Thời gian gần đây trong các Bộ luật hình sự BLHS thì hình phạt TCTH gần như có mặt 100% trong các điềuquy định về hình phạt cho tội phạm, điều đó chứng tỏ tầm quan trọng và mức ảnhhưởng
Trang 1HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN VĂN DOÃN
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ
CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN VĂN DOÃN
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ
CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM VĂN BEO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Nhữngtài liệu tham khảo và trích dẫn đảm bảo tin cậy, chính xác và trung thực Những kếtluận khoa học của luận văn vừa mang tính kế thừa các công trình khoa học trướcđây nhưng chưa từng được công bố trong các công trình khoa học khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Doãn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt trong pháp luật hình sự 8
1.2 Lý luận chung về hình phạt tù có thời hạn 13
1.3 Vai trò của hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự 20
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY 23
2.1 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến 1955 23
2.2 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1955 – 1985 31
2.3 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1985 đến 1999 37
2.4 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1999 đến 2015 42
2.5 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 2015 đến nay 47
Chương 3: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 55
3.1 Những yêu cầu và định hướng cải thiện quy định hình phạt tù có thời hạn.55 3.2 Hạn chế từ các quy định về hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự hiện hành 56
3.3 Các giải pháp định hướng hoàn thiện và đề xuất các quy định về hình phạt tù có thời hạn 59
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 2.8 Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa các mức thời gian tối
đa cao nhất theo BLHS 2015
Bảng 2.9 Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa mức thời gian tối
Bảng 3.3 Số liệu thống kê quy định mức thấp nhất và cao nhất của hình phạt
TCHT trong BLHS một số nước và Việt Nam hiện nay
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Phan Chu Trinh, một chí sĩ yêu nước đấu tranh trong thời kỳ Thực dân Pháp
đô hộ từng bị tù đày một thời gian dài có những trải nhiệm thực rất gian lao và vớikhí chất bất khuất của mình có những câu thơ bất hủ về cảnh phải chịu tù:
“Dầu ai tại ngoại đù thiên thu
So lại không qua nhất nhật tù” [27]
Hay như tục ngữ dân gian ta có câu: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”nghĩa là một ngày phải chịu tù đày như dài bằng cả nghìn năm ở ngoài, ý chỉ rằng
sự khó khăn và khổ sở khi phải chịu đựng cảnh tù giam chỉ một thời gian ngắn cũngthật sự khủng khiếp
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ đấu tranh dành độc lập từng bị giamcầm tại Hồng Kông viết tập trong Nhật ký trong tù rất nhiều bài thơ nói lên nỗi giankhổ cùng cực, nếu cần biết về sự gian khó trong giam cầm, ta chỉ cần đọc hết tậpthơ ấy là cũng có thể hình dung
Qua dẫn chứng với những con người bất khuất trong hoàn cảnh lao tù đểthấy rằng hình phạt tù là một điều lớn phải chịu đựng gian khó ở mức cực độ caocho người bình thường phải thi hành Sự phản ánh thực tế bằng lịch sử và văn họcnước nhà như trên thể hiện sự chịu đựng cảnh tù lao xưa nay đã là một sự thử tháchrất khó khăn gian khổ để vượt qua Vậy ta cũng nên tìm hiểu xem hình phạt tù cólịch sử thế nào, hình thành và phát triển ra sao trong lịch sử nhân loại
Dưới phương diện Luật học, ta cần tiếp cận ở góc độ rằng bị giam giữ là mộthình phạt mà pháp luật quy định cho một tội phạm cụ thể nào đó nếu người đóphạm phải Hình phạt nói chung là một trong những chế định quan trọng của Phápluật hình sự (PLHS), qua nghiên cứu lịch sử có thể thấy hình phạt có từ trước khinhà nước và pháp luật được hình thành nhưng tồn tại như một hành vi phản ứng tựphát của xã hội đại diện kẻ có sức mạnh quyền lực ban hành, thời kỳ nguyên thủykhi con người còn sống theo bộ lạc với những tục lệ riêng của từng khu vực, nóbiểu hiện trong thời chiếm hữu nô lệ bắt đầu rõ nét hơn khi xuất hiện nhà nước sơ
Trang 8khai, xa xưa nhất được biết đến là thời Tây Chu bên Trung Quốc đã có hệ thốnghình phạt (HTHP) trong luật định và được đánh giá tương đối hoàn thiện Tuy nhiênkhi nhà nước Phong kiến bắt đầu hình thành, nó trở thành công cụ một điều chỉnh
và quản lý trật tự xã hội một cách hợp thức hóa và chấp nhận rộng rãi hơn trong cácquy định của nhà cầm quyền gọi là pháp luật của chủ nghĩa pháp gia Tại vùngTrung Đông, một cổ luật nổi tiếng ngày nay được đưa vào giảng dạy và nghiên cứutrong nhiều chương trình luật học đó là Bộ Luật Hammurabi hay tương tự có BộLuật La Mã mà ta thường gọi là Luật 12 bảng Trải qua các thời kỳ thuộc các nềnvăn minh của các quốc gia và thể chế chính trị tuy có sự khác nhau nhưng tựuchung ngày nay HTHP phân hoá rõ ràng, xắp xếp mang tính logic và khoa học hơn.Ngày nay các hệ thống PLHS tại các quốc gia đặt loại hình phạt tù có thờihạn (TCTH) là trọng tâm và tìm cách tùy biến nó bằng các điều kiện và hình thứckhác đi kèm để có thể gia giảm tính chất cũng như mức độ nặng nhẹ của nó để đảmbảo mục đích của hình phạt
Tuy có thể có những hình thái thể hiện khác nhau nhưng đặc tính của hìnhphạt TCTH vẫn hiện hữu thường xuyên trong các HTHP Về thực chất hình phạtTCTH là một hình phạt tước đi sự tự do của một người bằng cách thức tách một đốitượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội và cộng đồng cụ thể trong một khoảng thờigian nhất định
Tại Việt Nam, HTHP trong thời kỳ ban đầu của các triều đại Phong kiếncũng rất đa đạng và khắc nghiệt, qua đối chiếu có thể thấy rằng HTHP ở nước tathời kỳ Phong kiến ảnh hưởng nặng nề từ Phong kiến Trung Quốc Trong đó hìnhphạt TCTH được biểu thị bằng nhiều hình thức, là một hình phạt điển hình nổi bật
với các hình phạt khác trong một hệ thống gọi là “Ngũ hình: Xuy hình (đánh roi);
Trượng hình (đánh trượng); Đồ hình, có ba bậc; Lưu hình, có ba bậc; Tử hình, có
ba bậc” [65, tr.19] và chế định hình phạt TCTH với nhiều đặc tính biến thể thay đổi
qua các thời kỳ cần được nghiên cứu kỹ hơn
Đất nước Việt Nam đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm,một ngàn năm bắc thuộc, trăm năm bị thực dân xâm chiếm và nội chiến đặc biệt là
Trang 9giai đoạn cận đại khi chyển giao giữa các ý thức hệ Phong kiến, Tư bản và Xã hộichủ nghĩa Nhà nước và Pháp luật cũng dần hình thành, biến đổi và có những sự vậnđộng hoàn thiện nhất định cho đến ngày nay.
Ngày 2/9/1945 là ngày Việt Nam tuyên bố độc lập, mở ra một thời kỳ mới,thời kỳ rũ bỏ chế độ Phong kiến và xây dựng một đất nước với tư duy mới và nềntảng là các giá trị chung của nhân loại và phù hợp với tình hình đất nước từng thờikỳ
Quy định hình phạt TCTH thay đổi diễn ra mạnh mẽ và tạo ra sự khác biệtlớn giữa hai thời kỳ trước và sau khi pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 cả vềquan điểm lập pháp, về hình thức cũng như nội dung Thời gian gần đây trong các
Bộ luật hình sự (BLHS) thì hình phạt TCTH gần như có mặt 100% trong các điềuquy định về hình phạt cho tội phạm, điều đó chứng tỏ tầm quan trọng và mức ảnhhưởng của nó đến tổng thể hình phạt và PLHS
Theo tinh thần Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/05/2005, Nghị quyết 49- NQ/
TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về việc cải cách tư pháp và hệ thống pháp
luật Liên quan đến tính kế thừa với quan điểm: “Cải cách tư pháp phải kế thừa
truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam…”[14, Mục I.2.4] Trong đó có những vấn đề liên quan đến
Hình phạt đặc biệt là Hình phạt TCTH như chủ trương: “Hoàn thiện chính sách
hình sự, bảo đảm yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa; hạn chế hình phạt tử hình, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền; cải tạo không giam giữ đối với các loại tội ít nghiêm trọng” [13, Mục II.5] Hoặc mục tiêu định hướng
chung“Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không
giam giữ đối với một số loại tội phạm” đồng thời còn nêu vấn đề “Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm” [14, Mục II.2] Cùng với sự
thay đổi của xã hội, của tư duy nhà làm luật và các xu hướng mới trong vấn đề bảo
vệ quyền con người, hình phạt nói chung có phần bớt phần hà khắc hơn, giảm dầntính trừng trị trong hình phạt và chuyển hướng mạnh về mục đích giáo dục và cảitạo người phạm tội
Trang 10Quá trình thay đổi để phù hợp với sự chuyển biến của xã hội, ít nhiều cũnggặp những vấn đề khó khăn Đồng thời những lần thay đổi đó có những yếu tốmang tích tích cực, có những yếu tố còn hạn chế dẫn đến chưa đạt hiệu quả nhưmong muốn Ngay cả các quy định về hình phạt TCTH hiện nay còn nhiều mặt hạnchế và cũng sẽ có sự thay đổi cùng với xã hội trong tương lai, và các nhà làm luậtcũng cần có một công cụ hệ thống hóa các thay đổi xuyên suốt để có thể có cái nhìntổng quan và sự nhìn nhận xác thực hơn vào quy luật vận động trong hoàn cảnhthực tế của đất nước.
Với vai trò rất quan trọng của hình phạt TCTH trong quy định của PLHSnước ta, cùng các điều kiện thay đổi của xã hội, xu hướng chung của nhân loại cùngchính sách chủ trương của Đảng và nhà nước, vấn đề này là một điều đáng đượcquan tâm nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng PLHS đặc biệt là vấn đề
hình phạt và tội phạm Đây cũng là lý do tác giả đã chọn đề tài "Lịch sử phát triển các quy định về hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay" để làm đề tài luận văn.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Về nghiên cứu vấn đề HTHP và hình phạt TCTH trong nước theo trình tựthời gian cũng chỉ dừng lại ở mức độ sơ khởi và liệt kê so sánh, cũng có nhữngnghiên cứu riêng lẻ về các hình phạt khác Lấy một số dẫn chứng các đề tài và cáccông trình nghiên cứu có liên quan một phần như:
Sách chuyên khảo của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp “Hình phạt
trong Luật Hình sự Việt Nam”, xuất bản 1995 Sách chuyên Khảo “Pháp luật hình
sự Việt Nam từ thế kỷ X đến nay- lịch sử và thực tại”, do tác giả TSKH.GS Lê Cảm
(chủ biên) phát hành năm 2018, tác phẩm này thật sự là một công trình nghiên cứucông phu toàn diện về PLHS, các định chế pháp luật, các triều đại nhà nước khácnhau qua các giai đoạn lịch sử đất nước tự chủ từ thế kỷ thứ X đến nay với sự phânđoạn nghiên cứu theo từng thời kỳ lịch sử và các lần pháp điển hóa hình sự rất chitiết;
Một số nhóm khác trong các nghiên cứu của các luận văn thạc sĩ viết về các
Trang 11đề tài liên quan đến hình phạt và hình phạt TCTH như “Hình phạt tù và thi hành
Trang 12hình phạt tù - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Thị Thu Hằng năm 2011,
nghiên cứu về hình phạt tù và sự tương quan với thi hành hình phạt tù từ lý luận vàthực tiễn áp dụng trong những năm 2004-2008, và có một số kiến nghị giải pháptrong việc thi hành hình phạt tù có thời hạn
Đề tài luận văn thạc sĩ luật học “Hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Võ Hồng
Nam năm 2014; Đề tài đã nghiên cứu về lý luận hình phạt tù có thời hạn và liên hệthực tiễn xét xử trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằn tìm ra những giải pháphiệu quả hơn trong việc áp dụng hình phạt TCTH tại TP.HCM;
Đề tài“Áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn tỉnh Quảng Ninh” năm 2018 của tác giả Nguyễn Thành Chung; Đề tài nghiên
cứu lý luận và thực tiễn về hình phạt TCTH và việc áp dụng thực tế trên địa bàntỉnh Quảng Ninh;
Ngoài các đề tài trên, trong một số tạp chí luật học chuyên ngành còn các cácbài nghiên cứu một số vấn đề chung về hình phạt trong đó có hình phạt TCTH so
sánh giữa BLHS nước ta với các nước: Bài nghiên cứu “Hệ thống hình phạt theo
pháp luật hình sự của một số nước ở Châu Á, Châu Âu và Hoa Kỳ” của tác giả
Trương Quang Vinh đăng trên Tạp chí luật học; Bài nghiên cứu của TS Dương
Tuyết Miên “So sánh chế định hình phạt một số nước Asean và Việt Nam” đăng trên Tạp chí luật học số 12/2009; Hoặc bài nghiên cứu “Hình phạt trong luật hình
sự Anh trong sự so sánh với Luật hình sự Việt Nam” đăng trên Tạp chí luật học số
8/2014 của TS Đào Lệ Thu; Các bài nghiên cứu nêu trên đa phần so sánh HTHPcủa Luật Hình sự Việt Nam với các nước tiêu biểu trong đó có đề cập một số vấn đềtổng quan của hình phạt TCTH, nhắc đến như một phần cấu thành chứ chưa hẳnphân tích dưới góc độ riêng biệt về hình phạt TCTH
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào cụ thể và toàn diện và chuyên sâu về sựbiến đổi quy định hình phạt TCTH từ năm 1945 đến nay dựa theo tiến trình lịch sửcủa Nhà nước và lập pháp thông qua các tài liệu quy định về hình phạt để tìm ranguồn gốc, trình tự, nguyên nhân hình thành các quy định, các mối liên hệ và xu
Trang 13hướng biến đổi giữa các quy định về hình phạt khác nhau trong những thời kỳ khác nhau.
Một số đã nghiên cứu về tổng thể hơn trong vấn đề lịch sử pháp luật hoặclịch sử luật hình sự mà chưa đi vào cụ thể quá trình thay đổi của hình phạt TCTH vàcác chế định có liên quan Vì thế thật sự hữu ích nếu có một sự nghiên cứu nghiêmtúc các quy định trong hình phạt TCTH qua từng thời kỳ lịch sử lập pháp của nhànước và pháp luật thời kỳ cận đại từ khi nước ta dành được độc lập năm 1945 đếnnay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luậnchung cũng như những quy định cụ thể về hình phạt TCTH dưới khía cạnh lập pháphình sự nhằm tìm ra những mặt tích cực và hạn chế trong quy định hình phạt tù mỗithời kỳ Từ đó kiến nghị hoàn thiện và dự báo xu thế sự biến đổi của hình phạtTCTH trong PLHS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu như trên, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau:Trình bày những vấn đề lý luận chung về hình phạt TCTH
Trình bày phân tích so sánh đối chiếu thêm những quy định về hình phạt TCTH của một số nước trên thế giới với quy định tại Việt Nam
Trình bày so sánh và đánh giá quy định về hình phạt TCTH trong luật hình
sự từ năm 1945 đến nay theo từng giai đoạn cụ thể của lịch sử
Đề xuất các giải pháp khắc phục các mặt hạn chế của quy định về hình phạt
tù hiện này từ nghiên cứu lịch sử, thực tại và xu hướng của thế giới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quy định về hình phạt TCTHtrong pháp luật hình sự
Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:Luận văn nghiên cứu hình phạt TCTH dưới góc độ lập
pháp tập trung trong giai đoạn từ 1945 đến hiện nay với nhiều phân đoạn từ sơ khaiđến các lần pháp điển hoá PLHS nước ta
Trang 145 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp sau:
+ Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;
+ Phương pháp sử học;
+ Phương pháp nghiên cứu hệ thống;
+ Phương pháp phân tích, so sánh;
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Lý luận về hình phạt TCTH dưới góc độ lịch sử một cách tổng quan
Hệ thống hóa sự thay đổi của các quy định về hình phạt TCTH trong các vănbản về Hình sự trước khi pháp điển hóa và các BLHS ban hành từng thời kỳ đếnnay
Tìm ra nguyên nhân, lý giải quá trình hình thành và biến đổi hình phạt TCTHtrong HTHP của PLHS Việt Nam từ thời kỳ bắt đầu độc lập từ năm 1945 đến nay
Đánh giá sự tác động của lịch sử và bối cảnh xã hội đất nước lên các quyđịnh về hình phạt đặc biệt là hình phạt TCTH
Từ những lần thay đổi trong các quy định có thể tìm ra quy luật, xu hướngcủa sự thay đổi, hạn chế của quy định hiện tại và bài học của lịch sử để lại qua đó
có thể dự báo đóng góp những ý kiến mang tính khoa học trong việc hoàn thiệnHTHP cụ thể là hình phạt TCTH trong PLHS hiện nay
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hình phạt tù có thời hạn trong Pháp luật
hình sự
Chương 2: Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự Việt
Nam từ năm 1945 đến nay
Chương 3: Một số hạn chế và kiến nghị nhằm hoàn thiện việc quy định về
hình phạt tù có thời hạn trong Pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG
Theo Tự điển giải thích thuật ngữ luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân
thì giải thích rằng: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được Luật hình sự
quy định và do toà án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm” [20, tr.64]
Trên phương diện lịch sử PLHS của nước ta, khái niệm về hình phạt chỉđược chính thức quy định lần đầu tiên tại BLHS 1999 Trước đó hầu hết các hìnhphạt cụ thể được phân bổ trong các quy định về tội phạm tại các văn bản riêng lẻ,các nhà lập pháp chưa có quy chuẩn hệ thống hình phạt mang tính khái quát khoahọc Ngay cả BLHS 1985 là BLHS đầu tiên cũng không nêu khái niệm hình phạt
trong phần chung của BLHS Theo Điều 26 BLHS 1999 quy định rằng: “Hình phạt
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình
sự và do Toà án quyết định” Trải qua nhiều lần thay đổi bổ sung và thay thế, đến
hiện nay khái niệm hình phạt trong BLHS 2015 xét về nội dung vẫn giữ lại các nộidung trước đó nhưng có bổ sung mở rộng thêm đối tượng áp dụng hình phạt đó làpháp nhân thương mại phạm tội (Điều 30 BLHS 2015)
Một cách biểu thị khái quát, đầy đủ và cân bằng hơn sẽ là quan điểm của
Giáo sư Võ Khánh Vinh trong tác phẩm Luật hình sự của mình có nêu “Hình phạt
Trang 16là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được Bộ luật hình sự quy định do Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp do luật quy định đối với người bị kế án” [66, tr.347], đây có thể được xem là khái niệm
chứa đầy đủ nội hàm của của hình phạt nhất
Như vậy tác giả có thể khái quát một cách tổng quan để dễ nhận diện hơn, cóthể đưa ra khái niệm hình phạt như sau: Hình phạt là một trong những công cụ bảođảm và thể hiện các mức độ thi hành việc phải chịu trách nhiệm hình sự cho tộiphạm đã thực hiện (ở cả cá nhân và pháp nhân thương mại), nó hướng chính đếnviệc trực tiếp giáo dục cải tạo đối tượng phải chịu và gián tiếp phòng ngừa tội phạm
để tái lập cân bằng trật tự xã hội khi xảy ra xáo trộn bởi hành vi phạm tội gây nên,thông qua việc Toà án áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhằm vào lợiích, sự tự do và cả sự sống bằng các mức độ khác nhau
1.1.2 Đặc điểm của hình phạt
Hình phạt trong PLHS có các đặc điểm chính sau:
(1) Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước so với các biện pháp cưỡng chế khác như về hành chính hoặc kỷ luật
(2) Hình phạt được quy định trong BLHS hay mang tính chất pháp định, tránh được sự suy đoán tùy tiện hoặc lạm dụng của Tòa án
(3) Hình phạt phải chỉ được áp dụng bởi Toà án nhân danh Nhà nước ápdụng
(4) Đối tượng chịu hình phạt là phải là đối tượng phạm tội, mang tính chất cáthể hóa trách nhiệm hình sự, không có sự thay thế khi áp dụng hình phạt Với ý đó
C.Mác viết rằng: “Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất
yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó” [7,
tr.181]
(6) Hình phạt phải đồng nhau nghĩa là sự công bằng giữa các đối tượngphạm tội, không phân biệt đối tượng, tuy nhiên đây chỉ là đặc tính tương đối, vớimột số đối tượng có những điều kiện nhất định thì hình phạt sẽ có tính chất tăng
Trang 17nặng hoặc giảm nhẹ, nhưng sự gia giảm này cũng phải có quy định rõ ràng và điềukiện hết sức nghiêm ngặt.
(7) Hình phạt tạo nên án tích cho người chịu hình phạt, án tích này chỉ đượcxóa đi khi đảm bảo được một số điều kiện về thời gian và hành vi sau khi thụ lýhình phạt
1.1.3 Mục đích của hình phạt
Mục đích của hình phạt có nhiều quan điểm, trước đây, các Nhà nước Phongkiến thực dân luôn xem mục đích hình phạt là sự trừng phạt đối tượng phạm tội, nóđược xem là cái giá phải trả theo nguyên tắc cổ xưa là luật về sự trả thù ngang bằng(theo nguyên tắc lex talionis) thể hiện trong bộ luật cổ Hamurabi tại Babylon cổ đại,hay trong Kinh thánh Do Thái cũng có nhắc đến nguyên tắc “mắt đền mắt, răng đềnrăng” như câu ngạn ngữ nổi tiếng “an eye for an eye and a tooth for a tooth”, nhữngnguyên tắc trả thù ngang bằng đã rất phổ biến thời cổ đại ăn sâu vào tiềm thức củacác tầng lớp thống trị cũng như toàn xã hội thời đó Tuy nhiên phong trào bảo vệquyền con người cũng như các ngành khoa học xã hội đã phát triển, xã hội khôngcòn quan niệm hình phạt có mục đích trừng phạt ngang hàng hoặc trừng phạt là yếu
tố chính của hình phạt nữa, mà nó kèm theo rất nhiều mục đích nhân văn khác mangtính chất cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa khả năng tội phạm diễn ra, nghĩa làquan điểm về việc phòng ngừa tội phạm được đề cao đó cũng được xem là nhiệm
vụ của nhà nước và pháp luật đề ra vậy
Tuy còn nhiều tranh cãi giữa các quan điểm nhưng quan điểm được chấpnhận rộng rãi nhất là mục đích của hình phạt có 3 mục đích chính:
“Một là giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; Hai là ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới (phòng ngừa riêng); Ba là phòng ngừa người khác phạm tội (Phòng ngừa chung)” [66, tr.348]
Quan điểm này được các làm luật Việt Nam thể hiện rõ trong quá trình xâydựng và quy định BLHS bắt đầu từ BLHS 1985 về nội dung mục đích hình phạtkhông có gì thay đổi
Trang 18Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng nên loại trừ từ ngữ “không chỉ nhằm đểtrừng trị” trong điều luật đã quy định trong mục đích hình phạt nhằm tránh gây sựhiểu lầm về mục đích của hình phạt, vì rõ ràng xét theo ngôn từ nó thể hiện tínhchất “trừng trị” vào mục đích đầu tiên, và nên xem mục đích của hình phạt thêm
một sự trọng yếu nữa là “góp phần phục hồi lại công lý…”[8, tr.462], tuy nhiên qua
các lần sửa đổi bổ sung BLHS và ban hành BLHS mới, các nhà làm luật vẫn giữnguyên cấu trúc này cho đến ngày nay
Tuy thống nhất rằng Hình phạt không mang mục đích trừng trị nhưng khôngthể loại trừ được nó khỏi hình phạt, và các nhà lý luận cũng đáng cố gắng biện giảibằng cách này hay cách khác Một số khác giải thích rằng vì chỉ nên coi “trừng trị”
là thuộc tính vốn có trong bản chất của hình phạt chứ không nên xếp vào là mụcđích của nó hướng đến Cho đến lần sửa đổi cuối cùng là BLHS 2015 thì các nhà
làm luật vẫn giữ nguyên quy định trong Điều 31 mục đích hình phạt là “hình phạt
không chỉ nhằm trừng trị…” Tuy nhiên một cách tổng quan cũng cần phải xem xét
toàn bộ lại lịch sử và văn hóa nước ta nói riêng và cả khu vực nói chung, đều ảnhhưởng rất lớn và lâu đời từ hai học thuyết lớn lớn về Nhân trị với đại diện là Khổnggiáo của Khổng Tử và Pháp trị với đại diện là Quản Tử hay Thương Ưởng đề xuất
từ thời Tần Hiếu Công sau này được phát triển bởi Hàn Phi Tử Các triều đại lớnbên Trung Quốc thời Phong kiến cũng ảnh hưởng hai tư tưởng này rất nhiều Chínhhai quan điểm này đan xen và cùng nảy nở trong lòng xã hội, dẫn đến hình thànhcác quan điểm trái ngược cùng tồn tại hai mặt trong qua các thời kỳ trong xã hội ta,ngay cả trong cổ luật nước ta như các Bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê và Hoàng ViệtLuật Lệ thời nhà Nguyễn cũng có những điểm thể hiện sự trái ngược này Vì thếcũng có thể giải thích phần nào do việc kế thừa truyền thống nên dẫn đến các nhàlàm luật vẫn duy trì một cách thể hiện như điều luật trên đã nêu
1.1.4 Phân chia hình phạt trong hệ thống hình phạt
Để dễ dàng xắp xếp, phân loại cho các hoạt động nghiên cứu và đặc biệt choviệc soạn thảo cũng như áp dụng hình phạt trong BLHS, hình phạt ngày nay đượcchia ra thành một hệ thống chặt chẽ, có thứ tự theo sự nghiêm khắc từ thấp đến cao,
Trang 19theo đó hệ thống cơ bản nhất ngày này đa số các nước áp dụng đó là: (1) Hình phạtkhông giam giữ: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền, tước một số quyềncông dân, tịch thu tài sản, trục xuất; (2) Hình phạt giam giữ: TCTH và tù không thờihạn còn gọi là tù chung thân; (3) Hình phạt tử hình.
Với cách phân loại khác mà các nhà nghiên cứu luật học trong giai đoạn1963-1975 tại Sài Gòn Miền nam Việt Nam có nêu lên là có ba loại hình phạt chính
gọi là chính hình: Một là Thể hình: Hình phạt duy nhất là hình phạt tử hình, đây là hình phạt duy nhất không thể sửa cũng không thể phân chia; Hai là Hình phạt bác
đoạt tự do hay hạn chế tự do: Là hình phạt TCTH hoặc chung thân, khổ sai hữu
hạn, cấm cố, cấm lưu trú, phạt giam…; Ba là Ngân hình (hình phạt vào tài sản):
Phạt tiền hoặc tịch thu tài sản
Một cách thức phân loại khác để áp dụng thực tế thuận tiện hơn thì có thểchia ra làm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, theo đó thì hình phạt chính là hìnhphạt được áp dụng độc lập với hình phạt khác và chỉ duy nhất hình phạt chính ápdụng Hình phạt bổ sung là hình phạt có thể được tuyên án kèm theo khi có hìnhphạt chính Với cách phân loại này sẽ dẫn đến một hình phạt tùy lúc lại là hình phạtchính, có lúc lại là hình phạt bổ sung điển hình như phạt tiền Cách phân loại nàyphù hợp với thực tiễn áp dụng hơn nên phần lớn các nước sử dụng cách phân loạinày và Việt Nam trong BLHS cho đến nay cũng phân chia theo cách này PLHSViệt Nam tập hợp các hình phạt sau quy định vào hình phạt chính: Cảnh cáo; PhạtTiền; Cải tạo không giam giữ; Trục xuất; TCTH; Tù chung thân; Tử hình Bên cạnh
đó còn có các hình phạt bổ sung như: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghềhoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân;Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khikhông áp dụng là hình phạt chính Những hình phạt này quy định trong BLHS 1999
và BLHS 2015 là giống nhau, ở BLHS 1985 cũng cấu trúc tương tự tuy nhiên chưaquy định hình phạt trục xuất ở cả hình phạt chính lẫn hình phạt bổ sung
Ngoài ra một cách phân chia tổng quát hơn của Luật Hình sự Pháp đó là căn
cứ theo tính chất sự nặng nhẹ của hình phạt mà chia ra: “Hình phạt đại hình, hình
Trang 20phạt tiểu hình, hình phạt vi cảnh” [26, tr.813] Đây cũng là những cách thức hữu
ích cần được tham khảo áp dụng khi có các cách tiếp cận bằng các góc độ khácnhau để nghiên cứu về hình phạt
1.2 Lý luận chung về hình phạt tù có thời hạn
1.2.1 Khái niệm hình phạt tù có thời hạn
Theo tự điển Hán Việt chữ “tù” gốc chữ Hán nghĩa động từ là bắt người nào
đó phạm tội giam lại, danh từ là giam hãm, trói buộc lại một chỗ Tiếp cận dưới góc
độ chiết tự chữ Hán, kết cấu chữ “Tù” là “囚” được kết hợp bởi bộ Nhân (人- nghĩa
là con người) ghép nằm trong với bộ “Vi” (囗- nghĩa là vây, bao quanh) Sự kết hợp
là chữ tượng hình diễn tả sự việc người bị đóng lại trong một ô giới hạn bao quanh.Vậy theo chiết tự về mặt nguồn gốc ngôn ngữ nói lên được rằng “tù” là một sự giớihạn không gian hoạt động nhất định của con người
Đặc tính “có thời hạn” nghĩa là một việc được diễn ra theo thời gian và giớihạn tại một mức nào đó bằng cách cách xác định điểm mốc không vượt qua theomột quy ước hoặc được quy định cụ thể
Vậy hình phạt TCTH theo nghĩa chung cơ bản để nhận diện là một hình phạtbằng việc giam giữ một người trong một thời hạn nhất định với các chế độ cách lyngười đó đến mức tối đa đối với các quyền tự do và quan hệ xã hội bình thường
Tuy nhiên với khoa học pháp lý, khái niệm trên là chưa đầy đủ để nói lênđược tính pháp lý nội hàm của nó, vì đây chỉ là khái lược bản chất nội tại của hìnhphạt TCTH, vì thế cần phải xem xét sâu xa hơn về các đặc điểm và các điều kiệnpháp lý khác để có được khái niệm mang tính khoa học pháp lý cao hơn Chính vìthế các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm có kèm theo các khía cạnh kháccủa hình phạt này để cố gắng có được cái nhìn toàn diện hơn với hình phạt TCTH
Một sự giải thích nổi bật được đặc tính đặc trưng hình phạt tù của Từ điểnluật học, Viện khoa học pháp lý- Bộ tư pháp (Nhà xuất bản Tư pháp) giải thích nhưsau:
“Hình phạt tù là hình phạt tước quyền tự do của con người, buộc người bị kết án phải cách ly khỏi cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong mội
Trang 21trường
Trang 22riêng biệt, có sự kiểm soát chặt chẽ (trại giam)”[64, tr.361], và còn cho rằng đây là
hình phạt magn tính truyền thống trong luật hình sự các nước nói chung và cũng làloại hình phạt được áp dụng phổ biến nhất trong thực tế của chúng ta hiện nay
Một quan điểm về hình phạt TCTH ngắn gọn nhưng đầy đủ và xúc tích làm
nổi bật khía cạnh giáo dục người phạm tội hơn trong phần khái niệm là “Tù có thời
hạn về thực chất là giam người bị kết án ở các trại giam, tức là cách ly người đó ra khỏi môi trường xã hội bình thường trong một thời gian nhất định để giáo dục và cải tạo họ”.[66, tr.359]
Lịch sử phát triển PLHS của Việt Nam cho thấy hình phạt TCTH là mộthình phạt có truyền thống rất lâu đời từ thời Phong kiến đến nay Chỉ đến khi phápđiển hoá về PLHS lần thứ nhất với BLHS 1985 mới được quy định rõ ràng trongphần chung của BLHS, về sau qua nhiều lần sửa đổi và ban hành các BLHS khácthay thế, chế định chỉ xuất hiện cụ thể trong các quy định hình phạt dành cho các tộiphạm, sau này đều được quy định rõ ràng bằng một điều trong phần chung của bộluật BLHS 1985 là bộ luật đầu tiên quy định hình phạt tù dưới hình thức như làđịnh nghĩa pháp lý (ĐNPL), quy định tại điều 25; BLHS năm 1999 quy định tạiĐiều 33; và mới nhất là BLHS năm 2015 quy định tại Điều 38 Nội dung quy định
có sự thay đổi không nhiều qua các thời kỳ, nếu như ở lần pháp điển hoá lần thứnhất khá đơn giản và tổng quát, thì đến hiện nay đã rất chi tiết và hoàn thiện hơn
Vậy có thể khái niệm hình phạt TCTH như sau: Hình phạt TCTH một trongnhững hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của luật hình sự, hình phạt này vềnội dung buộc người bị kết án với một thời hạn nhất định phải bị giam giữ tại mộtđịa điểm riêng biệt trong tình trạng cách ly nghiêm ngặt khỏi đời sống xã hội, đồngthời hạn chế tối đa các quyền tự do cũng như các mối quan hệ xã hội với mục đích
là giáo dục cải tạo họ trở nên một công dân phù hợp với xã hội
1.2.2 Đặc điểm của hình phạt tù có thời hạn
Hình phạt TCTH là một trong những hình phạt trong hệ thống hình phạt củaPLHS vì thế mang đầy đủ đặc điểm đặc trưng cơ bản của hình phạt như đã phân tích
ở trên Ngoài ra hình phạt tù còn có những đặc điểm mang tính chất riêng đặc thù so
Trang 23với một số hình phạt khác trong hệ thống hình phạt.
Đối tượng quy định của hình phạt tù là người phạm tội trong các quy định vềtội phạm và có năng lực trách nhiệm hình sự Hình phạt tù không áp dụng cho tộiphạm là pháp nhân thương mại như quy định tại chương XI BLHS 2015
Hình phạt TCTH là hình phạt phạm vào tự do của người phạm tội Từ nhữngphân tích về mặt khái niệm trên đây cho ta thấy được hai yếu tố nổi bật và quyếtđịnh quan trọng nhất của hình phạt này là người phải thi hành sẽ hạn chế tự do bởichịu sự giới hạn về không gian và một giới hạn thời gian để thực hiện nó, từ đó dẫnđến sự giới hạn tự do về phương diện thân thể, quan hệ xã hội và một số nhu cầukhác so với cuộc sống bình thường
Một số quan điểm cho rằng hình phạt tù nói chung hay hình phạt TCTH nóiriêng nó là sự tước đoạt tự do, theo tác giả nên hiểu theo nghĩa hạn chế tự do ở mứccao, vì các biến số về hạn chế sự tự do thay đổi tuỳ theo các quy định tội phạm vàcác chế định khác có liên quan nhưng sự tự do của người đang thi hành hình phạt tùchỉ bị thu hẹp ở mức cao nhất chứ chưa hoàn toàn bị tước bỏ mất, họ vẫn đượcsống, sinh hoạt, lao động, học tập ở mức cơ bản trong khuôn khổ ràng buộc nhấtđịnh và những điều khiện giới hạn
Một sự hạn chế tự do ở một mức độ nào đó là điều hợp lý khi cần có sự giớihạn đó vì lợi ích chung, lợi ích của cộng đồng, trên nguyên tắc ấy, các nhà lập phápcũng đã hình thành nên các loại hình phạt mà hình phạt TCTH là hình phạt mangtính toàn diện nhất giữa các khía cạnh trừng trị, giáo dục mang tính nhân bản vàphòng ngừa riêng lẫn phòng ngừa chung
TCTH có thể ít khắc nghiệt với một thời gian ngắn nhưng cũng rất khắcnghiệt với một thời gian giam giữ lâu dài vì thế nó có khả năng đáp ứng được mụcđích của hình phạt một cách sâu rộng hơn
Yếu tố thời gian là một cấu thành quan trọng trong hình phạt TCTH, một yếu
tố rất đặc trưng trong hình phạt TCTH, yếu tố này sẽ làm căn cứ để xác định việcnặng hoặc nhẹ đi hình phạt này Nghĩa là một biến số thời gian trong hình phạtTCTH có thể dùng để đo lường sự nặng hay nhẹ của hình phạt TCTH Yếu tố thời
Trang 24gian đảm bảo được định lượng cho việc quy định hình phạt tù cho các tội phạm.Hình phạt TCTH so với hình phạt tù chung thân tuy có đặc tính tương tự nhau vềmặt hạn chế không gian nhưng khác biệt lớn nhất là về mặt thời gian phải chịu hìnhphạt.
Về tính giới hạn thời gian của hình phạt TCTH, đa phần các bộ luật của cácnước trong giai đoạn hiện nay đều có quy định mức tối thiểu và mức tối đa của hìnhphạt TCTH Các nhà lầm luật cho rằng, ngoài việc giới hạn mức thời hạn ở mức tối
đa và tối thiểu thì việc hình thành các cộc mốc này còn có ý nghĩa rằng, với mứcthấp nhất là để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật không được phép áp dụngthấp hơn trong hình phạt tù, với mức cao nhất để bảo đảm quyền con người và tínhnhân văn của khung hình phạt vì không được phép áp dụng vượt qua nó trongkhuôn khổ hình phạt tù Trong khoảng thời gian trước đây khi chưa chính thức phápđiển hóa để có BLHS thì ở Việt Nam cũng chưa có điều luật cụ thể nào quy địnhmức tối thiểu và tối đa cho hình phạt TCTH, tuy nhiên khảo sát các văn bản trongcùng thời kỳ thì có thể tìm ra được mức thấp nhất và cao nhất trong tổng thể của cácvăn bản PLHS trong một giai đoạn nhất định nào đó Về mức thấp nhất, hiện naytrên thế giới có rất nhiều quy định cho mức tối thiểu cho hình phạt TCTH nhưngthường trung bình từ 3 tháng, một số nước có thể quy định thấp hơn như tại ThuỵĐiển là 14 ngày (Chương 26 BLHS Thuỵ Điển) Về mức cao nhất quy định chohình phạt TCTH trong một tội phạm trên thế giới thường là 20 năm, có một số quốcgia quy định thấp hơn như Trung Quốc là 15 năm, hoặc là 18 năm tại Thuỵ Điển.Một số quốc gia như nước Anh không quy định giới hạn tối đa của hình phạtTCTH Đặc biệt hơn ở Hoa kỳ, pháp luật nước này không quy định mức tối thiểu vàtối đa của hình phạt tù nói chung, nghĩa là mức hình phạt tù cao nhất ở một số tội cóthể sẽ là con số cụ thể do toà án tuyên hoặc tuyên thời gian suốt đời tương tự nhưhình phạt tù chung thân
Về vấn đề quy định mức tối thiểu và tối đa cho hình phạt này, thông thườngcác nhà lập pháp sẽ dựa vào các yếu tố như thông lệ truyền thống, sự kế thừa hoặc
sự đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn, các mức tham khảo của các nước khu vực hoặc
Trang 25hệ thống PLHS bị hưởng bởi một hệ thống pháp luật khác, nó cũng tuỳ thuộc vàocác thể chế chính trị và tình hình thực tế và mục đích, kết quả của mức thời gian ápdụng cho hình phạt tù.
Hình phạt TCTH là một hình phạt mang tính tương đối Sự tương đối thểhiện ở cả khía cạnh không gian và thời gian, tương đối về mặt không gian tuy bịgiam giữ nghiêm ngặt, riêng biệt với xã hội nhưng vẫn có sự sinh hoạt cần thiếtgiữa những người đang chấp hành với nhau, với các cán bộ thực hiện nhiệm vụ, mộtmối liên hệ giới hạn ở mức cần thiết với xã hội đặc biệt là người thân, gia đình vàchăm sóc y tế theo hướng nhân đạo và giáo dục Tính tương đối về thời gian thểhiện là việc quy định khoảng thời gian trong hình phạt TCTH trong các khung hìnhphạt cụ thể, theo kỹ thuật lập pháp hiện nay hình phạt TCTH thường có cấu trúc quyđịnh từ mức thấp đến mức cao cho một khung hình phạt; Tính tương đối về mặt thờigian còn thể hiện ở mức áp dụng thời gian tù có thể thay đổi phụ thuộc vào các điềukiện, đối tượng khác nhau mà luật quy định ở các chế định khác có liên quan
Trong sự tương quan với hệ thống hình phạt tổng thể, hình phạt TCTH luôn
là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của PLHS của các quốc gia trên thếgiới Hình phạt TCTH trong kết cấu phân loại là hình phạt chính nên còn có thểkèm theo các hình phạt bổ sung theo các quy định của PLHS Tuy nhiên ở chiềungược lại, hình phạt TCTH với các tội phạm ít nghiêm trọng có xu hướng chuyểnquy định về áp dụng các hình phạt khác thay thế như cải tạo không giam giữ hoặcphạt tiền
Mức độ phổ biến của hình phạt TCTH là rất lớn, xu hướng này vẫn có khảnăng xảy ra trong tương lai khi các hình phạt như tù chung thân và tử hình ngàycàng có xu hướng giảm hoặc loại bỏ Hình phạt TCTH có sự phổ biến lợi thế trong
sử dụng so với các hình phạt khác bởi sự tuỳ biến cao về biến số thời gian, đồngthời có thể có các điều kiện khác đi kèm dẫn đến hiệu quả của hình phạt vẫn đảmbảo với từng yêu cầu của xã hội trong nhiều giai đoạn Và như vậy hình phạt TCTH
sẽ gần như là hình phạt trung tâm với sự phổ biến và hiện diện hầu hết trong cácquy định về tội phạm Khảo sát qua các BLHS của nhiều quốc gia, từ trước đến nay
Trang 26thì hình phạt TCTH chiếm đa số trong tỷ lệ các hình phạt áp dụng cho các loại tộiphạm, thậm chí vài trường hợp nó còn có mặt 100% trong các điều quy định về tộiphạm tại một số BLHS ở các quốc gia hoặc tại Việt Nam trong một số thời kỳ trướcđây.
Hình phạt TCTH có thể gia giảm mức hình phạt khi tuyên án, và hình thức
áp dụng thi hành cũng có thể khác nhau, tuy nhiên việc này các nhà lập pháp đã hếtsức hạn chế và chỉ có thể chuyển đổi thực hiện theo xu hướng nhẹ hơn, ít nghiêmkhắc hơn và có lợi cho người phải chấp hành để tránh sự lạm dụng của tòa án và cótính chất nhân đạo đối với người bị tuyên án như: Được trừ thời hạn tạm giam, tạmgiữ trước đó đã thực hiện vào thời hạn tù; PLHS ở nước ta và các nước có các chếđịnh khác quy định có thể làm giảm nhẹ mức hình phạt tù thực tế mà một ngườiphải chịu nếu đáp ứng được các điều kiện cụ thể nào đó do luật định như các chếđịnh tha miễn Ngoài ra người bị tuyên án hình phạt tù có thể được giảm nhẹ hơnbởi các chế định khác trước khi tuyên án là các chế định có tình tiết giảm nhẹ, hoặc
là đối tượng vị thành niên Ngược lại hình phạt TCTH không quy định cách thứcchuyển đổi hoặc thực tế thi hành theo hướng tăng nặng hơn so với bản án có hiệulực
Một ngoại lệ cho việc tăng thời gian hình phạt tù là khi có sự tổng hợp nhiềubản án hoặc nhiều tội, sự tổng hợp dẫn đến hình phạt có thể cao hơn mức hình phạtcủa một tội hoặc cao hơn cả mức tối đa mà luật quy định cho hình phạt TCTH, tuynhiên sự tổng hợp này cũng luôn có cách tính mang nội dung giảm nhẹ hơn so với
sự tổng hợp theo logic toán học thông thường
Hình phạt tù còn có thể được thực hiện thi hành một cách không liên tục, cóthể phân chia, hoặc chưa phải thực hiện ngay Trên nguyên tắc chung là thực hiệnxuyên suốt để đảm bảo tính nghiêm minh và khoa học hình sự nhưng do yếu tốnhân đạo nên một số trường hợp đặc biệt có thể được tạm hoãn hoặc tạm đình chỉkhi người bị kết án tù gặp phải tình trạng mà không thể khắc phục ngay được trongmột thời gian ngắn bằng nỗ của bản thân và người khác như bệnh nặng sức khoẻyếu kém, phụ nữ có thai và nuôi con nhỏ, nhu cầu công vụ cần thiết…
Trang 271.2.3 Mục đích của hình phạt tù có thời hạn
Về tổng thể, mục đích của hình phạt như đã phân tích ở trên theo khoa họchình sự và quan điểm của các nhà lập pháp bao gồm: Giáo dục cải tạo và phòngngừa kèm theo bản chất nội tại là trừng trị Vì hình phạt TCTH nằm trong hệ thốnghình phạt nên chắc chắn vẫn phải tuân thủ các yếu tố trên So với các hình phạtkhác, hình phạt TCTH có mục đích không những đáp ứng được đầy đủ và các mụcđích mà luật hình sự quy định mà còn có sự cân bằng và hiệu quả cao hơn so vớicác hình phạt khác do đặc điểm riêng của nó mang lại Ngoài ra hình phạt TCTHcũng mang những mục đích cụ thể hơn:
(1) Giam giữ người bị kết án mục đích để tách biệt họ ra khỏi xã hội thôngthường mà họ đã tác động đến các mối quan hệ xã hội đó, trước tiên nhằm tránh cho
họ khả năng tái phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ xã hội tiếptheo sau đó, vì tâm lý tội phạm sẽ có xu hướng lặp lại hoặc gia tăng hành vi nếukhông được sự kiểm soát
(2) Hình phạt TCTH xét về mặt giới hạn thời gian thực hiện hình phạt: Nhằmkiểm soát được các hành vi và đời sống người phải bị chấp hành trong một thời hạnnhất định Khoảng thời gian mà khoa học hình sự nghiên cứu từ tâm lý, sinh lý, giáodục để phù hợp và cần thiết với quá trình cải tạo lại một con người tùy theo mức độtội phạm
(3) TCTH giam giữ người bị kết án nhằm đến sự hiệu quả của sự giáo dụccải tạo bởi sự tập trung và kiểm soát người chấp hành về mặt không gian
(4) Hình phạt TCTH như một tấm gương soi công lý bền bỉ hiện hữu trongthời gian dài cho các thành viên khác có thể nhận biết hậu quả phải chịu hình phạtkhi thực hiện tội phạm giúp cho các cá nhân khác điều chỉnh hành vi của mình chophù hợp tránh tác động xấu đến các giá trị mà PLHS bảo vệ Tuy nhiên luận điểmnày còn tranh cãi bởi một số nhà hoạt động nhân quyền cho rằng không thể dùnghình phạt của một người để làm gương hoặc một biện pháp giáo dục cho ngườikhác, đó là điều không nên có
1.2.4 Bản chất của hình phạt tù có thời hạn
Trang 28Bản chất của xã hội của hình phạt tù có thời hạn
Bản chất của hình phạt nói chung và hình phạt TCTH nói riêng là bản chất
xã hội; Đa số các nhà nhà nghiên cứu luật học đồng ý với bản chất xã hội này củahình phạt bởi các tư tưởng lớn tiến bộ trong triết học lập pháp đều quan điểm hìnhphạt là những phản ứng của xã hội khi những sự xâm hại có nguy cơ không đảmbảo sự tồn tại của nó Bentham cho rằng xã hội như một sinh vật sống và muốn tồntại nó phải có hành động phản ứng và trừng phạt lại các tác động có phương hại đến
sự sinh tồn của nó một cách tự nhiên Tương tự theo C.Mác cũng nhận định rằng:
“…hình phạt chẳng qua chỉ là thủ đoạn tự vệ của xã hội chống lại sự vi phạm những điều kiện tồn tại của nó” [7, tr.673] Với học thuyết khế ước xã hội của
J.J.Rousean tương tự, cũng cho rằng“quyền trừng phạt (quyền sử dụng trừng phạt)
có nguồn gốc từ sự thỏa thuận giữa những người đã tạo nên xã hội, nhằm gìn giữ trật tự xã hội, cái cốt yếu để giữ cho xã hội tồn tại” [5, tr.54]
Bản chất giai cấp của hình phạt
Hình phạt hay hình phạt tù nói riêng mang bản chất của giai cấp, tức là nóphục vụ cho sự củng cố cũng như bảo vệ xã hội cho sự thống trị của nhà nước Vìthế giai cấp nào, Nhà nước nào quy định và áp dụng hình phạt thì mang bản chấtcủa Nhà nước và giai cấp đó Với chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa hình phạt lạimang ý nghĩa bảo vệ và củng cố lợi ích của đa số tầng lớp nhân dân lao động nênrất được chú trọng đến sự giáo dục và phòng ngừa tội phạm
1.3 Vai trò của hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự
1.3.1 Vai trò của hình phạt tù có thời hạn với xã hội
Hình phạt TCTH là một trong những hình phạt phát huy tác dụng như mongmuốn của các nhà lập pháp trên thế giới từ xưa đến nay, việc quy định hình phạtTCTH đóng vai trò hết sức quan trọng trong PLHS bởi nó là một yếu tố cấu thànhcần thiết trong hệ thống hình phạt giúp hệ thống hình phạt có sự hoàn thiện đa dạng
và phát huy tác dụng Sự ưu thế của hình phạt TCTH so với các hình phạt khác bởi
sự tùy biến cao trong quy định sẽ phù hợp với nhiều tình huống và áp dụng phù hợpvới nhiều loại tội phạm ở nhiều mức độ khác nhau vì nếu loại trừ hình phạt TCTH
Trang 29ra hoàn toàn trong hệ thống hình phạt, sẽ không còn hình phạt khác có sự tuỳ biếncao đủ sức răn đen mà vẫn có tính nhân đạo ở một mức độ tương đối chấp nhậnđược tùy vào mức độ thời gian và điều kiện chấp hành.
Vai trò cân bằng xã hội về mặt quản lý nhà nước bằng pháp luật: Các vấn đềtội phạm không thể để tự nhiên xã hội điều tiết cân bằng được, vì thế hình phạt nóichung và hình phạt tù nói riêng đóng vai trò là một trong các nhân tố làm cân bằnglại các sự xáo trộn được đánh giá là nguyên nhân dẫn đến tội phạm
Hình phạt tù là một hình phạt trung gian giữa hai quan điểm Nhân trị vàPháp trị như phân tích ở trên, có thể nói, nó giải pháp dung hòa thể hiện cả hai quanđiểm trong tư duy và xây dựng nên hình phạt này
1.3.2 Vai trò của hình phạt tù có thời hạn đối với người chấp hành
Hình phạt TCTH đóng vai trò chính yếu trong việc tách các đối tượng phạmtội ra khỏi xã hội trước tiên để họ không tiếp tục thực hiện các tội phạm mới bởinguy cơ rất cao khi một người thực hiện tội phạm sẽ thực hiện tiếp một tội phạmkhác nếu không được tách ra khỏi cộng đồng và giáo dục cải tạo bằng các biện phápcưỡng chế Vai trò này nhằm đáp ứng mục đích của hình phạt nói chung là phòngngừa tội phạm
Hình phạt TCTH cũng có vai trò hạn chế và ngăn cản người phạm tội khỏi sựtrả thù ngược lại từ các đối tượng là nạn nhân, là quan hệ xã hội mà người đó đã tácđộng tội phạm, hoặc sự bất bình của đám đông, dẫn đến diễn biến phức tạp nối tiếpnhau, hình phạt TCTH đóng vai trò là nhân tố giảm tối đa sự mâu thuẫn xung độtđang còn tồn tại giữa các đối tượng này Sự tách biệt về thời gian và không gian đốivới xã hội bình thường, vô hình trung là biện pháp bảo vệ tốt nhất cho kẻ phạm tộikhỏi bị trừng phạt một cách vô pháp bởi đám đông như thời còn chưa có pháp luật
Vai trò thúc đẩy cải tạo con người: đây là vai trò mang tính nhân văn và niềm
hy vọng của xã hội, hình phạt TCTH dưới góc nhìn mục đích để giáo dục thì rõ ràngmang tính nhân văn rất cao, mọi người đều hy vọng rằng khi một người chịu ánphạt TCTH sẽ trở nên tốt hơn và tích cực hơn Vai trò như một ngôi trường đặc biệttập trung giáo dục của nhà tù là một tín hiệu cho thấy rằng các nhà lập pháp luônmong muốn rằng con người có thể được cải tạo và giáo dục trở nên tốt hơn, có ích
Trang 30hơn và đúng theo chuẩn mực xã hội hơn.
Vai trò giải thoát tâm lý cho người thực hiện tội phạm về mặt luân lý và đạođức xã hội Một người phạm tội mà không chịu án hình phạt cảm giác về mặt tâm lý
sẽ rất phức tạp có thể gây nguy hại cho bản thân người đó bằng các hành động bộcphát bởi sự ràng buộc luân lý và đạo đức theo họ suốt thời gian còn lại Vậy có thểxem hình phạt tù có ý nghĩa cân bằng tâm lý cho người phải thực hiện án phạt đểkhông có những suy nghĩ dẫn đến các hành vi tiêu cực
Lý luận chung về hình phạt và hệ thống hình phạt, từ đó tìm ra mối tươngquan và vị trí của hình phạt TCTH trong HTHP và PLHS Trình bày nghiên cứu cácđặc điểm chung của hình phạt TCTH như khái niệm, mục đích, bản chất của hìnhphạt TCTH, mức độ phổ biến gần tuyệt đối trong quy định của hình phạt cho tộiphạm
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành như yếu tố giới hạn về tự do không gian,giới hạn về thời gian, Ngoài ra tác giả còn trình bày vai trò của hình phạt tù có thờivới xã hội, với người phải chấp hành
Việc nghiên cứu bản chất, đặc điểm vai trò và mục đích cùng mối tươngquan giữa hình phạt TCTH và các hình phạt khác là rất quan trọng, trên nền tảngcác yếu tố này để làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận quy định hình phạt TCTHởchương 2 và tìm ra các giải pháp phù hợp và hiệu quả hơn trong việc quy định và
áp dụng hình phạt TCTH trong PLHS Việt Nam hiện nay
Trang 31Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY
2.1 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến 1955
2.1.1 Đặc điểm chung của pháp luật hình sự trong giai đoạn năm 1945
-1955
Việc chọn năm 1945 làm mốc phân tích và căn cứ để chia các giai đoạn vềsau đều dựa vào thực trạng xã hội, các cột mốc lịch sử quan trong của đất nướccũng như sự phát triển của PLHS, ở mỗi giai đoạn phân chia như vậy đều có đặctrưng riêng và có sự biến đổi lớn của PLHS trong giai đoạn ấy Nếu như giai đoạn1945-1955 thường sử dụng kết hợp các văn bản luật cũ của Pháp ở cả 3 miền thìgiai đoạn 1955-1985 thì lại có sự khác biệt là tuyệt đối không sử dụng các văn bảnluật của Pháp nữa mà là tự ban hành và hoàn thiện dần cùng sự kết hợp với các vănbản PLHS của Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Giai đoạn 1985-1999 làgiai đoạn áp dụng BLHS 1985, đây là sự đánh dấu bước tiến quan trọng trongPLHS bằng việc pháp điển hoá lần đầu tiên Giai đoạn 1999-2015 là giai đoạn ápdụng BLHS thứ 2 là BLHS 1999; Giai đoạn 2015 đến nay là việc ban hành và ápdụng BLHS 2015, có sửa đổi bổ sung 2017 Ở mỗi giai đoạn như vậy rất nhiều yếu
tố khác nhau ảnh hưởng đến các chính sách hình sự và PLHS đều mang những đặctrưng riêng mà các nhà nghiên cứu thường căn cứ để phân đoạn nếu có nghiên cứuPLHS dưới góc nhìn lịch sử
Năm 1945 đánh dấu mộc cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc, với Cáchmạng tháng 8 thành công và bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 chấm dứt thời
kỳ thuộc địa và phong kiến, mở ra một quốc gia độc lập với đầy tự hào, vị thế đượcnâng cao trong khu vực và quốc tế Mặc dù vậy, thực dân Pháp không từ bỏ thuộcđịa cũ, vẫn tiến hành những bước đi của việc xâm lược tái lập thuộc địa Trước tìnhhình đó Chủ Tịch Hồ chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 đểquyết tâm loại trừ thực dân Pháp ra khỏi Việt Nam một cách toàn diện
Trang 32Về phương diện PLHS, với yêu cầu về thời gian gấp rút để đáp ứng chochính quyền nhân dân mới còn non trẻ đảm bảo an ninh và cơ sở pháp lý để hoạtđộng, chính quyền đã ban hành một số văn bản PLHS song song với việc sử dụngcác luật cũ với tinh thần mới vì chưa kịp thời ban hành điều chỉnh tất cả các lĩnhvực Tuy rất quan tâm đến hệ thống pháp luật và đặc biệt là PLHS nhưng vẫn chưaban hành được BLHS hoàn chỉnh vì mục tiêu chính giai đoạn này là dồn hết tâmsức tập trung cho việc dành lại độc lập là ưu tiên hàng đầu.
Về định hướng trong việc xây dựng PLHS trong giai đoạn này chủ yếu: (1)Bãi bỏ phần lớn các các đạo luật hình sự cũ; (2) tạm thời giữ nguyên một số đạoluật cũ để áp dụng một cách hữu hạn và thật sự cần thiết; (3) ban hành các đạo luậtmới trong các lĩnh vực khác nhau để thay phù hợp và thay thế dần các đạo luật cũkhông phù hợp
Về kết cấu, hệ thống PLHS là các văn bản PLHS riêng lẻ, ban hành nhiềuthời kỳ để đáp ứng được kịp thời diễn biến nhanh của tình hình chính trị, kinh tế xãhội khi vừa dành được độc lập và toàn quốc tiếp tục kháng chiến Nên về mặt kỹthuật lập pháp trong PLHS vẫn còn mang tính chất sơ khai, ban hành với tính cáchtạm thời và là giải pháp tình thế trong thời kỳ Cách mạng còn nhiều khó khăn
Văn bản PLHS được áp dụng bởi một là văn bản PLHS (bao gồm cả văn bảnpháp luật có tính chất hình sự) được ban hành mới, hai là văn bản PLHS kế thừahoặc phủ nhận các văn bản luật hình sự của chế độ trước đó với tinh thần và chủtrương mới như quy định tại Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chínhphủ lâm thời
PLHS thời kỳ này chưa phải là một Bộ luật hoàn chỉnh nên chưa phân chiaphần chung và phần riêng như cách kết cấu Bộ luật sau khi pháp điển hóa, cũng vìthế các chế định về tội phạm, hình phạt, các chế định về áp dụng hình phạt…chỉxuất hiện riêng lẻ trong các văn bản một cách cơ bản, không đầy đủ và hoàn thiệnnhư các chế định ngày nay
Nội dung điều chỉnh chủ yếu trong PLHS trong giai đoạn này tuy chưa hoànchỉnh nhưng tập trung chủ yếu vào các vấn đề:
Trang 33(1) Nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến công cuộc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước.
(2) Nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền tự do của công dân
(3) Nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến văn hóa- xã hội
Một đặc điểm nhỏ cũng cần lưu ý là một số chi tiết có sự ảnh hưởng bởi một
số yếu tố của Luật nước Cộng Hòa Pháp Điển hình như các quy định chế định hìnhphạt, các thuật ngữ đặc thù và các điều luật kế thừa từ hệ thống cũ mà Pháp đã ápdụng rất lâu tại Việt Nam dẫn đến ít nhiều ảnh hưởng rõ nét
2.1.2 Đặc điểm của quy định hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1955
2.1.2.1 Các đặc điểm cơ bản
Văn bản PLHS như đã phân tích phía trên do hoàn cảnh đất nước, xã hội nên
về hình thức mới ở dạng các Sắc lệnh, Đạo luật đơn lẻ, mặt khác có sự tổng hợp cả
về mặt phạt hành chính lẫn hình phạt hoặc cả lĩnh vực tố tụng hình sự vào trong mộtvăn bản Hình phạt TCTH vì thế chưa được định nghĩa một cách độc lập như mộtchế định riêng biệt Vì thể để nghiên cứu các đặc điểm của hình phạt TCTH, phảikhảo sát các văn bản mà có các quy định về hình phạt tù được quy định áp dụng chohình phạt hoặc các văn bản về tố tụng, thậm chí cả các văn bản hành chính mangtính chất hình sự
Hình phạt TCTH trong giai đoạn này được hiểu theo nghĩa là phải thực hiệntrong nhà giam với các quy định riêng biệt đặc thù, như vậy hình phạt TCTH sẽgiới hạn và kiểm soát với mức độ rất cao về không gian tự do của người bị kết án vềnhững tội phạm trong một thời gian nhất định Tuy có sử dụng lại các bộ luật cũnhưng các hình phạt được quy định có sự khác biệt so với thời kỳ trước nên hìnhphạt TCTH không phân chia nhiều hình thái như các bộ luật của Pháp trước đó ápdụng như cấm cố, khổ sai
Phân loại trong hệ thống hình phạt
Vì đặc thù của PLHS giai đoạn này nên hình phạt chưa hệ thống thành một
Trang 34điều luật hoặc quy định rõ ràng, mà chỉ tồn tại trong các văn bản PLHS gắn kèm vớicác tội danh quy định trong một số lĩnh vực cụ thể Qua khảo cứu các văn bảnPLHS, có thể nhận thấy tồn tại 8 hình phạt tạm xắp xếp theo mức độ từ nặng đếnnhẹ như sau: Tử hình; Tù chung thân; TCTH; Khổ sai; Tội đồ; Tịch thu tài sản;Buộc bồi thường thiệt hại đã gây ra; Tước quyền công dân; Quản chế; Phạt tiền.
Nếu tạm chia theo cách phân loại hiện hành thì hình phạt TCTH là hình phạtchính trong phân loại Riêng hình phạt khổ sai thời kỳ này được nhắc đến bởi Sắclệnh số 21 ngày 14/02/1946 ; Sắc lệnh số 223 ngày 27/11/1946 về tội đưa, nhận hối
lộ của công chức; hoặc tại điều 2 Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/03/1948 tuy vậy thực
tế không sử dụng hình phạt này Hình phạt khổ sai được các điều luật trên nhắc đến
có nguồn gốc từ hình phạt khổ sai hữu hạn mà thời kỳ Pháp thuộc đã áp dụng trongcác bộ luật tại Việt Nam Vì lý do đó đa phần các nhà nghiên cứu đã không xếphình phạt ấy vào hệ thống hình phạt trong thời kỳ này
Tương tự vậy, với hình phạt tội đồ, hình phạt này ít được quy định tuy nhiêncũng xuất hiện một cách hạn chế như quy định tại điều 19 Sắc lệnh số 40 ngày
29/03/1946: “Những nhân viên sau này sẽ bị phạt từ 5 năm đến 10 năm tội đồ và
3.0 đồng, đến 100.000 đồng tiền phạt…” Hình phạt này cũng có nguồn gốc từ
thời Phong kiến và việc ít xuất hiện nên các nhà nghiên cứu sau này cũng bỏ quatrong phần thống kê phân loại hình phạt giai đoạn này Mặt khác đến năm 1950bằng một Sắc lệnh số 150-SL ngày 7/11/1950 về tổ chức trại giam thì Điều 1 quy
định rằng “phạm nhân phải được giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo
hoá” Với ý nghĩa rằng các phạm nhân đã bị kết án sẽ thực hiện án tù trong trại
giam để chịu sự trừng trị các tội phạm đã thực hiện và được giáo dục cải tạo thànhngười tốt, bằng quy định này đã gián tiếp loại bỏ hai hình phạt tù khổ sai và tội đồ
ra khỏi HTHP
Về mức độ nặng nhẹ và nghiêm khắc của hình phạt này chỉ đứng sau hìnhphạt tù chung thân và tử hình Vì là hình phạt chính nên có có thể áp dụng kèm theohình phạt bổ sung như trên theo quy định
Mục đích của hình phạt tù có thời hạn
Trang 35Mục đích của hình phạt nói chung trong giai đoạn này chưa được quy định rõràng trong bất kỳ một điều luật nào, nhưng cách thể hiện và dựa theo quy định giántiếp trong một số văn bản PLHS hoặc như điều 1 Sắc lệnh 150/SL ngày 12/01/1953
về nhiệm vụ của toà án có nêu “Trừng trị những kẻ phản cách mạng, những cường
hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách ruộng đất…” cũng như
chủ trương trong tình hình chính trị xã hội lúc đó cho thấy rằng, mục đích chính làtrừng trị, phòng ngừa và bảo vệ thành quả cách mạngvới tính khắc nghiệt và răn đecao độ, tiếp đến là cải tạo giáo dục người phạm tội là mục đích sau Điều này thểhiện rõ nhất trong văn bản quy định về tổ chức trại giam điển hình là sắc lệnh 150-
SL ngày 7/11/1950, ngay tại điều một của sắc lệnh 150/SL đã khẳng định rằng:
“phạm nhân phải được giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo hoá”.
Tính trừng trị bằng pháp luật và hình phạt cũng được thể hiện ở Thông tư số
281/TTg ngày 22/6/1953 “Bọn Việt gian cố tâm bán nước, hại dân không chịu hối
cải, thì cương quyết trừng trị”
Qua đó thấy rằng quan điểm giai đoạn này là hình phạt không nằm ngoàimục đích là trừng trị là thiết yếu, đặc biệt là với các tội xâm phạm đến an ninh quốcgia, phá hoại đất nước, chống phá cách mạng, bởi tình hình xã hội và đất nước lúcnày rất phức tạp, nguy cấp, bên cạnh đó nhiều quan niệm cũ kế thừa từ các nhà làmluật từ thời phong kiến vẫn ăn sâu vào tư duy của xã hội ta bấy giờ, nên việc quanniệm hình phạt trừng trị tội phạm là điều không tránh khỏi
Đối tượng của hình phạt tù có thời hạn
Qua khảo sát các văn bản hình sự và mang tính chất hình sự giai đoạn nàycho thấy không có quy định nào quy định về đối tượng loại trừ áp dụng hình phạt
tù PLHS giai đoạn này cũng chưa quy định về các đối tượng được miễn tráchnhiệm hình sự, nên có thể xem đối tượng của hình phạt TCTH là người phạm tộitrong các quy định của hình phạt mà các văn bản luật hình sự quy định
Về đặc tính giới hạn tự do và không gian
TCTH giai đoạn này cũng được hiểu là giới hạn tự do bằng cách phải thựchiện ở một nơi giam giữ riêng biệt là trại giam Tuy chưa có ĐNPL hoặc một điều
Trang 36luật nào quy định về hình phạt TCTH nhưng có thể hình dung dựa vào các văn bản
có liên quan về tổ chức Tòa án hoặc thi hành án như Sắc lệnh về trại giam có quyđịnh một số điều cần thiết để thi hành hình phạt TCTH Các văn bản tiêu biểu nhưSắc lệnh 150-SL ngày 7 tháng 11 năm 1950 về tổ chức các trại giam, hướng dẫn Sắclệnh này có Nghị định số 181-NV/6 ngày 12/06/1951; Thông tư số 17-NV/6/TTngày 12/06/1951Nghị định số 181-NV/6 ngày 12/06/1951 trong đó quy định cáchthức tổ chức về cách tiếp nhận, trích xuất, tổ chức xắp xếp sinh hoạt, lao động chophạm nhân Đến tháng 8/1953, trong phiên họp của Hội đồng Chính phủ, Thứ bộCông an được tách ra khỏi Bộ Nội vụ để thành lập Bộ Công an Cũng từ đây, Chínhphủ giao cho Bộ Công an quản lý hệ thống trại giam toàn quốc
Về đặc tính giới hạn thời gian
PLHS giai đoạn này tuy chưa quy định rõ ràng bởi một điều luật nào về giớihạn của thấp nhất và cao nhất hình phạt tù, nhưng qua các quy định gián tiếp đượctổng hợp lại cho ta tạm thời định hình được các đặc điểm giới hạn này
(1) Về thời gian tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn
Qua khảo sát hình phạt tại các văn bản trong thời kỳ này, một số văn bản cóhình phạt tù được tính bằng thời hạn ngày như phạt tù từ 6 ngày đến 2 tháng về tộilập hội trái phép quy định tại Điều 9 Sắc lệnh số 52 ngày 22/4/1946; Hoặc tại điều
112 Sắc lệnh số 49-SL ngày 18/06/1949 về Luật Thuế trực thu Việt Nam có quyđịnh tội trốn thuế hình phạt tù từ 6 ngày đến 1 tháng; Có Điều luật quy định phạt tù
từ 10 ngày đến 2 năm như về vi phạm làm hư hỏng các công trình thuỷ nông tạiĐiều 8 Sắc lệnh số 68-SL ngày 18/6/1949 Một số văn bản có quy định thời hạn tù
từ 3 ngày như quy định tại điều 3 Sắc lệnh 157-SL ngày 16/8/1946 nguyên văn như
sau: “Các người không tuân theo Sắc lệnh này, sẽ bị phạt bạc đến một vạn đồng
bạc (10.000đ) và có thể bị bắt đóng cửa hiệu bào chế Khi tái phạm có thể bị phạt
tù từ 3 đến 10 ngày”.
Thậm chí trong điều 2 sắc lệnh số 185-SLN ngày 26/05/1948 về thẩm quyềncủa các Toà án thì Toà sơ thẩm có quyền xử những án vi cảnh phạt giam từ 1 đến 5ngày Tuy nhiên khảo cứu trong tất cả các văn bản hình sự ban hành trong giai đoạn
Trang 37này thì chưa thấy có quy định hình phạt nào là 1 ngày Như vậy xét về thống kê sốliệu trên các văn bản thì ta có thể tạm thời xem thời hạn ngắn nhất của hình phạtTCTH được quy định ở một tội danh trong gian đoạn này là được thể hiện ngắnnhất 3 ngày.
(2) Về thời hạn tối đa của hình phạt tù có thời hạn
Về thời gian dài nhất của hình phạt TCTH trong các tội danh quy định, khảocứu các văn bản đã ban hành trong giai đoạn này có các khoảng thời gian giới hạncao như đến 10 năm, 15 năm, 20 năm; chưa thấy quy định nào vượt quá định mức
20 năm tù giam như đã nêu Ở mức hình phạt cao hơn sẽ là hình phạt tù chung thânhoặc tử hình
(3) Sự khấu trừ thời gian của hình phạt tù có thời hạn
PLHS cũng không quy định có sự khấu trừ thời gian vào hình phạt tù khi đã
bị tạm giam hoặc tạm giữ trước đó
(4) Vấn đề định lượng thời gian cho quy định hình phạt tù có thời hạn trong các khung hình phạt dành cho tội phạm
Về định lượng thời gian phạt tù cho một tội phạm cụ thể, cách quy định thời
kỳ này có những vấn đề có khác so với hiện tại cần phân tích:
Về thời hạn ngắn nhất trong một số điều luật quy định cho hình phạt, tronggiai đoạn này có xuất hiện quy định một cách không rõ ràng là cách quy định hìnhphạt TCTH với giới hạn tối đa mà không có tối thiểu trong một số tội danh, điểnhình có thể kể đến một số điều tại Sắc lệnh 133-SL ngày 20/1/1953 như khoản c
Điều 4: “phạt tù từ 10 năm trở xuống”; tương tự ở khoản b Điều 5; khoản b Điều 7; Điều 9; Điều 10; Điều 11 tại sắc lệnh này đều có quy định “từ 10 năm trở xuống”…
Việc quy định hình phạt TCTH theo cấu trúc quy định như vậy là một bất hợp lýgây khó khăn cho việc toà án khi tuyên án Đây thật sự là một hạn chế dẫn đến khókhăn bất cập mà khi áp dụng vào thực tế sẽ tạo ra kẽ hở và bất hợp lý
Tương tự một vấn đề trong cách quy định định lượng hình phạt TCTH chomột tội phạm cũng xuất hiện một số quy định không có mức tối đa, nghĩa là chỉ quyđịnh tuyên mức năm từ tối thiểu sau đó vượt lên cho đến hình phạt chung thân, tử
Trang 38hình Rõ ràng điều này là một sự bất cập lớn, ví dụ tại điều 8 Sắc lệnh số 68-SL
ngày 18 tháng 6 năm 1947 quy định “Những người nào phạm vào điều 7 sẽ bị phạt
như sau: …Phạt tù từ 1 năm đến chung thân, nếu thiệt hại cho nhân dân trong một tỉnh; từ 3 năm đến tử hình, nếu thiệt hại cho nhân dân nhiều tỉnh…” Hoặc điều 6
Sắc lệnh số 151-SL ngày 12 tháng 4 năm 1953 quy định “Địa chủ nào phạm một
trong các tội sau đây… thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc bị xử tử hình”; Cách quy định định lượng như vậy rất khó cho người áp dụng Về mặt cấu
trúc logic, thì quy định khoảng thời gian phải có từ mốc thấp đến điểm dừng ở mốccao, sau đó mới chuyển qua hình loại hình phạt khác
Phạm vi hình phạt tù có thời hạn trong phần quy định các tội phạm
Hình phạt TCTH trong giai đoạn này chiếm tỷ trọng cao trong kết cấu so vớicác hình phạt khác, tuy không phải tất cả các văn bản PLHS quy định hình phạt đều
có hình phạt TCTH nhưng hình phạt này cũng chiếm một vị trí quan trọng và gầnnhư được ghi nhận một cách mặc nhiên cho hầu hết các hình phạt, chỉ trừ một vàihình phạt tiền rất ít được thay thế với các vi phạm nhẹ hoặc ngay cả với những vụviệc mang tính chất hành chính, dân sự với quan điểm ngày nay Lý giải cho việcphổ biến hình phạt TCTH, có thể kể đến các nguyên nhân chính: như có tính trừngtrị nghiêm khắc phù hợp với giai đoạn này để bảo đảm thành quả cách mạng củadân tộc trong lúc tình hình phức tạp của chính trị và kinh tế xã hội, mặt khác do hạnchế việc áp dụng các hình phạt phạt của chế độ cũ nên hình phạt TCTH là chọn lựaquy định ưu tiện hơn
2.1.2.2 Hình phạt tù có thời hạn và chế định đối với người chưa thành niênphạm tội
Giai đoạn này việc phân biệt đối tượng là người chưa thành niên chưa đượcquy định bằng những chế tài riêng thậm chí không được nhắc đến trong các quyđịnh của PLSH Việc áp dụng hình phạt hoặc các chế tài khác trong các văn bảnhình sự hầu hết không quy định đối tượng về độ tuổi vì thế có thể xem đây là mộtkhoảng trống thiếu sót của PLHS giai đoạn này vì như vậy rất khó để xác định tuổichịu trách nhiệm hình sự, hoặc xác định được các hình phạt nào áp dụng cho các đối
Trang 39tượng nào phạm tội.
2.2 Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn từ năm 1955 – 1985
2.2.1 Đặc điểm chung của Pháp luật hình sự trong giai đoạn năm 1955 1985
-Lịch sử đấu tranh dành độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng Xã hội chủnghĩa giai đoạn 1955- 1985 rất quan trọng, rất nhiều sự kiện lịch sử của dân tộctrong giai đoạn này, các yếu tố chính trị, xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến các chínhsách của nhà nước trên mọi lĩnh vực, và pháp luật cũng không nằm ngoài ảnhhưởng đó PLHS phản ảnh rõ rệt để bảo vệ thực hiện mục tiêu xây dựng CNXH ởMiền Bắc (1955-1975) và giai đoạn cả nước tiến lên CNXH sau khi thống nhất đấtnước (1975-1985) Tuy có cố gắng xây dựng và hoàn thiện nhưng nhân lực và vậtlực lúc này đang tập trung cho phục vụ thống nhất đất nước, về phía cuối giai đoạnnày cũng đã có kế hoạch chủ trương hình thành nên BLHS, vì thế chế định hìnhphạt tù có thời hạn cũng như các chế định khác cũng chưa được cụ thể hoá bằng cácđịnh nghĩa pháp lý mà chỉ tồn tại việc quy định áp dụng cho các tội phạm cụ thể
Xét chung qua PLHS trong giai đoạn nhận thấy có 3 hệ thống PLHS riêngbiệt do yếu tố lịch sử chính trị mang lại là: (1) Hệ thống PLHS của Việt Nam Dânchủ cộng hòa, tại Miền Bắc Việt Nam; (2) Hệ thống PLHS của chính quyền ViệtNam Cộng hòa tại miền nam Việt Nam; (3) Hệ thống PLHS của chính phủ Cáchmạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam, mặt trận dân tộc giải phóng Miềnnam Việt Nam
Mỗi một hệ thống PLHS đều mang tính chất đặc trưng và bản chất của Chínhphủ Nhà nước đó ban hành Tuy nhiên, trong bài luận văn này, tác giả đặt trọng tâmkhảo cứu hệ thống PLHS của Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạnhlâm thời miền nam vì chính thể này tiếp tục thống nhất duy trì và phát triển hệthống luật pháp của Việt Nam đến hiện nay trên nền tảng PLHS trước đó, có sự kếthừa một cách liên tục cũng như hệ thống luật đồng nhất trong hệ tư tưởng XHCN,còn lại hệ thống PLHS của Việt Nam Cộng hòa chấm dứt vào năm 1975, được xem
Trang 40như là một phần của lịch sử đất nước, nên chỉ khảo cứu nếu các chi tiết quan trọng
và có sự liên quan mật thiết đến các chế định của hệ thống PLHS hiện tại
Xét về các lĩnh vực quy định của PLHS thì giai đoạn này có ban hành cácvăn bản mới liên quan đến nhiều nhóm nội dung và mục đích chính ở giai đoạn đầu:
(1) Nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến công cuộc xây dựng tổchức bộ máy nhà nước, bảo vệ thành quả cách mạng: Tiêu biểu như Sắc lệnh 267-
SL ngày 15/06/1956
(2) Nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tàisản và các quyền tự do công dân như: Pháp lệnh 150-LCT Ngày 21/10/1970 Trừngtrị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
(3) Nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến văn hóa - xã hội Tiêubiểu có các sắc lệnh như: Sắc lệnh 282 ngày 14/12/; Luật số 100-SL/L.002 ngày20/05/1957
(4) Về lĩnh vực liên quan đến tư pháp: Liên quan đến việc tư pháp và banhành các văn bản hệ thống luật, nhằm chính thức chấm dứt việc sử dụng các vănbản luật của thời kỳ trước do chế độ cũ ban hành Sắc lệnh số 150-SL ngày7/11/1950 tổ chức các trại giam;
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, công tác hoàn thiện hệ thống PLHScũng được quan tâm và triển khai, bằng việc ban hành các văn bản luật hình sự khoahọc và phù hợp hơn, điển hình:
Sắc Luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thờimiền nam Việt Nam về tội phạm và hình phạt; Pháp lệnh trừng trị tối hối lộ ngày20/05/1981của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buônlậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/07/1982 của Ủy ban thường vụQuốc hội…
2.2.2 Đặc điểm của quy định hình phạt tù có thời hạn trong giai đoạn năm 1955– 1985
2.2.2.1 Các đặc điểm cơ bản
Giai đoạn 1955-1985 các quy định về hình sự được chứa đựng phân bố trong