Trong Bộ luật hình sự năm 2015 tại Điều 260 có quy định tội phạm viphạm quy định về tham gia GTĐB được hiểu như sau: đó là việc một ngườicó hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông
Trang 1HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Luật học về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn toàn trung thực và không trùng lắp với các đề tài nghiên cứu
khác Các số liệu, nội dung trình bày trong luận văn có trích dẫn nguồn gốc.Luận văn này là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoahọc của thầy giáo, TS Phạm Minh Tuyên
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Phong
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về thamgia giao thông đường bộ theo Luật hình sự hiện hành 81.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy định vềtham gia giao thông đường bộ 18
Chương 2:THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNGĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1. Khái quát tình hình xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Hồ Chí Minh 322.2. Thực tiễn định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh 352.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 40
Chương 3:CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM ĐÚNG TRONG ÁP DỤNGPHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH 50
3.1. Yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội viphạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố HồChí Minh 50
Trang 53.2. Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự
về xử lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 53
KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình tai nạn GTĐB và va chạm giao thông trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018 33
Bảng 2.2 Số vụ và số bị cáo phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ từ 2014 – 2018 34
Bảng 2.3 Cơ cấu hình phạt Tòa án áp dụng khi xét xử sơ thẩm tội “vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” trên địa bàn Thành phố giai đoạn
2014 - 2018 40
Bảng 2.4 Tỷ lệ bị cáo được Tòa án sơ thẩm cho hưởng án treo trên tổng số bị
cáo bị xử phạt tù không quá 3 năm trên địa bàn Thành phố giai đoạn từ năm
2014 đến năm 2018 41
Trang 8MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới và phát triển đất nước, thành phố Hồ Chí Minh đãkhông ngừng phấn đấu đạt được nhiều thành tựu trong quá trình phát triển về
hạ tầng và phương tiện giao thông đáp ứng ngày càng cao nhu cầu và sự pháttriển xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành thành phố thôngminh, hiện đại, nghĩa tình, nhưng bên cạnh những mục tiêu đó, Thành phốcũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, một trong số đó làtình hình tội phạm nói chung và tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ nói riêng đang diễn biến phức tạp, tác động xấu đến tình hình anninh, trật tự và sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, đầutàu kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước
Theo số liệu của Ban an toàn giao thông thành phố Hồ Chí Minh, tìnhhình trật tự ATGT trên địa bàn có những diễn biến phức tạp, tuy số vụ TNGT
có giảm nhưng chưa bền vững, các trường hợp vi phạm giao thông lại tăng, sốngười chết vẫn ở mức cao Cụ thể, trong năm 2018, trên địa bàn TP.HCM xảy
ra tổng cộng 3.643 vụ tai nạn giao thông (kể cả va chạm giao thông), làm chết
702 người, bị thương 2.517 người So với cùng kỳ năm 2017 giảm 245 vụ(giảm 6,3%), giảm 41 người chết (giảm 6,91%) và giảm 440 người bị thương(giảm 17,75%) [25]
Tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địabàn thành phố Hồ Chí Minh là do chủ thể điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ; đã để tình trạng mình say rượu, bia hay dùng các chất kích thíchkhác, rồi sau đó chạy quá tốc độ, còn đối với người đi bộ thì lại đi không đúnglàn đường, phần đường, có khi còn chuyển hướng nhưng lại không quan sát,làm cản trở các phương tiện giao thông khác rồi dẫn đến gây ra tai nạn
Trang 9nghiêm trọng hoặc tai nạn rất nghiêm trọng, liên quan đến sức khỏe, tài sảncủa người khác.
Trong thời gian vừa qua, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minhvàcác cơ quan bảo vệ pháp luật khác đã có nhiều biện pháp tích cực trongcông tác phòng, chống tội phạm Quá trình xét xử các vụ án vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ nhìn chung là nghiêm minh, góp phần tíchcực cho hoạt động phòng, chống tội phạm, bước đầu giảm được số vụ và sốngười chết, bị thương, qua đó nâng cao hiệu lực của bộ máy Nhà nước về xử
lý vấn đề này
Dù vậy, xét trên phương diện thực tiễn, việc xác định tội vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minhtrong hoạt động phòng và chống tội phạm này còn để xảy ra tình trạng thụđộng, thiếu cơ sở pháp lý và thiếu tính khoa học Khi áp dụng pháp luật hình
sự, một số dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ vẫn chưa được làm rõ hoặc định tội danh xử lý trách nhiệm hình sựchưa đúng quy định pháp luật với một số nguyên nhân khách quan và chủquan
Nhằm giúp cho hoạt động phòng, chống tội vi phạm quy định về thamgia giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố đạt hiệu quả, cần thiết các cơquan bảo vệ pháp luật, đặc biệt Công an,Tòa án, Viện kiểm sát phải có giảipháp đúng đắn, phải có cơ sở khoa học, tính pháp lý về định tội danh và xácđịnh trách nhiệm hình sự đúng đối tượng vi phạm Và phải có sự liên lạc, traođổi thông tin một cách đồng bộ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệtcác cơ quan tham mưu, cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực pháp luật Tiếptục bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quan trọng là phẩmchất của đội ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan pháp luật
Trang 10Để vấn đề trên mang tính khả thi, người có thẩm quyền phải trang bịnền tảng pháp lý vững vàng và phải có giải pháp thiết thực cho đội ngũ cán bộ
cơ quan bảo vệ pháp luật của Thành phố trong hoạt động đấu tranh với tội viphạm quy định tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Vì
thế, tôi chọn đề tài: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
theo quy định của pháp luật hình sự Việt Namtừ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ với mong muốn làm rõ hơn những
bất cập quy định trong luật hiện hành, cũng như đóng góp một số ý kiến nhỏxung quanh việc nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội viphạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố HồChí Minh trong thời gian tới
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến hiện tại đã có các công trình nghiên cứu khoa học của các tácgiả đề cập đến các vấn đề liên quan đến tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ Cụ thể như:
- Nguyễn Thế Anh (2013), Đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy
định về điều khiển tham gia giao thông đường bộ đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Luận văn thạc sĩ luật học.
- Phạm Thị Thanh Thảo (2008), Đấu tranh phòng chống tội vi phạm
quy định về điều khiển tham gia giao thông đường bộ đường bộ tại tỉnh Long
An, Luận văn tiến sĩ luật học.
- Bùi Kiến Quốc (2001), Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi
phạm quy định về điều khiển tham gia giao thông đường bộ đường bộ ở Thủ
đô Hà Nội, Luận văn tiến sĩ luật học.
- Ngô Hoàng Huy (2010), Đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy định
về điều khiển tham gia giao thông đường bộ đường bộ trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và Bến Tre Luận văn thạc sĩ.
Trang 11Và các giáo trình giảng dạy tại các trường Đại học gồm:
- GS.TS Võ Khánh Vinh (2013), Chương X: Các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội
- TS Phạm Minh Tuyên (2014), Các tội phạm xâm phạm trật tự, antoàn giao thông đường bộ (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử ở ViệtNam), NXB Thanh niên
- TS Cao Thị Oanh (2010), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
Bên cạnh đó, cũng đã có một số bài viết được đăng trên các tạp chí vềtội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như:
- Tạp chí Khoa học 2011 bàn về tội vi phạm GTĐB theo Bộ luật hình
sự năm 2015 Lê Văn Luật (2011), Xác định lỗi khi định tội danh và quyết
định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển tham gia giao thông đường bộ đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tòa án nhân dân, tr.
10-14
- Lê Văn Meo (2013), Trần Thị H Phạm tội quy định về điều khiển
tham gia giao thông đường bộ đường bộ, Tòa án nhân dân, tr.27-28.
- Mai Thế Cần (2010), Tội vi phạm quy định về điều khiển tham gia
giao thông đường bộ đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Có thể thấy rằng các công trình khoa học trên đa số tập trung chủ yếunghiên cứu về hoạt động đấu tranh đối với tội vi phạm quy định về tham giagiao thông, chưa tập trung nêu lên thực trạng, phân tích hạn chế bất cập,nguyên nhân để đưa ra giải pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ có tính thực thi và hiệu quả
Trang 12Tôi chọn việc nghiên cứu tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thànhphố Hồ Chí Minh còn là vấn đề cần phải được quan tâm hơn, từ đó đặt ra vấn
đề nghiên cứu sâu hơn, làm rõ hơn những bất cập
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Bằng việc phân tích dựa trên vấn đề lý luận và pháp luật cũng như thựctrạng tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm (2014 -2018) luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự
về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và góp ý kiến điềuchỉnh một số bất cập trong luật hiện hành
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý cũng như các quy địnhpháp luật về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Nhằm phân biệt tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
và các loại tội phạm khác trong Bộ luật hình sự năm 2015
Đánh giá tình hình thực tiễn về định tội danh và quyết định hình phạtđối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà Tòa ánnhân dân thành phố Hổ Chí Minh đưa ra, thấy được những bất cập, hạn chếtrong việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm này
Từ đó nêu lên các giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng pháp luậthình sự đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tạithành phố Hồ Chí Minh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Đối tượng nghiên cứu là Tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thànhphố Hồ Chí Minh trong 5 năm (2014 - 2018).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu theo chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.Không gian nghiên cứu được giới hạn tại thành phố Hồ Chí Minh Thời giannghiên cứu được xác định từ năm 2014 đến năm 2018
Về thực tiễn áp dụng thì tác giả nghiên cứu quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam cùng với việc tìm thêm nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết cũngliên quan đến tội phạm này thông qua các nội dung đã được nghiên cứu trongphạm vi thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, trong luận văn chỉ đề cập đến địnhtội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minhđối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp luậthình sự Việt Nam
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Dựa trên phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và quantrọng hơn đó là áp dụng thật hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào trongphương pháp luận đó Dựa vào quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước Việt Nam để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề lýluận chung về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, về địnhtội danh và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định về thamgia giao thông đường bộ
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phântích, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học,lý luận gắn thực tiễn và cácphương pháp khác liên quan để nghiên cứu đề tài này
Trang 146. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bao gồm cácvấn đề chung vàcác vấn đề về định tội danh, trách nhiệm hình sự được ápdụng Dựa trên việc nghiên cứu lý luận các vấn đề liên quan, tác giả làm sáng
tỏ phần lý luận về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ cũngnhư đề cập đến nội dung về tội vi phạm tham gia giao thông đường bộ nhằmgóp phần nâng cao hiệu quả và vai trò trong hoạt động phòng, chống xử lý tộiphạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu thamkhảo cho các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm nhândân, Kiểm sát viên, Luật sư) các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan quản lýnhà nước và các các cơ quan tại các địa phương khác sử dụng làm tài liệutham khảo, áp dụng trong hoạt động phòng, chống tội vi phạm quy định vềtham gia giao thông đường bộ theo Luật hình sự hiện hành
7. Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về tham giagiao thông đường bộ trong pháp luật hình sự Việt Nam
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự ViệtNam về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại thành phố
Hồ Chí Minh
- Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nhằm đảm bảo đúng trong ápdụng pháp luật hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Trong Bộ luật hình sự năm 2015 tại Điều 260 có quy định tội phạm viphạm quy định về tham gia GTĐB được hiểu như sau: đó là việc một người
có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và người nàyđiều khiển hoặc sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; hoặcngười này dẫn dắt súc vật hoặc người này thực hiện hành vi đi bộ trên đường
bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ,tài sản của người khác
Vậy hành vi của người điều khiển phương tiện đường bộ hoặc thựchiện hành vi như đi bộ, chăn dắt súc vật nhưng vi phạm quy định về an toànGTĐB, sẽ là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổichịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi một cách vô ý, và người đó đã gâythiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hạicho tính mạng của người khác
Trang 16Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, tội vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ có những đặc điểm riêng và đặc điểmchung của tội phạm là:
Thứ nhất, đặc điểm mang tính nguy hiểm cho xã hội: Theo quy địnhcủa BLHS thì tính nguy hiểm được hiểu là đã hoặc đe dọa gây ra hậu quả,xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Đối với tội viphạm quy định về tham gia giao thông thì tính nguy hiểm được hiểu là đãhoặc sẽ xâm hại đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây thiệt hại đếntính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác
Thứ hai: Về hành vi, đây là những hành vi không tuân thủ các quy định
về tham gia giao thông đường bộ bằng cách không thực hiện hoặc không thựchiện đúng các quy định về an toàn khi tham gia giao thông
Thứ ba: Về ý chí chủ quan, được thể hiện dưới dạng lỗi vô ý thưởngđược thực hiện thông qua hình thức vô ý vì tự tin và vô ý do cẩu thả
Thứ tư: Đặc điểm về chủ thể, là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên, có nănglực trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào đặc điểm trên, đã có những quan điểm khác nhau về kháiniệm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” [27, tr.13] Quan điểm này mới
chỉ nêu định nghĩa hành vi chứ chưa làm rõ khái niệm tội vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ, hơn nữa, hành vi phạm tội kháctội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều
8 Bộ luật hình sự năm 2015 hiện hành
Trang 17Còn tác giả Trần Minh Hưởng lại cho rằng “Tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ”[15, tr.434] Chúng tôi
cho rằng, quan điểm này khá chung chung, chưa đầy đủ và chưa nêu cụ thểhành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này [15]
Đặc biệt tác giả Ngô Ngọc Thủy lại đưa ra quan điểm cụ thể hóa hơnbiểu hiện của hành vi phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ và đã nêu tương đối đầy đủ nội dung khái niệm tội này,song vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm [40], theo đó:
“Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện GTĐB( đây là cách giải thích theo quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999), tức là hành vi của người điều khiển phương tiện GTĐB nhưng mà vi phạm quy định về an toàn GTĐB sau đó gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người khác”.
Tác giả cơ bản đồng ý với khái niệm trên, vì khái niệm trên đã bao quátđược tính nguy hiểm của hành vi, chỉ ra được khách thể bị xâm hại và chủ thể
vi phạm…
Tóm lại, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm tội vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ cần thể hiện được đầy đủ cả ba bìnhdiện tương ứng với năm đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của khái niệm tội phạm(chung) đã nêu trên Do đó, tác giả luận văn đã tổng hợp và đưa ra khái niệmtội phạm này theo định nghĩa như sau: Tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ tức là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ (tácgiả đồng thuận với nghĩa của từ “tham gia” trong BLHS năm 2015) có nănglực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà vi phạm quyđịnh về an toàn giao thông đường bộ, do lỗi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng
Trang 18cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người khác.
Do đó, tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB phải được hiểu là hành
vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự đã tham gia GTĐB nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,không đầy đủ các quy định trong pháp luật GTĐB cụ thể là vi phạm Luật giaothông đường bộ năm Việt Nam
Theo Luật Giao thông đường bộ Việt Nam thì: Người điều khiểnphương tiện tham gia giao thông gồm: Người điều khiển xe thô sơ, Ngườiđiều khiển xe máy chuyên dùng, Người điều khiển xe cơ giới, tham gia giaothông đường bộ
Còn người đi bộ do hành vi không chấp hành các quy định, đã có hànhđộng đi ra lòng đường hoặc chạy qua đường một cách tự ý tùy tiện gây hậuquả nghiêm trọng hoặc người vi phạm dẫn dắt súc vật đi không đúng quy địnhhoặc mang theo các đồ vật cồng kềnh dẫn đến cản trở các phương tiện giaothông gây ra hậu quả về tài sản, tính mạng, sức khỏe
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông gồm người điềukhiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB Người đi
bộ hoặc dẫn dắt súc vật đi không theo đúng quy định hoặc mang theo các đồvật cồng kềnh dẫn đến cản trở các phương tiện giao thông gây ra hậu quả Do
đó cần xác định cụ thể dấu hiệu pháp lý của tội phạm này trong điều kiệntham gia GTĐB, như sau:
* Khách thể của tội vi phạm:
Được quy định là những quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ,nhưng lại bị tội phạm xâm hại Xác định khách thể của tội phạm có tầm quan
Trang 19trọng đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như định tội danh vàquyết định hình phạt đối với tội phạm này Khách thể của tội vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ là An toàn công cộng, trật tự công cộng
cụ thể hơn đó là an toàn giao thông, an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản củanhà nước và các chủ thể khác trong xã hội khi tham gia giao thông đường bộ
Như vậy, có thể xác định khách thể của tội vi phạm quy định về thamgia GTĐB đó là vấn đề an toàn trong hoạt động giao thông vận tải đường bộ,vấn đề an toàn về sức khỏe, tính mạng, tài sản của công dân, của Nhà nước,của các chủ thể khác trong xã hội đã được xác lập”
Dù vậy, phải nhìn nhận rằng trong tất cả các hành vi vi phạm quy định
về tham gia GTĐB thì không phải hành vi nào cũng đều bị coi là tội phạm.Chỉ có hành vi vi phạm bị xử lý về hình sự khi hành vi vi phạm đó có tínhnguy hiểm đáng kể cho xã hội, mà nguy hiểm đáng kể cho xã hội tức là đãgây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, sức khỏe của người khác hoặc gây thiệthại về tính mạng người khác hoặc trong tình huống có khả năng thực tế dẫnđến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu hành vi đó không được ngăn chặn kịpthời
* Mặt khách quan của tội phạm
Được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, sẽ là những biểu hiện của tộiphạm được diễn ra trong thế giới khách quan, như là: hậu quả nguy hiểm cho
xã hội do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra và mối quan hệ nhân quả giữahậu quả và hành vi Bên cạnh đó còn có những dấu hiệu khác, không bắt buộcgắn liền với hành vi phạm tội như phương tiện, công cụ, phương pháp, địađiểm, thủ đoạn hoặc hoàn cảnh phạm tội
Hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ cụ thểlà:
- Không bằng lái xe hoặc không có giấy phép lái xe theo quy định
Trang 20- Say do dùng các chất kích thích mạnh khác hoặc trong khi say rượu.
- Cố ý không cứu giúp người bị nạn hoặc gây tai nạn rồi bỏ chạy nhằmtrốn tránh trách nhiệm
- Đi bộ dẫn dắt súc vật đi tùy tiện không theo đúng quy định hoặc đi bộkhông đúng quy định làn đường
- Không chấp hành hiệu lệnh của người hướng dẫn giao thông hoặcngười đang làm nhiệm vụ điều khiển giao thông
- Hệ thống báo hiệu đường bộ bật lên nhưng người vi phạm đã khôngchấp hành đúng tín hiệu
- Không quan sát; không làm chủ tốc độ; không đi đúng làn đường;chuyển hướng xe, vượt xe, lùi xe, dừng, đỗ xe trên đường bộ không đúng quyđịnh…
- Gây hậu quả rất nghiêm trọng
Dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội vi phạm quy định về tham giaGTĐB chính là hậu quả Như gây thiệt hại đến tính mạng tức là làm ngườikhác bị thương hoặc chết, cũng như gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản củangười khác hoặc sức khoẻ người khác Đây là hậu quả gây ra mà không gì bùđắp được Hành vi chưa cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS nếuhành vi đó chưa gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc chưa gây thiệt hại nghiêmtrọng cho tài sản của người khác hoặc sức khoẻ người khác
Từ phân tích trên, có thể hiểu mặt khách quan của tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ là những biểu hiện của tội vi phạm quy địnhtham gia giao thông đường bộ ra thế giới khách quan Cụ thể:
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội
Hành vi chỉ được coi là tội phạm, nếu có đầy đủ các đặc điểm đã đượcquy định trong pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 21“Hành vi vi phạm quy định về tham gia GTĐB của người tham giaGTĐB quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 tức là hành vi khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc GTĐB và hành vi này phải
là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sảnngười khác” [31, tr.4]
Nhằm làm rõ hơn hành vi khách quan của tội phạm này, tác giả sẽ đưa
ra một số khái niệm có liên quan đến tội phạm này Quy định trong LuậtGTĐB thì một số khái niệm được định nghĩa như sau:
Đường bộ gồm đường, bến phà đường bộ, hầm đường bộ, cầu đường
bộ
Phương tiện giao thông đường bộ gồm tham gia giao thông đường bộ
thô sơ đường bộ, cơ giới đường bộ
Tham gia giao thông đường bộ cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ
giới) gồm xe rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xemáy kéo, xe ô tô
xe ô tô; xe gắn máy (kể cả xe máy điện), máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô
tô ba bánh và các loại xe tương tự
Tham gia giao thông đường bộ thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô
sơ) gồm xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe súcvật kéo và các loại xe tương tự, xe xích lô
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp, xe an ninh,
quốc phòng, đặc chủng
Phương tiện tham gia GTĐB gồm tham gia GTĐB và xe máy chuyên
dùng
Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, dẫn dắt súc vật;
người đi bộ trên đường bộ; người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia GTĐB
Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe máy chuyên
Trang 22dùng, xe cơ giới, xe thô sơ.
Người lái xe là người điều khiển xe cơ giới.
Theo quy định tại Điều 39 Luật GTĐB đã phân loại đường bộ như sau:Mạng lưới đường bộ được chia thành sáu hệ thống bao gồm: đường tỉnh,đường xã, quốc lộ, đường huyện, đường chuyên dùng và đường đô thị [38,Điều 39]
Từ đó, để xác định hành vi vi phạm quy định về tham gia GTĐB củangười tham gia GTĐB đã đến mức truy cứu TNHS hay chưa cần phải căn cứvào các quy định của Luật GTĐB và các văn bản hướng dẫn thi hành Hành vi
vi phạm sẽ được xem xét ở yếu tố người tham gia GTĐB là phải nhận thứcđược sự an toàn về mặt kỹ thuật theo quy định, nếu người vi phạm để xảy ra
vi phạm mà xác định đó là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặcgây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác hoặc sức khỏe ngườikhác, và thỏa mãn đủ các dấu hiệu CTTP trong BLHS, thì theo quy định tạiĐiều 260 BLHS năm 2015 phải chịu TNHS
Dù vậy, nếu sai sót về mặt kỹ thuật mà người tham gia GTĐB đã khôngthể biết được và pháp luật cũng không buộc họ phải nhận biết những lỗi kỹthuật đó thì nếu có gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêmtrọng cho tài sản của người khác hoặc sức khỏe người khác, thì họ không phảichịu TNHS về tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Để xác định hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ không chỉ căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự mà phải căn cứ vàocác quy định tại Luật GTĐB và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan cóthẩm quyền
Dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này chính là hậu quả Thiệthại được xác định đầu tiên là làm chết người, sau đó xác định là hành vi viphạm gây thương tích hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe người
Trang 23khác với tỷ lệ quy định hoặc thiệt hại nghiêm trọng tài sản người khác đượctính bằng tiền đã được quy định trong tội này.
Khi xác định thiệt hại tài sản cho người khác cần chú ý:
Chỉ những thiệt hại do hành vi vi phạm các quy định về điều khiểntham gia giao thông đường bộ trực tiếp gây ra, còn những thiệt hại gián tiếpkhông tính là thiệt hại để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tộinhư: Do bị thương nên phải chi phí cho việc điều trị và các khoản chi phíkhác (mất thu nhập, làm chân giả, tay giả, mắt giả…) Cho dù người phạm tộivẫn phải bồi thường về các thiệt hại gây ra nhưng không tính để xác địnhTNHS đối với hành vi phạm tội
Khi xác định thiệt hại thì không tính thiệt hại mà người phạm tội gây racho chính mình mà chỉ tínhthiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản là thiệt hại
mà người phạm tội gây ra cho người khác Tại khoản 2 hoặc khoản 3 của điềuluật này quy đinh là nếu người phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặchậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị truy cứu TNHS
Bên cạnh hành vi khách quan, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, bộluật còn quy định một số dấu hiệu khách quan khác chính là dấu hiệu bắt buộccủa CTTP như: địa điểm (nơi vi phạm là công trình GTĐB); Phương tiện giaothông Có thể thấy rằng khi xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quantrọng, vì sẽ phân biệt được tội phạm này với các tội vi phạm khác liên quanđến an toàn giao thông
Mặt khác, còn có những dấu hiệu khách quan khác như: Đường bộ,
hành lang an toàn đường bộ, công trình đường bộ, phần đường xe chạy, làn đường, đường phố, dải phân cách, khổ giới hạn của đường bộ, đường cao tốc… Các yếu tố này cũng rất quan trọng khi xác định hành vi vi phạm các
quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam
* Chủ thể của tội phạm
Trang 24Tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổikhông phải chịu TNHS về tội phạm này Người có đủ năng lực trách nhiệmhình sự là người có đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, có khả năng điều khiển hành vitheo hướng có lợi hay không có lợi cho xã hội, hoặc có khả năng xử sự kháckhông gây nguy hiểm cho xã hội.
Mà theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 260 BLHS là tội phạm ít nghiêmtrọng; quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS là tội phạm nghiêm trọng; quyđịnh tại khoản 2, 3 Điều 260 BLHS là tội phạm rất nghiêm trọng
Từ đó, chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB quy địnhtại các khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 260 BLHS 2015
là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Chủ thể củatội vi phạm quy định về tham gia GTĐB không phải là chủ thể đặc biệt,nhưng phải là người tham gia GTĐB mới là chủ thể của tội vi phạm này Tómlại chủ thể của tội phạm này phải có đủ các điều kiện: Có năng lực hình sự, đủtuổi theo luật quy định, trực tiếp tham gia GTĐB Việc xác định các dấu hiệuđặc trưng của chủ thể này cho phép định tội danh và quyết định hình phạt mộtcách đúng đắn và chính xác
* Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm này là mặt bên trong của tội phạm thể hiệnthái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi ngày càng nguy hiểm do họthực hiện hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó hoặc với hậu quả do hành
vi đó gây ra Mặt chủ quan của tội phạm này thể hiện thông qua dấu hiệu tâmlý: Lỗi động cơ, mục đích, thể hiện trên ý nghĩa khác nhau Động cơ và mụcđích người phạm tội hướng tới, động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 25Người phạm tội không những thực hiện hành vi vi phạm quy định vềtham gia giao thông giao thông đường bộ mà còn có ý thức vô ý (dẫn đến gâytai nạn giao thông, vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả) hoặc ý thức vô ý,tùy tiện.
Dấu hiệu lỗi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộcủa người phạm tội được thể hiện thông qua hành vi thái độ, sự nhận thứcthiếu tính logic, nhằm lẫn giữa hành vi vô ý và hành vi coi thường xã hội, mọingười, đặc biệt là coi thường pháp luật
Theo phân tích về lỗi vô ý thì người phạm tội mặc dù biết trước hậuquả là có thể xảy ra nhưng nghĩ rằng có thể không xảy ra hoặc có thể ngănngừa được bằng khả năng của mình, nhưng cuối cùng vì quá tự tin hoặc quácẩu thả dẫn đến hậu quả đã xảy ra Cũng cần nói thêm về hậu quả xảy ra đốivới tội phạm này đôi khi cũng sẽ rất phức tạp, dẫn đến nhận định của một số
cơ quan chuyên môn hoặc các cơ quan tuyên truyền về lỗi vi phạm, mà ở đây
có thể có cả lỗi của người vi phạm lẫn người bị vi phạm, tức hỗn hợp các lỗidẫn đến hậu quả xảy ra, ví dụ như: người điều khiển xe mô tô đi đúng phầnđường nhưng lại chạy quá tốc độ không làm chủ được tay lái đụng vào 1 mô
tô khác đi đúng tốc độ nhưng lại đi sai làn đường của mình, tức đi ngượcchiều, tai nạn làm cả 2 đều bị thương tích trên 61%, toàn bộ xe cộ bị hư hỏngnặng, đây là trường hợp mà hỗn hợp cả 2 lỗi của 2 người điều khiển xe mô tôđều có lỗi của mình
Và tại Toà cũng nhận định rằng trường hợp khi quyết định hình phạtđối với người phạm tội thì người bị hại cũng có lỗi và coi trường hợp người bịhại cũng có lỗi (cả hai bên đều có lỗi)
Trang 261.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến 1999
Từ sau những năm 1945, Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống pháp luật
mới, nhưng tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong thời
gian này chưa được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự Ngày
03/10/1955, văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta về an toàn GTĐB làLuật đường bộ được ban hành kèm theo Nghị định 384/NĐ của Bộ Giaothông Bưu điện
Tiếp theo vào ngày 19/01/1955, Thủ tướng Chính phủ đã cho ban hànhThông tư số 442/TTg, quy định về tội phạm trên lĩnh vực GTĐB có quy định:
“Không theo luật đi đường hoặc không cẩn thận mà làm người khác bị thươngthì người vi phạm có thể sẽ bị phạt tù từ 03 tháng đến 3 năm Nếu gây tai nạnlàm chết người thì người vi phạm có thể bị phạt tù đến 10 năm” [7, tr.135]
Sau năm 1975, Chính phủ ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tựcông cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Tại Điều 9 Sắc luậtnày quy định: “Tội vi phạm luật lệ giao thông trường hợp nghiêm trọng thì bịphạt tù đến 15 năm và có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng thời đó, gây tai nạnnghiêm trọng với các khung hình phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm,”
Tội phạm trong lĩnh vực GTĐB trong sắc luật số 03-SL/76 có haikhung hình phạt; Khung 2: có mức phạt tù đến 15 năm; Khung 1: có mức phạt
tù từ 03 tháng đến 03 năm tù giam
Trường hợp có thể bị hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà do gây
ra thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân hoặc thiệt hại lớn làm chết nhiềungười
Trang 27Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đều được điềutra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội này là “trừng trị thích đáng đối vớinhững vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạmđặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp thận trọng để xem xét đầy đủ mọi
tình tiết một cách toàn diện” [7, tr.373].
Tại Điều 186, Chương VIII BLHS năm 1985 quy định Tội vi phạm quyđịnh về tham gia GTĐB chưa có tên riêng, mà được quy định chung trong tội
“vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêmtrọng”:
“1 Người nào điều khiển tham gia GTĐB vận tải mà vi phạm các quy
định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm:
a. Đi quá tốc độ, chở quá trọng tải, tránh, vượt trái phép;
b. Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồng lạch, đường bay và
độ cao quy định;
c. Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông vận tải.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:
a. Điều khiển phương tiện an toàn giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;
b. Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 20 năm.
Trang 284. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn ngừa kịp thời, thì bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm” [29, Điều
“1 Người nào điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà vi phạm quy định …… phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2 phạt tù từ ba năm đến mười năm;
3.phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
4. Vi phạm quy định về an toàn GTĐB … phạt tù từ ba tháng đến hai năm
.
5. Người phạm tội còn có thể … từ một đến năm năm” [30, Điều 202]
Trong các quy định về An toàn giao thông vận tải trong BLHS 1985 vàquy phạm pháp luật quy định tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB tạiĐiều 202 BLHS 1999, tác giả có sự so sánh:
Thứ nhất: tội này đã chính thức có tên gọi riêng, giúp cho việc tránh sựnhầm lẫn giữa tội này với tội khác, bảo đảm tính chính xác cao, được quyđịnh tại một điều độc lập, làm cho tên của tội phù hợp với nội dung của hành
vi phạm tội
Thứ hai: trong cả hai BLHS nói trên, tuy chủ đề của tội phạm của tộinày không thay đổi, đó vẫn là người điều khiển phương tiện GTĐB nhưng
Trang 29cách thể hiện hành vi khách quan của BLHS 1999 chính xác và ngắn gọn hơn,theo đó đã giới hạn hành vi khách quan của tội này chỉ là những vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện GTĐB Trong khi đó Điều 186 BLHS 1985xác định hành vi khách quan của tội này là hành vi vi phạm mà người phạmtội đã liên quan đến các quy định về ATGT vận tải Mà phạm vi khái niệm viphạm các quy định về ATGT vận tải thì rộng hơn, bao gồm hành vi điềukhiển tham gia GTĐB và các hành vi vi phạm khác (đào đường trái phép, sửdụng vỉa hè,lấn chiếm,lòng đường…), điều này dẫn đến người phạm tội,người dân, người áp dụng pháp luật dễ nhầm lẫn.
Bộ luật hình sự năm 1999 được hiểu: chỉ người nào điều khiển phươngtiện tham gia GTĐB mà vi phạm thì mới là chủ thể của tội này Việc Điềuluật quy định chưa rõ ràng, chặt chẽ, chưa hàm chứa hết nội dung hành vikhách quan và chủ thể của tội phạm, do đó trong thực tiễn cũng đã có việchiểu và vận dụng không chính xác, đôi khi còn có cách áp dụng pháp luậtkhác nhau
1.2.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tạiĐiều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 so với Điều
202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì có nhiều thayđổi quan trọng về kết cấu điều luật, khung hình phạt, mức hình phạt liên quan
Theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015, người nào tham gia giao thôngđường bộ, tức là nhấn mạnh việc người nào tham gia, còn điều luật cũ trướcđây chỉ nói đến người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, vôhình chung chỉ nói đến trường hợp điều khiển, sử dụng phương tiện rồi viphạm, còn nếu không sử dụng, điều khiển phương tiện thì cho dù có gây tainạn cho người khác cũng không bị TNHS Điều 260 BLHS năm 2015 đã giải
Trang 30quyết được vấn đề này, đối tượng được mở rộng và bao quát hơn, không bịgiới hạn như các điều luật cũ trước đây.
Theo Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999: Tội vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người nào điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường
bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ,tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệuđồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến nămnăm Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
ba năm đến mười năm (Không có giấy phép, sử dụng rượu, bia…) Còn khoản
3 thì tăng nặng lên từ bảy năm đến mười lăm năm Khoản 4 thì bị phạt cải tạokhông giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm nếu thấyđược hậu quả có thể xảy ra nghiêm trọng Khoản 5 thì người phạm tội còn cóthể bị hạn chế nghề nghiệp
Còn tại Điều 260 Bộ luật hình 2015 quy định:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về antoàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong cáctrường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 nămđến 05 năm
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000đồng
Trang 312. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở cónồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kíchthích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người
bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫngiao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000đồng
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp
có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và ckhoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữđến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm
Trang 325. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hànhnghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.[31]
So với Điều 202 BLHS năm 1999 thì số khung hình phạt của Điều 260BLHS năm 2015 không thay đổi, nhưng so với BLHS năm 1999 thì số khunghình phạt ở BLHS năm 2015 giảm hơn 01 khung hình phạt Ở Bộ luật hình sự
1999, tình tiết định khung tăng nặng được chia thành các điểm ở khoản 2, cáckhoản còn lại chỉ quy định điều kiện để áp dụng khung hình phạt nặng hơn.Điều 260 BLHS năm 2015 có 03 khung hình phạt, trong đó khoản 2 Điều 260
là có số tình tiết định khung nhiều nhất, khoản 1 và khoản 3 có tình tiết địnhkhung ít hơn
Bên cạnh đó, Điều 260 BLHS năm 2015 đã thay đổi từ điều khiển giaothông thành từ tham gia giao thông Sự thay đổi này phù hợp với quy định củaLuật giao thông đường bộ, đồng thời bao quát được các đối tượng vi phạmquy định do Luật giao thông đường bộ điều chỉnh, vì không riêng gì ngườiđiều khiển phương tiện mà còn có người tham gia giao thông (như đi trênđường, chăn dắt súc vật…)
Xét mức hậu quả cấu thành tội phạm vi phạm tham gia giao thôngđường bộ:
Điều 260 BLHS năm 2015 cho thấy các mức độ về hậu quả làm cơ sở
để quy kết trách nhiệm hình sự Cụ thể nguồi vi phạm bị truy cứu trách nhiệmhình sự nếu gây ra hậu quả:
- Làm chết người;
- Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người 61% trở lên;
- Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người từ 61% đến 121%;
- Đã gây thiệt hại về tài sản từ một trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng
Trang 33Như vậy, Điều 260 BLHS năm 2015 đã không có mức độ hậu quả gâytổn thương cơ thể của 01 người mà dưới 61%, không có mức độ hậu quả tổnthương cơ thể của 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 61%
và không có mức độ thiệt hại vật chất dưới một trăm triệu đồng Và cũng loại
bỏ quy định cộng chung mức độ thiệt hại vềvật chất và sức khỏe con ngườinhư quy định ở điều 202 BLHS năm 2015 Dù vậy, cũng cần lưu ý là, mặc dùchưa có thiệt hại xảy ra thì người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu TNHS nếu
đủ các điều kiện quy định tại khoản 4 của Điều 260 BLHS năm 2015 như:
+ Về hình phạt:
Hình phạt thấp nhất mà tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra thìphạt tiền ba mươi triệu đồng, hình phạt cao nhất là phạt tù đến 15 năm So vớiquy định của Điều 202 BLHS năm 2015 thì mức hình phạt cao nhất về hìnhphạt tù có thời hạn không thay đổi nhưng mức hình phạt thấp nhất về phạttiền tăng lên gấp 6 lần (ba mươi triệu đồng) Nhìn một cách tổng quát vềphần hình phạt thì quy định của Điều 260 BLHS năm 2015 không có lợi chongười phạm tội, như vậy thời điểm có hiệu lực của BLHS năm 2015 là 0h00pngày 01/01/2018 sẽ là thời điểm mà tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ có hiệu lực, người vi phạm bị áp dụng theo quy định BLHSnăm 2015 bất lợi hơn BLHS năm 1999 Nhưng xét về yếu tố cấu thành tộiphạm thì Điều 260 BLHS năm 2015 quy định có lợi hơn cho người phạmtội (kể cả trường hợp tội phạm chưa đạt – khoản 4) Do đó, nếu xem xét đểquyết định hình phạt của bị cáo thì áp dụng Điều 202 BLHS năm 1999, cònnếu xem xét mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra liên quan đến tộiphạm này ở việc đánh giá có tội hay không có tội thì căn cứ vào Điều 260BLHS năm 2015
Cũng tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 thì “Người thực hiện tội
phạm nghiêm trọng do vô ý … thì có thể được miễn trách nhiệm hình
Trang 34sự” Quy định này là quy định có lợi cho người phạm tội mà khi áp dụng pháp
luật cần phải được lưu ý đối với những hành vi phạm tội liên quan đến tộiphạm này.Vì nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 1 Điều 260 BLHS năm
2015 thì có thể họ được miễn trách nhiệm hình sự nếu người vi phạm có cácyếu tố thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015.Một thay đổi trong khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 là mức hìnhphạt Theo đó, mức khởi điểm của hình phạt tiền tăng lên gấp 6 lần, mức caonhất của phạt tiền tăng gấp 02(Một trăm triệu đồng); mức khởi điểm của hìnhphạt tù tăng từ 06 tháng lên 01 năm; mức hình phạt cải tạo không giam giữđược giữ nguyên
So với quy định trong khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 với hướngdẫn tại các văn bản dưới luật thì, điểm a và điểm d của điều 260 BLHS năm
2015 là quy định pháp điển hóa hướng dẫn tại khoản 1 Điều 2 Thông tư liêntịch số 09/2013/TTLT – Bộ Công an, tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộquốc phòng,Viện kiểm sát tối cao Trong đó giữ nguyên mức độ hậu quả tạiđiểm a, mức độ hậu quả tại điểm d về phần thiệt hại tài sản cao nhất được giữnguyên, sửa đổi phần thiệt hại tài sản thấp nhất (một trăm triệu đồng)
Như vậy, quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999 so với khoản
1 Điều 260 BLHS năm 2015 thìchỉ giữ nguyên quy định tại điểm d, còn lạinhững nội dung tại các điểm a, b, c đều bị sửa đổi
Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 bổ sung thêm 03 tình tiết định khungtăng nặng với phương pháp liệt kê cụ thể quy định “gây hậu quả rất nghiêmtrọng” theo điểm đ Điều 202 BLHS năm 1999 thành 03 tình tiết tại các điểm
đ, e, g khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015
Bên cạnh đó, Điều 260 BLHS năm 2015 khoản 2 điểm b có tình
tiết “có sử dụng chất ma túy” vào trước cụm từ “hoặc các chất kích thích
mạnh khác”; đặc biệt tại điểm c đã không còn cụm từ “gây tại nạn rồi” trong
Trang 35Điều 202 BLHS năm 1999 – theo đó cụm từ này không có ý nghĩa thực tiễnnữa vì bản chất điều luật này đang điều chỉnh hành vi vi phạm luật GTĐB gâytai nạn hoặc có nguy cơ rõ ràng gây tai nạn và xác định được mức độ hậu quả.
Khoản 4 Điều 260 BLHS năm 2015 có 03 nội dung thay đổi quan trọng
cụ thể:
- Điều 202 BLHS năm 1999 không có hình phạt tiền, khoản 4 Điều 260BLHS năm 2015 quy định hình phạt tiền là hình phạt chính với mức từ10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
- Điều 202 BLHS năm 1999 là “đặc biệt nghiêm trọng” thì khoản 4Điều 260 BLHS năm 2015 liệt kê rõ các hậu quả có thể xảy ra thuộc các điểm
trong cấu thành cơ bản của tội phạm quy định: “người nào tham gia giao
thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn GTĐB thuộc một trong các trường hợp sau ”, theo quy định này thì bất cứ người nào tham gia giao
thông đường bộ mà vi phạm an toàn giao thông cũng có thể là chủ thể của tộiphạm này
Đồng thời Khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 trong quy định cấuthành cơ bản của tội phạm cũng đã có sửa đổi, bổ sung và lượng hóa, tăng
Trang 36định lượng của cấu thành cơ bản cụ thể hơn như: Điều 202 BLHS năm 1999
quy định “Người nào điều khiển tham gia giao thông đường bộ ….sức khỏe,
tài sản của người khác…”, điều luật quy định mang tính khát quát nên Tòa án
nhân dân tối cao phải ban hành Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thihành Và trong khi quy định tại điểm b tiểu mục 4.1 mục 4 NQ 02/2003 quyđịnh về tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
Trong chương một, tác giả đã tập trung phân tích làm rõ những vấn đề
lý luận và nội dung cơ bản của Điều 202 BLHS năm 1999 và Điều 260 BLHSnăm 2015 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, làm tiền
đề cho việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự
về tội này thông qua định tội danh và quyết định hình phạt ở chương tiếptheo.Tại chương hai tác giả sẽ đưa ra các vấn đề thực tiễn để định tội danh vàxác định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ Vì vậy những vấn đề đã phân tích về mặt lý luận tại chương một sẽ lànhững vấn đề được đề cập thật chi tiết và có tính hệ thống, logic, qua đó sẽlàm cơ sở cho nền tảng pháp lý được tác giả đưa vào chương hai và ba, và ápdụng làm đề xuất, kiến nghị giúp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình
sự Việt Nam
Trang 37Chương 2:
THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNGĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Khái quát tình hình xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Hồ Chí Minh
Vị trí địa lý của Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở phía nam Việt Nam,bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km² Theo kết quả tổnghợp từ công tác lập bảng kê: dân số của thành phố đến thời điểm 23/01/2019
là 8.859.688 người, tăng 64.823 người so với thời điểm 30/6/2018 (số liệudân số của thành phố đến thời điểm 30/6/2018 là 8.794.865 người) Thànhphố Hồ Chí Minh những năm qua vẫntiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, giữvững vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước Trong đó, tổng sản phẩm nội địa trênđịa bàn TP (GRDP) đạt hơn 1,33 triệu tỷ đồng, ước tăng 8,3% (cùng kỳ cácnăm tăng 8,25%) Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minhtrở thành một đầu mối giao thông quan trọng của của khu vực nói chung vàtại Việt Nam nói riêng, không chỉ phát triển đường không, mà còn đườngthủy, đường sắt và đặc biệt là đường bộ
Do đó, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thu hút nguồn nhân lực từ khắpnơi trên cả nước, tạo áp lực lớn lên giao thông đô thị mà thành phố còn chưa
có những quyết sách đầu tư phù hợp theo kịp sự phát triển này Trong nội ôthành phố, hệ thống cầu đường trở nên cũ kỹ, xuống cấp, các tuyến đườngthường xuyên xảy ra tình trạng kẹt xe và ngập úng Hệ thống giao thông côngcộng kém hiệu quả Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phươngtiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất, bên cạnh
đó, triều cường gây ngập sâu ở một vài quận cũng là vấn đề nan giải của