán bằng kỹ thuật không xâm nhập như test thở,

phát hiện kháng thể trong huyết thanh, phát hiện

kháng nguyên trong phân [1]

Việc nuôi cấy H pylori đòi hỏi môi trường đặc

hiệu, mất nhiều thời gian, tỷ lệ thành công phụ

thuộc nhiều vào từng phòng xét nghiệm, vì vậy ít

được sử dụng trong thực hành lâm sàng để chẩn

đoán nhiễm H pylori, mà thường chỉ được sử dụng

khi cần chẩn đoán đề kháng kháng sinh [4] Mô bệnh

học được xem có độ nhạy và đặc hiệu cao, tuy nhiên

nhiều nhà khoa học tỏ ra hoài nghi việc chỉ khảo sát

hình thái vi khuẩn mà có thể khẳng định đó là H

pylori [1] Test thở tuy có điểm thuận tiện cho bệnh

nhân là không xâm nhập nhưng chi phí quá cao (giá

thành đắt hơn cả nội soi chẩn đoán bệnh lý dạ dày –

tá tràng) vì vậy thường ưu tiên sử dụng để theo dõi

hiệu quả điều trị sau một liệu trình tiệt trừ H pylori

Xét nghiệm nhanh urease (RUT) nhằm phát hiện

enzyme urease của vi khuẩn H pylori là loại enzyme

giúp vi khuẩn này sống được trong môi trường acid

dạ dày do phân hủy urea thành carbon dioxide và

ammonia RUT được thực hiện đơn giản và nhanh

chóng tại phòng nội soi, tuy nhiên độ nhạy có thể

giảm khi mật độ vi khuẩn thấp, ở bệnh nhân bị

xuất huyết, hoặc có sử dụng các thuốc ức chế bơm

proton, bismuth, kháng sinh [5]…

Với sự ra đời và phát triển không ngừng của các

kỹ thuật sinh học phân tử, việc chẩn đoán nhiễm

H pylori có thể được thực hiện bằng kỹ thuật PCR

khuếch đại gene đặc hiệu của vi khuẩn này như

ureA, ureC, 16S rRNA, hpaA [6] Kỹ thuật PCR được

thực hiện dựa trên DNA được chiết tách từ mẫu sinh

thiết niêm mạc dạ dày, thậm chí là mẫu sinh thiết

đã được thực hiện RUT Chẩn đoán nhiễm H pylori

bằng kỹ thuật PCR có thể khắc phục được một số

nhược điểm nói trên của RUT [7]

Mỗi kỹ thuật chẩn đoán đều có ưu nhược điểm

nhất định và không có kỹ thuật đơn độc nào được

xem là tiêu chuẩn vàng cho việc chẩn đoán xác định

nhiễm H pylori Vì vậy việc phối hợp ít nhất hai

phương pháp là biện pháp được khuyến cáo trong

thực hành lâm sàng [1]

Tại Trung tâm Nội soi tiêu hóa, Bệnh viện trường

Đại học Y Dược Huế, chẩn đoán nhiễm H pylori đã

được thực hiện thường quy bằng phương pháp RUT

chẩn đoán nhiễm H pylori bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi đặc hiệu gene ureC và bước đầu cho kết

quả đáng tin cậy [8] Một số tác giả cho rằng bất kỳ một mẫu mô sinh thiết nào có kết quả dương tính với hai phản ứng PCR khuếch đại hai đoạn gene đích

có trình tự bảo thủ khác nhau đều có thể cho phép

chẩn đoán có nhiễm H pylori [9] Vì vậy, việc tối ưu hóa thêm một quy trình PCR chẩn đoán nhiễm H pylori từ mẫu sinh thiết là điều cần thiết Để nâng

cao chất lượng chẩn đoán phục vụ điều trị bệnh, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm 2 mục tiêu sau:

(1) So sánh phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và xét nghiệm nhanh urease trong chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày.

(2) Xác định tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng bằng phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA kết hợp xét nghiệm nhanh urease.

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được nội soi dạ dày – tá tràng tại Trung tâm Nội soi Tiêu hóa, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế vì các dấu hiệu lâm sàng gợi ý bệnh

lý dạ dày tá tràng (như đầy bụng, khó tiêu, đau, nóng rát vùng thượng vị, buồn nôn, nôn…), với kết quả nội

soi có thương tổn niêm mạc dạ dày–tá tràng và có

chỉ định sinh thiết niêm mạc dạ dày để chẩn đoán

nhiễm H pylori bằng RUT Thời gian từ tháng 6 đến

tháng 10 năm 2019

Tiêu chuẩn loại trừ: Có điều trị kháng sinh và/ hoặc bismuth trong vòng 4 tuần trước khi nội soi, điều trị kháng thụ thể H2 histamin và/hoặc ức chế bơm proton trong vòng 2 tuần trước khi nội soi

Cỡ mẫu: N = 106

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Bước 1: Chọn mẫu tại Trung tâm Nội soi Tiêu hóa

- Ghi nhận thông tin chung của bệnh nhân, thăm khám lâm sàng, kết quả nội soi

- Thu thập mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày

Bước 2: Xét nghiệm nhanh urease (RUT)

- Thực hiện RUT trên các mẫu sinh thiết niêm mạc dạ dày của bệnh nhân bằng bộ kit Urease N.S VA.A01–001A (Việt Á)

- Kết quả dương tính được xác định nếu chất thử chuyển từ màu vàng sang đỏ trong vòng 30 phút sau khi đặt mẫu mô sinh thiết vào ống thử; kết quả âm tính nếu chất thử không đổi màu

- Những mẫu mô sinh thiết sau khi đọc kết quả RUT được chuyển vào ống đựng dung dịch TE, rồi chuyển lên Bộ môn Di truyền Y học, Trường Đại học

Trang 3

Bước 3: Tách chiết DNA từ mẫu mô sinh thiết đã

được thực hiện RUT

- Mẫu mô sinh thiết được nghiền nhỏ trong

dung dịch TE, sau đó tách DNA bằng bộ sinh phẩm

Wizard Genomic DNA Purification (Promega), theo

protocol chuẩn

- Dung dịch DNA sau khi tách chiết được đo nồng

độ và đánh giá độ tinh sạch bằng máy NanoDrop, rồi

lưu trữ ở -20oC cho đến khi phân tích

Bước 4: Chẩn đoán nhiễm H pylori bằng kỹ thuật

PCR đặc hiệu gene ureA

- Hóa chất thực hiện PCR: GoTaq Green

Master-Mix (Promega)

- Cặp mồi đặc hiệu gene ureA của H pylori được

thiết kế bởi Vinette [10] với trình tự mồi như sau:

HpF1: 5’- GATAAGTTGATGCTCCACTACGCTG -3’

HpB25: 5’- CTCAATAGGGGTATGCACGGTTAC -3’

- Thành phần phản ứng: 12,5 µl GoTaq Green MasterMix (Promega), 10 pmol mỗi mồi, 100 ng DNA khuôn mẫu và nước cất cho đủ 25 µl

- Điều kiện nhiệt độ: Biến tính ban đầu 95oC, 5 phút; 30 chu kỳ 95oC 1 phút, 62oC 1 phút, 72oC 1 phút; kéo dài cuối cùng 72oC 8 phút (Máy Applied Biosystems 2720)

- Đọc kết quả: Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1% có bổ sung Red view (thuốc nhuộm DNA), hiệu điện thế 80V, 30 phút, kèm thang chuẩn

100 bp Xem hình ảnh điện di dưới đèn cực tím Kích thước sản phẩm là 279 bp Đọc kết quả chỉ khi sản phẩm PCR xuất hiện ở mẫu chứng dương

và không có ở mẫu chứng âm Có sản phẩm PCR:

nhiễm H pylori, không có sản phẩm PCR: không nhiễm H pylori.

3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tuổi ( ± SD = 41,2 ± 14,1)

< 40

Giới

Nam

BMI (*)

Gầy

Bình thường

Tiền béo phì

Béo phì

9 69 23 5

8,5 65,1 21,7 4,7

(*): BMI được phân nhóm theo tiêu chuẩn dành riêng cho người châu Á (IDI&WPRO)

Tỷ lệ các nhóm tuổi, giới tính tương đương nhau Phần lớn các bệnh nhân có BMI bình thường

Bảng 2 Đặc điểm bệnh lý dạ dày – tá tràng

Bệnh lý dạ dày – tá tràng

Viêm dạ dày (n = 75)

Viêm hang-thân vị

Viêm hang vị

Viêm thân vị

Loét dạ dày – tá tràng (n = 28)

Loét dạ dày-tá tràng

Loét thân vị

Loét hang vị

Loét bờ cong nhỏ

Loét tá tràng

Khó tiêu chức năng (FD) (n = 3)

36 35 4 4 1 7 1 15 3

70,8

48,0 46,7 5,3

26,4

14,3 3,6 25,0 3,6 53,6

2,8

Trang 4

Tiền sử nhiễm và điều trị H pylori

H pylori (+), có điều trị thành công

H pylori (-)

Không biết

38 5 63

35,8 4,7 59,4

Đa số các bệnh nhân thuộc nhóm viêm dạ dày Khoảng một phần ba số bệnh nhân có tiền sử điều trị H pylori thành công Hơn một nửa số bệnh nhân không biết tiền sử bệnh lý.

3.2 Kết quả chẩn đoán nhiễm H pylori

Hình 1 Kết quả điện di sản phẩm PCR chẩn đoán nhiễm H pylori

M: thang chuẩn 100 bp; làn 17 chứng dương; làn 18 chứng âm

Làn 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 11, 12, 13, 14: kết quả PCR âm tính

Làn 6, 8, 10, 15, 16: kết quả PCR dương tính

Bảng 3 So sánh độ tương đồng giữa hai phương pháp chẩn đoán nhiễm H pylori

PCR

Hệ số Cohen’s Kappa: κ = 0,885 (95%CI: 0,796 – 0,974); p (McNemar test) = 0,219

Hai phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và RUT tương đồng trong chẩn đoán nhiễm H pylori 10,4% ca

RUT (-) có kết quả PCR (+); và chỉ 1,7% ca RUT (+) có PCR (-)

Tỷ lệ nhiễm H pylori được chẩn đoán bằng PCR cao hơn RUT 3,8%, tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa

thống kê (kiểm định McNemar)

3.3 Tỷ lệ nhiễm H pylori ở bệnh nhân dạ dày–tá tràng được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và RUT

Bảng 4 Tỷ lệ nhiễm H pylori được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp

Tuổi

< 40 (n = 51)

Giới

Nam (n = 54)

BMI

Gầy (n = 9)

Bình thường (n = 69)

Tiền béo phì (n = 23)

Béo phì (n = 5)

5 36 13 3

55.6 52,2 56,5 60,0

0,983 (**)

Trang 5

Tỷ lệ nhiễm H pylori được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp là 53,7% Không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm giữa các nhóm khi xét theo theo tuổi, giới và BMI

Bảng 5 Mối liên quan giữa nhiễm H pylori và bệnh lý dạ dày – tá tràng

Bệnh lý dạ dày – tá tràng

Viêm (n = 75)

Loét (n = 28)

Khó tiêu chức năng (n =3)

35 21 1

46,7 75,0 33,3

0,015

Tiền sử nhiễm và điều trị H pylori

H pylori (+), có điều trị (n = 38)

H pylori (-) (n = 5)

Không biết (n = 63)

16 1 40

42,1 20,0 63,5

0,029

Tỷ lệ nhiễm H pylori cao nhất ở nhóm loét dạ dày – tá tràng và nhóm không biết về tiền sử nhiễm và điều

trị, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

4 BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện trên 106 bệnh

nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng được nội soi chẩn

đoán tại Trung tâm Nội soi tiêu hóa, Bệnh viện

Trường Đại học Y Dược Huế Tuổi trung bình của

nhóm nghiên cứu là 41,2 ± 14,1, trong đó nhóm

dưới 40 tuổi chiếm 48,1%, nhóm từ 40 tuổi trở lên

chiếm 51,9% Tỷ lệ nam và nữ trong nhóm nghiên

cứu không có sự khác biệt, lần lượt là 50,9% và

49,1% Phần lớn các bệnh nhân có BMI ở mức bình

thường, 65,1% (Bảng 1)

Về các bệnh lý dạ dày – tá tràng, đa số trong

nhóm nghiên cứu là viêm dạ dày, với phần lớn là

viêm hang vị có hoặc không có kèm viêm thân vị,

chiếm 70,8% Bệnh loét dạ dày – tá tràng chiếm

26,4%, trong đó hơn một nửa là loét tá tràng Chỉ có

3 trường hợp, chiếm 2,8% là bệnh lý khó tiêu chức

năng (FD) Trong số các bệnh nhân thuộc nhóm

nghiên cứu, 35,8% có tiền sử nhiễm H pylori và đã

được điều trị, có 4,7% đã từng nội soi chẩn đoán

bệnh dạ dày–tá tràng và xác định không nhiễm H

pylori Đặc biệt, có đến 59,4% bệnh nhân không biết

rõ tiền sử bệnh lý và tình trạng nhiễm H pylori cũng

như các phác đồ điều trị (Bảng 2)

4.2 Kết quả chẩn đoán nhiễm H pylori bằng

PCR và RUT

Kết quả điện di sản phẩm PCR đặc hiệu gene

ureA ở Hình 1 cho thấy các băng phù hợp kích thước

279 bp, không có băng sản phẩm không đặc hiệu

Chứng dương và chứng âm đạt tiêu chuẩn

Kết quả so sánh độ tương đồng giữa hai phương

pháp chẩn đoán nhiễm H pylori cho thấy hệ số

Cohen’s Kappa: κ = 0,885 (95%CI: 0,796–0,974)

Như vậy, hai phương pháp của nghiên cứu này có độ

tương đồng cao trong chẩn đoán nhiễm H pylori

Tuy nhiên, phương pháp PCR tỏ ra ưu thế hơn khi

phát hiện thêm 5 (10,4%) trường hợp nhiễm H pylori nhưng kết quả RUT âm tính, trong khi đó PCR

chỉ âm tính ở 1 (1,7%) trường hợp có RUT dương

tính (Bảng 3) Do đó, tỷ lệ nhiễm H pylori được phát

hiện bằng phương pháp PCR là 58,5%, cao hơn 3,8%

so với phương pháp RUT (chỉ 54,7%) Tuy nhiên, kiểm định McNemar cho thấy sự khác biệt này chưa

có ý nghĩa thống kê, có lẽ do cỡ mẫu khảo sát còn nhỏ (n = 106)

Một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy

sự khác biệt trong phát hiện nhiễm H pylori giữa

hai phương pháp PCR và RUT, với ưu thế thuộc về phương pháp PCR, như nghiên cứu của Oktem-Okullu trên 109 bệnh nhân cho thấy PCR phát hiện

được 28 trường hợp nhiễm H pylori âm tính với

RUT, trong khi PCR chỉ âm tính ở 6 trường hợp có RUT dương tính, hệ số Kappa trong nghiên cứu của tác giả là 0,34 (tương đồng yếu) [11] Nghiên cứu của Lage trên 104 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ nhiễm

H pylori được phát hiện bằng PCR và RUT lần lượt

là 38,5% và 34,6%, chênh lệch 3,9% tương tự như nghiên cứu của chúng tôi [12] Nghiên cứu của Nevoa trên 85 mẫu cho thấy tỷ lệ phát hiện nhiễm

H pylori của RUT chỉ 17,6%, trong khi của PCR là

83,4% [13]

Trong chẩn đoán nhiễm H pylori bằng phương

pháp RUT, khả năng âm tính giả có thể cao vì sự sử dụng kháng sinh, bismuth hoặc ức chế bơm proton trước đó, đây cũng là lý do dẫn đến sự chênh lệch cao về tỷ lệ dương tính giữa hai phương pháp chẩn đoán trong nghiên cứu của Nevoa, tác giả đã không loại trừ các bệnh nhân sử dụng thuốc trước đó 2-4 tuần Ngược lại, nghiên cứu của chúng tôi đã loại trừ những bệnh nhân dùng kháng sinh hoặc bismuth trong vòng 4 tuần, ức chế bơm proton trong vòng 2

Trang 6

tuần trước khi xét nghiệm, nên những trường hợp

âm tính với RUT nhưng dương tính với PCR là do yếu

tố khác Những nguyên nhân lý giải trong trường

hợp này là độ nhạy của RUT có thể bị ảnh hưởng

bởi số lượng và khả năng sống của vi khuẩn trong

mẫu mô sinh thiết [13] Vì vậy, việc chẩn đoán nhiễm

H pylori bằng phương pháp PCR có thể khắc phục

được hạn chế này của RUT

4.3 Tỷ lệ nhiễm H pylori ở bệnh nhân dạ dày

– tá tràng được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai

phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và RUT

Kết quả ở Bảng 4 cho thấy tỷ lệ nhiễm H pylori

khi chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp PCR

đặc hiệu gene ureA và RUT là 53,7% Tỷ lệ nhiễm H

pylori này nằm trong phạm vi tỷ lệ nhiễm chung ở

các bệnh nhân dạ dày – tá tràng ở Việt Nam, 55,5–

74,6% [3] Một nghiên cứu cắt ngang trên 270 bệnh

nhân được nội soi dạ dày – tá tràng tại các bệnh viện

thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội năm 2010 có tỷ lệ

nhiễm H pylori là 65,6% [14]

Một khảo sát năm 2014 – 2015 tại miền Trung

trên 412 bệnh nhân viêm dạ dày mạn có tỷ lệ nhiễm

H pylori là 59,5%, tương đương tỷ lệ nhiễm hiện

nay Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm H pylori ở các bệnh

nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng tại Việt Nam hầu như

trên 50% Thực trạng này đặt ra một gánh nặng về

y tế cũng như kinh tế trong việc điều trị tiệt trừ vi

khuẩn H pylori Do phác đồ điều trị H pylori khá

phức tạp, phối hợp nhiều thuốc vừa kháng sinh vừa

ức chế bơm proton, đồng thời phác đồ này có nhiều

tác dụng phụ cho bệnh nhân như mệt mỏi, mất ngủ,

buồn nôn nên tỷ lệ không tuân thủ phác đồ điều trị

khá cao Ngoài ra, do tình hình sử dụng kháng sinh ở

Việt Nam khá tùy tiện làm gia tăng tỷ lệ đề kháng của

H pylori với các kháng sinh thuộc các phác đồ điều

trị như clarithromycin, levofloxacine, tetracycline và

metronidazole [15], [16] Đó là những lý do làm cho

tỷ lệ nhiễm H pylori hầu như không hề giảm, mặc dù

điều kiện kinh tế của đa số bệnh nhân đủ để áp dụng

các phác đồ điều trị tiêu chuẩn

Kết quả ở Bảng 4 còn cho thấy sự khác biệt về

tỷ lệ nhiễm H pylori theo tuổi, giới và BMI trong

nghiên cứu này không có ý nghĩa thống kê Hầu hết

các nghiên cứu về nhiễm H pylori ở các vùng khác

nhau của Việt Nam đều cho thấy không có sự khác

biệt về tuổi giới trong tỷ lệ nhiễm [8] Nghiên cứu

của Aftab tại Bangladesh trên 133 bệnh nhân dạ dày

– tá tràng cũng cho thấy không có sự khác biệt về tỷ

lệ nhiễm H pylori giữa các nhóm tuổi và giới [17]

Trong khi đó, một nghiên cứu của Siddiqui ở Pakistan

trên 698 bệnh nhân dạ dày – tá tràng cho thấy tỷ lệ

nhiễm H pylori nổi trội ở nhóm tuổi 31 – 50 tuổi

cho thấy nhóm BMI > 23,1 có tỷ lệ nhiễm H pylori

cao hơn nhóm còn lại, với OR = 2,91 (95% CI: 2,01 – 4,20) [18] Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ

nhiễm H pylori ở nhóm gầy và bình thường là 55,6%

và 52,2%, trong khi ở nhóm tiền béo phì và béo phì

là 56,5% và 60,0%; tuy nhiên sự khác biệt không có

ý nghĩa thống kê

Trong nghiên cứu này, chúng tôi còn khảo sát

mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm H pylori và các nhóm

bệnh lý dạ dày – tá tràng, cũng như các nhóm có

và không có tiền sử điều trị H pylori Kết quả ở Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ nhiễm H pylori cao nhất ở

nhóm loét dạ dày – tá tràng, lên đến 75%; trong khi ở nhóm viêm dạ dày tỷ lệ nhiễm là 46,7%; và đặc biệt ở nhóm khó tiêu chức năng chỉ 33,3%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p = 0,015 Theo

y văn, khoảng 80% loét dạ dày và 95% loét hành tá

tràng là do nhiễm H pylori [1], trong khi đó viêm dạ

dày và khó tiêu chức năng có thể do nhiều nguyên

nhân tiềm tàng khác ngoài yếu tố H pylori nên tỷ lệ nhiễm H pylori trong nhóm loét cao hơn nhóm viêm

và khó tiêu chức năng là hoàn toàn hợp lý Khó tiêu chức năng là một rối loạn của dạ dày mà có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, phần lớn là do yếu tố tâm thần như stress, trầm cảm, trạng thái lo lắng;

hoặc lối sống, chế độ ăn [19] Vì vậy, khá nhiều

bệnh nhân rối loạn khó tiêu chức năng bị bỏ sót xét

nghiệm chẩn đoán nhiễm H pylori Tuy nhiên theo Suzuki, điều trị tiệt trừ H pylori cho bệnh nhân khó

tiêu chức năng có nhiễm vi khuẩn này đã cải thiện triệu chứng kể, đặc biệt là ở các nước châu Á, nơi

mà tỷ lệ nhiễm vi khuẩn này khá cao, thì hiệu quả điều trị càng gia tăng đáng kể [20]

Đối với các bệnh nhân dạ dày – tá tràng có nhiễm

H pylori thì ý thức tuân thủ liệu trình điều trị là hết

sức quan trọng, ngoài ra cần phải có kế hoạch theo dõi lâu dài cho bệnh nhân, đề phòng tái nhiễm cũng như kháng trị Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

tỷ lệ tái nhiễm trong nhóm đã có tuân thủ phác đồ điều trị là 42,1% Điều này cho thấy yếu tố sinh hoạt gia đình và cộng đồng đóng vai trò khá quan trọng Những thói quen không tốt trong ăn uống của người Việt Nam như dùng đũa, muỗng lấy thức ăn chung, dùng chung nước chấm thức ăn là những yếu tố nguy cơ cần tránh Ngoài ra, trong nghiên cứu này

có đến 63 bệnh nhân (chiếm 59,4%) không hề biết

bản thân đã có nhiễm H pylori và điều trị hay chưa

Trong số này, có thể có nhiều người bị nhiễm và đã điều trị mà không biết Việc không có ý thức về bệnh tình của bản thân cho thấy nhóm này có thể có tỷ lệ khá cao không tuân thủ phác đồ điều trị Đây cũng

là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng tỷ lệ đề

kháng kháng sinh của H pylori Vì vậy, tỷ lệ nhiễm H

Trang 7

pylori hiện nay tăng cao ở nhóm bệnh nhân không

biết tiền sử nhiễm và điều trị H pylori là điều hợp lý

Tỷ lệ nhiễm ở nhóm này lên đến 63,5%, cao hơn so

với nhóm có điều trị mà tái nhiễm (42,1%) và nhóm

tiền sử âm tính nhưng nay dương tính (20%), với sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê, p = 0,029

5 KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu trên 106 bệnh nhân bệnh lý dạ

dày – tá tràng được chẩn đoán bằng nội soi, chúng

tôi rút ra một số kết luận như sau:

5.1 Chẩn đoán nhiễm H pylori bằng phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA thực hiện từ mẫu mô

sinh thiết có tỷ lệ tương đồng cao với xét nghiệm nhanh urease (RUT), tuy nhiên phương pháp chẩn đoán bằng PCR có thể giúp phát hiện nhiều trường hợp bị bỏ sót khi chẩn đoán đơn thuần bằng RUT

5.2 Tỷ lệ nhiễm H pylori ở các bệnh nhân dạ dày

– tá tràng còn khá cao, đặc biệt ở nhóm bệnh loét dạ dày – tá tràng, và nhóm không biết về tiền sử nhiễm

và điều trị H pylori của bản thân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Patel SK, Pratap CB, Jain AK, Gulati AK, Nath G,

(2014), Diagnosis of Helicobacter pylori: What should be

the gold standard? World J Gastroenterol, 20(36), 12847–

12859.

2 IARC Helicobacter pylori Working Group, (2014),

Helicobacter pylori eradication as a strategy for preventing

gastric cancer International Agency for Research on

Cancer 150 cours Albert Thomas Lyon Cedex 08, France

Lyon, France, 1–59.

3 Ha TMT, Le TNU, Nguyen VN, Tran VH, (2019),

Association of TP53 gene codon 72 polymorphism with

Helicobacter pylori-positive non-cardia gastric cancer in

Vietnam J Infect Dev Ctries, 13(11), 984–991.

4 Megraud F, (1997), How should Helicobacter pylori

infection be diagnosed? Gastroenterology, 113(6 SUPPL.).

5 Lerang F, Moum B, Mowinckel P, Haug JB,

Ragnhildstveit E, Berge T, Bjørneklett A, (1998), Accuracy

of seven different tests for the diagnosis of Helicobacter

pylori infection and the impact of H2-receptor antagonists

on test results Scand J Gastroenterol, 33(4), 364–369.

6 Khalifehgholi M, Shamsipour F, Ajhdarkosh H,

Daryani NE, Reza Pourmand M, Hosseini M, Ghasemi A,

Hasan Shirazi M, (2013), Comparison of five diagnostic

methods for Helicobacter pylori Iran J Microbiol, 5(4),

396–401.

7 Wahab H, Khan T, Ahmad I, Jan A, (2015), Detection

of H pylori by PCR method using ureA and ureC gene

in gastric biopsy sample Detection of H pylori By PCR

Method using UreA and UreC Gene in Gastric Biopsy

Sample J Pure Appl Microbiol ·, 9(January), 50–55.

8 Hà TMT, Trần VH, (2017), Chẩn đoán nhiễm

Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain

reaction) ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn Tạp Chí Nội Khoa,

4, 274–282.

9 Cirak MY, Yilmaz D, Turet S, Ozdek A, Bayiz U,

Samim E, (2003), Detection of Helicobacter pylori and Its

CagA Gene in Tonsil and Adenoid Tissues by PCR Arch

Otolaryngol - Head Neck Surg, 129(11), 1225–1229.

10 Vinette KMB, Gibney KM, Proujansky R, Fawcett

PT, (2004), Comparison of PCR and clinical laboratory tests

for diagnosing H pylori infection in pediatric patients

BMC Microbiol, 4, 1–7.

11 Oktem-Okullu S, Tiftikçi A, Saruc M, Cicek B,

Vardareli E, Tozun N, Kocagöz T, Sezerman U, Yavuz A-S,

Sayi-Yazgan A, (2017), A Multiplex - UreasePCR Assay

for Detection of Helicobacter pylori Infection Directly

from Gastric Biopsy Specimens and Comparison of Multiplex - Urease PCR Results with Rapid Urease Test and

Histopathology Clin Microbiol, 6(2), 3–6.

12 Lage AP, Godfroid E, Fauconnier A, Burette A, Butzler JP, Bollen A, Glupczynski Y, (1995), Diagnosis of Helicobacter pylori infection by PCR: Comparison with other invasive techniques and detection of cagA gene in

gastric biopsy specimens J Clin Microbiol, 33(10), 2752–

2756.

13 Nevoa R, Menezes G, Lopes A, Hemelly F, Morelli

M, Barbosa M, (2017), Molecular technique for detection and identification of Helicobacter pylori in clinical specimens : a comparison with the classical diagnostic

method J Bras Patol e Med Lab, 53(February), 13–19.

14 Nguyen T., Uchida T, Tsukamoto Y, Trinh DT, Ta L, Mai BH, Le SH, Thai KD, Ho DD, Hoang HH, Matsuhisa T, Okimoto T, Kodama M, Murakami K, Fujioka T, Yamaoka

Y, Moriyama M, (2010), Helicobacter pylori infection and gastroduodenal diseases in Vietnam: A cross-sectional,

hospital-based study BMC Gastroenterol, 10, no

pagination.

15 Phan TN, Santona A, Tran VH, Tran TNH, Le VA, Cappuccinelli P, Rubino S, Paglietti B, (2015), High rate of levofloxacin resistance in a background of clarithromycin- and metronidazole-resistant Helicobacter pylori in

Vietnam Int J Antimicrob Agents, 45(3), 244–248.

16 Tran VH, Ha TMT, Le PTQ, Phan TN, Tran TNH, (2019), Characterisation of point mutations in domain

V of the 23S rRNA gene of clinical Helicobacter pylori strains and clarithromycin-resistant phenotype in central

Vietnam J Glob Antimicrob Resist, 16, 87–91.

17 Aftab H, Yamaoka Y, Ahmed F, Khan AKA, Subsomwong P, Miftahussurur M, Uchida T, Malaty HM, (2018), Validation of diagnostic tests and epidemiology of

Helicobacter pylori infection in Bangladesh J Infect Dev Ctries, 12(5), 305–312.

18 Siddiqui B, Yakoob J, Abbas Z, Azmat R, Fatima

SS, Awan S, (2018), Distribution of Helicobacter pylori infection and abnormal body-mass index (BMI) in a

developing country J Infect Dev Ctries, 12(5), 342–346.

19 Madisch A, Andresen V, Enck P, Labenz J, Frieling

T, Schemann M, (2018), The diagnosis and treatment of

functional dyspepsia Dtsch Arztebl Int, 115(13), 222–232.

20 Suzuki H, Moayyedi P, (2013), Helicobacter pylori

infection in functional dyspepsia Nat Rev Gastroenterol Hepatol, 10(3), 168–174.

Ngày đăng: 14/10/2020, 22:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Đặc điểm bệnh lý dạ dày–tá tràng - Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng
Bảng 2. Đặc điểm bệnh lý dạ dày–tá tràng (Trang 3)
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu - Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 3. So sánh độ tương đồng giữa hai phương pháp chẩn đoán nhiễm H.pylori - Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng
Bảng 3. So sánh độ tương đồng giữa hai phương pháp chẩn đoán nhiễm H.pylori (Trang 4)
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR chẩn đoán nhiễm H.pylori - Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR chẩn đoán nhiễm H.pylori (Trang 4)
Bảng 5. Mối liên quan giữa nhiễm H.pylori và bệnh lý dạ dày–tá tràng - Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng
Bảng 5. Mối liên quan giữa nhiễm H.pylori và bệnh lý dạ dày–tá tràng (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm