Đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp và hạn chế các tác động tiêu cực để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Th
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tác giả Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Đức Chung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các thầy cô giáo Trường Đại học
Thủy Lợi Hà Nội Tác giả đặc biệt cảm ơn TS Trương Đức Toàn, đã dành rất nhiều
thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sâu sắc tới các Cán bộ thầy cô trong khoa Kinh tế và quản lý và Phòng đào tạo sau đại học của trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội, tới tập thể lãnh đạo và cán bộ của các phòng, ban chuyên môn của huyện Đoan Hùng: Tài nguyên
- Môi trường; Lao động - TB & XH; Bồi thường giải phóng mặt bằng; Quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng huyện; những người đã hỗ trợ tích cực cho tác giả trong quá trình thu thập số liệu và hoàn chỉnh báo cáo của đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện, chia sẻ khó khăn và thường xuyên động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Đức Chung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 6
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác tạo việc cho người nông dân bị thu hồi đất 6
1.1.1 Nông dân, hộ nông dân và đặc điểm kinh tế của hộ nông dân 6
1.1.2 Khái niệm về lao động và việc làm 10
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 17
1.1.4 Quan niệm về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 23
1.1.5 Tác động của thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đến việc làm của nông dân 25
1.1.6 Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 31
1.2 Phương thức tạo việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm của nông dân bị thu hồi đất 34
1.2.1 Các phương thức tạo việc làm 34
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 37
1.3 Kinh nghiệm về công tác tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất ở trong và ngoài nước 39
1.3.1 Kinh nghiệm ở trong nước 39
1.3.2 Kinh nghiệm ở nước ngoài 41
1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về công tác tạo việc làm của một số địa phương 42
1.4.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc làm cho người bị thu hồi đất 42
Trang 41.4.2 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở huyện
Đoan Hùng 44
Kết luận chương 1 46
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ĐOAN HÙNG GIAI ĐOẠN 2013- 2018 48
2.1 Giới thiệu về huyện Đoan Hùng 48
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 48
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 51
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội 57
2.1.4 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Đoan Hùng 59
2.1.5 Tình hình quản lý sử dụng đất 62
2.2 Thực trạng công tác tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng 65
2.2.2 Trình tự thực hiện công tác tạo việc làm 85
2.2.3 Về chính sách tạo việc làm 89
2.3 Đánh giá chung về công tác tạo việc làm cho người nông dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng 90
2.3.1 Kết quả dạt được 90
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 93
Kết luận chương 2 95
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐOAN HÙNG 96 3.1 Dự báo tình hình thu hồi đất và nhu cầu giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất tại huyện Đoan Hùng giai đoạn 2015-2020 96
3.2 Quan điểm về tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa 97
3.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 97
3.2.2 Quan điểm của đề xuât đối với huyện Đoan Hùng 98
Trang 53.3 Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi
đất thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Đoan Hùng 101
3.3.1 Nhóm giải pháp về ban hành, thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước tại huyện Đoan Hùng 101
3.3.2 Nhóm giải pháp đối với người nông dân bị thu hồi đất và đào tạo việc làm 108
3.3.3 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi 112
Kết luận chương 3 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 49
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 51
Bảng 2.2 Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp 51
Bảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2017 của huyện Đoan Hùng 60
Bảng 2.4 Kết quả thu hồi đất của huyện từ năm 2013 đến tháng 12/2018 65
Bảng 2.5 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2018 67
Bảng 2.6 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2018 68
Bảng 2.7 Kết quả thực hiện hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn trong 5 năm (2012-2017) 70
Bảng 2.8 Tổng hợp tình hình thực hiện chương trình MTQG việc làm và dạy nghề giai đoạn 2017 – 2018 74
Bảng 2.9 Kết quả thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ của chương trình MTQG việc làm và dạy nghề từ khi thực hiện đến hết năm 2017 75
Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả thu hồi đất dự án đường cầu Kim Xuyên tới quốc lộ 2 và đường Hồ Chí Minh 79
Bảng 2.11 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án đường cầu Kim Xuyên tới quốc lộ 2 và đường Hồ Chí Minh 80
Bảng 2.12 Tổng hợp kết quả thu hồi đất dự án xây dựng khu dân cư mới phía Tây Nam thị trấn Đoan Hùng 83
Bảng 2.13 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng khu dân cư mới phía Tây Nam thị trấn Đoan Hùng 84
Bảng 2.14 Loại đất, diện tích thu hồi của 02 dự án 91
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều dự
án như các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy, các khu đô thị mới, đường giao thông v.v… đang được triển khai xây dựng một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, để có quỹ đất thực hiện các loại dự án trên thì phải thu hồi đất của các hộ dân trong đó có đất Nông nghiệp các hộ dân đang sản xuất nông nghiệp Trên thực tế từ nhiều dự án, số lượng đất Nông nghiệp và số lượt hộ dân bị thu hồi đất Nông nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn hơn rất nhiều so với các loại đất khác cùng bị thu hồi trong một dự án, vì vậy vấn
đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất được coi là vấn đề rất bức xúc Đây cũng là thách thức lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung
Đoan Hùng là huyện trung du miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, trung tâm cách huyện Đoan Hùng 56km, là một huyện chậm phát triển về kinh tế, các vấn đề về giao thông cơ sở hạ tầng còn yếu kém, sản phẩm nông nghiệp là nguồn thu chính của người dân trong huyện Trong những năm qua nền kinh tế của huyện đã có những thay đổi rõ rệt, người dân toàn huyện tập trung, tranh thủ mọi nguồn lực đẩy mạnh phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và phát triển hạ tầng đô thị nói riêng Để đạt được mục tiêu nêu trên, huyện Đoan Hùng phải triển khai nhiều hoạt động như: Quy hoạch đô thị, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, quản lý đô thị, trong đó công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng được xác định là một trong những khâu đột phá để xây dựng phát triển huyện Đoan Hùng Nhưng cùng với sự phát triển của huyện, cùng với quá trình đô thị hoá nông thôn, diện tích đất nông nghiệp của huyện cũng đang phải nhường chỗ cho các khu công nghiệp, các khu đô thị các công trình hạ tầng kỹ thuật Người nông dân quanh năm chỉ bám với đồng ruộng, hoạt động lúc nông nhàn của họ cũng gắn liền với cánh đồng, thu nhập chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng, việc sản xuất lại phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên Mặt khác, người nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của thị trường Hiện tại việc mất đất, mất tư liệu sản xuất, khiến nông dân không có việc làm, cuộc sống gặp nhiều khó khăn Với một huyện đang
Trang 10trên đà phát triển như Đoan Hùng thì việc tạo việc làm cho nông dân mất đất nông nghiệp
là một việc làm rất cấp thiết Vì vậy, sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đoan Hùng, tác giả đã quyết
định chọn đề tài: “Giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” làm Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng (trong giai đoạn 2013 2018) về công tác tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng Đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp và hạn chế các tác động tiêu cực để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Từ đó gợi mở những hướng đi cho các hộ nông dân khắc phục khó khăn, có được phương án tìm kiếm việc làm tốt nhất Đồng thời, đề xuất một số ý kiến với tỉnh Phú Thọ, chính quyền huyện Đoan Hùng sao cho việc tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn
-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu việc tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Đoan Hùng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Là tất cả các vấn đề lý thuyết và thực tiễn bảo đảm cơ sở khoa học cho những giải pháp được đề xuất về tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp, ở đây tạo việc làm cho người nông dân bao gồm cả chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
- Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, ứng dụng để đánh giá thực trạng công tác tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
- Đề xuất những giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
Trang 11- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Về số liệu: Dùng phân tích, đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan trên địa bàn huyện Đoan Hùng giai đoạn 2013-2018
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ làm rõ những nội dung sau:
- Tổng quan có chọn lọc các vấn đề lý luận về giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình sử dụng đất và chuyển dịch
cơ cấu sử dụng đất của huyện Đoan Hùng, điều tra việc thực hiện chính sách tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu, điều tra tình hình đời sống, việc làm của người dân trước và sau khi bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá việc thực hiện chính sách tạo việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu và đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm
ổn định và nâng cao đời sống của người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi cả trong hiện tại và tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra khảo sát, thực địa
Thu thập các tài liệu, văn bản, chính sách có liên quan đến công tác tạo việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp của các dự án từ các phòng, ban chuyên môn, ban quản lý các dự án của huyện Đoan Hùng, cụ thể:
- Các văn bản, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý đất đai, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất
- Các văn bản của UBND tỉnh Phú Thọ và UBND huyện Đoan Hùng
Trang 12- Các tài liệu thống kê liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, công tác tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đoan Hùng trong giai đoạn 2013- 2018
- Các tài liệu thống kê về tình hình dân số, lao động, kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Đoan Hùng
- Các công trình nghiên cứu, dự án thực hiện trên địa bàn huyện giai đoạn 2013 –
2018
Trong quá trình nghiên cứu, Học viên thu thập các nguồn số liệu thứ cấp Đồng thời kết hợp một số kết quả đã được tổng hợp, Học viên kế thừa và sử dụng làm thông tin đầu vào để xử lý, phân tích
- Thu thập số liệu thứ cấp: Sử dụng các thông tin có sẵn từ các nguồn như: Số liệu thống kê kiểm kê đất đai hàng năm, thông tin truyền thông đại chúng, niên giám thống
kê của huyện, các báo cáo về GQVL của UBND huyện Đoan Hùng
5.2 Phương pháp thống kê
Sử dụng phần mềm Excel để chia thành các nhóm hộ khác nhau, nhằm đánh giá mức
độ tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp và thu nhập của từng nhóm hộ: những hộ
bị thu hồi đất, những hộ còn nguyên đất, thu nhập của các hộ còn nguyên đất, những
hộ bị thu hồi đất, việc làm
5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập được, tiến hành phân tích và tổng hợp để làm nổi bật các vấn đề nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phân tích thực trạng các tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến người nông dân sử dụng đất nông nghiệp, từ đó có những giải pháp chủ yếu để góp phần thu hồi đất hiệu quả, nhằm phát triển KT - XH của địa phương
Trang 136 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Cung cấp luận cứ lý luận khoa học về giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp, các nguyên tắc tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp và sự vận dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn
- Cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, UBND huyện Đoan Hùng những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn trong việc tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương gồm 99 trang với 15 bảng, 03 hình vẽ
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn của công tác tạo việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác tạo việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đoan Hùng giai đoạn năm 2013-2018
Chương 3: Giải pháp đẩy nhanh công tác tạo việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác tạo việc cho người nông dân bị thu hồi đất
1.1.1 Nông dân, hộ nông dân và đặc điểm kinh tế của hộ nông dân
1.1.1.1 Khái niệm nông dân, hộ nông dân
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền
sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội
Theo phương diện thống kê, Liên Hợp Quốc cho rằng hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có một ngân quỹ
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không
có liên quan với nông nghiệp Cho đến gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn tranh luận Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn
nhưng về cợ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao" (Ellis - 1988) [1]
1.1.1.2 Đặc điểm của hộ nông dân
Trang 15Hộ nông dận là một đợn vị kinh tế cợ sở vừa là một đợn vị sản xuất vừa là một đợn vị tiêu dùng Trong hộ nông dận, chủ thể sản xuất đồng thời là chủ thể lợi ích nên đã tạo
ra động lực kinh tế thúc đẩy nền nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa
Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dận và thị trường
Phượng thức tổ chức sản xuất của hộ hông dận mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ gia đình với nhau
Hộ nông dận ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhận lực phục vụ cho các ngành sản xuất khác nhau Các hộ nông dận ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau
Cợ cấu sản xuất của hộ nông dận chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
Kinh tế hộ nông dận có khả năng điều chỉnh theo sự vận động của cợ hế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nước.[1] [2] [3]
1.1.1.3 Vai trò và đặc trưng của kinh tế hộ nông dân trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn
Nền kinh tế nông dận vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc điểm:
- Khả năng của nông dận thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đợn giản nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Nhờ giá trị xã hội của nông dận hướng vào quan hệ qua lại hợn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất
- Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dận
- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động)
- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao và hiệu quả đầu tư thấp
Trang 16- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp để
sử dụng hết lao động và tăng thu nhập Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền kinh tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực của các chế độ hiện hành gây ra
- Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn xã hội thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn giản nếu không có
sự hỗ trợ từ bên ngoài
Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau Trong quá trình tiến hoá ấy hộ nông dân thay đổi mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp theo lý thuyết của Tchayanov có mục tiêu tối đa hoá lợi
ích Lợi ích ở đây là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình Người nông dân phải lao động để sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủ sức để sản xuất nữa, do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một lợi ích Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân số của gia đình (Tỷ lệ giữa tay làm và miệng ăn)
Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:
- Có thị trường lao động không, vì người nông dân có thể bán sức lao động để tăng thu nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao
- Có thị trường vật tư không vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm một ít vật
tư (nếu có tiền để mua và có lãi)
- Có thị trường sản phẩm không vì người nông dận phải bán đi một ít sản phẩm để mua các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác
Trong các điều kiện này người nông dận có phản ứng một ít với thị trường, nhất là thị trường lao động và thị trường vật tư
Trang 17Tiến lên một bước nữa, hộ nông dận bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy vậy mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp Đậy là kiểu hộ nông dận “nửa tự cấp” có tiếp xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư Hộ nông dận thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường Các yếu
tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách sản xuất của hộ Vì vậy, trong điều kiện này nông dận có phản ứng với giá cả, với thị trường chưa nhiều Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị trường chưa hoàn chỉnh, đó đậy vẫn có những giới hạn nhất định
Cuối cùng đến kiểu hộ nông dận sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người nông dận với
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia đình Kiểu nông dận này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật tư, lao động và thị trường sản phẩm Tuy vậy, giả thiết rằng người nông dận là người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều công trình nghiên cứu Điều này, có thể giải thích do hộ nông dận thiếu trình độ kỹ thuật và quản lý, do thiếu thông tin thị trường,
do thị trường không hoàn chỉnh Đậy là một vấn đề đang còn tranh luận Vấn đề ở đậy phụ thuộc vào trình độ sản xuất hàng hoá, trình độ kinh doanh của nông dận
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân
- Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như các tài sản khác của hộ Mặt khác, do dựa trên cợ
sở kinh tế chung và có ngận quỹ nên các thành
viên trong hộ có ý thức trách nhiệm cao và bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ
- Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Hơn nữa, kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành và đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên, tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động là rất cao
Trang 18- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác có quy
mô sản xuất lớn hơn, do vậy mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp quy mô khi gặp điều kiện bất lợi
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của những người lao động Trong khi kinh tế hộ, mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xậy dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và lợi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Sản xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp Kinh tế hộ nông dân vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn Đặc biệt kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng và vật nuôi Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ: kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng lao động gia đình gắn bó với vật nuôi và cây trồng là đơn
vị sản xuất có hiệu quả [1] [2] [3]
1.1.2 Khái niệm về lao động và việc làm
1.1.2.1 Lao động
Khái niệm về lao động
Theo C.Mac: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình,
con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” Như vậy, lao động là một dạng hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thận thể mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình
Trang 19Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất và tái sản xuất
Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cợ sở cho sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã hội Nó là nhận tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất và tái sản xuất nào Như vậy, động lực của quá trình phát triển kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tậm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phượng Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng thiên nhiên, trước hết phải giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và khả năng sáng tạo của còn người Vai trò của lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng [2] [3]
1.1.2.2 Đặc điểm lao động ở nông thôn
- Lao động nông thôn mang tính thời vụ, đậy là đặc điểm đặc thù khó có thể xóa bỏ của lao động nông thôn
- Chất lượng lao động nông thôn chưa cao, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe còn hạn chế
- Số lượng lao động nông thôn ngày càng ra tăng về số lượng nhưng khả năng cải thiện về chất lượng còn rất hạn chế [2] [3]
1.1.2.3 Việc làm, mô hình giải quyết việc làm
Trang 20là việc làm”
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của
việc làm
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó Đó có thể là các công việc trong các nhà máy, công sở, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm
Mô hình giải quyết việc làm
Quan điểm cơ bản của mô hình khuyến khích giá cho rằng để sản xuất ra một mức sản lượng mong muốn, các nhà sản xuất đứng trước hai lựa chọn lớn: một là có nhiều mức giá khác nhau để mua vốn, lao động, nguyên vật liệu ,phải lựa chọn mức giá sao cho chi phí sản xuất thấp nhất Hai là để tối ưu hoá lợi nhuận, các nhà sản xuất phải lựa chon công nghệ phù hợp (công nghệ sử dụng nhiều vốn hay công nghệ sử dụng nhiều lao động) Nếu giá vốn cao hơn giá lao động thì nhà sản xuất sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động Ngược lại, nếu giá lao động tương đối cao thì nhà sản xuất sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn
Trong bối cảnh các nước đang phát triển thường có nguồn lao động dồi dào, nhưng lại
ít vốn thì các hãng chủ yếu sản xuất thiên về sử dụng nhiều lao động Do đó, các chính sách nhằm điều chỉnh giá cả thông qua việc hạ thấp giá tương đối của lao động sẽ góp
Trang 21phần không chỉ tạo thêm nhiều việc làm mà còn sử dụng tốt hơn các nguồn vốn khan hiếm nhờ áp dụng công nghệ phù hợp
* Mô hình phát triển của Lewis
Lewis đưa ra lý thuyết này trong việc giải thích về sự di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp ở một nước vừa mới công nghiệp hoá Đây là mô hình phổ biến nhất trong tất cả các mô hình tạo việc làm có liên hệ cụ thể với các nước đang phát triển Tác giả cho rằng: “một nền kinh tế kém phát triển bao gồm hai khu vực: một là khu vực nông nghiệp tự cung, tự cấp truyền thống, lao động dư thừa có năng suất bằng không hoặc rất thấp; hai là khu vực công nghiệp thành thị hiện đại có năng suất cao mà lao động khu vực nông nghiệp dần chuyển sang Tăng sản lượng trong khu vực hiện đại dẫn đến lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và gia tăng công ăn việc làm tại thành thị
Mô hình này dựa trên ba giả định:
- Một là, tốc độ di chuyển lao động và tăng công ăn việc làm tỷ lệ thuận với tốc độ tích luỹ vốn Tốc độ tích luỹ vốn càng nhanh thì tốc độ tăng trưởng tại khu vực hiện đại và tăng việc làm ở thành thị càng cao
- Hai là, ở khu vực nông thôn thừa lao động, trong khi có sự toàn dụng lao động ở thành thị
- Ba là, mức lương thực tế ở thành thị sẽ không đổi cho đến khi nguồn
cung cấp lao động dư thừa ở khu vực nông thôn trở nên cạn kiệt
* Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn - thành thị (Harris - Todaro)
Quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hoá Do đó, di dân từ nông thôn ra thành thị là xu hướng tất yếu khách quan của các nước trong quá trình phát triển Những người di cư so sánh mức thu nhập dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mức thu nhập trung bình đang có ở nông thôn Quyết định di cư sẽ được thực hiện nếu thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập thực
tế Thu nhập dự kiến thu được của người lao động di chuyển tuỳ thuộc vào khả năng
Trang 22có thể kiếm việc làm ở thành thị, mức lương ở thành thị, độ tuổi di cư Todaro đề xuất chính phủ giảm mức lương ở thành thị, xoá bỏ những méo mó về giá cả của các nhân
tố sản xuất, tăng cường việc làm ở nông thôn, áp dụng công nghệ và chính sách phù hợp.[1] [2] [4] [5]
1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một địa phương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người Đó có thể là đất đai, màu mỡ hay không màu mỡ, phù hợp với loại cây trồng nào; hay điều kiện khí hậu, thuỷ văn thuận lợi hay bất lợi cho phát triển các loại cây trồng, vật nuôi; các nguồn tài nguyên khoáng sản nhiều hay ít, địa hình bằng phẳng hay không bằng phẳng, thuận lợi phát triển ngành sản xuất nào, tạo ra bao nhiêu chỗ làm việc mới Trên thế giới có nhiều nước rất giàu tài nguyên
thiên nhiên, đất đai rộng lớn thuận lợi cho phát triển các ngành sản xuất và thu hút lao động Còn đối với những nước không được thiên nhiên ưu đãi, đất đai chật hẹp, nghèo tài nguyên, họ có vốn, có công nghệ kỹ thuật hiện đại, máy móc tiên tiến, phương pháp quản lý tiên tiến nên đã tạo ra được nhiều việc làm mới và việc làm có chất lượng cao
Dân số
Dân số vừa là yếu tố của sản xuất, vừa là yếu tố của tiêu dùng Xét trên phương diện là yếu tố của tiêu dùng, các kết quả dân số: quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số quy định quy mô, cơ cấu, chất lượng, sự phân bố các ngành nghề, các lĩnh vực sản xuất của xã hội Sản xuất cho ai; sản xuất cái gì, khi nào, ở đậu, chất lượng sản phẩm hàng hoá ra sao là do số lượng, cợ cấu, chất lượng dận số quy định Cụ thể:
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên đó đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá các ngành nghề hoạt động Điều đó dẫn đến nhiều ngành nghề mới ra đời, dẫn đến số chỗ làm việc mới cũng được tạo ra nhiều hợn, cợ cấu việc làm cũng biến đổi theo
- Cơ cấu dân số quyết định cợ cấu tiêu dùng Mỗi độ tuổi, giới tính, ngành nghề, tôn
Trang 23giáo, dận tộc đều có tậm lý, sở thích tiêu dùng khác nhau, nhu cầu tiêu dùng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá, dịch vụ cũng khác nhau Để thoả mãn đầy đủ nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng đó tất yếu phải mở rộng, phát triển sản xuất, thay đổi cợ cấu sản xuất, đa dạng chủng loại hàng hoá, nậng cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cợ cấu ngành nghề Nghĩa là số lượng việc làm được tạo ra nhiều hợn, phát triển đa dạng hợn
đến thay đổi Di dận thường xảy ra đối với những người đang trong độ tuổi lao động sẽ dẫn đến cung lao động ở vùng đến tăng lên, ở vùng đi giảm xuống Cợ cấu dận số cũng thay đổi: ở vùng đến cợ cấu dận số thường trẻ hợn, ở vùng đi cợ cấu dận số già đi Từ
đó dẫn đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi Vùng đến nhu cầu tiêu dùng tăng lên đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm Nhiều ngành nghề mới ra đời, tạo ra ra nhiều chỗ làm mới
Cung - cầu lao động
Cung cầu lao động có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Quy mô, cợ cấu, phận bố
và chất lượng lao động quy định quy mô, phận bố, cợ cấu và chất lượng việc làm Ở đậu và khi nào lao động được cung ứng lớn thì nợi đó, khi đó việc làm được tạo ra nhiều hợn và ngược lại
Cung lao động là nam hay nữ, già hay trẻ đều tác động đến cợ cấu
việc làm Bởi vì mỗi độ tuổi, giới tính khác nhau đều có những ưu thế riêngtrong lĩnh vực hoạt động, trong sản xuất kinh doanh Nếu khai thác và sử dụng hiệu quả thế mạnh
từ khía cạnh tuổi và giới tính của người lao động sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực Khi cơ cấu lao động thay đổi, cơ cấu các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân nói chung, nhiều lĩnh vực khác nói riêng tất yếu phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Điều
đó dẫn đến đặc điểm hoạt động nghề nghiệp, tính chất của việc làm sẽ thay đổi
Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt về sức khoẻ, trình độ, phẩm chất Vấn
đề được nói đến nhiều khi đề cập đến chất lượng lao động là trình độ của người lao động Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày một tiên tiến, đòi hỏi
Trang 24người lao động phải có trình độ nhất định đáp ứng yêu cầu công việc Người lao động
có trình độ càng cao thì cơ hội tìm được việc làm càng dễ dàng Hầu hết những người thất nghiệp chủ yếu là những người có trình độ thấp, không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Do đó, người lao động muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp cần phải có các thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt là đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và trí lực Mỗi người lao động cần tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, tranh thủ các nguồn tài trợ để tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng cao kiến thức, nhận thức, kinh nghiệm Đó cũng chính là điều kiện cần thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập, nâng cao vị thế bản thân mỗi người lao động
Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước
Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương, các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo việc làm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, chính phủ sẽ đề ra những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của ngành này hay ngành khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau Chẳng hạn, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần làm thay đổi cợ cấu kinh tế, do đó cợ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo vùng cũng thay đổi [2] [3]
Trong Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm”(khoản
1, điều 16) Điều 13 ghi rõ: “Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cợ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp
và toàn xã hội”
1.1.2.5 Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Việc làm thường xuyên giúp cho người dận có đời sống thu nhập ổn định, giúp cho họ
có khả năng dễ dàng tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, đồng thời nậng cao khả
Trang 25năng nhận thức của người dận
Việc làm cho lao động nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy cợ sở hạ tầng ngày càng phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện Góp phần làm giảm, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Việc làm còn giúp cho người nông dận cải tạo bản thận, thông qua những quy định, nguyên tắc trong công việc mà người nông dân sẽ sống có ýthức, trách nhiệm hợn đối với bản thận và cộng đồng xung quanh [2] [3]
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
1.1.3.1 Các quan niệm về việc làm
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”
Quan niệm của Đại từ điển kinh tế thị trường: “Việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh” Với quan niệm này, có rất nhiều hoạt động của người lao động sẽ không được xem là việc làm Ví dụ như những hoạt động bảo đảm
sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những người thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh, để có thu nhập ổn định không được tính đến Chính những hoạt động đó đã tạo nên sự ổn định về các điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất trực tiếp diễn ra suôn sẻ
Theo PGS PTS Phạm Đức Thành, PGS Mai Quốc Chánh, “Việc làm là phạm trù dùng
để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất và những điều kiện cần thiết sử dụng sức lao động đó” Quan điểm này có mặt tích cực là khái quát được bản chất của việc làm thừa nhận mọi hoạt động có ích đều là việc làm và chỉ ra được cách thức tạo việc làm
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm, song đa số các tác giả đều thống
Trang 26nhất quan điểm mà Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012: Luật số 10/2012/QH13 ở Khoản 1,
Điều 9, Chương II, Bộ luật Lao động (sửa đổi): “Việc làm là hoạt động lao động tạo
ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm" Như vậy, việc làm là lao động của con người
nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân và gia đình không bị pháp luật ngăn cấm, bao gồm:
- Những người làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (gọi
là việc làm được trả công)
- Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho các công việc đó (gọi là việc làm không được trả công)
Việc làm là khái niệm mang tính chất động Vì vậy, người ta chia việc làm thành những phạm trù xã hội - nghề nghiệp khác nhau như:
- Việc làm chính thức: Là công việc chính mang lại thu nhập chính (đối với những
việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình (đối với những việc làm không được trả công)
Việc làm không chính thức: Là những công việc làm thêm ngoài công việc chính Chẳng hạn, đối với người nông dân, việc làm chính của họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những việc làm thêm trong lúc nông nhàn
Việc làm bền vững: Là việc làm mà nó tạo ra các cơ hội cho người lao động được làm việc một cách có hiệu quả, có thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc, tạo điều kiện để cá nhân phát triển và khuyến khích hòa nhập xã hội, cho phép mọi người được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được tự do tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ và bảo đảm cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng
Việc làm của lao động nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT - XH của một bộ phận lao động sinh sống
Trang 27ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm Việc làm ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống, làm việc của người lao động nông thôn và có thể phân thành hai loại sau:
Việc làm thuần nông: là những hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi dựa trên cơ sở kế thừa kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất được truyền qua các thế hệ Loại việc làm này thường thiếu sự ổn định và có mức thu nhập thấp, bấp bênh
Việc làm phi nông nghiệp: Đây là việc làm trong các ngành nghề, lĩnh vực ngoài sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn (như công nghiệp, dịch vụ, quản lý) Đây là những việc làm đòi hỏi nguồn lao động được đào tạo, rèn luyện để có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu công việc
Luận án cho rằng: Việc làm là hoạt động lao động của con người, là dạng hoạt động kinh tế - xã hội, đó là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích con người (cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội) Hoạt động lao động đó không
bị pháp luật ngăn cấm.Vì vậy, hoạt động được xem là việc làm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, là hoạt động lao động của con người Đây là hoạt động có mục đích của con
người, con người dùng sức cơ bắp và thần kinh tác động vào đối tượng lao động thông qua công cụ lao động, cải biến nó phù hợp với nhu cầu của chính mình
Thứ hai, để có việc làm đòi hỏi phải có tư liệu sản xuất và sức lao động Với ý nghĩa
đó, để người lao động có việc làm đòi hỏi phải đầu tư phát triển sản xuất, phải tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người lao động Đồng thời, cần thường xuyên nâng cao chất lượng, số lượng sức lao động để có thể sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được
Thứ ba, để có việc làm trình độ và năng lực của người lao động phải phù hợp với tư
liệu sản xuất Nói cách khác, để sức lao động có thể kết hợp được với tư liệu sản xuất, thì người lao động phải có một trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp nhằm sử dụng
tư liệu sản xuất đó
Trang 28Thứ tư, việc làm là kết quả của sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất phải
tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó Sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ đó phù hợp với lợi ích của con người
Thứ năm, việc làm là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động không bị luật
pháp ngăn cấm Người lao động được tự do hành nghề, liên danh, liên kết, thuê mướn lao động trong khuôn khổ pháp luật và sự hướng dẫn, tạo môi trường của Nhà nước để
có thể tự tạo việc làm cho mình [6]
1.1.3.2 Một số lý thuyết tạo việc làm
Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội Có nhiều lý thuyết tạo việc làm của các nhà kinh tế, cụ thể như sau:
- Lý thuyết tạo việc làm bằng gia tăng đầu tư - tăng trưởng kinh tế Muốn tăng trưởng kinh tế phải có tích lũy, để từ đó có vốn đầu tư mở rộng tái sản xuất, tạo ra nhiều việc làm Đối với các nước đang phát triển do thu nhập thấp, tỷ lệ tích lũy thấp, dẫn đến thiếu vốn đầu tư Để tạo vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, các nước này cần phải dựa vào lợi thế so sánh của mình là tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực giá rẻ để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài nhằm tạo ra “cú huých”, từ đó tạo thêm nhiều việc làm
- Lý thuyết tạo việc làm của W.Athur Lewis Ông đã đưa ra mô hình kinh tế nhị nguyên, sau đó được các nhà kinh tế học John Fei, Gustar Ranis, Harris áp dụng phân tích quá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp
do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát triển Vì vậy, khi có một mức lương cao hơn trong khu vực này thì các nhà đầu tư sẽ sử dụng ngay nguồn lao động dư thừa từ nông nghiệp chuyển sang
- Lý thuyết của W.Athur.Lewis được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng khác tiếp tục nghiên cứu và phân tích Luận cứ của họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực công nghiệp hiện đại Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn công
Trang 29nghệ sản xuất, trong đó có công nghệ sử dụng nhiều lao động nên có thể thu hút hết lượng lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp Nhưng việc di chuyển lao động được giả định là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vực trên quyết định Khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút lao động nông nghiệp khi có sự dư thừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn Nhưng khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa ngày càng cạn dần thì khả năng duy trì sự chênh lệch về tiền lương sẽ ngày một khó khăn Đến khi đó, việc tiếp tục di chuyển lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp, làm cho giá cả nông sản tăng lên và kéo theo đó là mức tăng tiền công tương ứng trong khu vực công nghiệp
- Lý thuyết tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Torado Lý thuyết này phân tích khả năng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị Theo đó, quá trình dịch chuyển lao động chỉ diễn ra suôn sẻ khi tổng cung về lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng cầu ở khu vực công nghiệp Sự di chuyển lao động này không những phụ thuộc vào chênh lệch thu nhập mà còn dựa vào xác suất tìm được việc làm đối với lao động nông nghiệp và sự di chuyển lao động trên cơ sở thực hiện điều tiết thu nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh tế Theo Torado, lao động nông thôn có thu nhập thấp, vì thế họ quyết định di chuyển ra khu vực thành thị để có thu nhập cao hơn
- Lý thuyết tạo việc làm của Harry Toshima Theo Harry Toshima, lý thuyết của W.Athur.Lewis không có ý nghĩa thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp ở các nước châu Á gió mùa Bởi vì, nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong mùa vụ và chỉ dư thừa lao động lúc nông nhàn Vì vậy, Harry Toshima cho rằng cần giữ lại lao động nông nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những lúc nông nhàn bằng cách thâm canh, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, Đồng thời, sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các ngành công nghiệp cần nhiều lao động Bằng cách đó, sẽ tạo việc làm đầy đủ cho mọi thành viên gia đình nông dân trong những tháng nông nhàn để nâng cao thu nhập hàng năm của họ và sẽ mở rộng được thị trường trong nước cho các ngành công nghiệp và dịch vụ Như vậy, lực lượng lao động sẽ được sử dụng hết
Trang 30Các lý thuyết về tạo việc làm nêu trên đều tập trung luận giải các xu hướng, biện pháp nhằm tạo việc làm Mặc dù các lý thuyết chưa làm rõ vai trò của Chính phủ trong việc kết hợp các chính sách kinh tế với chính sách xã hội để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều việc làm Song nó có tác dụng gợi mở những phương thức, biện pháp để tạo nhiều việc làm cho lao động nông nghiệp, trong đó có bộ phận nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa
Luận văn cho rằng: Tạo việc làm không đơn thuần là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, mà nó còn bao gồm cả yếu tố Nhà nước thông qua các chính sách và những yếu tố xã hội Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển phải tạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất, trong môi trường kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra Nói cách khác, tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (lao động, vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và quản lý)
Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động, trong đó có đối tượng là nông dân bị thu hồi đất (thiếu hoặc không có tư liệu sản xuất chủ yếu - đất đai), có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân người lao động, gia đình, cộng đồng và xã hội
Tóm lại, tạo việc làm là quá trình:
Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Số lượng và chất lượng tư liệu
sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng khai thác, quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó
Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng sức lao động phụ thuộc
vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự di chuyển của lao động; chất lượng sức lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục, đào tạo, phổ cập nghề nghiệp, văn hóa, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trang 31Ba là, tạo ra những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội như các chính sách của Nhà
nước, các giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường hàng hóa sức lao động, các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao,
Bốn là, cần phải được xem xét cả từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động
và Nhà nước
Vì vậy, tạo việc làm theo nghĩa rộng là tổng thể những mục tiêu, quan điểm, cơ chế, chính sách, biện pháp kinh tế - xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm
Tạo việc làm theo nghĩa hẹp là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, trong đó có nông dân bị thu hồi đất, thiếu hoặc không còn đất sản xuất, nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp.[4] [5] [6]
1.1.4 Quan niệm về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa, hàng chục vạn hộ gia đình đã phải nhường đất để di dời đến nơi định cư mới theo sự sắp xếp của các nhà quản lý Cùng với đó là hàng trăm ngàn ha đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng, do đó
sẽ có hàng chục vạn lao động không còn cơ hội được làm việc trên mảnh đất của mình
Số lao động đó hoặc phải chuyển sang các ngành nghề mới, hoặc phải chấp nhận cảnh không có việc làm Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho những người nhường đất, tạo việc làm cho lao động vùng bị thu hồi đất là điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước; đồng thời là nhân tố quan trọng trong việc phấn đấu đạt được mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
Từ những phân tích các lý thuyết, quan niệm về việc làm tạo việc làm trên cơ sở thực tiễn phát triển KT - XH của Việt Nam và huyện Đoan Hùng thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế hiện nay, luận án cho rằng: Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là hoạt động lao động của người nông dân trong độ tuổi lao động, là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù
Trang 32hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích của người nông dân, cộng đồng và xã hội Hoạt động lao động đó không bị luật pháp Việt Nam ngăn cấm
Từ quan niệm của luận án, hoạt động được xem là việc làm cho nông dân bị thu hồi đất phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, hoạt động lao động của người nông dân khi không có đất sản xuất (bị thu
hồi hết) hoặc còn một phần đất sản xuất (sau khi thu hồi) Đây là hoạt động có mục đích của người nông dân, dùng sức cơ bắp và thần kinh của mình tác động vào đối tượng lao động thông qua công cụ lao động để cải biến nó phù hợp với nhu cầu của họ
và gia đình, cộng đồng và xã hội
Thứ hai, để có việc làm đòi hỏi phải có tư liệu sản xuất và sức lao động Với ý nghĩa
này, để người nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất có việc làm đòi hỏi phải đầu tư phát triển sản xuất, phải tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người nông dân Đồng thời, phải đào tạo nghề, chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất nhằm nâng cao chất lượng, số lượng sức lao động, để có thể sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được
Thứ ba, trình độ của tư liệu sản xuất phải phù hợp với trình độ và năng lực lao động
của người nông dân bị thu hồi đất Hay nói cách khác, để sức lao động có thể kết hợp được với tư liệu sản xuất, thì người nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất phải
có một trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp để sử dụng tư liệu sản xuất đó
Thứ tư, sự kết hợp sức lao động của nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất và tư
liệu sản xuất phải tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó Sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó phù hợp với lợi ích của họ, cộng đồng và xã hội
Thứ năm, sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động đó không bị luật pháp ngăn
cấm Ở đây xác định rõ tính pháp lý của việc làm cho nông dân trong độ tuổi lao động
bị thu hồi đất Tính hợp pháp đó cho phép người nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất được tự do lựa chọn việc làm cho mình trong khuôn khổ pháp luật quy định Người nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất được tự do hành nghề, tự
Trang 33do liên doanh, liên kết, tự do thuê mướn lao động, tự do kí kết hợp đồng lao động trong khuôn khổ pháp luật và sự hướng dẫn của Nhà nước để có thể tạo việc làm cho mình [6]
1.1.5 Tác động của thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đến việc làm của nông dân
1.1.5.1 Tác động tích cực
- Tạo sức ép mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
+ Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, một bộ phận đất nông nghiệp bị thu hồi
để xây dựng, cải tạo, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
- Kỹ thuật và KT - XH càng hiện đại thì sẽ kích thích gia tăng hội tụ các nguồn lực đầu
tư cho phát triển sản xuất, thúc đẩy các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ phát triển Từ đó tạo ra ngày càng nhiều việc làm mới trong công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ có giá trị gia tăng cao Tuy nhiên, đi liền với quá trình này
là sức ép mạnh mẽ đối với cả nước cũng như từng địa phương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
+ Thu hồi đất để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa còn thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là sự phát triển công nghiệp chế biến và đa dạng hóa các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp Từ đó, thu hút một bộ phận lao động nông nhàn, lao động dư dôi từ nông nghiệp (do không còn đất nông nghiệp để canh tác hoặc chuyển mục đích sử dụng đất) vào làm việc và tăng thời gian lao động ở khu vực nông thôn Do vậy, tạo sức ép chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu việc làm
Thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa góp phần tạo ra sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp, thương mại và dịch
vụ, do đó cơ cấu lao động, việc làm của người lao động cũng có sự thay đổi mạnh mẽ Hiện nay cơ cấu lao động, việc làm thay đổi theo các xu hướng:
Trang 34+ Gia tăng lao động, việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ nhưng giảm lao động, việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp
+ Gia tăng lao động, việc làm có trình độ chuyên môn cao, lao động phức tạp (lao động được đào tạo, có chuyên môn, nghiệp vụ) nhưng giảm lao động, việc làm có trình
độ chuyên môn thấp, đặc biệt là lao động giản đơn chưa qua đào tạo, lao động phổ thông
+ Gia tăng lao động, việc làm có năng suất, thu nhập cao, tạo nhiều giá trị gia tăng nhưng giảm lao động, việc làm có năng suất, thu nhập thấp
Có thể thấy, sự thay đổi cơ cấu việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa theo các xu hướng trên đây là do xuất phát từ sự gia tăng, hội tụ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở đô thị khi mà ở đó những lợi thế về các nguồn lực dồi dào ở đô thị ngày càng được tận dụng khai thác tối đa như: Chi phí giao dịch thấp, giao thông vận tải thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn vốn đầu tư, thông tin, tiến bộ khoa học - kỹ thuật,…
- Thúc đẩy khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm đối với người lao động, đặc biệt, đối tượng là nông dân bị thu hồi đất
+ Trình độ người lao động ngày càng được nâng cao Do xu hướng giảm lao động, việc làm có trình độ chuyên môn thấp và tốc độ gia tăng dân số nên một bộ phận người lao động, nhất là nông dân trong độ tuổi lao động khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, buộc phải tự trang bị cho mình kiến thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định Vì vậy, thu hồi đất cho công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tự động hướng một
bộ phận lao động tham gia vào các chương trình giáo dục, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp Đồng thời làm chuyển biến nhận thức của người dân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình, thể hiện thông qua việc xã hội chuyển từ mô hình đại gia đình nhiều thế hệ đông con của xã hội nông thôn truyền thống, sang mô hình gia đình ít con theo kiểu đô thị
+ Thị trường lao động hoạt động sôi động hơn Tốc độ chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang công nghiệp hóa, đô thị hóa càng cao thì tốc độ tăng trưởng việc làm và tốc
Trang 35độ hội tụ dân số, lao động ở đô thị có quy mô càng lớn Sự gia tăng về cả hai phía cung
và cầu lao động cùng với môi trường kinh tế năng động như đô thị chính là những điều kiện cơ bản để phát triển mạnh mẽ các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm giáo dục, đào tạo nghề, dịch vụ thông tin thị trường sức lao động,…
- Tạo cơ hội chuyển đổi việc làm cho người lao động nông nghiệp, đặc biệt là nông dân trong độ tuổi lao động khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các lĩnh vực khác
Như đã phân tích, thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa tạo thêm nhiều việc làm mới, làm thay đổi cơ cấu lao động, việc làm góp phần nâng cao trình độ cho người lao động, thúc đẩy thị trường sức lao động hoạt động sôi động hơn Từ đó đã tạo ra nhiều cơ hội để người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp chuyển đổi việc làm dễ dàng hơn sang các lĩnh vực kinh tế khác Đồng thời góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ
- Góp phần cơ cấu lại lực lượng lao động theo hướng gia tăng lực lượng lao động trẻ, khỏe vào phát triển kinh tế
Thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa góp phần thu hút được một lực lượng lớn lao động trẻ, khỏe từ các vùng, miền Do đó, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế ở huyện và các xã nói chung phát triển một cách năng động
- Góp phần hiện đại hóa đời sống cư dân nông thôn và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa vùng miền
+ Quá trình thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa tạo điều kiện cải biến cư dân nông thôn từ những người nông dân với nền sản xuất lúa nước phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên trở thành những cư dân thành thị có tác phong công nghiệp, nếp sống văn minh và có đời sống văn hóa cao hơn, do đó góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa chung của đô thị [6]
1.1.5.2 Tác động tiêu cực
Trang 36Bên cạnh những tác động tích cực đã nêu trên, quá trình thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta cũng làm nảy sinh những vấn đề KT - XH cần quan tâm giải quyết như:
- Trong ngắn hạn, giảm việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp, đặc biệt là bộ phận nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất
Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các KCN, khu kinh tế, KCX, khu đô thị và các công trình công cộng đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, do đó làm giảm việc làm
và thu nhập của lao động nông nghiệp Một bộ phận nông dân trong độ tuổi lao động
bị thu hồi đất có mức thu nhập thấp hơn so với trước thu hồi đất nên điều kiện sống của họ gặp nhiều khó khăn hơn
- Làm cho một bộ phận người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp
Thực tế, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, đô thị sẽ dẫn đến một bộ phận không nhỏ những người lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp) mất việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi việc làm Đối với nông dân, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, vì vậy, mất đất sản xuất đồng nghĩa với mất tư liệu sản xuất, mất việc làm, không còn kế sinh nhai Hơn nữa, đại đa số họ có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề,
không có vốn để tự tổ chức việc làm Có thể nói, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng
đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa đã gây trở ngại lớn cho nhóm dân cư bị thu hồi đất, biến họ trở thành những người thiếu việc làm hoặc thất nghiệp tuỳ theo diện tích đất bị thu hồi ngay chính trên quê hương mình
- Gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi đất và tạo
áp lực giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đối với chính quyền địa phương
Do chênh lệch về phát triển KT - XH giữa nông thôn và đô thị mà hình thành nên lực đẩy ở khu vực nông thôn và lực hút ở khu vực đô thị Mức độ công nghiệp hóa, đô thị
Trang 37hóa càng cao, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp càng lớn, tỷ lệ lao động mất việc làm ở nông thôn càng cao, sự chênh lệch về phát triển kinh tế
- Xã hội giữa nông thôn và thành thị càng lớn thì các luồng nhập cư nông thôn - đô thị diễn ra ngày càng mạnh mẽ Đây là hiện tượng khách quan của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nó có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển của các đô thị Tuy nhiên, các luồng nhập cư tự do từ các vùng nông thôn chỉ tập trung chủ yếu vào một số rất ít những đô thị lớn không những làm gia tăng sức ép về vấn đề nhà ở, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường mà còn làm gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đặc biệt là với nông dân trong độ tuổi lao động [6]
1.1.5.3 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp:
Tạo việc làm cho nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là vấn đề cần thiết phải được Đảng, Nhà nước, các địa phương và chủ thể sử dụng đất thu hồi nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, từ đó có sự quan tâm đúng mức
và phải coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước, địa phương Điều đó bắt nguồn từ các yêu cầu sau:
Một là, ổn định cuộc sống cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp:
Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu đô thị và các công trình công cộng đã tác động rất lớn đến việc làm điều kiện sống
và thu nhập của nhiều hộ nông dân, do: Thứ nhất, họ phải thay đổi nơi cư trú, từ chỗ sống gắn với ruộng vườn đến sống ở các khu nhà phân lô hoặc diện tích ruộng vườn nhỏ sẽ làm xáo trộn cuộc sống vốn có trước đây và ảnh hưởng rất lớn đến các công việc làm thêm của họ Thứ hai, khi bị thu hồi đất sản xuất làm cho một bộ phận lao động nông nghiệp mất việc làm truyền thống, thất nghiệp hoặc buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp nhưng rất khó khăn, bởi đa số họ đều có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, thiếu vốn để tổ chức việc làm Hơn nữa, đối với họ, việc tìm kiếm một nghề
để ổn định cuộc sống là không đơn giản, vì thiếu những điều kiện cơ bản như vốn, mặt bằng sản xuất, công nghệ…
Trang 38Hai là, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Một trong những thiếu sót lớn nhất của công tác thu hồi đất là các chính sách xã hội bền vững sau thu hồi đất Trong những năm qua, tạo việc làm cho bộ phận lao động nông nghiệp dôi dư do quá trình thu hồi đất nông nghiệp đạt hiệu quả thấp, tỷ lệ lao động nông nghiệp thất nghiệp tương đối cao, bởi vì:
Thứ nhất, việc sử dụng nguồn lao động còn lãng phí, chưa tạo ra được nhiều việc làm
cho người lao động nông nghiệp Thực tế cho thấy, sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp một bộ phận nông dân, nhất là lao động lớn tuổi và lao động nữ bị thất nghiệp, khó chuyển đổi được nghề nghiệp do trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, sức khỏe yếu, khó thích nghi được các công việc nặng nhọc như đạp, xe thồ, vận chuyển cát sạn, thợ hồ Do đó, dẫn đến thu nhập bình quân của một số hộ sau thu hồi đất giảm sút, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn, trong khi đó họ phải đối mặt với các khoản chi phí ngày càng cao như: tiền học phí cho con cái, tiền khám chữa bệnh, tiền
vệ sinh môi trường, tiền điện, tiền nước
Thứ hai, nguồn lao động của các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp ngày càng tăng do các
hộ vẫn chưa thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, trong khi yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động ngày càng cao
Ba là, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân bị thu hồi đất, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Quy hoạch đô thị, di dời, giải toả, bố trí lại nơi cư trú, phát triển cơ sở hạ tầng, đã làm cho những người nghèo đa số là những nông dân bị mất đất sản xuất nông nghiệp, không có vốn, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật thấp, bị hạn chế trong khả năng thiết lập các mối quan hệ xã hội hoặc là những người làm ăn thua lỗ, bị phá sản, những người nghèo nhập cư từ nông thôn thiếu các điều kiện pháp lý, chẳng hạn như:
hộ khẩu, giấy đăng ký tạm trú, để học nghề và tham gia vào thị trường sức lao động
Vì vậy, đã nghèo họ lại nghèo hơn và khả năng tiếp cận các nguồn lực do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mang lại cũng kém đi Khi thất nghiệp, người lao động, nhất là những người nghèo và người thân trong gia đình họ không có đủ thu nhập để tiếp cận và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội mang lại, như ăn
Trang 39uống, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, văn hoá, thể thao, làm nới rộng khoảng cách giàu nghèo, gây bất bình đẳng xã hội Do đó, giải quyết tốt vấn đề việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa không chỉ tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân, mà còn góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Bốn là, giảm các tệ nạn xã hội
Tạo việc làm duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với phát triển
KT - XH đất nước, địa phương Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước đang diễn ra trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các tệ nạn xã hội đang trở thành vấn đề rất nghiêm trọng mà một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất là do chưa giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động dẫn đến “nhàn cư vi bất thiện”
Qua kết quả điều tra và nghiên cứu, nhiều nhà khoa học và quản lý xã hội đã đi đến kết luận rằng: Số người thất nghiệp đóng góp vào các tệ nạn xã hội chiếm một tỷ lệ đáng
kể, bao gồm, ma tuý, mại dâm, trộm cắp, đâm thuê, chém mướn Bởi lẽ, đối với người lao động, mất việc làm là mất nguồn thu nhập, mất kế sinh nhai, con người sẽ mất đi phương cách sống chủ yếu nhất để thể hiện và khẳng định mình Vì vậy, bản thân người lao động và gia đình họ dễ rơi vào tình trạng khốn khó, túng quẩn, khủng hoảng về tinh thần, thiếu niềm tin vào cuộc sống, mặc cảm, tự ti vì nghèo hèn, dễ bị tổn thương, thậm chí bất mãn về chính trị, gây nên các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật làm đảo lộn nếp sống lành mạnh và ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, gây bất ổn xã hội Đặc biệt, đối với người lao động nhập cư ở đô thị lớn, vấn đề thất nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều, do họ luôn phải đối diện với nhu cầu hết sức bức bách là phải có tiền để lo toan cuộc sống như: tiền ăn, tiền thuê phòng trọ, tiền đóng học phí cho con cái do đó, một khi những nỗ lực tìm kiếm việc làm chính đáng mà pháp luật không cấm không thực hiện được thì những việc làm phi pháp, tệ nạn xã hội
là chỗ cho một bộ phận người thất nghiệp bấu víu để tồn tại và xoa dịu sự tổn thương
Trang 40Tạo việc làm là quá trình tạo ra và kết hợp giữa các yếu tố tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện KT - XH khác để đảm bảo cho việc làm diễn ra và duy trì việc làm Tạo việc làm liên quan đến nhiều chủ thể, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước Tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất chính là quá trình
mà người nông dân sử dụng sức lao động của mình có thể tự do tìm kiếm được một công việc phù hợp, cũng như là quá trình mà người sử dụng lao động có thể tìm kiếm được những người lao động thoả mãn được những yêu cầu của mình về cả mặt số lượng và chất lượng, là quá trình Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi để người nông dân bị thu hồi đất có thể thực hiện quá trình lao động của họ Do vậy, nội dung của tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất gồm:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tổng thể về việc thu hồi đất nông nghiệp và
kế hoạch tạo việc làm cho nông dân khi thu hồi đất Trước khi tiến hành thu hồi đất, Nhà nước dựa trên quy hoạch tổng thể về kế hoạch sử dụng đất do Chính phủ ban hành
để thực hiện việc thu hồi như: tổng diện tích đất thu hồi, vị trí đất thu hồi Sau đó, Nhà nước tiến hành điều tra, đánh giá xã hội ban đầu để nắm được chính xác đặc điểm cộng đồng dân chuyển cư, nguồn lao động của cộng đồng người sẽ bị ảnh hưởng bởi dự án; thống kê, phân tích thực trạng cơ cấu và chất lượng nguồn lao động của nhóm dân cư
đó theo tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, đặc điểm gia đình và mức sống; đánh giá tổng quát những ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm thu nhập, đời sống của người nông dân
- Xây dựng môi trường pháp lý, các điều kiện KT - XH cần thiết nhằm phát triển thị trường sức lao động Dựa trên việc đánh giá những tác động của thu hồi đất đến việc làm của nông dân, Nhà nước xây dựng các văn bản pháp quy để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư người nông dân bị thu hồi đất theo hướng bảo đảm ổn định việc làm và thu nhập hợp pháp cho bản thân người nông dân và gia đình của họ
- Phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động để thu hút lao động nông nghiệp sau khi thu hồi đất Sau khi thu hồi đất, nhà nước và doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động nhằm phát triển sản xuất kinh doanh từ đó tạo
ra nhu cầu về việc làm và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất